Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Thông báo về kế hoạch thẩm định các đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2007

    THÔNG BÁO

    Về kế hoạch thẩm định các đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2007


     


    PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ


    – Căn cứ kế hoạch triển khai khoa học công nghệ năm 2007 của Bộ Nông nghiệp & PTNT;


    – Căn cứ Thông báo số 851/BNN-KHCN ngày 31 tháng 01 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc thông báo kế hoạch vốn sự nghiệp khoa học đợt 1 năm 2007;


    – Căn cứ tình hình triển khai nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2007 của trường Đại học Thuỷ lợi;


    – Và được sự đồng ý của Ban Giám hiệu.


     


    THÔNG BÁO KẾ HOẠCH THẨM ĐỊNH CÁC ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ NĂM 2007


    Nhận được thông báo này, các chủ nhiệm đề tài gửi đề cương và dự toán của đề tài về phòng Khoa học Công nghệ, để tiến hành thẩm định.





    TRƯỞNG PHÒNG



    (đã ký)    
    TS. Hoàng Thái Đại

  • Kẻ thù của giao tiếp nơi công sở


    Những thói quen giao tiếp cẩu thả nơi công sở đôi khi gây cho bạn những hậu quả hết sức nặng nề, thậm chí nó chặn cả con đường tiến thân của bạn. Hãy thử xem mình có mắc phải những thói quen xấu sau không. Nếu có, tất nhiên nên bỏ càng sớm càng tốt.


    1. Chỉ liên lạc với người khác khi cần tới họ


    Có thể bạn đã từng làm như vậy. Bạn chỉ liên lạc với anh A. khi cần nhờ anh ấy xin việc hộ. Bạn chỉ hỏi thăm chị B. khi muốn nhờ chị tìm giúp tài liệu hiếm,… Giữa những “giai đoạn cần” đó, bạn thường không có liên lạc gì, thậm chí không thèm trả lời thư từ hay điện thọai hỏi thăm họ.


    Chắc chắn những người trước đây đã nhiệt tình giúp bạn, giờ sẽ cảm thấy đang bị lợi dụng. Họ dần trở nên khép mình, cảnh giác với bạn. Họ cũng chẳng hơi đâu nhiệt tình giúp đỡ những người vô ơn. Và bạn sẽ bị loại khỏi bộ nhớ của họ không thương tiếc.


    2. Không trả lời những cuộc gọi điện thọai hoặc e-mail


    Thói xấu này ngày càng trở nên phổ biến, nhất là khi cuộc sống ngày càng bận rộn. Bạn đang vi phạm quy luật của cuộc sống văn minh đấy. Thói quen giao tiếp cẩu thả này đôi khi sẽ lấy đi của bạn những cơ hội lớn trong đời. Giả dụ có một đối tác lớn rất quan tâm đến doanh nghiệp của bạn, nhưng bạn thờ ơ không đáp lễ. Tất nhiên, họ sẽ quên ngay bạn, thị trường rộng lớn mà.


    3. Bỏ qua những giao tiếp căn bản


    Những người có thói xấu này thường xuyên quên nói “cảm ơn” hoặc “làm ơn” khi nhận hoặc yêu cầu điều gì. Những phép giao tiếp căn bản này thường bị lãng quên bởi rất nhiều lý do: con người ta quá bận rộn, không được dạy dỗ căn bản hoặc có tư tưởng là mình xứng đáng được yêu cầu người khác.


     4. Không biết lắng nghe


    Đã có nhiều trường hợp phải trả giá đắt cho sự không biết lắng nghe này. Một trong những hậu quả của việc không biết lắng nghe là không biết đặt câu hỏi, cứ nín thinh không thể hiện việc mình có đồng ý với ý kiến của khách hàng hay không. Khi giao tiếp, không biết lắng nghe sẽ dẫn đến việc thông tin sai lệch, mất đi nhiều cơ hội và làm giảm năng suất vì còn phải vừa làm vừa sửa sai. Không những thế, trong giao tiếp với cấp trên, nếu bạn tỏ ra không biết lắng nghe, sếp sẽ đánh giá bạn là thiếu năng lực, hoặc không có ý thức cầu tiến.


    5. Nói dối


    Có những người còn cố tình nói dối, còn những người khác thì chỉ “nói dối chút chút”. Dù nói dối ít hay nhiều thì hậu quả của nó đều không hay, hoặc làm hại người khác, hoặc làm hại mình.


    Việc nói dối chỉ có thể thông cảm được trong trường hợp bất khả kháng, hoặc khi nó không gây hại cho ai.


    Tuy nhiên, trong giao tiếp với đồng nghiệp, hay hơn cả vẫn là nói thật, nhưng nói thật một cách khéo léo, nhạy cảm, không làm tổn thương người khác.
        
    6.Luôn miệng nói những lời tiêu cực


    Có những người thường xuyên thốt ra những lời chê bai tiêu cực về mọi thứ: chê công việc, chê không khí công sở, chê sếp, chê đồng nghiệp,… Hãy thử tưởng tượng, bạn có hứng thú làm việc không nếu người ngồi cạnh bạn cứ luôn miệng chê bai mọi thứ.


    Buổi sáng mà cứ phải nghe những câu kiểu như “tôi ghét…”, “thằng điên ấy…”, “chán nhỉ”, “sếp làm sao í nhỉ…”, chắc ngày làm việc sẽ trở thành địa ngục.

    Theo  Dân trí

  • Đại sứ Việt Nam tại Iran – nguyên Giảng viên trường Đại học Thuỷ Lợi đến thăm và làm việc tại Trường

     Niềm tự hào mang tên Đại học Thuỷ Lợi, từ nơi đây bao thế hệ sinh viên đã trưởng thành, nhiều thầy cô giáo đã khẳng định được vị thế của mình trong xã hội. Thầy giáo Phạm Văn Hy là một trong số đó.


    Đã 20 năm trôi qua, thầy giáo Phạm Văn Hy – nay là Đại sứ Việt Nam tại Iran – mới có dịp trở về trường. Những bỡ ngỡ xen lẫn niềm vui, Trường Đại học Thuỷ Lợi đã thay đổi quá nhiều so với khi thầy còn công tác ở trường với cương vị là một giảng viên môn Vật lý. Màu thời gian đã nhuộm trên mái tóc, nhưng trong ánh mắt của ngài Đại sứ vẫn còn đấy nét trẻ trung như ngày nào còn đứng trên bục giảng.









    GS.TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng tiếp Đại sứ Việt Nam tại Iran Nguyễn Văn Hy


             Buổi đón tiếp của Ban Giám hiệu với ngài Đại sứ diễn ra trong không khí ấm cúng, thân tình tại Phòng khách của Nhà trường. Những kỷ niệm trước đây lại khi còn là một giảng viên công tác tại trường, và những tâm sự khi nắm giữ một chức vụ chủ chốt của Nhà nước ở nước ngoài, đã được ngài Đại sứ chia sẻ lại buổi gặp mặt này. Đại sứ kể về đất nước, con người Iran, những phong tục và thói quen, ngài Đại sứ mong muốn là chiếc cầu nối giữa Đại học Thuỷ Lợi và một số trường Đại học, các Viện….của đất nước Iran, hy vọng về một sự hợp tác bền chặt và đồng thời Đại sứ mở ra những hướng hợp tác mới với một số nước khác trên thế giới mà Ngài biết. Trước mắt, ngài Đại sứ cho biết một số Trường Đại học, Viện quản lý nghiên cứu đào tạo, Bộ năng lượng của Iran mong muốn được đón tiếp Nhà trường trong một thời gian gần đây đến làm việc và tham quan. Đại sứ cho rằng đây là một cơ hội tốt trong tiến trình hội nhập của Trường Đại học Thuỷ Lợi với bè bạn quốc tế.


    Phát biểu tại buổi gặp mặt này, NGUT.GS.TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi đã bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc của lãnh đạo Nhà trường  trước sự quan tâm của Đại sứ Nguyễn Văn Hy. Hiệu trưởng tự hào thông báo: Nền Đại học Việt Nam đang đổi mới và Đại học Thuỷ Lợi là trường Đại học đầu tiên đã xây dựng thành công bản chiến lược phát triển giai đoạn 2006 – 2020, khẳng định một cái nhìn lớn và bước đi vững chắc. Hiệu trưởng nhấn mạnh: Nhà trường vẫn tiếp tục còn nhiều đổi mới, sự giúp đỡ từ bên ngoài về các lĩnh vực như đào tạo, nghiên cứu khoa học….sẽ góp phần cho sự đổi mới thành công. Hiệu trưởng cũng mong muốn đại sứ Việt Nam tại Iran sẽ tạo điều kiện giúp đỡ để Nhà trường có thể đến tham quan đất nước Iran một ngày gần đây nhất.


    Buổi gặp mặt kết thúc trong sự thân tình của những người đồng nghiệp và sự hiếu khách của Trường Đại học Thuỷ Lợi đối với ngài Đại sứ Nguyễn Văn Hy, mở ra triển vọng tốt đẹp cho những khả năng hợp tác mới.










    Đại sứ Việt Nam tại Iran Nguyễn Văn Hy chụp ảnh kỷ niệm cùng các đại biểu trong Trường


    N.V.A

  • Bổ nhiệm cán bộ P2, P7, P9

    Giao nhiệm vụ cho các đồng chí Đặng Hương Giang-Phòng Đào tạo giữ chức Phó Trưởng phòng CTCT&QLSV, Phạm Hồng Nga- Bộ môn Môi trường giữ chức Phó trưởng phòng Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, Phạm Thị Nguyệt Nga-Bộ môn Vật lý giữ chức Phó trưởng phòng Tổ chức cán bộ.
    Đến dự có các thầy đại diện Đảng uỷ, Ban Giám Hiệu, Phòng HCTH, Phòng Đào tạo, Phòng NCKH&HTQT, Phòng CTCT&QLSV, Khoa Thuỷ văn, Khoa Thuỷ Điện. Sau đây là một số hình ảnh trong buổi giao nhiệm vụ:





    GS. TS Đào Xuân Học-Hiệu trưởng phát biểu, giao nhiệm vụ



    GS. TS Đào Xuân Học-Hiệu trưởng trao quyết định bổ nhiệm cán bộ



    Phát biểu khi nhận nhiệm vụ mới (từ trái sang phải): ThS Phạm Thị Nguyệt Nga, ThS. Đặng Hương Giang, ThS Phạm Hồng Nga



    Các thầy đại diện Đảng uỷ, Ban Giám Hiệu, Phòng HCTH, Phòng Đào tạo, Phòng NCKH&HTQT, Phòng CTCT&QLSV, Khoa Thuỷ văn, Khoa Thuỷ Điện.

  • Quy định về tuyển dụng, đào tạo và sử dụng giảng viên






    BỘ NN & PTNT
    Trường Đại học Thủy Lợi


    ——————


    Số: 953/QĐ-ĐHTL-TCCB


    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—


    Hà nội, ngày 11 tháng 08 năm 2006



                               QUYẾT ĐỊNH 
    (
    V/v Ban hành Quy định về tuyển dụng, đào tạo và sử dụng giảng viên )
                                            
            HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    – Căn cứ Quyết định số 351 QĐ/TL ngày 28/4/1964 của Bộ Thủy lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) quy định nhiệm vụ, quyền hạn Trường Đại học Thủy lợi;


    – Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức số 01/1998/PL-UBTVQH10 ngày 26/2/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức số 21/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/4/2000 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức số 11/2003/PL-UBTVQH11 ngày 29/4/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;


    – Căn cứ Nghị định của Chính phủ số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003; Thông tư số 10/2004/TT-BNV ngày 19/2/2004 của Bộ Nội vụ;


    Xét đề nghị của Trưởng Phòng Tổ chức cán bộ,



     


                  QUYẾT ĐỊNH:


    Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về tuyển dụng, đào tạo và sử dụng giảng viên của Trường Đại học Thủy lợi.  


    Điều 2. Quy định này được áp dụng thống nhất trong Trường Đại học Thủy lợi và có hiệu lực kể từ ngày ký.


    Điều 3. Trưởng các đơn vị trực thuộc Trường và các cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.



     








    Nơi nhận:
















    – Bộ NN & PTNT, Bộ GD & ĐT (để b/c);


    – ĐU, BGH, CĐ, ĐTN;


    – Như điều 3;


    – Lưu VT, TCCB.


     HIỆU TRƯỞNG

    đã ký



     


          GS.TS Đào Xuân Học
















    QUI ĐỊNH VỀ TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO VÀ SỬ  DỤNG GIẢNG VIÊN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI:
    Download

  • Người xưa xử lý sai phạm trong thi cử

    Từ xưa, để có nhân tài, người ta thường tuyển chọn thông qua con đường thi cử. Nếu tính riêng các kỳ thi Nho học ở Việt Nam từ 1075 đến 1919, nước ta đã chọn được hàng chục trạng nguyên, hàng nghìn tiến sĩ. Tuy nhiên, từ thời xa xưa đó, cũng đã nảy sinh không ít những hiện tượng tiêu cực trong khi thi, chấm thi, tuyển chọn. Pháp luật xưa đã xử lý rất nghiêm minh những sai phạm này.


     


    Tội nhận hối lộ để làm sai lệch kết quả           


     


    Tại khoa thi Hương năm Quý Sửu (1673), Tham chính Thanh Hóa là Vũ Vĩnh Hồi cùng chú ruột là Tiến sĩ Vũ Bật Hải đã “ăn tiền bạc, gửi gắm sĩ tử trong bốn kỳ thi”. Ngô Sách Dụ là Phủ doãn Phụng Thiên coi việc trường thi ngầm đem sách vở và văn cũ vào trường, cho người nhà viết thay quyển thi, trà trộn đưa vào chấm lấy đỗ, ăn tiền theo giá đã thỏa thuận trước. Sự việc bị phát giác, Vũ Vĩnh Hồ và Ngô Sách Dụ đều bị tội đồ (đày đi xa).


     


    Năm Giáp Dần (1674), Tham chính Nghệ An là Lương Khoái khi bị phát hiện đã ức hiếp sĩ tử để lấy tiền bạc liền bị giáng chức xuống làm Đông các hiệu thư (coi việc giấy tờ ở văn phòng nhà vua).


     


    Tội chấm đỗ cho con của quan trên không đúng trình độ


     


    Tại khoa thi năm Bính Tý (1696), Ngô Sách Tuân là Hộ khoa cấp sự trung được cử đi làm giám thị ở trường thi Thanh Hóa. Trước khi vào Thanh Hóa, Ngô Sách Tuân có đến gặp Tham tụng Lê Hy (là người Thanh Hóa). Lê Hy nói với Sách Tuân rằng quyển thi của con mình được đóng bằng giấy Thanh Hóa, xin Tuân “lưu ý” hộ. Sách Tuân đã đưa riêng quyển thi của con Lê Hy cho khảo quan xem lại, lấy đỗ. Khi ấy có Đề điệu Ngô Hải biết chuyện nhưng im lặng, không báo cáo lên cấp trên. Vụ việc bị Tham chính Phan Tự Cường phát giác, triều đình khép Ngô Sách Tuân vào tội giảo (thắt cổ), Ngô Hải bị bãi chức. 


     


    Năm Ất Dậu (1825), Hữu Tham tri bộ Hình là Nguyễn Hữu Nghi và Thượng bảo tự khanh là Hoàng Quýnh được điều đến kiểm tra trường thi Nghệ An. Khi ấy đốc học và một số quan lại các phủ huyện đã ghi tên những thí sinh là người thân quen của họ nhưng thi hỏng để đưa vào nội trường lấy đỗ. Những người được đỗ hương cống sau đó lại tập hợp để uống rượu và tổ chức đánh bạc.


     


    Nguyễn Hữu Nghi và Hoàng Quýnh biết chuyện đó nhưng không tâu báo lên quan trên. Vài tháng sau, trấn thần Nghệ An là Vũ Xuân Cẩn mới trình báo sự việc. Kết quả, Nguyễn Hữu Nghi bị giáng xuống là chánh bát phẩm thư lại, Hoàng Quýnh bị cách chức đày đi Quảng Bình cho lập công chuộc tội. Các khảo quan nội trường và học quan cùng các quan phủ huyện đều bị giáng chức hoặc chịu phạt. Các hương cống và sinh đồ đã hỏng thi mà được đỗ đều bị đánh trượt. Vũ Xuân Cẩn biết mọi chuyện sai trái nhưng không trình báo kịp thời, cũng bị giáng chức làm Thiêm sự.


     


    Tội chữa lại bài thi của thí sinh khi chấm thi


     


    Tại khoa thi Hương năm Tân Sửu (1841), hai viên quan chấm sơ khảo là Cao Bá Quát và Phan Nhạ đã lấy muội đèn để chữa lại bài thi, gồm 24 quyển. Sự việc bị phát giác và được giao cho bộ Lễ và Viện Đô sát tra xét. Cao Bá Quát và Phan Nhạ thú nhận chỉ “sính bút làm càn” chứ không phải do ai dặn dò, gửi gắm.


    Vua Thiệu Trị đã dụ rằng: Chọn người tài giỏi là một điển lễ long trọng. Bọn Quát lại dám làm trái phép như thế, khép vào tội nặng cũng đáng. Song ta nghĩ bọn Quát chữa văn đến 24 quyển, tự mình hoặc phê lấy đỗ, hoặc phê lấy bỏ đi, cũng có chỗ câu văn chữa vào lại không bằng câu văn của người làm trước; hoặc giả là do sự khờ dại mà làm ra, chứ không có tình tiết gì khác, có thể khoan tha cho tội xử tử.


     


    Vậy đều cho đổi làm giảo giam hậu. Bùi Quỹ là Chánh chủ khảo và Trương Tiến Sỹ là Phó Chủ khảo có lỗi vì không biết trông nom mà phát giác ra nên đều cho đổi cách chức, được lưu lại làm việc. Giám khảo Phan Văn Nhã và Trương Hảo Hợp không biết kiểm soát, phát giác ra đều phải giáng cấp lưu lại làm việc”.


     


    Tội hai bài thi có nội dung giống nhau


     


    Khoa thi năm Bính Thìn (1856), Chủ khảo Phan Thanh Giản phát hiện hai bài thi ở cùng một “vi” (khu vực thi) có nội dung giống nhau, liền cho niêm phong và gửi lên bộ Lễ. Vua Tự Đức dụ “Văn lý giống nhau một hai câu là chuyện thường của học trò, không cần xét kỹ. Nay hai quyển ấy, câu này câu kia giống nhau như một người làm ra, hoặc là nhòm trộm ăn cắp, hoặc là mượn người làm thay”. Rồi Vua ra lệnh cho bộ Lễ xét kỹ thì thấy quyển của Phan Khắc Kiệm gượng ép trong cách gieo vần, thơ không thành luật, bài phú không nói ra ý đầu bài, chứng tỏ nguời làm quyển thi đó không phải thực học. Quyển kia là của Cử nhân Trần Gia Huệ. Hai người chơi thân với nhau, lại ngồi thi cùng một “vi”, vậy có nhiều khả năng Huệ đã “gà bài” cho Kiệm. Kết quả là hai quyển ấy phải truất bỏ, Trần Gia Huệ và Phan Khắc Kiệm đều phải phạt 50 roi, đình lương một năm. Những người lính canh gác khu vực thi đó cũng bị phạt 40 roi vì tội không chu đáo.  


     


    Tội làm náo loạn trường thi


     


    Tại khoa thi năm Ất Dậu (1825), Nguyễn Thiên Điều không làm được bài liền cầm đầu một nhóm sĩ tử ở vi Tả reo hò ầm ĩ. Ba vi Hữu, Giáp, Ất cũng náo động. Các quan coi thi phải điều lính đến mới dẹp yên. Việc được tâu lên, Vua Minh Mệnh dụ rằng: “Nhà nước vẫn sẵn lòng đãi học trò. Nay gặp thịnh điển kén chọn nhân tài, bọn ấy đáng ra phải tự ganh đua dùi mài kinh sử, sao lại có kẻ tối tăm hung hãn lẫn lộn vào trong đó, buông tuồng càn bậy như thế. Nếu không xét trị thì sao thay đổi được thói kiêu bạc ấy. Việc làm náo động trường thi, tội ở kẻ chủ xướng, trẫm quyết không vì một hai người ngu tối mà giận lây sang người vô tội. Bọn ngươi nên nói ra kẻ chủ xướng thì sớm định tội được, khỏi lỡ kỳ thi. Nếu cứ một mực đùn đẩy hàm hồ thì sẽ bắt giam để xét đến cùng, đến lúc ấy thì ma quỷ cũng không trốn thoát được”.


     


    Nguyễn Thiên Điều thú tội, bị khép vào tội giảo giam hậu (giam chờ thắt cổ), những sĩ tử khác đều được tha. Các quan trường thi và các quan địa phương vì tâu báo chậm sự việc cũng bị phạt; các đốc học, giáo thụ, huấn đạo… cũng bị giáng chức vì “không nghiêm túc dạy bảo học trò”. Sau đó, Thiên Điều được giảm tội, chỉ bị sung vào lính.


     


    Tội đem tài liệu vào phòng thi


     


    Kỳ thi năm Bính Tuất (1826), Đặng Tế Mỹ mang sách vào phòng thi, bị phát giác nên bị đóng gông một tháng, sau đó bị đánh 100 trượng và bị đuổi khỏi trường thi. Những người phát hiện ra Mỹ gian lận được thưởng 3 lạng bạc.


     


    Tại khoa thi năm Đinh Dậu (1897), Phan Bội Châu đã lọt vào trường nhì (đệ nhị trường) là trường sẽ thi mấy bài phú vốn là sở trường của ông. Một người bạn là Trần Văn Lương vốn rất khâm phục lực học của Phan Bội Châu nhưng nghĩ ông vẫn có thể quên nên nhét vào tráp mấy quyển sách. Phan Bội Châu hoàn toàn không biết gì. Sáng ra, sĩ tử kéo nhau vào trường thi, khi qua cửa lính gác đòi kiểm tra lều chõng và tráp. Phan Bội Châu tỏ vẻ rất tức giận và nói xẵng: “Tao đậu đầu xứ tỉnh Nghệ ba lần, đời nào tao thèm mang sách vào”. Người lính gác không chịu, nhất định đòi kiểm tra. Thật không ngờ, có mấy quyển sách nằm ở góc tráp. Phan Bội Châu điếng người, không nói được câu nào. Sau đó chịu án “Hoài hiệp văn tự, chung thân bất đắc ứng thí” (mang sách vở vào trường thi, suốt đời không được thi nữa).


     


    Chuyện này quả thật oan uổng cho Phan Bội Châu, nhưng tình ngay lý gian không thể giải thích được. Nhưng cũng chính việc này mà ông trở thành nổi tiếng. Nhiều người biết và thông cảm với ông. Một số đã tích cực vận động và minh oan ở kinh đô Huế. Kết quả là Vua Thành Thái đã ban dụ huỷ bỏ án này. Sau đó, tại khoa thi năm Canh Tý (1900), Phan Bội Châu đã đậu giải nguyên.


     


    Trộm nghĩ, ngày nay việc mang tài liệu vào phòng thi và quay cóp, thi hộ và thi thuê, xin điểm, mua điểm và mua bằng đang có chiều hướng gia tăng, làm cho tài năng và nhân cách bị huỷ hoại, kỷ luật học đường và công bằng xã hội bị đảo lộn, thì bài học của người xưa để lại vẫn có giá trị lắm thay. 


    Theo vietnamnet.vn


     

  • Giới thiệu sách mới thuộc ngành Công nghệ thông tin


































    Microsoft Excel 2002 / Kenneth C. Laudon, Kenneth Rosenblatt, David Langley. – Brief ed. – Boston : McGraw-Hill, c2002. – Nhiều trang : minh hoạ màu ; 28 cm.
    Includes index
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0072472545 (alk. paper)




    Word 2002 : A professional Approach / Deborah Hinkle. – New York : Glencoe, McGraw-Hill, c2002. – 600tr. : ảnh màu ; 26cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0078274206 (include CDROM)




    Using information technology : a practical introduction to computers & communications : complete version / Brian K. Williams, Stacey C. Sawyer. – 5th ed. – Boston : McGraw-Hill/Irwin, c2003. – xxix, 482 tr. : minh hoạ màu ; 28 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0072485558, 0072485558 (acid-free paper)



    Excel 2002 : A professional approach / Kathleen Stewart. – Boston : Glenceo, McGraw Hill, c2002. – Nhiều trang ; 26 cm.
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0078273897(CD-ROM)



    Microsoft Office 2000 / Timothy J. O’Leary, Linda I. O’Leary. – Enhanced ed. – Boston : McGraw-Hill/Irwin, [2001]. – Nhiều trang : minh hoạ màu; 28 cm. Includes index +
    Projects for Microsoft Office 2000/ Debra Gross. c2001
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0072499540, 0072500352 (projects)



    Microsoft Excel 2002 / Timothy J. O’Leary, Linda I. O’Leary. – Brief ed. – Boston : McGraw-Hill/Irwin, c2002. – Nhiều trang : minh hoạ màu ; 28 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0072472359, 0072472359 (pbk. : alk. paper)



    Computing essentials 2004 / Timothy J. O’Leary, Linda I. O’Leary. – Introductory ed. – Boston, MA : McGraw-Hill/Irwin, 2003. – 329 tr. :bảnh màu; 28 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0072519592 (alk. paper)



    Computing essentials 2005 / Timothy J. O’Leary, Linda I. O’Leary. – Complete ed. – Boston : McGraw Hill Technology Education, c2005. – 509 tr. : minh hoạ, ảnh màu ; 28 cm. Includes index
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0072836075
    (CD-ROM)



    Computing essentials 2005 / Timothy J. O’Leary, Linda I. O’Leary. – Introductory ed. – Boston : McGraw-Hill Technology Education, 2005.- xxviii, 376 tr. : minh hoạ màu ; 28 cm. Includes index


    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 007225565X (CD-ROM), 0072256478 (set), 007283612



    Applied calculus for business, economics, and the social and life sciences / Laurence D. Hoffmann, Gerald L. Bradley, Kenneth H. Rosen. – Expanded 8th ed.  – Boston: McGraw-Hill Higher Education, c2005. – xxxii, 976tr. : minh hoạ. ; 26 cm. Includes indexes
    Rev. ed. of: Calculus for business, economics, and the social and life sciences. 7th ed. c2000
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 0072994401 (MathZone instructor’s access kit : CD-ROM), 0073018562, 0073018562 (acid-free paper)


  • Giới thiệu sách mới thuộc chuyên ngành Hóa và Lý






    Hoá học : Năm thứ nhất MPSI và PTSI / André Durupthy, André Casalot, Alain Jaubert… ; Đào Quý Chiệu dịch. – Tái bản lần thứ 1. – H. : Giáo dục, 2006. – 414tr. : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt
    : Giới thiệu mô hình lượng tử của nguyên tử dạng hiđrô. Nguyên tử nhiều electron. Phân loại tuần hoàn, kiến trúc phân tử, tinh thể, áp dụng nguyên lí thứ nhất vào hoá học  



    Kí hiệu
    : VĐL 2011 – 2012 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Hoá học phòng Đọc mở tầng 3


     








    Hoá học : Năm thứ hai MP – MP* -PSI PSI* – PT – PT* / André Durupthy, André Casalot, Alain Jaubert…;Từ Ngọc Ánh dịch. – Tái bản lần thứ 1. – H. :Giáo dục, 2006. – 288tr. : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt:
    Giới thiệu mô hình lượng tử của nguyên tử dạng hiđrô. Nguyên tử nhiều electron. Phân loại tuần hoàn các nguyên tố, kiến trúc phân tử, tinh thể, áp dụng nguyên lí thứ nhất vào hoá học
     


    Kí hiệu: VĐL 2013 – 2014 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Hoá học phòng Đọc mở tầng 3


     






    Điện tử. Điện động học 1 : Năm thứ nhất MPSI – PCSI PTSI / J.M Brebec, P. Deneve, Th. Desmarais ; Người dịch: Trịnh Văn Loan. – H. : Giáo dục, 2001. – 201tr ; 27cm

    Tóm tắt: Các khái niệm và lí thuyết cơ bản về điện động học: các loại mạch điện, lí thuyết mạch điện tính dựa trên định luật Kirchhoff và khái niệm về các mô hình tuyến tính, mạch gồm các lưỡng cực tuyến tính tạo cơ sở của điện động học. Chế độ làm việc của mạng tuyến tính…



    Kí hiệu
    : VĐL 2015 – 2016 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Điện phòng Đọc mở tầng 3



     







    Điện tử – Điện động học 2 / Jean – Marie Brebec, Philippe Deneve, Therry Desmarais… ; Trịnh Văn Loan dịch. – H. : Giáo dục, 2002. – 191tr ; 27cm



    Tóm tắt:
    Nguyên lí và sử dụng một số thiết bị đo. Các sơ đồ căn bản của bộ khuyếch đại thuật toán. Các bộ lọc thông cao, thông thấp, bộ tích phân và bộ đạo hàm. Các sơ đồ cơ bản dùng điốt. Nguyên lý bộ phân tích phổ



    Kí hiệu
    : VĐL 2017 – 2018 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Điện phòng Đọc mở tầng 3


     






    Cơ học II : Năm thứ 1 MPSI – PCSI PTSI / Jean Marie Brébec, Philippe Deneve, Thierry Desmarais… ; Nguyễn Hữu Hồ dịch. – Tái bản lần thứ 3. – H. : Giáo dục, 2003. – 175tr. : bảng tra : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt
    : Những kiến thức cơ học căn bản và các bài tập áp dụng thực hành: Cơ học trong hệ quy chiếu phi Galilée, cơ học trái đất, hệ chất điểm, lực Lorentz, tương tác Newton…



    Kí hiệu
    : VĐL 2019 – 2020 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Cơ học phòng Đọc mở tầng 3


     






    Cơ học 1 : Năm thứ nhất MPSI-PCSI-PTSI / Jean-Marie Brebec, Philippe Deneve, Thierry Desmarais.. ; Lê Băng Sương dịch. – Tái bản lần thứ 3. – H. : Giáo dục, 2002. – 175tr ; 27cm



    Tóm tắt
    : Những kiến thức cơ bản về: Động học, động lực học của chất điểm, công suất và năng lượng trong hệ quy chiếu Galilée, dao động tự do, dao động cưỡng bức, thay đổi các hệ quy chiếu



    Kí hiệu:
    VĐL 2021 – 2022 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Cơ học phòng Đọc mở tầng 3


     






    Nhiệt động học : Năm thứ 2 PC – PC* PSI – PSI* / Jean Marie Brebec, Jean Noel Brifaut, Philippe Deneve… ; Ngô Phú An dịch. – Tái bản lần thứ 2. – H. : Giáo dục, 2003. – 148tr. : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt:
    Những kiến thức cơ bản về nhiệt động học: sự truyền nhiệt của năng lượng-khuyếch tán nhiệt, thế nhiệt động, nghiên cứu nhiệt động học một chất lưu đồng nhất, chất tinh khiết hai pha, tính chất từ của vật chất (PC)



    Kí hiệu
    : VĐL 2023 – 2024 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Vật lí phòng Đọc mở tầng 3


     






    Nhiệt động học : Năm thứ 1 MPSI – PCSI PTSI / Jean Marie Brébec, Jean Noel Briffaut, Philippe Deneve… ; Dịch : Ngô Phú An… – Tái bản lần thứ 1. – H. : Giáo dục, 2003. – 319tr. : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt
    : Nghiên cứu vi mô, trung mô, vĩ mô, về các hệ, cho phép làm sáng tỏ các cơ sở áp dụng của nhiệt động học. Quá trình biến đổi của cá hệ khí, nguyên lí 1, 2 của nhiệt động học…



    Kí hiệu
    : VĐL 2025 – 2026 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Vật lí phòng Đọc mở tầng 3


     






    Điện từ học : Năm thứ hai PC – PC* PSI – PSI* / Jean – Marie Brébec, Philippe Denève, Thierry Desmarais… ; Lê Băng Sương dịch. – Tái bản lần thứ 2. – H. : Giáo dục, 2006. – 255tr. : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt:
    Những kiến thức cơ bản về điện từ học: điện tích trường điện từ, trường điện từ không đổi, các phương trình Maxwell, cảm ứng điện từ…



    Kí hiệu
    : VĐL 2027 – 2028 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Vật lí phòng Đọc mở tầng 3


     






    Điện từ học 1 : Năm thứ 1 MPSI – PCSI PTSI / Jean Marie Brebec, Philippe Denesve, Thierry Desmarais… ; Nguyễn Hữu Hồ dịch. – Tái bản lần thứ 3. – H. : Giáo dục, 2003. – 191tr. : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt
    : Nghiên cứu cá vấn đề từ học: Các phân bố điện tích, trường tĩnh điện, thế tính điện, định lí Gauss, lưỡng cực tĩnh điện, các phân bố dòng, từ trường…



    Kí hiệu
    : VĐL 2029 – 2030 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Vật lí phòng Đọc mở tầng 3


     






    Vật lí đại cương : Các nguyên lý và ứng dụng / Biên khảo: Trần Ngọc Hợi (ch.b.), Phạm Văn Thiều. – H. : Giáo dục, 2006. – 511tr. : hình vẽ ; 27cm


    T.1- Cơ học và nhiệt học



    Tóm tắt
    : Những vấn đề cơ bản của cơ học và nhiệt học ứng dụng trong khoa học và công nghệ, giải thích một số hiện tượng vật lí xảy ra trong cuộc sống



    Kí hiệu
    : VĐL 2031 – 2032 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Vật lí phòng Đọc mở tầng 3


     






    Vật lí đại cương : Các nguyên lý và ứng dụng / Biên khảo: Trần Ngọc Hợi (ch.b.), Phạm Văn Thiều. – H. : Giáo dục, 2006. – 487tr. : hình vẽ ; 27cm


    T.2- Điện, từ, dao động và sóng



    Tóm tắt: Những vấn đề cơ bản của điện từ, dao động và sóng ứng dụng trong khoa học và công nghệ, giải thích một số hiện tượng vật lí xảy ra trong cuộc sống



    Kí hiệu
    : VĐL 2033 – 2034 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Vật lí phòng Đọc mở tầng 3


     







    Vật lí đại cương : Các nguyên lý và ứng dụng / Biên khảo: Trần Ngọc Hợi (ch.b.), Phạm Văn Thiều. – H. : Giáo dục, 2006. – 414tr. : hình vẽ ; 27cm


    T.3- Quang học và vật lí lượng tử



    Tóm tắt
    : Trình bày những vấn đề cơ bản của quang học và vật lí lượng tử, ứng dụng của nó trong khoa học và công nghệ, giải thích một số hiện tượng vật lí xảy ra trong cuộc sống



    Kí hiệu
    : VĐL 2035 – 2036 mượn tại phòng Tài liệu tham khảo tâng 2.


    Tìm sách trên giá sách Vật lí phòng Đọc mở tầng 3





  • Thông báo tuyển sinh đào tạo Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật

    Cơ học chất lỏng & phát triển bền vững  


    Văn bằng  LMD do Đại học Méditerranée cấp


    Đơn vị phối hợp:


    ĐH Méditerranée


    ĐH Provence


    ĐH Avignon


    ĐH Caen


    ĐH Công nghệ – ĐHQG Hà nội


    Viện Cơ học – Viện KH&CN Việt nam


    Mô tả:


    Đây là chương trình đào tạo Thạc sĩ Cơ học kĩ thuật, thuộc chuyên ngành Cơ học Chất lỏng.  Mục tiêu của chương trình đào tạo này là cung cấp các hiểu biết lý thuyết và thực hành trong các lĩnh vực Cơ học chất lỏng và Phát triển bền vững. Các vấn đề của những thảm hoạ tự nhiên và công nghiệp cũng như các vấn đề về qui phạm là những vấn đề được quan tâm. Các công cụ tính toán và đặc biệt là sự mô hình hoá kết hợp với những hiểu biết từ thực nghiệm được nhấn mạnh trong các bậc đào tạo này. Những thạc sĩ đã qua bậc đào tạo này có thể thực hiện tốt việc tiếp tục nâng cao trình độ thông qua các luận án tiến sĩ cũng như hoạt động nghề nghiệp trong cuộc sống. Các học viên sau khi đào tạo xong có khả năng:


    * Sử dụng, khai thác và quản lý tài nguyên môi trường, đặc biệt là môi trường nước và không khí.


    * Quản lý chất thải lỏng và khí công nghiệp.


    * Làm chủ các hệ thống công nghệ mới và dự báo các rủi ro liên quan đến môi trường & phát triển bền vững.


    Chương trình học


    Thời gian đào tạo Thạc sĩ Cơ học kĩ thuật là 1 năm, gồm hai học kì, Trong học kì một, học viên sẽ được học 7 môn học (mỗi môn học có 40 tiết học) và môn Thực hành Cơ học kĩ thuật (xem bảng chương trình đào tạo). Học kì hai học viên sẽ được thực tập tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo của Việt nam hoặc Pháp từ 3 đến 6 tháng











































    Số TT


    Tên môn học


    Số tiết học 


    UE1


    Toán


    40


    UE 2


    Cơ học Chất lỏng


    40


    UE 3


    Dòng chảy rối


    40


    UE 4


    Cơ học Chất lỏng cho môi trường


    40


    UE 5


    Phương pháp số cho CH Chất lỏng


    40


    UE 6


    Cấp thoát nước đô thị


    40


    UE 7


    Thực hành Cơ học kĩ thuật


    40


    UE 8


    Quản lý nước, xử lý ô nhiễm và chất thải


    40


    Học kỳ II


    Thực tập tại cơ sở nghiên cứu & Luận văn


    Ngôn ngữ giảng dạy: tiếng Anh


    Thời gian đào tạo: 1 năm


    Điều kiện dự tuyển:


    Chương trình đào tạo thạc sĩ sẽ tuyển những đối tượng sau:


    * Sinh viên đã tốt nghiệp Đại học hệ 5 năm (hoặc 4,5 năm) thuộc các ngành & chuyên ngành: Cơ học kĩ thuật, Cơ học Chất lỏng, Cơ tin kĩ thuật, Khí tượng, Hải dương, Thủy văn,  Xây dựng công trình thủy, Công nghệ môi trường, Xử lý chất thải hoặc ngành gần với những nhóm ngành & chuyên ngành trên và qua kỳ xét tuyển để vào học các lớp của Khóa đào tạo 1 năm


    * Các học viên đang theo học các chương trình đào tạo Thạc sĩ khác của Việt nam cũng có thể tham gia xét tuyển để theo học chương trình đào tạo này.


    Những thí sinh đáp ứng đủ điều kiện chuyên môn nhưng chưa đạt trình độ ngoại ngữ cần thiết có thể học một khoá dự bị (miễn phí) trước khi tham gia khóa học. Ưu tiên những thí sinh có trình độ TOEFL (trên 450 điểm) hoặc đã tốt nghiệp đại học của AUF.


    Học viên được xét tuyển thông qua hồ sơ, và phỏng vấn trực tiếp do Hội đồng tuyển sinh gồm các Giáo sư trong và ngoài nước thực hiện.


    Tuyển sinh:


    Bao gồm 2 giai đoạn:


    Sơ tuyển: xét hồ sơ.


    Phỏng vấn: các thí sinh lọt qua vòng sơ tuyển sẽ được mời phỏng vấn


    Thí sinh có thể lấy mẫu đơn trên Website http://www.puf.edu.vn/ hay tại phòng đào tạo của PUF tại Hà Nội.


    Lịch tuyển sinh:


    Hạn nộp hồ sơ: 15 tháng 7 năm 2007


    Phỏng vấn: 15 tháng 8 năm 2007


    Ghi danh: 25 tháng 8 năm 2007


    Học dự bị ngôn ngữ: 1 tháng 9 năm 2007


    Khai giảng: 01 tháng 11 năm 2007


    Cơ hội việc làm:


    Học viên đã được đào tạo xong chương trình này có tham gia làm việc như:


    * Chuyên gia trong các ngành dịch vụ công cộng, trong các cơ quan xí nghiệp, làm việc trong các lĩnh vực như quản lý tài nguyên nước, không khí, quản lý môi trường, quản lý chất thải…


    * Giảng viên – Nghiên cứu viên trong các trường Đại học, Cao đẳng hay các Viện nghiên cứu hoặc các cơ quan quản lý.


    Học phí


    Học phí  : 2 500 USD/năm.


    Những sinh viên có thành tích học tập tốt nhất được hưởng học bổng theo chế độ quy định.


    Liên hệ:


    Điều phối viên chương trình: Bùi Đình Trí –[email protected]  


    Phòng đào tạo Trung tâm Đại học Pháp tại Hà Nội


    # 902, Nhà Điều hành, Đại học Quốc gia Hà Nội,


    144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội


    Tel: (04) 754 95 05         Fax: (04) 754 95 02


    Email: [email protected]

  • Thực hiện Quy định về dạy thêm học thêm đối với các trường Đại học và Cao đẳng

    Vấn đề dạy thêm học thêm đã có từ lâu, ngoài tác dụng tích cực cũng tạo ra những tiêu cực trong hoạt động dạy và học ở cả trong và ngoài nhà trường. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra thông báo số 2452/BGDĐT-VP về việc Thực hiện Quy định về dạy thêm học thêm đối với các trường Đại học và Cao đẳng

    Chi tiết thông báo