Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Diễn văn phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”







    Kính thưa các đồng chí!


    Dân tộc Việt Nam ta, đất nước ta đã sinh ra chủ tịch Hồ Chí Minh, và chính người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm rạng rỡ non sông đất nước bởi Người là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hoá của nhân loại. Người đã đi xa, nhưng để lại cho chúng ta lòng yêu nước chân chính, một đường lối xây dựng và bảo vệ tổ quốc phù hợp với thực tế Việt Nam, một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt gắn với tinh thần quốc tế cao cả, và tấm gương đạo đức của Người rất mẫu mực, gần gũi, tiên tiến mà đậm đà truyền thống, quê hương.


    Đạo đức Hồ Chí Minh là:


    – Trung với nước, hiếu với dân


    – Yêu thương con người, sống có nghĩa có tình


    – Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư


    – Tinh thần quốc tế trong sáng.


    Hồ Chí Minh đã đề ra nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn luyện mình; giáo dục, động viên cán bộ, Đảng viên nhân dân cùng thực hiện. Đó là:


    Nói đi đôi với làm, phải nêu tấm gương về đạo đức


    – Xây đi đôi với chống


    – Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời


    Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích cách mạng. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm lòng của một con người nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người. Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường.


    Đã bao nhiêu năm nay, trong tâm khảm người Việt Nam, Bác Hồ vĩ đại và gần gũi. Mỗi người cán bộ, Đảng viên, Đoàn viên thanh niên chúng ta đã lấy tấm gương của Bác để soi, để rèn mình, để cống hiến cho đất nước và xây dựng cơ quan, đơn vị mình ngày càng tốt hơn.


    Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu hơn, rộng hơn, chúng ta tiếp thu nền văn minh tiên tiến, nền khoa học công nghệ hiện đại của nhân loại thì việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh càng trở nên hết sức quan trọng.


    Ngày 7/11/2006, Bộ Chính trị khoá X đã ban hành chỉ thị 06 – CT/TW về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, hệ thống chính trị bắt đầu từ 3/2/2007 đến hết nhiệm kỳ khoá X, hàng năm sơ kết vào dịp kỷ niệm ngày 19/5. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương đã ban hành hướng dẫn số 11 – HD/TTVH ngày 6/12/2006, Thành uỷ Hà Nội đã có kế hoạch số 20 – KH/TU ngày 18/1/2007 để triển khai cuộc vận động.


    Và hôm nay, tại Hội nghị cấp uỷ của toàn Đảng bộ, Đảng bộ trường Đại học Thuỷ lợi chính thức phát động cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với những nội dung:


    1         Thành lập Ban chỉ đạo. Tổ chức học tập giáo dục trong cán bộ, Đảng viên, giảng viên, sinh viên với những hình thức thích hợp và hiệu quả.


    2         Mỗi người tự liên hệ và góp ý cho đồng chí, đồng nghiệp theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ (các chi bộ do chi uỷ phụ trách; khối cán bộ, giáo viên không là Đảng viên do Công đoàn phụ trách; khối Cựu chiến binh do Hội Cựu chiến binh đảm nhận; khối sinh viên do Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên phụ trách.)


    3         Mỗi cán bộ, Đảng viên, giảng viên, sinh viên rèn luyện theo tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh bằng:


    – Yêu nước, đoàn kết


    – Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư


    – Dân chủ và kỷ luật, phục vụ hiệu quả hơn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, mà trước tiên là thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển Trường Đại học Thuỷ lợi.


    – Tích cực hội nhập và hội nhập với kết quả thiết thực.


    4         Hàng năm sẽ sơ kết vào dịp kỷ niệm ngày sinh nhật Bác.


    Với mục đích, ý nghĩa và nội dung trên, Đảng uỷ Trường Đại học Thuỷ Lợi chính thức phát động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, và kêu gọi mọi cán bộ, Đảng viên, giảng viên, đoàn viên thanh niên, sinh viên trường Đại học Thuỷ Lợi, hãy “Đoàn kết – Trí tuệ – Năng động – Đổi mới” thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giai đoạn chuyển đổi của chiến lược phát triển trường Đại học Thuỷ Lợi giai đoạn 2006 – 2020.


    Bí thư Đảng uỷ – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ Lợi


    GS.TS Phạm Ngọc Quý

  • Hội thảo Các chất gây ô nhiễm các tầng đất phía trên và các ứng dụng trong xử lý môi trường cho vùng ô nhiễm

    SEMINAR


     Các chất gây ô nhiễm các tầng đất phía trên và


    các ứng dụng trong xử lý môi trường cho vùng ô nhiễm


     


    Người trình bày: PGS.TS. Lim Teik-Thye


    Đại học Công nghệ Nangnyang, Singapore


     


    Thời gian: Thứ Sáu, ngày 8/12/2006 từ 8h30 đến 16h00


    Địa điểm: tại Hội trường 223 – A1 – ĐHTL 


     


    Tóm tắt


    Chuyên đề 1: Giới thiệu tổng quan các chất ô nhiễm trong đất


    Chuyên đề 2: Các chất ô nhiễm vô cơ trong môi trường đất


    Chuyên đề 3: Các chất ô nhiễm hữu cơ trong môi trường đất


     


     


    WORKSHOP on


     


    Contaminant Fate in Subsurface Environments and Implication on Site Remediation


     


    Speaker:


     


    Dr. Lim Teik-Thye


    Nanyang Technological University, Singapore


     


     


    Date : 08 December 2006


    Time : 8.30 am – 4.00 pm


    Venue : Hanoi Water Resources University, Hanoi, Vietnam


     


     


    Outline of Topics


     


    Topic 1: Introduction to subsurface contamination


     


    Topic 2: Inorganic contaminants in subsurface environments


     


    Topic 3: Organic contaminants in subsurface environments


      



     


    About the Speaker


    Dr. Lim obtained his MEng degree in environmental geotechnics and PhD degree in environmental engineering in 1995 and 1998, respectively, from Nanyang Technological University, Singapore.  He worked as ground engineering specialist before joining NTU as a faculty member. His core research areas focus on water and soil pollution controls, field monitoring of contaminant movement in surface waters, land and surface runoff, studying fate of pollutants in natural and engineered environmental systems, and treatment of metals-bearing wastes such as incinerator ashes, smelter slags and sludges. He is author or significant co-author of more than 45 research articles in peer-reviewed journals, books, reports, and conference proceedings. His most recent appointments are chairing the Professional & Technology Development Program under Environmental Engineering Technical Committee, Institution of Engineers Singapore, and serving in the working group for development of the Singapore’s National Implementation Plan (NIP) under the Stockholm Convention on persistent organic pollutants (POPs). 


    Personal homepage:  http://www.ntu.edu.sg/home/cttlim/


     

  • Tin về lễ kết nạp Đảng viên mới dịp 19-5

    Tin về lễ kết nạp Đảng viên mới dịp 19-5

                Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp Công nhân, đồng thời là  đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là niềm tự hào của biết bao quần chúng, nhân dân lao động. Thấm nhuần ý nghĩa đó, Đảng bộ trường Đại học Thuỷ Lợi từ khi thành lập đến nay luôn xem công tác phát triển Đảng là công việc quan trọng trong xây dựng tổ chức Đảng, bởi có phát triển Đảng thì tổ chức Đảng mới không ngừng lớn mạnh, phát triển Đảng là công tác đào tạo con người. Hàng năm, Đảng ủy xét kết nạp Đảng cho các quần chúng ưu tú có nguyện vọng đứng trong hàng ngũ của Đảng vào bốn đợt : đợt 3/2, đợt 19/5, đợt 2/9 và đợt 20/11.

                Tính đến thời điểm này, Đảng bộ Nhà trường có 5 Đảng bộ khoa, 37 chi bộ ( có 21 chi bộ trực thuộc ), có 390 Đảng viên. Từ năm 1989 đến nay, Đảng bộ trường Đại học Thủy Lợi ba lần liên tục được Thành ủy công nhận là Đảng bộ cơ sở trong sạch, vững mạnh xuất sắc 5 năm.

                Nhân kỷ niệm 116 năm ngày sinh nhật Bác Hồ kính yêu, Đảng bộ trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức lễ kết nạp cho 7 đồng chí ở các chi bộ : Chi bộ Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, chi bộ Thư viện+Đào tạo, chi bộ Thủy nông2, chi bộ Thủy nông3, chi bộ Ban Ngoại ngữ, chi bộ Công trình4. Đây là những Đảng viên mới có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức trong sáng, lý lịch rõ ràng. Việc kết nạp Đảng diễn ra theo đúng qui trình, nghi thức đã được hướng dẫn của Ban tổ chức Trung ương. Những Đảng viên được kết nạp đã tuyên thệ trước cờ Đảng với lời thề trung thành với mục đích lý tưởng  cách mạng của Đảng.

                Đây là niềm tự hào lớn lao của những Đảng viên mới, hy vọng bằng hành những động và việc làm thiết thực họ sẽ cùng góp phần xây dựng Đảng bộ và Nhà trường phát triển vững mạnh về nhiều mặt trong hiện tại và tương lai.

    Một số hình ảnh:

    Lễ kết nạp tại chi bộ Phòng CTCT&QLSV

    Đảng viên mới tuyên thệ

    Lễ kết nạp tại chi bộ Đào tạo và Thư viện 

    Vân Anh P7

  • Một số hình ảnh của buổi tọa đàm: Trao đổi kinh nghiệm về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của nữ giáo viên

    Ngày 17/12/2005, Ban nữ công trường đã tổ chức buổi toạ đàm: Trao đổi kinh nghiệm về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của nữ giáo viên. Đông đảo nữ cán bộ giảng dạy của trường đã đến tham gia buổi tọa đàm. Buổi tọa đàm cũng đã nhận được sự quan tâm của các thày trong Ban giám hiệu và Ban chấp hành Công đoàn trường. Sau đây là một số hình ảnh về buổi toạ đàm”


















    Bài và ảnh: ntpmai

  • Khám sức khoẻ định kỳ

    Khám sức khoẻ định kỳ nên là việc làm thường xuyên của mỗi cá nhân, nhằm bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, phát hiện và điều trị sớm bệnh.Trạm Y tế Trường Đại học Thuỷ Lợi đã tổ chức khám bệnh cho các cán bộ, giáo viên, công nhân viên vào dịp 20/11 hàng năm. Riêng với cán bộ nữ, do đặc thù về giới tính, được ưu tiên thêm ngày 8/3 hàng năm để khám và chữa các bệnh về phụ nữ.


    Toàn thể các cán bộ, giáo viên, công nhân viên hàng ngày đến cơ quan làm việc, nếu có nhu cầu cần tư vấn về sức khoẻ đều được nhân viên của Trạm đáp ứng. Trên cơ sở đó cấp phát thuốc miễn phí theo chẩn đoán bệnh.


    Định kỳ hàng năm hai lần, Trạm Y tế tổ chức phun hoá chất diệt muỗi và côn trùng đảm bảo vệ sinh phòng bệnh.

    Đặc biệt, theo chỉ thị 04 của Thành uỷ Hà Nội về việc phát động phong trào tổng vệ sinh trong cơ quan và các phòng làm việc, chiều thứ 6 hàng tuần công việc này được duy trì và thực hiện nghiêm túc từ các phòng, ban làm việc, giữ cho môi trường làm việc luôn sạch, đẹp

  • Triển vọng mới trong đầu tư phát triển Trường bằng nguồn vốn ADB

    Trong tháng 4/2007, đoàn công tác ADB do ông Ian Markin dẫn đầu đã làm việc trực tiếp với Nhà trường, Bộ NN&PTNT, Bộ Kế  hoạch đầu tư và các Bộ Ngành liên quan để thu thập thông tin xây dựng Đề cương hỗ trợ Kỹ thuật Chuẩn bị Dự án phát triển Trường. Đây là một hoạt động quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư của Trường thực hiện Chiến lược Phát triển nhằm tự đổi mới để đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu của thực tiễn.


    Ngày 5/6/2007, Trường Đại học Thủy lợi tổ chức hội thảo giới thiệu DA Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị Dự án vốn vay ADB “Nâng cao năng lực đào tạo cho trường ĐHTL” với các Bộ, Ngành liên quan do GS.TS Đào Xuân Học chủ trì. Tham dự có các đại biểu đến từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,  Bộ NN&PTNT,Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư, lãnh đạo Nhà trường…


    Lãnh đạo Nhà trường giới thiệu đến toàn thể đại biểu sơ lược Chiến lược phát triển Trường và Đề xuất hỗ trợ kỹ thuật Chuẩn bị Dự án Vốn vay ADB Tăng cường năng lực đào tạo Ngành nước cho Trường Đại học Thủy lợi.


    Thời gian dự kiến bắt đầu và kết thúc Hỗ trợ Kỹ thuật chuẩn bị Dự án: 1/9/2007 – 31/06/2008 với tổng vốn dự kiến 500.000 USD trong tổng vốn 1.000.000 USD Hỗ trợ Kỹ thuật Chuẩn bị Dự án Quản lý nguồn nước.











    Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị Dự án sẽ chuẩn bị thiết kế chi tiết và kế hoạch thực hiện việc nâng cấp cơ sở hiện tại của Nhà trường, chuẩn bị các nghiên cứu khả thi, bao gồm đánh giá tác động môi trường và kế hoạch di dời tái định cư và kế hoạch triển khai việc xây dựng cơ sở mới ở Hà Tây. Các yêu cầu về tư vấn và điều khoản tham chiếu (ToR) chi tiết sẽ được soạn thảo.


    Đại biểu từ các Bộ Ngành đều bày tỏ thái độ đồng tình ủng hộ mục tiêu Dự án, ý tưởng phát triển của Nhà trường là phù hợp định hướng phát triển chung của toàn Ngành.


    ADB hiện đang có chính sách tăng gấp đôi nguồn vốn đầu tư cho Ngành nước, thúc đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án. Dự án Phát triển Trường Đại học Thủy lợi là một trong những Dự án đầu tư được ưu tiên số 1.


    Bà Đậu Thị Bích Hồng, Trưởng Phòng ADB, Vụ HTQT, Ngân hàng Nhà nước VN cho rằng Dự án đầu tư nên được thực hiện một cách độc lập. Khâu đầu tư thiết kế thử nghiệm và chịu trách nhiệm giao cho Đại học Thủy lợi sẽ thuận lợi hơn cho việc thực hiện Dự án đảm bảo đúng quy trình, sự đồng thuận và tham khảo được ý kiến của các Bộ Ngành, có định hướng cụ thể, đảm bảo hiệu quả lâu dài của Dự án.


    Bộ Kế hoạch đầu tư hiện nay đang trong giai đoạn hoàn chỉnh danh mục các dự án sử dụng vốn ADB trình Thủ tướng chính phủ. Mặc dù không tham gia vào những Dự án có đặc thù chuyên ngành nhưng đại diện Bộ Kế hoạch đầu tư, bà Phan Thị Thùy Trâm khẳng định Bộ sẽ giúp đỡ Trường trong việc hướng dẫn hoàn thiện Dự án, cân đối hợp lý các hạng mục đầu tư cho phát triển Trường.


    Dưới sự  dẫn dắt của GS.TS Đào Xuân Học, hội thảo kết thúc tốt đẹp trong sự nhiệt tình ủng hộ của các Bộ ngành liên quan, là tiền đề quan trọng trong giai đoạn hiện nay để Trường có thể thực hiện thành công Chiến lược phát triển về mọi khía cạnh giúp Nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.

    Linh Ngọc


    (Ảnh HMT)

  • Giới thiệu một số Tạp chí bằng tiếng Anh do Trường Đại học Công nghệ TUDelft tặng

    Sau khi nhận được một số lượng lớn Tạp chí bằng tiếng Anh do Trường Đại học Công nghệ TUDelft – Hà Lan tặng, Thư viện đã xử lý sơ bộ và sắp xếp tạm thời lên giá sách Kho Ngoại văn tầng 2 để độc giả có thể tìm kiếm và đọc tại chỗ . Trong thời gian tới, cán bộ thư viện sẽ cập nhật thông tin thư mục vào cơ sở dữ liệu Tạp chí trên phần mềm Libol nhằm phục vụ độc giả tra cứu trên máy.


    Tạp chí bao gồm những chủ đề như sau:


    1.     Journal of Fluid mechanics: gồm các số liên tục từ Volume 21 – volume 521 do Trường đại học Cambridge phát hành từ năm 1965 – 2004.


    2.     Numerical method in engineering: gồm các số không liên tục từ volume 8 – volume 49 do Trường đại học Công nghệ TUDelft phát hành từ năm 1974 – 2000


    3.     World water: gồm các số liên tục từ volume 1 – volume 11 được Trường đại học Công nghệ TUDelft  phát hành từ năm 1980 – 1988.


    Thư viện kính mới quý độc giả có nhu cầu đến tham khảo sách tại Kho sách Ngoại văn, tầng 2.

  • Giới thiệu sách mới trong tháng 5






       Lý thuyết kiểm toán/ Nguyễn Quang Quynh (ch.b.), Ngô Trí Tuệ, Tô Văn Nhật. – In lần thứ năm, đã sửa đổi, bổ sung. – H. : Tài chính, 2005. – 280tr. : hình vẽ ; 24cm

    Tóm tắt:


    Khái quát chung về kiểm toán; Nội dung, phương pháp kĩ thuật, tổ chức kiểm toán, ngoài ra còn giới thiệu các chuẩn mực kiểm toán và đặc điểm của hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể trong các bộ máy kiểm toán



    Kí hiệu: VĐV 582 – 583 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2;

    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành kinh tế 


     







       Kỹ thuật an toàn & môi trường: Giáo trình dùng cho sinh viên cơ khí các trường đại học kỹ thuật / Trần Văn Địch, Đinh Đắc Hiến.- In lần thứ nhất.- H.: Khoa học và Kỹ thuật, 2005.- 503tr.: hình vẽ ; 24cm
    Tóm tắt:
    Khái quát các vấn đề về an toàn lao động: Bảo hộ lao động, vệ sinh lao động, kỹ thuật an toàn phòng cháy chữa cháy. Áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường không khí, nguồn nước trong ngành kỹ thuật cơ khí chế tạo máy.
    Kí hiệu: VĐV 580 – 581 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành cơ khí, chế tạo máy











       Hạch toán kế toán trong doanh nghiệp / Phạm Quang. – H. : Đại học Kinh tế Quốc dân, 2005. – 299tr. ; 24cm
    Tóm tắt:
    Những kiến thức cơ bản về công tác hạch toán kế toán trong doanh nghiệp như: Hạch toán tài sản cố định, nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ, tiền lương, các khoản trích theo lương, chi phí sản xuất.
    Kí hiệu: VĐV 578 – 579 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành kinh tế















       Giáo trình Kinh tế phát triển / Vũ Thị Ngọc Phùng (ch.b),  Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Thọ Đạt… – H. : Lao động – Xã hội, 2006. – 511tr ; 24cm
    Tóm tắt:
    Chính sách tài chính, tiền tệ với phát triển kinh tế. Tác động của chính sách kinh tế tới phát triển nông nghiệp và nông thôn, công nghiệp. Quá trình cải cách kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam  
    Kí hiệu: VĐV 576 – 577 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành kinh tế












       Giáo trình lý thuyết hạch toán kế toán / B.s.: Nguyễn Hữu Ba (ch.b.), Lê Gia Lục. – Tái bản lần thứ 4. – H. : Tài chính, 2004. – 227tr. : bảng, sơ đồ ; 21cm
    Tóm tắt:
    Bản chất và đối tượng của hạch toán kế toán. Phương pháp chứng từ kế toán, tài khoản kế toán. Phương pháp tính giá-hạch toán kế toán các quá trình kinh doanh. Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán. Sổ kế toán và hình thức kế toán. Tổ chức công tác kế toán
    Kí hiệu: VĐN 1186 – 1187 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành kinh tế










      Giáo trình kinh tế đầu tư / Ch.b.: Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương. – H. : Thống kê, 2004. – 371tr. : hình vẽ ; 21cm
    Tóm tắt:
    Những vấn đề lý luận chung về đầu tư và đầu tư phát triển, nguồn vốn đầu tư, quản lý và kế hoạch hoá đầu tư, kết quả và hiệu quả của đầu tư, phương pháp luận lập dự án đầu tư phát triển, thẩm định dự án đầu tư, quan hệ quốc tế trong đầu tư
    Kí hiệu: VĐN 1180 – 1181 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2
    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành kinh tế













       Giáo trình phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp / Nguyễn Thế Khải ch.b.. – H. : Tài chính, 2003. – 244tr. ; 21cm
    Tóm tắt:
    Giới thiệu đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp và tổ chức phân tích hoạt động kinh tế. Phân tích tình hình sản xuất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp
    Kí hiệu: VĐN 1182 – 1183 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành kinh tế











       Tài chính doanh nghiệp: Dùng cho ngoài ngành/ Lưu Thị Hương (ch.b), Vũ Duy Hào… – H. : Giáo dục, 2004. – 225tr ; 21cm
    Tóm tắt:
    Tổng quan về tài chính doanh nghiệp. Phân tích tài chính trong doanh nghiệp. Nguồn tài trợ, cơ cấu vốn, đầu tư, doanh lợi của doanh nghiệp và quản lý chúng. Kế hoạch hoá tài chính doanh nghiệp
    Kí hiệu: VĐN 1184 – 1185 Đọc tại Phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc Mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành kinh tế











       Autodesk inventor = Phần mềm thiết kế công nghiệp / An Hiệp, Trần Vĩnh Hưng, Nguyễn Văn Thiệp. – H. : Khoa học và Kỹ thuật, 2004. – 384tr. ; 24cm
    Tóm tắt:
    Giới thiệu tổng quát phần mềm Inventor, ứng dụng phần mềm này để tạo các bản thiết kế hình khối, lắp ghép các chi tiết,… 
    Kí hiệu: VĐL 1945-1946 Đọc tại phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc mở tầng 3 tra sách trên giá chuyên ngành Tin học










       Công trình tháo lũ trong đầu mối hệ thống thuỷ lợi / Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Xuân Đặng, Ngô Trí Viềng. – H. : Xây dựng, 2005. – 196tr. : hình vẽ ; 27cm
    Tóm tắt:
    Tính toán thuỷ văn các công trình tháo lũ của hệ thống thuỷ lợi. Tính toán thuỷ lực cho các loại đập tràn, đường tràn dọc ngang, kết cấu công trình tháo lũ.
    Kí hiệu: VĐL 1943-1944 Đọc tại phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc mở tầng 3 tra sách trên giá Thuỷ công










       Kỹ thuật khai thác nước ngầm / Phạm Ngọc Hải, Phạm Việt Hoà. – H. : Xây dựng, 2005. – 162tr. : hình vẽ ; 27cm
    Tóm tắt:
    Giới thiệu kỹ thuật khai thác nước ngầm: Khái quát, phân loại, đánh giá chất lượng; Điều tra nước ngầm. Tính toán công trình khai thác, quy hoạch và quản lí hệ thống khai thác nước ngầm.
    Kí hiệu: VĐL 1941-1942 Đọc tại phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc mở tầng 3 tra sách trên giá Thuỷ văn










       Sổ tay chọn máy thi công / B.s.: Vũ Văn Lộc (ch.b.), Ngô Thị Phương, Nguyễn Ngọc Thanh… – H. : Xây dựng, 2005. – 409tr. : hình vẽ ; 27cm
    Tóm tắt:
    Giới thiệu bảng thông số kỹ thuật của một số loại máy làm đất; máy nâng chuyển; máy đóng cọc; máy khoan; máy nén khí; máy và thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng; máy và thiết bị làm đường
    Kí hiệu: VĐL 1947-1948 Đọc tại phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc mở tầng 3 tra sách trên giá Thi công










       Định mức dự toán xây dựng công trình phần xây dựng : Ban hành kèm theo quyết định số 24/2005/QĐ-BXD ngày 29/7/2005 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. – H. : Xây dựng, 2005. – 572tr. : bảng ; 31cm
    Tóm tắt
    Giới thiệu quy định định mức dự toán xây dựng công trình phần xây dựng
    Kí hiệu: QĐĐL 594-595 Đọc tại phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc mở tầng 3 tra sách trên giá Quy trình quy phạm












       Giáo trình quy hoạch phát triển nông thôn / Phan Văn Yên (Chb), Nguyễn Trọng Hà, Nguyễn Thị Lan Hương,…- H.: Nông nghiệp, 2005.- 287tr.; 27cm
    Tóm tắt:
    Những vấn đề cơ bản quy hoạch phát triển nông thôn (mục tiêu, nội dung, trình tự quy hoạch). Quy hoạch về sử dụng đất đai, khu dân cư, giao thông, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường nông thôn. Đánh giá hiệu quả kinh tế – Xã hội của dự án và thẩm định dự án quy hoạch
    Kí hiệu: VĐL 1935-1936 Đọc tại phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc mở tầng 3 tra sách trên giá Thuỷ nông









       Giáo trình kinh tế vi mô – vĩ mô/ Nguyễn Thế Hoà, Vũ Ngọc Thanh.- H.: Nông nghiệp, 2005.- 313tr.; 27cm
    Tóm tắt:
    Kiến thức cơ bản về kinh tế vi mô, vĩ mô, những khái niệm, công cụ, các nguyên lý và phương pháp tư duy kinh tế. Cực đại hoá lợi nhuận, cực tiểu hoá chi phí, co giãn cung cầu, cân bằng thị trường và các chính sách kinh tế vĩ mô. Cấu trúc các loại thị trường, tính hiệu quả của cạnh tranh hoàn hảo, những thiệt hại do độc quyền, thông tin không hoàn hảo và các ngoại ứng đối với môi trường
    Kí hiệu: VĐL 1931-1932 Đọc tại phòng TLTK tầng 2;
    Phòng đọc mở tầng 3 tra sách trên giá Kinh tế

  • Kết quả thi nâng ngạch Giảng viên lên Giảng viên chính

    Danh sách giảng viên đạt kỳ thi nâng ngạch lên Giảng viên chính tại điểm thi Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội theo quyết định số 1707-QĐ-BGDĐT ngày 06/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo:

    Danh sách


  • Bổ nhiệm giáo sư ở Đại học Harvard?

    Mặc dù vậy, không có chuyện tranh cử hay bỏ phiếu, quy trình này trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có sự bàn bạc của nhiều GS, nhiều nhà khoa học, những người hiểu biết nhất về lĩnh vực đó để đi đến thống nhất. Do vậy, quy trình được tiến hành rất công khai và minh bạch.
    Trước tiên, khi có nhu cầu về nhân lực, những người có trách nhiệm là những vị GS hàng đầu họp bàn và nhận định đúng lĩnh vực này rất cần một GS, trên cơ sở đó họ tập hợp một uỷ ban tìm kiếm ứng viên đáp ứng được vị trí này. Tất cả các sinh viên, các giáo viên cấp thấp không được tham gia vào quá trình này.

    Sau khi uỷ ban tìm kiếm được lập ra, suốt nhiều tháng họ tìm kiếm, xem xét các công trình khoa học của nhiều người, lên danh sách những người có khả năng, loại bớt những ứng viên không phù hợp. Nói chung, tiêu chí cao nhất vẫn là thành tựu khoa học của ứng viên đó có tạo được bước đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học này? Và họ có tiềm năng nghiên cứu trong tương lai hay không?
    Phải rất thận trọng và tỉ mỉ, những thành viên của uỷ ban tìm kiếm mới tìm ra được tên của một ứng viên đáp ứng được những đòi hỏi của trường đại học. Có được tên của ứng viên này họ phải tranh luận, bàn bạc, đưa ra kiến nghị, lập trường của mình nhằm bảo vệ đến cùng những luận cứ đó. Như thế, rất lâu sau uỷ ban tìm kiếm mới tìm ra được một cái tên thích hợp. Khi ứng viên đã được chọn không có nghĩa là đã kết thúc quá trình tìm kiếm. Việc đánh giá đạo đức và nhân cách của ứng viên là tiêu chí quan trọng thứ hai để thống nhất các ý kiến lần cuối xác định rõ chọn  hay không chọn ứng viên này.

    Sau việc xác định nhu cầu, một loạt các cuộc tranh luận để đạt được mục tiêu, quy trình bổ nhiệm bắt đầu bước vào giai đoạn thứ hai đó là thăm dò dư luận. Không có chuyện công khai xin ý kiến, cuộc thăm dò này được tiến hành rất công phu và kĩ lưỡng, các đối tượng trưng cầu ý kiến là những chuyên gia, những người hiểu biết nhất về lĩnh vực khoa học này.

    Hình thức thăm dò kín dưới dạng gửi thư đến các đối tượng, trong mỗi bức thư có một bản danh sách (gồm cả tên người được chọn nhưng họ không đề cập đến) kèm theo những kiến nghị và yêu cầu trả lời. Rất đơn giản chỉ cần họ sắp xếp danh sách trên theo thứ hạng và cho biết tại sao lại làm như vậy?

    Cùng với việc đó là các danh mục công trình và vài ba tiểu luận của ứng viên đó được các GS nghiên cứu cặn kẽ. Ngoài ra, các công trình khác của ứng viên cũng được đưa tới cho những người khác tham khảo.

    Phải mất đến vài tháng sau, kết quả mới được thu về, lúc này các GS mới ngồi lại bàn bạc để đi đến thống nhất. Họ bỏ phiếu công khai và ghi vào biên bản nghiệm thu. Tất cả các kiến nghị, các lập luận phản đối, những lá thư, các yêu cầu, mục tiêu… được lưu lại và tổng hợp thành một bộ hồ sơ hoàn chỉnh nhất.

    Như vậy, quá trình thăm dò dư luận từ thăm dò kín đến bỏ phiếu công khai đã kết thúc. Có thể vì một lý do nào đó ứng viên được chọn biết được mình có trong danh sách tìm kiếm nhưng không vì thế mà họ biết được mình đã nằm trong danh sách người được chọn để bổ nhiệm.

    Kết thúc toàn bộ quá trình tìm kiếm ứng viên, quy trình bổ nhiệm bước sang một giai đoạn- giai đoạn mời ứng viên nhập cuộc. Ứng viên được mời đến, họ có toàn quyền quyết định xem có tham gia hay không vào quy trình bổ nhiệm GS này. Đại đa số là đồng ý, tuy nhiên một số trường hợp vì những lý do cá nhân không tham dự, uỷ ban tìm kiếm cũng không bất ngờ với kết quả này vì đó cũng là một trong những cuộc thử nghiệm và họ buộc phải tiến hành lại từ những bước đầu tiên.

    Khi ứng viên nhận lời cũng là lúc họ có quyền bàn bạc về các điều kiện vật chất. Tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu khoa học mà các đòi hỏi, yêu cầu về quyền lợi khác nhau. Trên thực tế không có bảng lương cố định nào cho các GS, cũng không có đòi hỏi nào quá khắt khe mà các trường đại học không thể thực hiện được. Kết quả phụ thuộc vào khuôn khổ cuộc đàm phán giữa hai bên.
    Ứng viên khi nhận lời họ phải đối mặt với rất nhiều thách thức ở giai đoạn sau không ít người bị thất bại khi đã lọt vào vòng chung kết. Nhiều người đã rất thất vọng khi không đi được đến đích cuối cùng bởi họ đã không đạt được một vài yêu cầu nào đó, hoặc vì một lý do cá nhân nào đó.

    Quy trình bổ nhiệm tiếp tục bước vào giai đoạn mới, giai đoạn cuối cùng của quá trình bổ nhiệm. Đầu tiên các giáo viên bộ môn viết một lá thư cho trưởng khoa ghi rõ các kiến nghị đề xuất đồng tình hay phản đối ứng viên này. Trưởng khoa thu thập tất cả và nộp kèm hồ sơ hoàn chỉnh nhất cho Chủ tịch.
    Trước khi họp bàn lần cuối cùng người ta tổ chức một ủy ban ad hoc (ủy ban đặc biệt) gồm ba thành viên. Thành viên thứ nhất là người hiểu rất rõ đề tài nhưng phụ trách ở một bộ môn khác trong trường. Hai người còn lại là hai vị GS có uy tín đến từ trường đại học nổi tiếng trong nước hoặc nước ngoài. Ba người này đã nhận được đầy đủ trước những công trình khoa học tiêu biểu của ứng viên. Họ nghiên cứu và góp tiếng nói nhận định về khía cạnh khoa học đối với người được bổ nhiệm. Hình thức này nhằm loại bỏ việc bè cánh trong giới hoa học, như thế họ cũng loại bỏ luôn mối quan hệ mà ứng viên có thể tổ chức được trước khi quy trình bổ nhiệm kết thúc.

    Một cuộc họp quan trọng đi đến quyết định cuối cùng được tổ chức tại phòng Chủ tịch. Những thành viên tham gia gồm Chủ tịch, tổ trưởng tổ bộ môn, trưởng khoa và ủy ban ad hoc, tất cả họp lại và nhìn nhận tất cả các ý kiến từ đồng thuận đến phản đối.

    Tại đây, tất cả các ý kiến được bàn luận, xem xét, đánh giá cùng với việc tìm hiểu kĩ hồ sơ của ứng viên.

    Kết thúc cuộc họp, Chủ tịch là người có quyết định tối cao cuối cùng dựa trên toàn bộ quy trình đánh giá ứng viên. Trong đại đa số trường hợp Chủ tịch đồng ý với đa số ý kiến đồng thuận, tuy nhiên ở một số tình huống nào đó cũng có những ngoại lệ.

    Chỉ khi ứng viên nhận được chức danh GS, khi bắt đầu tiến hành công việc trên cương vị mới, lúc đó quyền lợi của ứng viên mới thật sự bắt đầu.

    GS là chức danh rất vinh dự dành cho những người có thành tích khoa học, nhưng chức danh đó chỉ có được từ những đòi hỏi thực tế cần một người có thể làm việc và đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra. Khi đã là GS họ không phải lo lắng quá nhiều về thu nhập hay về việc định danh trong một thời kì. Với họ chức danh GS thuộc về một lĩnh vực khoa học cụ thể, chức danh này theo họ mãi mãi, không giới  hạn tuổi tác và không giới hạn về điều kiện phát triển khoa học.

    Dù bất cứ lí do gì, đã ở cương vị này, GS có toàn quyền quyết định ở lại hay ra đi tìm cơ hội ở môi trường khác, không có bất cứ ràng buộc nào từ người sử dụng đối với họ. Dù cho một số ít những vị GS khả kính này sau khi được bổ nhiệm không đáp ứng được mong đợi của người sử dụng (trừ trường hợp ngoại lệ GS vi pháp pháp luật, hoặc mắc một số bệnh liên quan đến khả năng tư duy thì việc định danh lại hay xóa bỏ chức danh GS mới được phép bàn đến). Đây vừa là ưu tiên đặc biệt đối với vị trí này đồng thời cũng là môi trường an toàn và tự do nhất cho phép họ bộc lộ hết khả năng của mình.

    Thật vinh dự cho ai có được chức danh GS ở đại học Harvard, nhưng không phải vì thế mà chỉ có GS mới là người thành công, rất nhiều dẫn chứng cho thấy, những người chưa qua được quy trình bổ nhiệm, hay những người không có được chức danh này, họ vẫn có được những thành quả mà nhiều vị GS trong cùng lĩnh vực khoa học phải nghiêng mình thán phục.

    Dù sao quy trình bổ nhiệm GS ở đại học Harvard (được lược thuật trên đây) đã gây cho tác giả Kornai János (người viết những dòng hồi kí này) một ấn tượng thật sâu sắc khi ông tham dự với tư cách một thành viên trực tiếp: “dẫu thủ tục bổ nhiệm có mặt trái của nó, tôi cảm động theo dõi và phục vụ với niềm vinh dự, cho đến tận lúc tôi tham gia”.

    (Trích trong cuốn: Bằng sức mạnh tư duy – A Gondolat Erejével của Kornai János, người dịch Nguyễn Quang A)