Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Công bố Quyết định của Hiệu trưởng: Thành lập Phòng KHCN, Phòng HTQT và bổ nhiệm Trưởng P3

    Theo yêu cầu thực tiễn trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển Nhà trường, thực hiện công tác kiện toàn cán bộ, bổ nhiệm và bổ sung cán bộ toàn trường, vừa qua các Quyết định của Hiệu trưởng đã được công bố bao gồm các Quyết định:


    + Thành lập 2 phòng mới: Phòng Khoa học công nghệ và Phòng Hợp tác quốc tế ( trên cơ sở phòng cũ Quản lý khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế).


    + Bổ nhiệm có thời hạn TS.Hoàng Thái Đại (Trưởng Phòng Quản lý Khoa học và hợp tác quốc tế ) giữ chức vụ Trưởng Phòng Khoa học công nghệ.


    + Bổ nhiệm có thời hạn Th.S Phạm Hồng Nga (Phó Trưởng Phòng Quản lý Khoa học và hợp tác quốc tế) giữ chức vụ Trưởng phòng Hợp tác quốc tế.


    + Bổ nhiệm TS. Trịnh Minh Thụ, Phó trưởng Khoa Công trình Thuỷ lợi, Trưởng Bộ môn Địa kỹ thuật giữ chức vụ Trưởng Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, kiêm nhiệm Trưởng Bộ môn Địa Kỹ thuật, đồng chí Trịnh Minh Thụ thôi giữ chức vụ Phó trưởng Khoa Công trình Thuỷ lợi.










    Từ trái qua phải:  Th.S Phạm Hồng Nga; GS. TS Đào Xuân Học; TS. Hoàng Thái Đại; KS. Ngô Đăng Hải


         Tham dự và chúc mừng các đồng chí được bổ nhiệm, Hiệu trưởng GS.TS Đào Xuân Học đánh giá cao sự đóng góp của công tác quản lý nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế đối với chiến lược phát triển Nhà trường giai đoạn hiện nay đối với vấn đề nâng cao trình độ trong nghiên cứư khoa học và công tác giảng dạy. Mong rằng trên cương vị mới của mình, các đồng chí sẽ xây dựng được tập thể đoàn kết, phát huy được sự chủ động và năng lực của từng thành viên trong thực thi công việc của Phòng, hoàn thành tốt những nhiệm vụ đặt ra trước mắt và lâu dài cùng với Nhà trường.


               


    Linh Ngọc


    (Ảnh HMT)

  • Chương trình hành động hưởng ứng cuộc vận động “NÓI KHÔNG VỚI TIÊU CỰC TRONG THI CỬ VÀ BỆNH THÀNH TÍCH TRONG GIÁO DỤC”






    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    ——————


    Số: 1118/CTr – ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    **************


    Hà Nội, ngày 13 tháng 10  năm 2006


     



     


    CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG


    HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG “NÓI KHÔNG VỚI TIÊU CỰC TRONG THI CỬ VÀ BỆNH THÀNH TÍCH TRONG GIÁO DỤC”


     


    Tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục là hai vấn đề bức xúc nhất hiện nay mà ngay cả những người trong ngành Giáo dục cũng cảm thấy nếu không có biện pháp khắc phục triệt để thì chúng ta đang có tội với Đất nước, với thế hệ trẻ. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 31/7/2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai sáng kiến của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, mở cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Cuộc vận động đã tạo được dư luận đồng thuận, ủng hộ của xã hội và nhân dân cả nước, đã có 07 cơ quan cấp Trung ương trong hệ thống chính trị, xã hội, nghề nghiệp triển khai chương trình phối hợp hành động, đó là: Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Công an, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đài truyền hình Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Công đoàn giáo dục Việt Nam và Hội giáo chức Việt Nam.


    “Tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” trong trường Đại học Thuỷ lợi đã được hạn chế đến mức tối đa. Tuy nhiên, hiện tượng tiêu cực trong thi cử vẫn còn len lỏi trong các kỳ thi, môn học gây ra sự phiền lòng cho lãnh đạo Nhà trường, thầy cô và các bạn sinh viên tích cực; trong một số báo cáo, kết quả đạt được chưa phản ánh chính xác công việc thực tế đã thực hiện, triển khai.


    Hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Giáo dục và đào tạo “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Trường Đại học xây dựng chương trình hành động như sau:


    I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU


    –        Phổ biến trong cán bộ, giảng viên, công nhân viên và toàn thể sinh viên biết về mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của cuộc vận động.


    –        Tạo được sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức và hành động của tất cả mọi người, xiết chặt kỷ cương trong môi trường giáo dục, đào tạo.


    –        Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thầy và trò thay đổi phương pháp dạy và học. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, giáo viên, CNV để họ toàn tâm, toàn ý với sự nghiệp đổi mới và phát triển của Trường.


    II. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH


    –        Ban chỉ đạo phòng chống tệ nạn xã hội trong Trường sẽ đảm nhận thêm nội dung “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.


    –        Tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt sử dụng trang web của trường và băng – zôn, khẩu hiệu, hình ảnh biếm hoạ trong khuôn viên và trên giảng đường.


    –        Phòng Công tác chính trị và quản lý sinh viên phối hợp với Đoàn thanh niên thành lập các đoàn kiểm tra độc lập theo dõi, đôn đốc việc thực hiện quy chế thi, kiểm tra trên giảng đường.


    –        Giao cho các đơn vị chức năng rà soát tình hình hoạt động của các ki – ốt photocopy trong địa bàn trường, yêu cầu các chủ kinh doanh kí cam kết không photocopy các dạng “phao” thi cho sinh viên.


    –        Các thầy cô giáo, các cán bộ coi thi xử lý nghiêm khắc, triệt để những trường hợp thi hộ và các trường hợp gian lận trong thi cử. Tập trung ra đề theo hướng tư duy lô gíc, có thể sử dụng tài liệu tham khảo; tránh việc học thuộc lòng; khuyến khích sử dụng câu hỏi trắc nghiệm.


    –        Đoàn thanh niên, Hội sinh viên phát động cuộc thi sáng tác: kịch bản, thơ ca, hò vè… mang tính châm biếm, phê phán thói hư tật xấu trong thi cử và thổi phồng thành tích trong giáo dục.


    –        Thanh tra giáo dục, Phòng Tổ chức cán bộ … triển khai cuộc thăm dò dư luận trong cán bộ giảng viên và sinh viên, cung cấp các địa chỉ tin cậy và số điện thoại của người có trách nhiệm cho những ai muốn phản ánh những hiện tượng tiêu cực trong thi cử.


    –        Các Bộ môn soạn thảo ngân hàng đề thi, giao cho Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng quản lý để tổ chức thi và kiểm tra độc lập, khách quan.


    –        Sinh viên phải xác định đúng mục đích học tập, tăng cường giờ tự học, tuyệt đối không vi phạm quy chế thi và nhờ người thi hộ. Lớp trưởng và Bí thư Chi đoàn phải có trách nhiệm nhắc nhở tập thể lớp trước mỗi kỳ thi, mỗi môn thi.


    –        Các đơn vị soạn thảo báo cáo thành tích, cần rà soát lại các số liệu và nội dung công việc báo cáo cho phù hợp với thực tế đã triển khai thực hiện.


    –        Xây dựng lại các tiêu chí thi đua, khen thưởng cho phù hợp với tình hình mới, chú trọng đến mục tiêu: thiết thực, hiệu quả.


    III. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN


    –        Các đơn vị chức năng liên quan xây dựng kế hoạch hưởng ứng chi tiết, cho đơn vị mình.


    –        Giao cho Phòng Công tác chính trị là đơn vị thường trực, thường xuyên đôn đốc các đơn vị thực hiện chương trình hưởng ứng cuộc vận động.


    –        Hàng quý, tổ chức giao ban giữa Ban chỉ đạo, các đơn vị thực hiện để báo cáo tình hình triển khai.


     







    Nơi gửi:


    – Bộ GD&ĐT (để b/c)


    – ĐU, BGH, CĐ, ĐTN, HSV


    – P, K, B, TT, Cty, TTrGD, TTrND, CS2


    – Các Lớp


    – TTTH (đưa lên mạng)


    – Lưu P7


    HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


     


    GS.TS Đào Xuân Học

  • Stress nơi công sở – đầu mối của bệnh tật

        Các nghiên cứu đã cho thấy sức ép nơi công sở có thể làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tim, cúm, rối loạn tiêu hoá và huyết áp cao. 
        
    Stress còn làm thay đổi khía cạnh có lợi của một số công việc đòi hỏi hoạt động thể chất, dẫn tới động mạch bị dày lên ở những người lao động bị stress so với ai hoạt động thể chất nhưng không bị stress.
        
    Một nghiên cứu trong 5 năm (từ 1998 đến 2003) trên 677 công nhân ở Israel cho thấy, những ai bị vắt kiệt sức lực tại nơi làm việc có khả năng cao gấp 1,8 lần bị tiểu đường type 2. 
        
    Stress còn gây ra các hành vi không lành mạnh như ăn kém hay uống quá nhiều chất cồn, dẫn tới các vấn đề về sức khoẻ. Trong nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu cho thấy stress có thể có làm ảnh hưởng tới khả năng cơ thể xử lý glucose, dẫn tới tiểu đường. 
        
    Kết quả còn cho thấy mệt mỏi nơi công sở dễ làm người ta ốm yếu cũng tương tự như các yếu tố khác như chỉ số cơ thể cao, hút thuốc hay thiếu vận động.
        
    Khi stress công sở không thể kiểm soát nổi, sự suy kiệt có thể dẫn tới sự tổng hợp của 3 triệu chứng: Mệt mỏi về tâm hồn, rã rời về thể xác, suy giảm về nhận thức.
        
    Giai đoạn này khác với tình trạng khó ở tạm thời sau một thời kỳ nghỉ ngơi. Nguyên nhân gây ra sự mệt mỏi nơi làm việc là thiếu động lực, lời khen, sự bất an trong công việc, thường xuyên bị vắt kiệt sức lao động và quấy rối tình dục, cũng như xung đột hằng ngày và các biến cố.
        
    Trong 677 người lao động Israel kể trên, gần 70% là đàn ông với độ tuổi trung bình là 43. Họ làm các công việc khác nhau, được chia thành 5 danh mục: quản lý cấp cao, giám sát, các công việc như kỹ sư, giáo viên, chuyên gia máy tính, những người không chuyên nghiệp và tự kinh doanh. 
        
    Bản câu hỏi cho thấy một nửa trong số họ bị suy kiệt nặng. Trong số đó, 17 người bị tiểu đường type 2.


     
    Theo Vnexpress/Livescience


     

  • Khai mạc giải bóng đá Cán bộ giáo viên năm 2007

    Khai mạc giải bóng đá Cán bộ giáo viên năm 2007

    Trong những ngày cuối thu se lạnh, thi đua lập thành tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, được sự đồng ý của Đảng uỷ Ban Giám Hiệu, BCH Công Đoàn – BCH Đoàn Thanh niên tổ chức Giải Bóng đá CB, GV trường ĐH Thuỷ Lợi 2007 khai mạc chiều ngày 19/10/2007 vừa qua.


    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường tuyên bố khai mạc giải Bóng đá cán bộ giáo viên 2007



        Đây là giải truyền thống hàng năm của CB, GV trường, là sân chơi lành mạnh, bổ ích đáp ứng nhu cầu rèn luyện sức khoẻ và giao lưu hiểu biết lẫn nhau của CB, GV nhà trường nên cạnh công việc giảng dạy và nghiên cứu, giải cũng thu hút được đông đảo số lượng CB, GV nhà trường tham gia thi đấu hết mình vì màu cờ sắc áo.

        Giải năm nay với 8 đội bóng mạnh nhất đại diện cho các đơn vị: Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm, Cty… trong nhà trường sẽ hứa hẹn là  giải đấu rất nhiều thành công và là những bó hoa tươi thắm kính tặng các thầy cô giáo nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20-11.

    Các đội tuyển tham dự Giải đại diện cho các đơn vị Phòng, Khoa Ban, Trung tâm, Công ty… trong Trường

    Bốn cặp đấu sôi nổi tranh tài trong ngày khai mạc của Giải có kết quả như sau:

     Bảng A          Khoa C – Liên quân Ban Giảng dạy:             1 – 0

                           Khoa N – Cty Tư vấn & CGCN:                    1 – 0

     Bảng B          LQ Phòng Ban – Liên quân CK + E + K:       5 – 1

                           Khoa CNTT – Khoa V:                                2 – 2

    Trân trọng kính mời các thầy cô giáo, CB, CNV nhà trường đến xem và cổ vũ cho giải đấu, sự có mặt của các thầy cô là niềm vinh dự và thành công của Giải.

    Lịch thi đấu các trận tiếp theo

     

    Ngày – Thứ

    Giờ thi đấu

    Đội thi đấu

    Bảng đấu

    Thứ 6

    26/10/2007

    15h00

    Khoa C – Cty Tư vấn & CGCN

    Khoa N – LQ Ban giảng dạy

    A

    15h00

    LQ Khoa CK+E+KT – Khoa V

    Khoa CNTT – LQ Khối Phòng ban

    B

    Thứ 6

    02/11/2007

    15h00

    Khoa C – Khoa N

    Cty Tư vấn & CGCN- LQ Ban giảng dạy

    A

    15h00

    LQ Khoa CK+E+KT –  Khoa CNTT

    Khoa V – LQ Khối Phòng Ban

    B

    Thứ 6

    9/11/2007

    15h00

    Bán kết I: Nhất A – Nhì B

    Bán kết II: Nhất B – Nhì A

     

    Thứ 6

    16/11/2007

    15h00

    Tranh giải Ba – Tư

    Chung Kết

    BẾ MẠC TRAO GIẢI

     


    Linh Ngọc

  • Chương trình Fulbright tại Việt Nam tuyển chọn ứng viên cho Chương trình học giả Việt nam năm 2008

    Chương trình Học giả Việt Nam (Vietnamese Scholar Program – VSP), một trong bốn thành phần truyền thống của chương trình Fulbright tại Việt Nam tài trợ cho học giả Việt Nam đi giảng bài và/hoặc nghiên cứu tại các viện nghiên cứu hoặc trường đại học Hoa Kỳ trong khoảng từ ba tháng đến chín tháng. Tài trợ của VSP bao gồm sinh hoạt phí hàng tháng, vé máy bay khứ hồi đi Hoa Kỳ, và phí bảo hiểm.


    Các thông tin chi tiết về VSP có trên trang Web:
    http://vietnam.usembassy.gov/fulbright.html  và
    /Modules/CMS/Upload/14/2007/thang5/fulbright.pdf   


    Hạn cuối cùng để nộp hồ sơ là 15 tháng 10 năm 2007.  

  • Giới thiệu sách do Quỹ Châu Á tài trợ


































    Ecology: Concepts and Applications = Hệ sinh thái: Khái niệm và ứng dụng/ Manuel C. Molles Jr.- 2nd edition. – Boston: McGraw Hill, 2003.- 460tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: mô tả những nét đặc trưng của hệ sinh thái đặc biệt giúp học sinh nắm bắt được các khái niệm chính của hệ sinh thái, đặc biệt chú trọng đến tính ứng dụng hơn là lý thuyết.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Environmental Science: A Global Concern= Khoa học môi trường: Mối quan tâm toàn cầu/ William P. Cunningham, Mary Ann Cunningham, Barbara Woodworth Saigo.- 7th edition.- Boston: McGraw – Hill, 2003.- 646tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Cung cấp cái nhìn tổng quan về các khái niệm cơ bản của khoa học môi trường, nhấn mạnh tác động của con người đến môi trường. Tài liệu sử dụng nhiều ví dụ, kết quả nghiên cứu và dữ liệu thu thập trên toàn cầu.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Conservation Directory 2003: Exploring nature in your neighborhood = Danh bạ các tổ chức bảo tồn thiên nhiên năm 2003: Khám phá thiên nhiên xung quanh bạn/ Bill Street.- 48th edition.- Washington: Island Press, 2003.- 770tr; 27cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Cung cấp danh mục của gần 4000 tổ chính phủ và phi chính phủ, các trường, viện nghiên cứu và hơn 18000 đơn vị liên quan đến bảo tồn thiên nhiên, giáo dục, sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên trên toàn thế giới.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Natural disasters =Thiên tai/ Patrick L.Abbott.- 4th edition.- Boston: McGraw Hill, 2004.- 460tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Tài liệu chú trọng đến thiên tai: quy luật và những tác động đến loài người và cấu trúc của trái đất, cách vận hành của thế giới tự nhiên và con người bị tử vong, bị thương tổn, thiệt hại ra sao.  Tài liệu giải thích các nguyên lý hoạt động cơ bản của trái đất được phân tích bằng các sự kiện trong lịch sử.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Environmental science : A study of interrelationships = Khoa học môi trường: Nghiên cứu các mối quan hệ/ Eldon D. Enger, Bradley F. Smith.- 9th edition.- Boston… : McGraw-Hill, 2004.- XVII, 477p. : Ill. ; 27 cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Phân tích các mối liên quan giữa môi trường và các vấn đề sinh thái: nguồn năng lượng, việc sử dụng năng lượng của con người và tác động của con người tới hệ sinh thái, các nguyên tắc về sinh thái và việc vận dụng chúng; sự ô nhiễm môi trường và chính sách môi trường


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Water Resources Management = Quản lý nguồn nước.- Washington D.C: World Bank, 1993.-140tr; 24cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Tài nguyên nước trở thành 1 lĩnh vực quan trọng nhất mà Ngân hàng thế giới hỗ trợ trong suốt 3 thập kỷ qua. Nhu cầu sử dụng nguồn nước của con người, các ngành công nghiệp và nông nghiệp tạo nên nhiều thách thức cho các nhà cung cấp nước. Tài liệu này đưa ra một hướng tiếp cận mới để quản lý nguồn nước.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Laboratory exercises in environmental geology = Các bài tập thí nghiệm trong địa chất môi trường/ Harvey Blatt.- 2nd edition. Boston…:WCB McGraw Hill, 1998.- 180tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Con người có mối liên hệ với bề mặt trái đất qua các hiện tượng như sụt lở đất, lũ lụt hay sự cung cấp thực phẩm. Ngành Địa chất môi trường chỉ ra các mối quan hệ mật thiết giữa con người và địa chất và chúng ngày càng phát triển. Tài liệu cung cấp rất đa dạng những vấn đề về địa chất được thể hiện trong mỗi bài tập từ dễ đến khó.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Principles of environmental science: Inquiry and applications = Các nguyên lý của khoa học môi trường: Điều tra và ứng dụng/  William P. Cunningham, Mary Ann Cunningham. -2nd edition. –Boston… : McGraw – Hill, 2004.-XVIII, 424p; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Tìm hiểu môi trường & các khái niệm cơ bản về sinh thái học, vật chất, năng lượng & cuộc sống, dân số, cộng đồng, sự tương tác giữa các chủng loài, quần xã sinh vật & đa dạng sinh vật, bảo tồn môi trường thiên nhiên, thực phẩm & nông nghiệp


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Valuing Tropical Forests: Methodology and Case Study of Madagascar = Đánh giá tác động của rừng nhiệt đới: Phương pháp luận và nghiên cứu thí điểm ở Madagascar/ A. Kramer; Narendra Sharma; Mohan Munasinghe.- Washington D.C: World Bank,1995.- 67tr;27cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Hiện tượng thất thoát nhiều vùng rừng nhiệt đới rộng lớn đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của thế giới. Mặc dù có nhiều nguyên nhân nhưng  quan trọng nhất là chính phủ đánh giá thấp những giá trị do rừng  mang lại và tác động của thị trường. Tài liệu này nghiên cứu một số nguyên nhân phá rừng và các vấn đề liên quan đến giá trị kinh tế của rừng nhiệt đới tại một khu vực được bảo vệ. Vùng nghiên cứu thí điểm trong tài liệu là Madagascar


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3 

     



    An Introduction to the World’s Oceans = Giới thiệu thế giới đại dương/ Sverdrup K.A., Duxbury, A.C. and A.B Duxbury.-7th edition.- Boston: McGraw Hill, 2003.-522tr; 28cm.  (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Đại dương có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thay đổi thời tiết và khí hậu toàn cầu vì chúng tương tác với khí quyển thông qua sự chuyển dịch độ ẩm và nhiệt lượng, là môi trường của các quá trình biến đổi địa chất khổng lồ và đặc biệt như động đất, núi lửa, hình thành các dãy núi đồ sộ, các rãnh sâu dưới lòng đại dương. Các qúa trình này đều liên quan đến sự hình thành và phá huỷ dưới nền đại dương trong quá trình kiến tạo địa chất. Tài liệu này tạo cơ hội cho người đọc hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới đại dương.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3 


  • Sách của dự án Đan Mạch



























































































































      An in trodution to scientific research/ E. Bright Wilson, Jr.


     -New York: Dover, 1990.


     -375tr. -21cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM N44/05; DAĐM N48/05


     The demon hauntted worl: Science as a candle tin the dark/ Sagan Carl.
     -New York: Random House, 1995.
    -457tr. -21cm. -2b
     Ký hiệu: DAĐM N 45/05; DAĐM N50/05


    Applied regression analysis, linear models, and related methods/ John Fox.
     -London: Sage, 1997.
    -597tr. -26cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM V 152/05; DAĐM V 175/05


     Giving academic presentations/ Susan. M Reinhart.
    -Michigan: University of Michigan, 2005
    -167tr. -26cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM V 153/05; DAĐM V 174/05


     Statistic for business and economics/ David. R Anderson.


    -Australia: South-Western, 2002.


    -884tr. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V154/05


     Environmental modeling: Fate and transport of pollution in water, air, and soil/ Jerald. L Schnoor.
    -New York: John Wiley  Sons, 1996.
    -682tr.-24cm


     Ký hiệu: DAĐM V155/05


     Statistic for experimenters: An introduction to design, data analysis, and model building/ George E. P. Box.
     -New York: John Wiley Sons, 1978.
     -653tr. -24cm
     Ký hiệu: DAĐM V156/05; DAĐM V176/05


     Rainfall – runoff modeling: The primer/ Keith J. Beven.
    -New York, Toronto..:
    John Wiley  Sons, 2001.
    -360tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V157/05


      Floodplain processes/ Edited by Malcolm.


    –New York: John Wiley  Sons, 1996.


     -658tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V 158/05


     Hydrologic analysis and design/ Richard H. Mc Cuen.
    -3rd edition.
     -New Jersey: Prentice – Hall, 2005.


    -859tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V160/05


    Numerical methods for engineers with software and programming applications/ Steve C. Chapra.


    -4th edition. -Boston: Mc Graw


    – Hill, 2002. -.926tr. -23cm


     Ký hiệu: DAĐM V161/05


     Environmental chemistry/ Stanley E. Manahan.
    -8th edition.
    -London: CRC, 2005.
     -783tr. -26cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V162/05






    Space and time scale varibility and interdependencies in hydrological process/ Cambridge University.


    -New York: Cambridge University, 1995.
     -181tr. -30cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L211/05


     New uncertainty concepts in hydrology and water resources: International hydrology series.


    -New York: Cambridge University, 1995.
     -322tr. -30cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L212/05


     Sustainability criteria for water resource systems: International hydrology series.


     -Cambridge, UK: Cambridge University, 1999.
    -139tr. -28cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L213/05


     Water quality modelling/ Ed Roger A. Falconer.


    -Brookfield, USA: Ashgate Publishing Company, 1992.


    -139tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V163/05


     Conflict management of water resources/ Ed Manas Chatterji, Gauri Guha.


     -Hamshire, England: Ashgate Publishing company, 2002.
    -369tr. -23cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V164/05


     Applied modeling of hydrologic time series.


    -Michigan, USA: Water Resources Publications, 1980.


    -484tr. -22cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM N46/05


     Representing and intervening: Introductory topics in the philosophy of natural science.


    -Cambridge: Cambridge University, 1983.
     -287tr. -22cm. -2b
     Ký hiệu: DAĐM N47/05; DAĐM N49/05


     Scientific method in practice/ Hugh G. Gauch Jr.


    -Cambridge: Cambridge University, 2003.
     -435tr. -23cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM V165/05; DAĐM V173/05


     Hydroinformatics: Information technology and the aquatic environment/ M. B Abbott.


    -Brookfield, USA: Avebury technical, 1991.
     -145tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V167/05


     Using multivariate statistics/ Barbara G. Tabachnik.
    -4th edition.
     -London: Allyn and Bacon, 2001.
    -966tr. -24cm


     Ký hiệu: DAĐM V168/05; DAĐM V172/05


     Farmer – Financed irrigation: the econoimics of reform/ Leslie E. Small.


    -New York: Cambridge University, 1991.
     -23tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V169/05


      River channel restoration: Guiding principles for sustainable projects/ Andrew Brookes.


    -New York: John Wiley  Sons, 1996
    -433tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V190/05


     Contemporary hydrology: Towards holistic environmental science.


    -New York: John Wiley & Sons, 1997.
     -354tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V171/05


     Introduction to the economic of water resources: an international perspective/ Merrett Stephen.


     -New York: Rowman $ Littlefield, 1997.
    -211tr. -24cm. -2b
     Ký hiệu: DAĐM V177/05; DAĐM V178/05


     An introduction to the philosophy of science/ Rudolph Carnap.


    -New York: Dover Publications, 1996.


    -300tr. -22cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM N51/05


    What is this thing called science?/ A. F. Chalmers.


     -3rd edition.
    -Cambridge: Hackett, 1999.
    -266tr. -21cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM N25/05


     Practice research: Planning and design/ Paul D. Leedy.


    -New Jersey: Prentice
    – Hall, 2005.
     -319tr. -28cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L215/05


     Introduction to the philosophy of science/ Merrilee H. Salmon.


    -Cambridge: Hackett publishing company, 1992.
    -458tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V179/05




     Design of experiments: Statiscal principles of research design and alalysis/ Robert O. Kuchl.
    -2nd edition.
    -London: Duxbury thomson learning, 2000
     -666tr. -24cm.-1b


     Ký hiệu: DAĐM V180/05


     Case studies in participatory irrigation management/ edited by david Groenfieldt, Mark Svendnse.
     -Wsanhigton, DC: World Bank institute, 2000.
     -tr. -cm. -1b.
    -(WBI learning resources series)


     Ký hiệu: DAĐM L 217/05


     Analytical framework for intergrate water resources management: Guidelines for assessment of institutional frame/ Paul J. M. Van Hofwegen.
     -Netherlands: Balkema, 1999.
     -96tr. -26cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V181/05


     Hydrology and water management in the humid tropics: Hydrologival research issues and strategies for water management/ Edited by Michael Bonell. -New York: Cambridge University, 1993. -590tr. -30cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L218/05


     Artificial neural networks for civil engineers: Fundamentals and applications/ Edited by Nabil Kartam
    -New York: ASCE, 1997.
    -216tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V182/05


     Values for the environment: Aguide to economic appraisal: Oversea development institute.
     -London: HMSO, 1991.
    -132tr. -30cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM L219/05; DAĐM L220/05


     Vietnam environment monitor 2003. -H.: World Bank, DANIDA, 2003.
     -74tr. -30cm
     Ký hiệu: DAĐM L221/05; DAĐM L222/05; DAĐM L223/05; DAĐM L224/05; DAĐM 225/05; DAĐM 226/05


     Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2003: Môi trường nước.


     -H, 2003. -74tr. -30cm


     Ký hiệu: DAĐM L227/05; DAĐM L228/05; DAĐM L229/05; DAĐM L230/05; DAĐM L231/05; DAĐM L232/05


     Surface water treatment by rouging filters: A design, contruction and operation manual.


    -Switzerland: Swiss Center for Development.
    -194tr. -29cm.-1b


     Ký hiệu: DAĐM L233/05


     Principles of water law and administration: National and internation/ Dante A. Caponera.


    -Rotterdam: A.A Balkema, 1992.


     -260tr. -27cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L234/05

  • Đoàn ADB làm việc tại Trường

    Đoàn ADB làm việc tại Trường


    Lần thứ 2 đến Việt Nam, Trưởng đoàn Công tác ADB, ông Ian Makin cho biết ADB rất quan tâm đến Việt Nam và  ủng hộ Dự án đầu tư, coi đầu tư cho trường đại học là một cách đầu tư có hiệu quả lâu  dài.  Hiện ADB có nhiều phương thức hỗ trợ nhưng với tốc độ phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, Việt Nam ko còn là nước kém phát triển nữa nên việc cho vay ko hoàn lại sẽ rất hạn chế.


    Trong buổi làm việc, PGS.TS Nguyễn Quang Kim – Phó Hiệu trưởng Nhà trường báo cáo về những đổi mới của Trường và bày tỏ mong muốn tìm ra những giải pháp tối ưu nhất để tạo cho cán bộ, sinh viên  môi trường học tập và làm việc tốt, tiếp cận với trình độ quốc tế cho sự phát triển bền vững và hiệu quả.


    ADB sẽ hỗ trợ kỹ thuật xây dựng Dự án ( gọi tắt là PPTA). Dự kiến Dự án có 3 hợp phần chính: hợp phần về phía Bộ Tài nguyên Môi trường về quản lý tài nguyên nước, hợp phần về Bộ NNPTNT về Nâng cấp hệ thống thủy nông và  hợp phần về ĐHTL.









    Giám đốc Văn phòng Tư vấn Phạm Văn Quốc đón tiếp đoàn


    Ông  Ian Makin hoàn toàn ủng hộ và đồng tình với dự án đầu tư cho Trường, đặc biệt khi Trường ta đã  xây dựng bản Chiến lược phát triển. Ông đánh giá cao sự cố gắng, những tâm huyết của Toàn trường trong việc xây dựng Chiến lược, lộ trình thực hiện chiến lược tạo điều kiện thuận lợi cho ADB nghiên cứu các hạng mục đầu tư trong từng giai đoạn cụ thể. Đại diện ADB cũng rất nhấn mạnh đến yếu tố con người trong đầu tư và việc duy trì hiệu quả đầu tư  sau đó.


    Đoàn ADB sẽ còn làm việc tại Việt Nam trong vòng 1 tuần lễ và phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn , nhóm công tác Đại học Thuỷ lợi hoàn thành  đề cương  Dự án hỗ trợ cho Trường. Nếu mọi việc tiến triển thuận lợi, Dự án sẽ được thực hiện vào nửa cuối 2007.


    Tháng 3 vừa rồi, ADB đã phối hợp với nhiều Bộ Ngành ở VN như  Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ kế hoạch đầu tư tổ chức buổi hội thảo về hỗ trợ cho ngành nước ở VN, trong buổi hội thảo đó đã đề cập đến nhiều hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực ngành nước ở VN và quản lý một số sản phẩm cụ thế trong lĩnh vực phát triển tài nguyên nước.


    Trong những năm tới đây, ADB sẽ có nhiều chương trình hỗ trợ phát triển tài nguyên nước tại VN, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội nhận được hỗ trợ tài chính từ ADB để tiến tới những hợp tác lâu dài hơn.


     


    Linh Ngọc

  • Suy nghĩ từ hình thức đào tạo tín chỉ

    Từ năm 2001, Bộ GD&ĐT đã quyết định tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy cho sinh viên theo học chế tín chỉ. Và Bộ cũng đã yêu cầu các trường đại học, cao đẳng trong cả nước, đến năm 2010 hoàn thiện chương trình đào tạo mới này để thay thế cho hình thức đào tạo theo niên chế hiện nay. Tuy nhiên, tính đến năm học 2006 – 2007, trong cả nước có khoảng 6 trường đại học áp dụng theo hình thức tín chỉ này (ở Hà Nội có 2 trường là ĐH Xây dựng, ĐH Dân lập Thăng Long, 4 trường còn lại của thành phố Hồ Chí Minh là ĐH Thủy sản Nha Trang, ĐH Đà Lạt, ĐH Khoa học tự nhiên- ĐHQG, ĐH Bách Khoa). Bởi thế cho nên cũng không có gì ngạc nhiên khi người dân và một phần sinh viên đến thời điểm này vẫn còn bỡ ngỡ, chưa hiểu (thậm chí xa lạ) với hình thức đào tạo mới này. Vậy tín chỉ là gì? Nền giáo dục nước ta sẽ gặp những thuận lợi và khó khăn nào khi thực hiện công cuộc chuyển đổi này?

    Tín chỉ (credit), theo Hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo của ĐHQG Hà Nội, là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học, bao gồm:
    (1). Thời gian học tập trên lớp
    (2). Thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học
    (3). Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.

    Như vậy, căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ đào tạo của từng khoa, từng trường, mỗi sinh viên phải hoàn thành ít nhất từ 120 – 140 tín chỉ. Ở trường ĐH Tokyo Nhật Bản, sinh viên ngành khoa học nhân văn phải hoàn thành 136 tín chỉ, với sinh viên khoa học tự nhiên là 144 tín chỉ. Một tín chỉ tương đương với 15 tiết học lý thuyết, 30 tiết thảo luận và làm bài tập, thí nghiệm, 45 – 60 tiết thực tập (như khung đào tạo của ĐH Xây dựng). Lượng kiến thức dành cho sinh viên gồm 2 khối cơ bản: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên môn. Mỗi khối kiến thức ấy cụ thể chia thành 2 nhóm học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn. Học phần bắt buộc là khối kiến thức tiên quyết bắt buộc sinh viên phải học và thi đạt mới được học tiếp sang học phần khác. Và học phần tự chọn là những kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được chọn theo hướng dẫn của nhà trường.

    Hiện nay, học chế tín chỉ là hình thức đào tạo được xem là tiên tiến trên thế giới vì mục đích đào tạo của nó là hướng vào sinh viên, coi người học là trung tâm trong quá trình dạy – học. Với hình thức này, người học chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian (chủ động lựa chọn môn học, giáo viên, giờ học…), nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu. Đồng thời đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ hạn chế được tình trạng dạy và học theo lối kinh viện (điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học, đẩy nhanh quá trình hội nhập thế giới). Đây là một phương thức đào tạo đem lại hiệu quả giáo dục cao, tạo tính mềm dẻo và khả năng thích ứng, hơn nữa cũng tạo được hiệu quả cao về quản lý và giảm được giá thành đào tạo.

    Tuy nhiên, đứng trước công cuộc cách mạng giáo dục này, chúng ta không thể không có những băn khoăn, trăn trở xung quanh việc chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ. Bài viết xin xin đề cập một số giả định:

    Thứ nhất, đào tạo tín chỉ có phải là hình thức đào tạo duy nhất và tân tiến nhất hiện nay hay không? Xin trả lời ngay, ít nhất, duy nhất thì không. Bởi trên thực tế toàn bộ nền giáo dục của châu Âu vẫn đào tạo theo kiểu niên chế. Trung Quốc và Nga cũng vậy. Còn ưu việt nhất? Không phủ nhận là Mỹ và Nhật rất thành công. Nhưng cũng không thể phủ nhận được là giáo dục đại học của những nước không tín chỉ là không thành công. Vậy có thể khẳng định: tín chỉ không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công của giáo dục đại học. Từ những lập luận ấy dẫn đến chuyện chúng ta phải lựa chọn. Nếu chỉ có một thành tố mà cái đó thành công thì tất yếu không phải chọn. Còn nếu có hai thành tố mà cả hai đều thành công thì bắt buộc phải có sự cân nhắc, chọn lựa. Và nguyên tắc là chọn cái nào hợp với mình.

    Thứ hai, về nguyên tắc lựa chọn, có mấy tiêu chí:
    (1). Hình thức nào thành công hơn?
    (2). Hình thức nào phù hợp với mình hơn?
    (3). Hình thức nào mình có thể làm được?

    – Ở tiêu chí thứ nhất, không thể nói là giáo dục của Pháp thì tốt hơn của Mỹ hay ngược lại. Chỉ có điều khi chúng ta quyết định từ bỏ cái cũ để chuyển sang cái mới thì chúng ta phải trả lời được câu hỏi: Tại sao phải có sự thay đổi đó? Không thể trả lời một cách chung chung bằng những câu như “để đuổi kịp thế giới” vì hiện nay trên thế giới có những nước không đào tạo theo hình thức học chế tín chỉ (như trên đã nói). Và hơn nữa đuổi kịp đâu đơn giản chỉ là đuổi phương thức đào tạo mà quan trọng hơn cả là phải đuổi chất lượng đào tạo. Cũng không thể trả lời rằng “để nâng chất lượng giáo dục”. Một câu hỏi đặt ra là chất lượng kém thực chất ở đâu? Cần thẳng thắn nhìn nhận sự thực là trước hết ở chính  giáo viên. Một giáo viên cả quãng đời dạy học không viết, không tham gia một báo cáo khoa học nào thì tín chỉ hay không tín chỉ chất lượng cũng vẫn dẫm chân tại chỗ, không thể thay đổi được. Nói rộng ra, một trường đào tạo khoa học cơ bản, muốn nâng chất lượng thì mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu là đào tạo phải đi đôi với nghiên cứu. Nghiên cứu kém thì đào tạo cái gì. Gốc của vấn đề là ở đấy chứ không phải ở việc đào tạo theo hình thức nào, tín chỉ hay không tín chỉ. Đuổi theo tín chỉ để mong chất lượng nâng lên là một sự lừa dối, là “đuổi mồi bắt bóng”, là làm ngược vì lẽ ra phải nâng đội ngũ cán bộ, chuẩn hóa trước để khi đã “có bột” rồi thì “gột hồ” gì chả được và chả tốt.

    – Ở tiêu chí thứ hai, về chuyện có hợp với mình hay không thì phải đặt giáo dục đại học trong quan hệ với tổng thể nền giáo dục và tổng thể xã hội. Cả nền giáo dục phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 có đào tạo con người chủ động không mà lại yêu cầu lên đại học sinh viên phải chủ động? Đào tạo tín chỉ chỉ thực sự đem lại kết quả tối ưu khi nó phù hợp với những nước mà nền giáo dục gắn chặt với thị trường lao động và tính thực chất của học vấn (học thật, thi thật, điểm thật, kiến thức thật). Ở một nước như Việt Nam (học để lấy bằng) thì e rằng khó có thể nghĩ đến chuyện thành công. Nếu áp dụng phương pháp này, khi đó kết cục tất yếu là đào tạo tín chỉ sẽ phát huy cái tiêu cực. Phần lớn sinh viên sẽ chọn môn nào dễ, thầy nào dễ để học, để có một kết quả cao, một tấm bằng “đẹp” khi đi xin việc chứ không chọn môn có hàm lượng khoa học cao và thầy giỏi để học.

    – Ở tiêu chí thứ ba, đào tạo tín chỉ đòi hỏi phải có những yêu cầu về vật chất và nguồn nhân lực thỏa mãn cho nó. Như quy định về giờ tín chỉ, giờ học lý thuyết chỉ chiếm 1/3, còn lại là giờ thực hành, tự học của sinh viên. Bởi vậy nhà trường phải có hệ thống hỗ trợ sinh viên tự học rất mạnh như thư viện, phòng vi tính, phòng học và phòng tự học…, những điều kiện về cơ sở vật chất ấy chúng ta đã có đủ chưa? Bên cạnh đó là phải có hệ thống quản lý, chúng ta đã có chưa? (Thực ra yêu cầu này không khó, các trường có thể khắc phục được). Và một điều nhức nhối nữa cần nhìn nhận lại là các cơ quan có thẩm quyền đã trả lương cho giáo viên thích đáng chưa? Nếu nói rằng mỗi giáo viên dạy một môn học phải soạn giáo trình, xây dựng đề cương môn học, lên lớp, kiểm tra, phải chấm rất nhiều bài để đánh giá kết quả học tập của sinh viên… song họ lại chỉ được trả một đồng lương rẻ mạt (15000đ/ tiết, không bằng cấp III) thì ai sẽ làm tốt từng ấy công việc?

    Nhắc đến lựa chọn thì chúng ta phải biết đầy đủ về cái hay cũng như cái dở của cả 2 hình thức đào tạo: tín chỉ và niên chế. Khi quyết định chuyển đổi, dường như không một báo cáo nào nói đến cái dở của hình thức mới. Phải chăng nó không có cái dở? Hay là chúng ta không dám nhìn thẳng vào cái dở, trốn tránh cái dở? Và nếu thế thì sự lựa chọn trong điều kiện thiếu thông tin có công bằng, hợp lí hay không, có dẫn đến thành công hay không?

    Thứ ba, một hệ thống đem ra thí nghiệm thì phải có một lộ trình bao gồm: làm thử – rút kinh nghiệm – làm thật. Chúng ta đã làm đúng lộ trình ấy chưa? Không thể nói là người khác làm thành công nên chúng ta có thể yên tâm. Một sự thật hiển nhiên là người khác có thể thành nhưng chúng ta vẫn có thể thất bại. Đấy là tư duy biện chứng. Trên thế giới, các nước đều mất khoảng gần 10 năm để chuyển đổi nhưng ở nước ta thì sao? Như ĐHQG Hà Nội, từ khi tổ chức tập huấn về chuyển đổi, hoàn chỉnh các chương trình, thẩm định và đến khi áp dụng chỉ vẻn vẹn có 2 – 3 năm. Hay như một chương trình phân ban cũng còn phải làm thí điểm vậy tại sao đào tạo tín chỉ không qua bước thí điểm, rút kinh nghiệm mà làm thật luôn? Đấy có phải là một cách làm khoa học? Và nếu nó thất bại thì sao? Câu hỏi này đã được đặt ra trong rất nhiều cuộc họp triển khai chuyển đổi hình thức đào tạo song không hiểu sao các nhà lãnh đạo có trách nhiệm vẫn im hơi lặng tiếng (nếu không muốn nói thẳng là họ đã lấp liếm đi). Từ trước đến nay, ở các trường đã có bao nhiêu cuộc thí nghiệm? Cả nền giáo dục đã có bao nhiêu cuộc thí nghiệm? Và cuối cùng thì thế nào? Không nói cũng đủ biết.
    Trước thực tế đặt ra như vậy, vấn đề có nên áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ hay không, cho đến nay, vẫn là một bài toán khó mà các nhà quản lý giáo dục chưa tìm được đáp án.

    Theo Tiasang

     

  • Nghiệm thu Đề tài NCKH cấp Nhà nước

    Nghiệm thu Đề tài NCKH cấp Nhà nước




    Ngày 7/1/2006 Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi đã tổ chức Đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam trung bộ và Tây nguyên và Xây dựng các giải pháp phòng chống” – Mã số KC-08-22 do PGS.TS Nguyễn Quang Kim làm chủ nhiệm và Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi chủ trì.


    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở gồm 9 thành viên lá các Nhà Khoa học có uy tín trong các ngành khoa học liên quan, đánh giá cao các kết quả đạt được của đề tài và đã thống nhất đề nghị cho đề tài được nghiệm thu ở cấp Nhà nước


    Xem tóm tắt báo cáo (Download)









                                                                                Nguồn: CS2-ĐHTL