Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Lớp học về xử lý nền đất yếu và nền móng công trình

    Được sự ủng hộ và giúp đỡ của Hội đồng đăng bạ kỹ sư chuyên nghiệp Việt Nam, Tổng hội Xây dựng Việt Nam (LH các hội Khoa học và Kỹ thuật VN), Hội Cơ học đất và Địa Kỹ thuật công trình Quốc tế (ISSMGE), Hội Cơ học đất và Địa Kỹ thuật công trình Việt Nam (VSSMGE), Viện Địa Kỹ thuật (VGI), Công ty Cổ phần Tư vấn AA (AA-Corp) và Trung tâm Tư vấn KHCN HANTECH (TCty XD Hà Nội) phối hợp tổ chức lớp học về xử lý nền đất yếu và nền móng công trình (Short Course on Soil Improvement and Foundation Engineering – COSIFE-07’).


    Chi tiết lớp học

  • Đổi mới giáo dục và người lãnh đạo: Phần 1: Thế giới thay đổi – Giáo dục thay đổi


    >> Phần 2: Xu hướng học tập và vai trò hiệu trưởng


    >> Phần 3: Những việc cần triển khai


    >> Phần 1: Thế giới thay đổi – Giáo dục thay đổi

    Hấu hết các chuyên gia đều khẳng định rằng xã hội đã thay đổi rất nhiều bởi tiến bộ công nghệ, thế mà giáo dục của thế giới thì lại tụt hậu không đáp ứng được đòi hỏi mới. Vì vậy cần thiết có sự thay đổi căn bản trong cách nghĩ và cách quan niệm của toàn thể đội ngũ những người làm về giáo dục trên toàn thế giới. Trong bối cảnh đó giáo dục Việt Nam còn có những đặc thù riêng cần được nhìn nhận rõ.
    Người ta phải nhìn lại sự thay đổi của loài người, nhìn lại bản chất việc học tập và sự phát triển của hệ thống giáo dục, để từ đó thấy ra những việc cần thực hiện, những điều cần kíp phải tiến hành ngay để cho giáo dục đáp ứng được với đòi hỏi của thời đại.


    1. Thế giới thay đổi


    Chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi thường xuyên, và tốc độ thay đổi ngày một tăng cao do những tiến bộ và tác động của công nghệ đem lại. Lịch sử loài người cho thấy rõ sự tăng tốc thay đổi này diễn ra như thế nào.


    Con người bắt đầu tạo ra thay đổi từ việc biến đổi và di chuyển vật chất. Vật chất được người này biến đổi, chế tạo và thông qua buôn bán, di chuyển mà chuyển giao cho những người khác. Phương tiện di chuyển vật chất  đã tiến hoá nhanh chóng qua nhiều hình thái: từ dùng sức người, dùng đôi chân đi bộ chuyển sang dùng sức con vật chuyên chở, dùng  tầu bè – dùng sức gió đẩy thuyền đi. Tốc độ di chuyển do vậy tăng lên.


    Việc thay đổi về cách biến đổi, sử dụng và chuyển tải năng lượng là một nhân tố khác làm cho sự thay đổi trong xã hội con người được tăng tốc lên. Từ năng lượng cơ bắp của con người hay con vật, nhiều dạng năng lượng tự nhiên khác đã được khoa học khám phá ra và công nghệ giúp khai thác sử dụng: than đá, hơi nước, gió, điện, nguyên tử… Thuyền chạy bằng hơi nước và động cơ đốt trong ra đời đánh dấu kỉ nguyên máy móc hoá, tự động hoá các phương tiện di chuyển.








    Việc thay đổi về cách thức sử dụng và truyền bá thông tin và tri thức làm cho xã hội con người còn biến chuyển nhanh hơn nữa. Con người lan tỏa trên thế giới và làm xuất hiện của các nền văn minh đầu tiên của nhân loại dựa trên thông tin và tri thức truyền khẩu, trao đổi trực tiếp qua hoạt động cụ thể. Chữ viết ra đời góp phần vào việc truyền bá tri thức và kinh nghiệm của từng cá nhân cho cả động đồng. Xã hội hình thành cơ cấu chuyển phát tin tức cho các cá nhân qua việc gửi thư. Hơn nữa, việc truyền và phổ biến tri thức và kinh nghiệm được thực hiện qua chữ viết và qua hệ thống giáo dục. Do đó những thay đổi trong xã hội đã xuất hiện với việc thay đổi cách thể hiện và truyền tải thông tin.


    Cách mạng công nghiệp cho phép sáng tạo của con người kết hợp vật chất và năng lượng thành máy móc để chế tạo ra các sản phẩm vật chất với số lượng lớn. Khoa học và công nghệ phát triển cho phép thực hiện truyền điện tín đầu tiên qua khoảng cách xa từ đầu thế kỉ 19. Thế kỉ 20 chứng kiến nhiều phát minh công nghệ cho phép chuyển tải nhiều dạng thông tin trực tiếp tới từng người: radio ra đời truyền tiếng nói tới cho mọi người, biểu diễn và truyền thông tin âm thanh. Truyền hình cho phép các thông tin và hình ảnh được truyền trực tiếp tới từng cá nhân trên phạm vi toàn thế giới.


    Sự phát triển của công nghệ đã làm cho máy tính phát triển và được phổ cập trong xã hội. Đi song hành với điều đó là việc hình thành mạng liên lạc viễn thông toàn cầu, cho phép trao đổi thông tin qua mạng máy tính. Cách mạng thông tin và tri thức đang diễn ra với tốc độ nhanh đang đưa xã hội loài người vào thời kì phát triển mới. Khối lượng và tốc độ trao đổi thông tin tăng lên nhanh chóng làm nền tảng để tích lũy và chuyển giao kho trí tuệ của cả nhân loại cho từng người trên toàn cầu. Điều này thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển.


    Các tiến bộ của xã hội đòi hỏi con người của thời đại mới phải có các khả năng mới: học tập, giải quyết vấn đề, trao đổi, làm việc theo tổ, làm công dân, làm lãnh đạo. Những khả năng mới này chưa được hệ thống giáo dục cổ điển đề cập tới và học sinh chưa được trang bị những tri thức và kĩ năng cần thiết để đáp ứng đòi hỏi mới. Xã hội phải tiến hành đào tạo lại người lao động sau khi tiếp nhận các học sinh đã hoàn thành việc học tập trong trường học. Tiến bộ xã hội đang gây sức ép buộc hệ thống giáo dục phải có những thay đổi để có thể cung cấp những con người phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại.


    2. Học sinh thay đổi


    Cơ hội học tập cho trẻ em đã tiến hoá qua các hình thái xã hội. Trong hầu hết lịch sử nhân loại, cơ hội học tập không xảy ra trong trường học. Trẻ em thời săn bắn hái lượm học bằng cách quan sát và bắt chước người lớn. Trong thời xã hội nông nghiệp, trẻ em vẫn chưa tới trường và vẫn học bằng quan sát và bắt chước người lớn. Xã hội thủ công nghiệp và công nghiệp đặt ra những yêu cầu mới về con người có kĩ năng làm việc phối hợp nhau.


    Đòi hỏi của xã hội phát triển là mọi người mới đều cần phải có một nghề nào đó để kiếm sống. Những người trẻ tuổi học nghề bằng cách làm việc bên cạnh thầy trong nhiều năm. Việc đào tạo như vậy thực chất là thông qua thực hành và áp dụng. Tri thức và kĩ năng của người học thu được qua quan sát và tương tác với chuyên gia. Việc học tập chủ yếu thông qua phạm sai lầm, người học quan sát chuyên gia làm và tự sửa các sai lầm của mình.


    Khi xã hội phức tạp lên, xuất hiện các hình thái trường học. Tại Hy Lạp xuất hiện các trường của Platon, Aristotle…, mang tính hàn lâm, dạy về các lí luận khoa học và triết học, chưa dành cho học sinh nhỏ tuổi, không có bài tập và không có thi cử. Tại phương Đông các đạo tràng được hình thành rất sớm để tạo môi trường phát triển tâm linh cho một số người đi vào tìm hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống, đa phần là người lớn. Còn với đa số dân chúng ở phương Đông thì có các trường học xuất hiện để dạy về văn học, lịch sử, thơ ca… Có hình thức các lớp học cho trò nhỏ có thầy dạy ở từng địa phương và có tổ chức thi cử quốc gia để tuyển chọn người vào bộ máy quan lại.


    Học sinh trong thời đại hiện nay đang thay đổi khác hẳn với các học sinh thời trước. Học sinh thời đại số thức, thời mạng, quen làm nhiều việc một lúc, đồng thời nghe nhạc, nói điện thoại và dùng máy tính. Họ mang tính chất tự học và tự tìm hiểu vấn đề nhiều hơn. Học và chơi trò chơi trên máy tính thực tế trở thành một phần của việc giáo dục con người.


    Thế giới đang thay đổi và điều này được mọi người thừa nhận. TS. Peter Vaill, giáo sư về quản lí, Đại học Antioch nhấn mạnh: “Trong thế giới làm việc ngày nay, chúng ta phải giải quyết với việc tăng vùn vụt những thay đổi”. Những thay đổi đó tạo ra các yêu cầu và cơ hội học tập mới cho mọi người. TS John Dewey nói: “Việc đi học cần được xem như bản thân cuộc sống”. TS John Seely Brown bình luận: “Công nghệ mới đã tác động lên sự ưa thích học tập của học sinh”.


    3. Tiến hóa của hệ thống giáo dục


    Xã hội hiện đại đòi hỏi các công dân phải có những tri thức tối thiểu để tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội. Đó là các tri thức tối thiểu về đọc, viết, làm tính đơn giản, quyền công dân và giá trị đạo đức mà học sinh phải biết. Các trường công ra đời để đáp ứng cho yêu cầu này trong việc dạy cho học sinh những yêu cầu tối thiếu của xã hội.


    Xã hội cần phải cung cấp các cơ hội học tập cho số đông người mới lớn và do đó xã hội đã chấp nhận giáo dục là một thành tố quan trọng cần được chính phủ chăm nom phát triển. Tuy nhiên nhấn mạnh chủ yếu của xã hội là áp đặt một số hiểu biết và tri thức nhất định lên học sinh. Hệ thống giáo dục lấy thầy là người đại diện cho việc cung cấp tri thức, học sinh là người chấp nhận thụ động khối lượng tri thức do thầy chuyển giao. Các trường công đã xuất hiện cùng với việc nhà nước đầu tư cho hệ thống giáo dục và phát triển trường học xem như  hạ tầng cơ sở cần thiết của xã hội.


    3.1 Hệ thống giáo dục phổ thông


    Xã hội hình thành cơ chế giáo dục chuyên môn để dạy các tri thức nghề nghiệp và tri thức giao tiếp xã hội, các chuẩn mực đạo đức. Cơ chế nhà trường phổ thông xuất hiện dựa trên việc biến đổi mô hình trường học cổ điển, hàn lâm của người lớn, trở thành nơi dạy học cho học sinh nhỏ tuổi. Bởi vì không thể có nhiều thầy thực giỏi và có tầm cỡ cho nên các trường phải sử dụng các thầy giáo đã được đào tạo chính qui và thống nhất dùng giáo trình đã được những người có kinh nghiệm soạn ra. Các yếu tố khoa học được đưa vào các giáo trình dạy học. Xu hướng dạy các tri thức hàn lâm xuất phát từ sự phát triển của khoa học đã dần trở nên chiếm ưu thế trong một thời gian dài, khi mà trình độ phát triển công nghệ của xã hội còn thấp.


    3.2 Thay đổi mục đích giáo dục


    Mục đích giáo dục của thế kỉ hai mươi mốt là rất khác với mục đích của các thời trước. Sự dịch chuyển này là quan trọng và được cần lưu tâm khi xem xét tới những lời phàn nàn rằng trường học đang “kém đi”. Trong nhiều trường hợp các trường dường như vẫn vận hành như cũ, nhưng thách thức và trông đợi của xã hội đã thay đổi triệt để.


    Trong các xã hội phương Đông thời xưa, mục đích của giáo dục là cung cấp các tri thức văn chương và nguyên lí đạo đức để đào tạo người ra làm quan cai trị dân. Việc dạy học ban đầu nhằm vào việc dạy viết chữ, đọc chữ, và về sau là học các văn bản thánh hiền, các pho sách được coi như những kinh sách chính dạy làm người, dạy đối nhân xử thế. Tri thức trong mối quan hệ xã hội và thái độ với con người được nhấn mạnh hơn là tri thức về khoa học, về tự nhiên. Việc học nghề trong xã hội chủ yếu được thực hiện qua truyền khẩu và qua thực hành, không đi sâu vào lí thuyết.


    Mục đích của trường học Châu Âu vào đầu thế kỉ 19 có khác hơn, và có xu hướng đi theo sự phát triển của khoa học và công nghệ. Việc dạy học tập trung vào cơ chế viết khi thầy giáo đọc chính tả, truyền các thông điệp bằng lời thành dạng viết ra. Mãi đến giữa thế kỉ 19 việc viết mới bắt đầu được dạy ở mức độ phổ cập ở hầu hết các nước Châu Âu, và học sinh bắt đầu được yêu cầu soạn bài văn của mình. Cho dù vậy thì việc dạy viết chủ yếu vẫn nhằm vào việc cho trẻ em khả năng bắt chước sát với dạng văn bản rất đơn giản. Mãi cho tới những năm 1930 mới nổi lên ý tưởng về việc học sinh phổ thông cơ sở cần phải biết tự diễn đạt suy nghĩ của mình qua việc viết. Gần đây nhiều trường coi việc phân tích và diễn giải điều học sinh đã được đọc là yêu cầu chính. Về tổng thể, định nghĩa về học vấn chức năng đã thay đổi từ khả năng kí tên sang đọc thông tin.


    Vào đầu thế kỉ 19, thách thức của việc cung cấp giáo dục quảng đại đã được nhiều người coi như tương tự với sản xuất hàng loạt trong các nhà máy. Những người quản trị trường học đều hăm hở dùng cách tổ chức “khoa học” của nhà máy để cấu trúc lớp học hiệu quả. Trẻ em được coi như vật liệu thô cần được các công nhân kĩ thuật (thầy giáo) xử lí hiệu quả để đạt tới sản phẩm cuối cùng. Cách tiếp cận này định phân loại vật liệu thô (trẻ em) sao cho chúng có thể được xử lí bằng cách nào đó như trong dây chuyền lắp ráp. Giáo viên được coi như công nhân có việc làm là thực hiện các chỉ thị từ cấp trên của họ – những chuyên gia lão luyện về trường học (các nhà quản trị và nhà nghiên cứu).


    Việc mô phỏng tính hiệu quả nhà máy đã thúc đẩy thêm sự phát triển các phép kiểm tra được chuẩn hoá để đo “sản phẩm,” công trình lao động bàn giấy của các giáo viên, để lưu giữ các bản ghi lại về chi phí và tiến bộ (thường là chi phí cho việc dạy), và về “việc quản lí” của các cấp lãnh đạo quận, sở, những người có rất ít tri thức về thực hành giáo dục hay triết lí. Nói tóm lại, mô hình xưởng máy đã ảnh hưởng tới thiết kế chương trình, bài giảng và cách đánh giá trong trường học. Và ảnh hưởng đó còn kéo dài tới tận ngày nay.


    3.3 Yêu cầu đối với giáo dục hiện đại


    Giáo dục hiện đại đang đứng trước yêu cầu và thách thức lớn lao của xã hội hiện đại. Mô hình trường học theo kiểu xưởng máy của thế kỉ trước không còn phù hợp nữa. Việc học tập của học sinh không thể là thụ động tiếp thu bài giảng của giáo viên mà phải là sự tham gia tích cực vào các hoạt động tập thế, theo dự án, để có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất và xã hội sau này.


    Ngày nay, học sinh cần nắm rõ trạng thái tri thức của mình và phải xây dựng nó, cải tiến nó, và ra quyết định trong việc đối diện với sự không chắc chắn của môi trường. Hai khái niệm về tri thức đã được John Dewey (1916) chỉ ra là việc nắm vững văn hoá và sự tham dự vào các quá trình hoạt động thực tế, như vẫn được diễn tả bởi từ “làm”. Xã hội quan niệm học sinh tốt nghiệp là người có thể nhận diện và giải quyết vấn đề và có đóng góp cho xã hội trong cuộc đời họ – những người thể hiện phẩm chất của “chuyên gia thích ứng”. Việc đạt tới tầm nhìn này đòi hỏi phải tư duy lại điều đã được dạy, cách các giáo viên giảng dạy và cách đánh giá học sinh học thế nào.


    4. Quan điểm giáo dục thay đổi
    4.1 Quan điểm dạy học cổ điển








    John Taylor Gatto nhận xét trong cuốn sách Lịch sử ngầm của giáo dục Mỹ, “giáo dục phổ thông ban đầu làm trống rỗng học sinh”. Đó là việc tách rời học sinh ra khỏi công việc thường lệ của xã hội cho tới khi học sinh đã học xong hệ thống tri thức do người lớn soạn thảo, theo quan điểm hàn lâm. Học sinh được đánh giá về năng lực học tập theo điểm số thầy giáo cho, vì vậy không thấy được tầm nhìn về hành vi tương lai của mình, sự đóng góp của mình. Việc đánh giá bằng điểm số này được thực hiện thường xuyên và công khai. Học sinh được hệ thống giáo dục và gia đình theo dõi liên tục từ sáng sớm tới tối mịt, không có thời gian và không gian riêng tư. Thời gian trong ngày của học sinh bị trút đầy bởi các hoạt động do nhà trường và thầy giáo ấn định.
    Quan điểm giáo dục cổ điển này thực tế đã tạo ra những học sinh thiếu năng động và linh hoạt trong cuộc sống, thiếu nhiều kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại. Nhiều kĩ năng làm việc liên con người, cộng tác trong các nhóm lao động thực tế rất cần cho xã hội vẫn chưa được đưa vào huấn luyện cho học sinh. Nhiều kĩ năng truy tìm tri thức mới có trên thế giới chưa được giới thiệu cho học sinh. Sự tách rời giữa những thành tựu mới đang được sử dụng trong xã hội với những tri thức học sinh được trang bị trong trường đã dẫn tới việc xã hội phải mất thêm thời gian đào tạo lại người lao động trong các cơ sở sản xuất.


    4.2 Mục tiêu của học và dạy hiện đại


    Betty Stricker, giáo sư tại đại học Vanderbilt nêu ra mục tiêu của học và dạy hiện đại: “Mục tiêu của  học viên là trở thành nhà chuyên môn có hiệu quả trong các công việc mà thực tế yêu cầu.” TS Peter Vaill, GS Đại học Antioch thì nhấn mạnh: “Mục tiêu quan trọng của giáo dục là giúp học sinh trở thành chuyên gia thích ứng”.


    Chuyên gia thích ứng là gì? Khái niệm về chuyên gia thích ứng cung cấp một mô hình quan trọng cho việc học thành công. Chuyên gia thích ứng là người có khả năng tiếp cận tới những tình huống mới một cách linh hoạt và học trong cả đời mình. Họ không chỉ dùng điều mình đã học, họ mang khả năng siêu nhận thức, tức là tự nhận thức chính việc học tập của mình, và thường xuyên xem xét mức độ chuyên gia của mình và cố gắng vượt ra ngoài các mức độ đó. Họ không đơn giản cố gắng làm cùng một điều một cách hiệu quả hơn; họ cố gắng làm mọi thứ tốt hơn.
    Nghiên cứu từ khoa học học tập cho biết: việc tổ hợp của tri thức, kĩ năng và thái độ là điều cần thiết cho sự thành công trong thế kỉ 21. Tri thức chuyên gia thích ứng là việc biết cách giữ cân bằng giữa tính hiệu quả công việc và tính canh tân, đổi mới công việc.


    4.3 Học tập kiểu thích ứng


    Tri thức được hệ thống hóa giúp ta hiểu và suy diễn, do đó làm cho ta hiệu quả hơn. Tuy nhiên vấn đề chính là phải thích ứng với tình huống mới chứ không chỉ áp dụng những điều đã được học. Việc học tập không theo kiểu bắt chước ngu xuẩn, không đi theo cách thức làm mọi việc đã quen thuộc trước đây mà đi theo cách làm phù hợp thực tế là con đường đưa tới tri thức mới.
    Học tập kiểu thích ứng chính là quá trình buông bỏ những giả định cũ để giúp cho việc xác định không gian vấn đề mới. Nhưng việc buông bỏ các ý tưởng, niềm tin và lệ thường mà chúng ta đã yêu mến và dùng thời gian lâu thường là cực kì khó khăn. Đi theo những cái mới thường đòi hỏi người ta phải buông bỏ kĩ năng và tri thức cũ đã thu được trước đó để dấn thân vào những lĩnh vực mình còn chưa biết và khám phá ra những tri thức mới.


    4.4 Quan điểm dạy học: Dạy theo giáo án và dạy sáng tạo


    Quan điểm dạy học truyền thống xoay quanh vai trò chủ đạo của giáo viên trong tổ chức học tập cho học sinh. Giáo án của giáo viên chính là bản kế hoạch trung tâm cho các hoạt động dạy học diễn ra. Giả định ban đầu là giáo viên cần soạn giáo án, lập kế hoạch giảng dạy chi tiết và tiến hành giảng dạy theo giáo án. Với sự phổ cập giáo dục, với nhiều giáo viên tham gia giảng dạy, điều e ngại chính là nếu không có giáo án chi tiết nhiều giáo viên sẽ không dạy được hiệu quả. Và giáo án cần được soạn tuân theo các chuẩn mực đã được những người có kinh nghiệm giảng dạy thiết lập ra. Do đó dần dần dạy theo giáo án trở thành một yêu cầu bắt buộc với các giáo viên.


    Tuy nhiên những người phê bình “dạy theo giáo án” lo ngại việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh bị suy giảm khi giáo viên coi vai trò của mình chủ yếu là tuân thủ chặt chẽ giáo án. Bản chất vấn đề dạy học không phải chỉ là hoàn thành những kế hoạch được vạch sẵn mà không tính tới những biến đổi của môi trường và người học. TS Geneva Gay, Đại học Washington quan niệm “Việc dạy hiệu quả là hành động sáng tạo”. Điều này có nghĩa là bên cạnh tính hiệu quả của dạy học, vốn chỉ là một phần, cần phải quan tâm và coi việc sáng tạo trong dạy học mới đem lại hiệu quả chính.


    Tại sao phải dạy có sáng tạo? Giáo viên phải thích ứng sáng tạo theo nhu cầu của học sinh để có tính hiệu quả, tức là đào tạo ra học sinh đáp ứng được cho nhu cầu xã hội. Giáo viên phải liên tục thích ứng với thế giới đang thay đổi của chúng ta để đưa những cái mới vào giảng dạy cho học sinh. Điều này cần sự sáng tạo.


    4.5 Tính sáng tạo và canh tân


    Tính sáng tạo bao gồm các hành động mới và thích hợp với những gì đã được qui định thành chuẩn. Giảng dạy sáng tạo bao hàm việc tuân thủ mục đích và các chuẩn do cộng đồng giáo dục lập ra. Việc tuân thủ các chuẩn này là một đảm bảo cho việc dạy học đáp ứng được yêu cầu. Tuy nhiên giảng dạy sáng tạo còn bao hàm việc lấy người học làm trung tâm. Dạy học có tương tác cao giữa học sinh và giáo viên là cần thiết để đảm bảo rằng mọi học sinh đều thành công. Thông qua việc đánh giá thực tế tri thức và kĩ năng của người học, giáo viên thích ứng việc dạy để thúc đẩy việc học đạt kết quả lớn hơn.


    Giáo viên phải là những nhà chuyên môn, không đơn giản tuân theo “giáo án” làm sẵn. Vai trò của họ là tác nhân đổi mới trong tập các ràng buộc sẵn có. Do đó bản thân giáo viên cũng phải là các chuyên gia thích ứng. Họ phải là những người nhanh chóng và nhậy bén nhận ra những đòi hỏi mới từ học sinh để từ đó thay đổi, biến đổi các giáo án của mình đáp ứng cho các nhu cầu mới đó và đóng góp thêm cho sự phát triển của các giáo án tốt.


     Theo Tiasang

  • Nghiệm thu hai đề tài NCKH cấp Trường năm 2005

    Theo kế hoạch đã định, chiều 17/1/2006 tại Văn phòng Khoa CNTT, Nhà trường tổ chức các Hội đồng Nghiệm thu hai đề tài NCKH cấp Trường năm 2005:


    1.      “Nghiên cứu & ứng dụng công nghệ Visual.NET vào công tác quản lý cơ sở Trường ĐH TL” do PGS.TS Nguyễn Đăng Tộ làm chủ nhiệm


    2.      “Nghiên cứu ứng dụng chuẩn giáo dục điện tử Quốc tế SCORM vào thiết kế khóa học Tin học đại cương” do ThS Nguyễn Thị Vinh làm chủ nhiệm

    Cả hai đề tài đều được đánh giá loại xuất sắc và đề nghị triển khai tiếp.  GS.TS Đào Xuân Học, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu đề tài thứ hai đã cho ý kiến chỉ đạo đăng tải  ngay các bài giảng điện tử môn Tin Đại cương lên trang web của trường để thử nghiệm trong hai tháng .  Sau đó một hội thảo cấp trường sẽ được tổ chức để tổng kết và triển khai mô hình đào tạo này trong toàn trường trong thời gian tới.
    Tất cả những ai quan tâm có thể truy cập thông qua địa chỉ này

  • Công bố Quyết định của Hiệu trưởng: Thành lập Phòng KHCN, Phòng HTQT và bổ nhiệm Trưởng P3

    Theo yêu cầu thực tiễn trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển Nhà trường, thực hiện công tác kiện toàn cán bộ, bổ nhiệm và bổ sung cán bộ toàn trường, vừa qua các Quyết định của Hiệu trưởng đã được công bố bao gồm các Quyết định:


    + Thành lập 2 phòng mới: Phòng Khoa học công nghệ và Phòng Hợp tác quốc tế ( trên cơ sở phòng cũ Quản lý khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế).


    + Bổ nhiệm có thời hạn TS.Hoàng Thái Đại (Trưởng Phòng Quản lý Khoa học và hợp tác quốc tế ) giữ chức vụ Trưởng Phòng Khoa học công nghệ.


    + Bổ nhiệm có thời hạn Th.S Phạm Hồng Nga (Phó Trưởng Phòng Quản lý Khoa học và hợp tác quốc tế) giữ chức vụ Trưởng phòng Hợp tác quốc tế.


    + Bổ nhiệm TS. Trịnh Minh Thụ, Phó trưởng Khoa Công trình Thuỷ lợi, Trưởng Bộ môn Địa kỹ thuật giữ chức vụ Trưởng Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, kiêm nhiệm Trưởng Bộ môn Địa Kỹ thuật, đồng chí Trịnh Minh Thụ thôi giữ chức vụ Phó trưởng Khoa Công trình Thuỷ lợi.










    Từ trái qua phải:  Th.S Phạm Hồng Nga; GS. TS Đào Xuân Học; TS. Hoàng Thái Đại; KS. Ngô Đăng Hải


         Tham dự và chúc mừng các đồng chí được bổ nhiệm, Hiệu trưởng GS.TS Đào Xuân Học đánh giá cao sự đóng góp của công tác quản lý nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế đối với chiến lược phát triển Nhà trường giai đoạn hiện nay đối với vấn đề nâng cao trình độ trong nghiên cứư khoa học và công tác giảng dạy. Mong rằng trên cương vị mới của mình, các đồng chí sẽ xây dựng được tập thể đoàn kết, phát huy được sự chủ động và năng lực của từng thành viên trong thực thi công việc của Phòng, hoàn thành tốt những nhiệm vụ đặt ra trước mắt và lâu dài cùng với Nhà trường.


               


    Linh Ngọc


    (Ảnh HMT)

  • Chương trình hành động hưởng ứng cuộc vận động “NÓI KHÔNG VỚI TIÊU CỰC TRONG THI CỬ VÀ BỆNH THÀNH TÍCH TRONG GIÁO DỤC”






    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    ——————


    Số: 1118/CTr – ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    **************


    Hà Nội, ngày 13 tháng 10  năm 2006


     



     


    CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG


    HƯỞNG ỨNG CUỘC VẬN ĐỘNG “NÓI KHÔNG VỚI TIÊU CỰC TRONG THI CỬ VÀ BỆNH THÀNH TÍCH TRONG GIÁO DỤC”


     


    Tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục là hai vấn đề bức xúc nhất hiện nay mà ngay cả những người trong ngành Giáo dục cũng cảm thấy nếu không có biện pháp khắc phục triệt để thì chúng ta đang có tội với Đất nước, với thế hệ trẻ. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 31/7/2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai sáng kiến của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, mở cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Cuộc vận động đã tạo được dư luận đồng thuận, ủng hộ của xã hội và nhân dân cả nước, đã có 07 cơ quan cấp Trung ương trong hệ thống chính trị, xã hội, nghề nghiệp triển khai chương trình phối hợp hành động, đó là: Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Công an, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đài truyền hình Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Công đoàn giáo dục Việt Nam và Hội giáo chức Việt Nam.


    “Tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” trong trường Đại học Thuỷ lợi đã được hạn chế đến mức tối đa. Tuy nhiên, hiện tượng tiêu cực trong thi cử vẫn còn len lỏi trong các kỳ thi, môn học gây ra sự phiền lòng cho lãnh đạo Nhà trường, thầy cô và các bạn sinh viên tích cực; trong một số báo cáo, kết quả đạt được chưa phản ánh chính xác công việc thực tế đã thực hiện, triển khai.


    Hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Giáo dục và đào tạo “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Trường Đại học xây dựng chương trình hành động như sau:


    I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU


    –        Phổ biến trong cán bộ, giảng viên, công nhân viên và toàn thể sinh viên biết về mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của cuộc vận động.


    –        Tạo được sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức và hành động của tất cả mọi người, xiết chặt kỷ cương trong môi trường giáo dục, đào tạo.


    –        Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thầy và trò thay đổi phương pháp dạy và học. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, giáo viên, CNV để họ toàn tâm, toàn ý với sự nghiệp đổi mới và phát triển của Trường.


    II. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH


    –        Ban chỉ đạo phòng chống tệ nạn xã hội trong Trường sẽ đảm nhận thêm nội dung “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.


    –        Tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt sử dụng trang web của trường và băng – zôn, khẩu hiệu, hình ảnh biếm hoạ trong khuôn viên và trên giảng đường.


    –        Phòng Công tác chính trị và quản lý sinh viên phối hợp với Đoàn thanh niên thành lập các đoàn kiểm tra độc lập theo dõi, đôn đốc việc thực hiện quy chế thi, kiểm tra trên giảng đường.


    –        Giao cho các đơn vị chức năng rà soát tình hình hoạt động của các ki – ốt photocopy trong địa bàn trường, yêu cầu các chủ kinh doanh kí cam kết không photocopy các dạng “phao” thi cho sinh viên.


    –        Các thầy cô giáo, các cán bộ coi thi xử lý nghiêm khắc, triệt để những trường hợp thi hộ và các trường hợp gian lận trong thi cử. Tập trung ra đề theo hướng tư duy lô gíc, có thể sử dụng tài liệu tham khảo; tránh việc học thuộc lòng; khuyến khích sử dụng câu hỏi trắc nghiệm.


    –        Đoàn thanh niên, Hội sinh viên phát động cuộc thi sáng tác: kịch bản, thơ ca, hò vè… mang tính châm biếm, phê phán thói hư tật xấu trong thi cử và thổi phồng thành tích trong giáo dục.


    –        Thanh tra giáo dục, Phòng Tổ chức cán bộ … triển khai cuộc thăm dò dư luận trong cán bộ giảng viên và sinh viên, cung cấp các địa chỉ tin cậy và số điện thoại của người có trách nhiệm cho những ai muốn phản ánh những hiện tượng tiêu cực trong thi cử.


    –        Các Bộ môn soạn thảo ngân hàng đề thi, giao cho Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng quản lý để tổ chức thi và kiểm tra độc lập, khách quan.


    –        Sinh viên phải xác định đúng mục đích học tập, tăng cường giờ tự học, tuyệt đối không vi phạm quy chế thi và nhờ người thi hộ. Lớp trưởng và Bí thư Chi đoàn phải có trách nhiệm nhắc nhở tập thể lớp trước mỗi kỳ thi, mỗi môn thi.


    –        Các đơn vị soạn thảo báo cáo thành tích, cần rà soát lại các số liệu và nội dung công việc báo cáo cho phù hợp với thực tế đã triển khai thực hiện.


    –        Xây dựng lại các tiêu chí thi đua, khen thưởng cho phù hợp với tình hình mới, chú trọng đến mục tiêu: thiết thực, hiệu quả.


    III. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN


    –        Các đơn vị chức năng liên quan xây dựng kế hoạch hưởng ứng chi tiết, cho đơn vị mình.


    –        Giao cho Phòng Công tác chính trị là đơn vị thường trực, thường xuyên đôn đốc các đơn vị thực hiện chương trình hưởng ứng cuộc vận động.


    –        Hàng quý, tổ chức giao ban giữa Ban chỉ đạo, các đơn vị thực hiện để báo cáo tình hình triển khai.


     







    Nơi gửi:


    – Bộ GD&ĐT (để b/c)


    – ĐU, BGH, CĐ, ĐTN, HSV


    – P, K, B, TT, Cty, TTrGD, TTrND, CS2


    – Các Lớp


    – TTTH (đưa lên mạng)


    – Lưu P7


    HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


     


    GS.TS Đào Xuân Học

  • Stress nơi công sở – đầu mối của bệnh tật

        Các nghiên cứu đã cho thấy sức ép nơi công sở có thể làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tim, cúm, rối loạn tiêu hoá và huyết áp cao. 
        
    Stress còn làm thay đổi khía cạnh có lợi của một số công việc đòi hỏi hoạt động thể chất, dẫn tới động mạch bị dày lên ở những người lao động bị stress so với ai hoạt động thể chất nhưng không bị stress.
        
    Một nghiên cứu trong 5 năm (từ 1998 đến 2003) trên 677 công nhân ở Israel cho thấy, những ai bị vắt kiệt sức lực tại nơi làm việc có khả năng cao gấp 1,8 lần bị tiểu đường type 2. 
        
    Stress còn gây ra các hành vi không lành mạnh như ăn kém hay uống quá nhiều chất cồn, dẫn tới các vấn đề về sức khoẻ. Trong nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu cho thấy stress có thể có làm ảnh hưởng tới khả năng cơ thể xử lý glucose, dẫn tới tiểu đường. 
        
    Kết quả còn cho thấy mệt mỏi nơi công sở dễ làm người ta ốm yếu cũng tương tự như các yếu tố khác như chỉ số cơ thể cao, hút thuốc hay thiếu vận động.
        
    Khi stress công sở không thể kiểm soát nổi, sự suy kiệt có thể dẫn tới sự tổng hợp của 3 triệu chứng: Mệt mỏi về tâm hồn, rã rời về thể xác, suy giảm về nhận thức.
        
    Giai đoạn này khác với tình trạng khó ở tạm thời sau một thời kỳ nghỉ ngơi. Nguyên nhân gây ra sự mệt mỏi nơi làm việc là thiếu động lực, lời khen, sự bất an trong công việc, thường xuyên bị vắt kiệt sức lao động và quấy rối tình dục, cũng như xung đột hằng ngày và các biến cố.
        
    Trong 677 người lao động Israel kể trên, gần 70% là đàn ông với độ tuổi trung bình là 43. Họ làm các công việc khác nhau, được chia thành 5 danh mục: quản lý cấp cao, giám sát, các công việc như kỹ sư, giáo viên, chuyên gia máy tính, những người không chuyên nghiệp và tự kinh doanh. 
        
    Bản câu hỏi cho thấy một nửa trong số họ bị suy kiệt nặng. Trong số đó, 17 người bị tiểu đường type 2.


     
    Theo Vnexpress/Livescience


     

  • Khai mạc giải bóng đá Cán bộ giáo viên năm 2007

    Khai mạc giải bóng đá Cán bộ giáo viên năm 2007

    Trong những ngày cuối thu se lạnh, thi đua lập thành tích chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, được sự đồng ý của Đảng uỷ Ban Giám Hiệu, BCH Công Đoàn – BCH Đoàn Thanh niên tổ chức Giải Bóng đá CB, GV trường ĐH Thuỷ Lợi 2007 khai mạc chiều ngày 19/10/2007 vừa qua.


    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường tuyên bố khai mạc giải Bóng đá cán bộ giáo viên 2007



        Đây là giải truyền thống hàng năm của CB, GV trường, là sân chơi lành mạnh, bổ ích đáp ứng nhu cầu rèn luyện sức khoẻ và giao lưu hiểu biết lẫn nhau của CB, GV nhà trường nên cạnh công việc giảng dạy và nghiên cứu, giải cũng thu hút được đông đảo số lượng CB, GV nhà trường tham gia thi đấu hết mình vì màu cờ sắc áo.

        Giải năm nay với 8 đội bóng mạnh nhất đại diện cho các đơn vị: Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm, Cty… trong nhà trường sẽ hứa hẹn là  giải đấu rất nhiều thành công và là những bó hoa tươi thắm kính tặng các thầy cô giáo nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20-11.

    Các đội tuyển tham dự Giải đại diện cho các đơn vị Phòng, Khoa Ban, Trung tâm, Công ty… trong Trường

    Bốn cặp đấu sôi nổi tranh tài trong ngày khai mạc của Giải có kết quả như sau:

     Bảng A          Khoa C – Liên quân Ban Giảng dạy:             1 – 0

                           Khoa N – Cty Tư vấn & CGCN:                    1 – 0

     Bảng B          LQ Phòng Ban – Liên quân CK + E + K:       5 – 1

                           Khoa CNTT – Khoa V:                                2 – 2

    Trân trọng kính mời các thầy cô giáo, CB, CNV nhà trường đến xem và cổ vũ cho giải đấu, sự có mặt của các thầy cô là niềm vinh dự và thành công của Giải.

    Lịch thi đấu các trận tiếp theo

     

    Ngày – Thứ

    Giờ thi đấu

    Đội thi đấu

    Bảng đấu

    Thứ 6

    26/10/2007

    15h00

    Khoa C – Cty Tư vấn & CGCN

    Khoa N – LQ Ban giảng dạy

    A

    15h00

    LQ Khoa CK+E+KT – Khoa V

    Khoa CNTT – LQ Khối Phòng ban

    B

    Thứ 6

    02/11/2007

    15h00

    Khoa C – Khoa N

    Cty Tư vấn & CGCN- LQ Ban giảng dạy

    A

    15h00

    LQ Khoa CK+E+KT –  Khoa CNTT

    Khoa V – LQ Khối Phòng Ban

    B

    Thứ 6

    9/11/2007

    15h00

    Bán kết I: Nhất A – Nhì B

    Bán kết II: Nhất B – Nhì A

     

    Thứ 6

    16/11/2007

    15h00

    Tranh giải Ba – Tư

    Chung Kết

    BẾ MẠC TRAO GIẢI

     


    Linh Ngọc

  • Chương trình Fulbright tại Việt Nam tuyển chọn ứng viên cho Chương trình học giả Việt nam năm 2008

    Chương trình Học giả Việt Nam (Vietnamese Scholar Program – VSP), một trong bốn thành phần truyền thống của chương trình Fulbright tại Việt Nam tài trợ cho học giả Việt Nam đi giảng bài và/hoặc nghiên cứu tại các viện nghiên cứu hoặc trường đại học Hoa Kỳ trong khoảng từ ba tháng đến chín tháng. Tài trợ của VSP bao gồm sinh hoạt phí hàng tháng, vé máy bay khứ hồi đi Hoa Kỳ, và phí bảo hiểm.


    Các thông tin chi tiết về VSP có trên trang Web:
    http://vietnam.usembassy.gov/fulbright.html  và
    /Modules/CMS/Upload/14/2007/thang5/fulbright.pdf   


    Hạn cuối cùng để nộp hồ sơ là 15 tháng 10 năm 2007.  

  • Giới thiệu sách do Quỹ Châu Á tài trợ


































    Ecology: Concepts and Applications = Hệ sinh thái: Khái niệm và ứng dụng/ Manuel C. Molles Jr.- 2nd edition. – Boston: McGraw Hill, 2003.- 460tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: mô tả những nét đặc trưng của hệ sinh thái đặc biệt giúp học sinh nắm bắt được các khái niệm chính của hệ sinh thái, đặc biệt chú trọng đến tính ứng dụng hơn là lý thuyết.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Environmental Science: A Global Concern= Khoa học môi trường: Mối quan tâm toàn cầu/ William P. Cunningham, Mary Ann Cunningham, Barbara Woodworth Saigo.- 7th edition.- Boston: McGraw – Hill, 2003.- 646tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Cung cấp cái nhìn tổng quan về các khái niệm cơ bản của khoa học môi trường, nhấn mạnh tác động của con người đến môi trường. Tài liệu sử dụng nhiều ví dụ, kết quả nghiên cứu và dữ liệu thu thập trên toàn cầu.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Conservation Directory 2003: Exploring nature in your neighborhood = Danh bạ các tổ chức bảo tồn thiên nhiên năm 2003: Khám phá thiên nhiên xung quanh bạn/ Bill Street.- 48th edition.- Washington: Island Press, 2003.- 770tr; 27cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Cung cấp danh mục của gần 4000 tổ chính phủ và phi chính phủ, các trường, viện nghiên cứu và hơn 18000 đơn vị liên quan đến bảo tồn thiên nhiên, giáo dục, sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên trên toàn thế giới.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Natural disasters =Thiên tai/ Patrick L.Abbott.- 4th edition.- Boston: McGraw Hill, 2004.- 460tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Tài liệu chú trọng đến thiên tai: quy luật và những tác động đến loài người và cấu trúc của trái đất, cách vận hành của thế giới tự nhiên và con người bị tử vong, bị thương tổn, thiệt hại ra sao.  Tài liệu giải thích các nguyên lý hoạt động cơ bản của trái đất được phân tích bằng các sự kiện trong lịch sử.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Environmental science : A study of interrelationships = Khoa học môi trường: Nghiên cứu các mối quan hệ/ Eldon D. Enger, Bradley F. Smith.- 9th edition.- Boston… : McGraw-Hill, 2004.- XVII, 477p. : Ill. ; 27 cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Phân tích các mối liên quan giữa môi trường và các vấn đề sinh thái: nguồn năng lượng, việc sử dụng năng lượng của con người và tác động của con người tới hệ sinh thái, các nguyên tắc về sinh thái và việc vận dụng chúng; sự ô nhiễm môi trường và chính sách môi trường


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Water Resources Management = Quản lý nguồn nước.- Washington D.C: World Bank, 1993.-140tr; 24cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Tài nguyên nước trở thành 1 lĩnh vực quan trọng nhất mà Ngân hàng thế giới hỗ trợ trong suốt 3 thập kỷ qua. Nhu cầu sử dụng nguồn nước của con người, các ngành công nghiệp và nông nghiệp tạo nên nhiều thách thức cho các nhà cung cấp nước. Tài liệu này đưa ra một hướng tiếp cận mới để quản lý nguồn nước.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Laboratory exercises in environmental geology = Các bài tập thí nghiệm trong địa chất môi trường/ Harvey Blatt.- 2nd edition. Boston…:WCB McGraw Hill, 1998.- 180tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Con người có mối liên hệ với bề mặt trái đất qua các hiện tượng như sụt lở đất, lũ lụt hay sự cung cấp thực phẩm. Ngành Địa chất môi trường chỉ ra các mối quan hệ mật thiết giữa con người và địa chất và chúng ngày càng phát triển. Tài liệu cung cấp rất đa dạng những vấn đề về địa chất được thể hiện trong mỗi bài tập từ dễ đến khó.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Principles of environmental science: Inquiry and applications = Các nguyên lý của khoa học môi trường: Điều tra và ứng dụng/  William P. Cunningham, Mary Ann Cunningham. -2nd edition. –Boston… : McGraw – Hill, 2004.-XVIII, 424p; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Tìm hiểu môi trường & các khái niệm cơ bản về sinh thái học, vật chất, năng lượng & cuộc sống, dân số, cộng đồng, sự tương tác giữa các chủng loài, quần xã sinh vật & đa dạng sinh vật, bảo tồn môi trường thiên nhiên, thực phẩm & nông nghiệp


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3

     



    Valuing Tropical Forests: Methodology and Case Study of Madagascar = Đánh giá tác động của rừng nhiệt đới: Phương pháp luận và nghiên cứu thí điểm ở Madagascar/ A. Kramer; Narendra Sharma; Mohan Munasinghe.- Washington D.C: World Bank,1995.- 67tr;27cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Hiện tượng thất thoát nhiều vùng rừng nhiệt đới rộng lớn đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của thế giới. Mặc dù có nhiều nguyên nhân nhưng  quan trọng nhất là chính phủ đánh giá thấp những giá trị do rừng  mang lại và tác động của thị trường. Tài liệu này nghiên cứu một số nguyên nhân phá rừng và các vấn đề liên quan đến giá trị kinh tế của rừng nhiệt đới tại một khu vực được bảo vệ. Vùng nghiên cứu thí điểm trong tài liệu là Madagascar


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3 

     



    An Introduction to the World’s Oceans = Giới thiệu thế giới đại dương/ Sverdrup K.A., Duxbury, A.C. and A.B Duxbury.-7th edition.- Boston: McGraw Hill, 2003.-522tr; 28cm.  (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Đại dương có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thay đổi thời tiết và khí hậu toàn cầu vì chúng tương tác với khí quyển thông qua sự chuyển dịch độ ẩm và nhiệt lượng, là môi trường của các quá trình biến đổi địa chất khổng lồ và đặc biệt như động đất, núi lửa, hình thành các dãy núi đồ sộ, các rãnh sâu dưới lòng đại dương. Các qúa trình này đều liên quan đến sự hình thành và phá huỷ dưới nền đại dương trong quá trình kiến tạo địa chất. Tài liệu này tạo cơ hội cho người đọc hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới đại dương.


    Tìm sách trên giá sách Quỹ Châu Á lĩnh vực Môi trường tại phòng Mở tầng 3 


  • Sách của dự án Đan Mạch



























































































































      An in trodution to scientific research/ E. Bright Wilson, Jr.


     -New York: Dover, 1990.


     -375tr. -21cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM N44/05; DAĐM N48/05


     The demon hauntted worl: Science as a candle tin the dark/ Sagan Carl.
     -New York: Random House, 1995.
    -457tr. -21cm. -2b
     Ký hiệu: DAĐM N 45/05; DAĐM N50/05


    Applied regression analysis, linear models, and related methods/ John Fox.
     -London: Sage, 1997.
    -597tr. -26cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM V 152/05; DAĐM V 175/05


     Giving academic presentations/ Susan. M Reinhart.
    -Michigan: University of Michigan, 2005
    -167tr. -26cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM V 153/05; DAĐM V 174/05


     Statistic for business and economics/ David. R Anderson.


    -Australia: South-Western, 2002.


    -884tr. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V154/05


     Environmental modeling: Fate and transport of pollution in water, air, and soil/ Jerald. L Schnoor.
    -New York: John Wiley  Sons, 1996.
    -682tr.-24cm


     Ký hiệu: DAĐM V155/05


     Statistic for experimenters: An introduction to design, data analysis, and model building/ George E. P. Box.
     -New York: John Wiley Sons, 1978.
     -653tr. -24cm
     Ký hiệu: DAĐM V156/05; DAĐM V176/05


     Rainfall – runoff modeling: The primer/ Keith J. Beven.
    -New York, Toronto..:
    John Wiley  Sons, 2001.
    -360tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V157/05


      Floodplain processes/ Edited by Malcolm.


    –New York: John Wiley  Sons, 1996.


     -658tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V 158/05


     Hydrologic analysis and design/ Richard H. Mc Cuen.
    -3rd edition.
     -New Jersey: Prentice – Hall, 2005.


    -859tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V160/05


    Numerical methods for engineers with software and programming applications/ Steve C. Chapra.


    -4th edition. -Boston: Mc Graw


    – Hill, 2002. -.926tr. -23cm


     Ký hiệu: DAĐM V161/05


     Environmental chemistry/ Stanley E. Manahan.
    -8th edition.
    -London: CRC, 2005.
     -783tr. -26cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V162/05






    Space and time scale varibility and interdependencies in hydrological process/ Cambridge University.


    -New York: Cambridge University, 1995.
     -181tr. -30cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L211/05


     New uncertainty concepts in hydrology and water resources: International hydrology series.


    -New York: Cambridge University, 1995.
     -322tr. -30cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L212/05


     Sustainability criteria for water resource systems: International hydrology series.


     -Cambridge, UK: Cambridge University, 1999.
    -139tr. -28cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L213/05


     Water quality modelling/ Ed Roger A. Falconer.


    -Brookfield, USA: Ashgate Publishing Company, 1992.


    -139tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V163/05


     Conflict management of water resources/ Ed Manas Chatterji, Gauri Guha.


     -Hamshire, England: Ashgate Publishing company, 2002.
    -369tr. -23cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V164/05


     Applied modeling of hydrologic time series.


    -Michigan, USA: Water Resources Publications, 1980.


    -484tr. -22cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM N46/05


     Representing and intervening: Introductory topics in the philosophy of natural science.


    -Cambridge: Cambridge University, 1983.
     -287tr. -22cm. -2b
     Ký hiệu: DAĐM N47/05; DAĐM N49/05


     Scientific method in practice/ Hugh G. Gauch Jr.


    -Cambridge: Cambridge University, 2003.
     -435tr. -23cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM V165/05; DAĐM V173/05


     Hydroinformatics: Information technology and the aquatic environment/ M. B Abbott.


    -Brookfield, USA: Avebury technical, 1991.
     -145tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V167/05


     Using multivariate statistics/ Barbara G. Tabachnik.
    -4th edition.
     -London: Allyn and Bacon, 2001.
    -966tr. -24cm


     Ký hiệu: DAĐM V168/05; DAĐM V172/05


     Farmer – Financed irrigation: the econoimics of reform/ Leslie E. Small.


    -New York: Cambridge University, 1991.
     -23tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V169/05


      River channel restoration: Guiding principles for sustainable projects/ Andrew Brookes.


    -New York: John Wiley  Sons, 1996
    -433tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V190/05


     Contemporary hydrology: Towards holistic environmental science.


    -New York: John Wiley & Sons, 1997.
     -354tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V171/05


     Introduction to the economic of water resources: an international perspective/ Merrett Stephen.


     -New York: Rowman $ Littlefield, 1997.
    -211tr. -24cm. -2b
     Ký hiệu: DAĐM V177/05; DAĐM V178/05


     An introduction to the philosophy of science/ Rudolph Carnap.


    -New York: Dover Publications, 1996.


    -300tr. -22cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM N51/05


    What is this thing called science?/ A. F. Chalmers.


     -3rd edition.
    -Cambridge: Hackett, 1999.
    -266tr. -21cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM N25/05


     Practice research: Planning and design/ Paul D. Leedy.


    -New Jersey: Prentice
    – Hall, 2005.
     -319tr. -28cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L215/05


     Introduction to the philosophy of science/ Merrilee H. Salmon.


    -Cambridge: Hackett publishing company, 1992.
    -458tr. -24cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V179/05




     Design of experiments: Statiscal principles of research design and alalysis/ Robert O. Kuchl.
    -2nd edition.
    -London: Duxbury thomson learning, 2000
     -666tr. -24cm.-1b


     Ký hiệu: DAĐM V180/05


     Case studies in participatory irrigation management/ edited by david Groenfieldt, Mark Svendnse.
     -Wsanhigton, DC: World Bank institute, 2000.
     -tr. -cm. -1b.
    -(WBI learning resources series)


     Ký hiệu: DAĐM L 217/05


     Analytical framework for intergrate water resources management: Guidelines for assessment of institutional frame/ Paul J. M. Van Hofwegen.
     -Netherlands: Balkema, 1999.
     -96tr. -26cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V181/05


     Hydrology and water management in the humid tropics: Hydrologival research issues and strategies for water management/ Edited by Michael Bonell. -New York: Cambridge University, 1993. -590tr. -30cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L218/05


     Artificial neural networks for civil engineers: Fundamentals and applications/ Edited by Nabil Kartam
    -New York: ASCE, 1997.
    -216tr. -25cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM V182/05


     Values for the environment: Aguide to economic appraisal: Oversea development institute.
     -London: HMSO, 1991.
    -132tr. -30cm. -2b


     Ký hiệu: DAĐM L219/05; DAĐM L220/05


     Vietnam environment monitor 2003. -H.: World Bank, DANIDA, 2003.
     -74tr. -30cm
     Ký hiệu: DAĐM L221/05; DAĐM L222/05; DAĐM L223/05; DAĐM L224/05; DAĐM 225/05; DAĐM 226/05


     Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2003: Môi trường nước.


     -H, 2003. -74tr. -30cm


     Ký hiệu: DAĐM L227/05; DAĐM L228/05; DAĐM L229/05; DAĐM L230/05; DAĐM L231/05; DAĐM L232/05


     Surface water treatment by rouging filters: A design, contruction and operation manual.


    -Switzerland: Swiss Center for Development.
    -194tr. -29cm.-1b


     Ký hiệu: DAĐM L233/05


     Principles of water law and administration: National and internation/ Dante A. Caponera.


    -Rotterdam: A.A Balkema, 1992.


     -260tr. -27cm. -1b


     Ký hiệu: DAĐM L234/05