Danh mục: Tin khoa học công nghệ

  • Phóng sự: Ứng phó với hạn mặn từ những công trình liên vùng

    Phóng sự: Ứng phó với hạn mặn từ những công trình liên vùng

    Mùa khô năm 2019 và 2020 đồng bằng sông Cửu Long phải hứng chịu một đợt hạn nặng khốc liệt và hiệu quả từ các hệ thống công trình thủy lợi trong việc ngăn mặn, điều tiết nước, chống ngập…

    Mời quý độc giả xem phóng sự tại link: https://vtv.vn/video/phong-su-ung-pho-voi-han-man-tu-nhung-cong-trinh-lien-vung-436497.htm

    Nguồn VTV9 – Đài truyền hình Việt Nam

     

  • Thêm một tạp chí khoa học của Việt Nam trên Web of Science

    Thêm một tạp chí khoa học của Việt Nam trên Web of Science

    Mới đây, Tạp chí Các Khoa học về trái đất (Vietnam Journal of Earth Sciences) của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) vừa được Clarivate Analysis xét chọn chỉ số trích dẫn nguồn mới nổi (ESCI) để chính thức có mặt trên Web of Science. ESCI là một trong những cơ sở dữ liệu các tạp chí khoa học uy tín nhất trên thế giới của Web of Science thuộc công ty Clarivate Analytics (kế thừa từ Thomson Reuters, trước đây là Viện Thông tin Khoa học,Institute for Scientific Information – ISI). Việc có mặt trong danh sách ESCI không chỉ là sự khẳng định bước tiến về chất lượng của Tạp chí mà còn giúp Tạp chí được cộng đồng khoa học quốc tế biết đến nhiều hơn.

    Bìa Tạp chí Các Khoa học về trái đất

    Tạp chí Các khoa học về trái đất đã có lịch sử 42 năm xây dựng và phát triển. Bắt đầu từ tổng biên tập là GS.NGND Nguyễn Văn Chiển, GS.TSKH Lê Đức An, GS.TSKH Nguyễn Thị Kim Thoa, PGS.TSKH Trần Trọng Hoà và hiện nay là GS.TS Phan Trọng Trịnh. Đây là tạp chí thứ 4 của VAST nhận được chỉ số ESCI. Trước đó là các tạp chí: Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology (hợp tác xuất bản với IOP Science),  Acta Mathematica Vietnamica và Vietnam Journal of Mathematics (hợp tác xuất bản với Springer – Nature). Tạp chí Các khoa học về trái đất là tạp chí đầu tiên của VAST xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ (trong nước), đã nhận được ESCI.

    Nguồn: http://vjst.vn/vn/tin-tuc/3156/them-mot-tap-chi-khoa-hoc-cua-viet-nam-tren-web-of-science.aspx

  • Sở hữu trí tuệ – Công cụ hỗ trợ hướng tới nền kinh tế bền vững, giảm thiểu phát thải các-bon

    Sở hữu trí tuệ – Công cụ hỗ trợ hướng tới nền kinh tế bền vững, giảm thiểu phát thải các-bon

    Bài viết nằm trong chuỗi các tài liệu tuyên truyền kỉ niệm Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ vai trò quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ trong khuyến khích, tạo động lực cho hoạt động đổi mới sáng tạo.

    Tìm ra con đường đi tới một tương lai xanh là vấn đề cấp thiết hiện nay đối với tất cả các quốc gia. Chiến dịch kỉ niệm Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2020 đặt đổi mới sáng tạo – và quyền sở hữu trí tuệ hỗ trợ cho đổi mới sáng tạo – làm trung tâm của những nỗ lực hình thành nên một tương lai giảm thiểu lượng phát thải các-bon.

    Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và xây dựng một tương lai xanh là một mệnh lệnh hiện nay. Ảnh: Getty / Gehringi. Nguồn: https://www.wipo.int/ip-outreach/en/ipday/2020/green_future.html

    Bài viết nằm trong chuỗi các tài liệu tuyên truyền kỉ niệm Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ vai trò quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ trong khuyến khích, tạo động lực cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Đặc biệt là để hướng tới tạo dựng một tương lai xanh và phát triển bền vững, một số đối tượng sở hữu trí tuệ cụ thể như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tác phẩm hay tri thức truyền thống… đã được các doanh nghiệp sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thể hiện cam kết bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.

    Nguyên văn bài viết được đang tải trên Cổng thông tin của WIPO: 
    https://www.wipo.int/ip-outreach/en/ipday/2020/green_future.html

    Nguồn: 

    Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Hỗ trợ, tư vấn

    https://www.wipo.int/ip-outreach/en/ipday/2020/green_future.html 

  • Nghiên cứu giải pháp khoa học công nghệ thủy lợi, nông lâm kết hợp nhằm cải tạo và khai thác đất cát ven biển phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững vùng Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị)

    Nghiên cứu giải pháp khoa học công nghệ thủy lợi, nông lâm kết hợp nhằm cải tạo và khai thác đất cát ven biển phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững vùng Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị)

    Đất cát ven biển được xem là loại đất có nhiều vấn đề nhất như kết cấu rời rạc, độ phì thấp, khả năng trữ nước và chất dinh dưỡng kém, thảm thực vật chủ yếu là các loại cây bụi có khả năng chống chịu lại các điều kiện khắc nghiệt. Ở nước ta, các loại đất cát tập trung chủ yếu ở các tỉnh duyên hải miền Trung trong đó ở Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị. Loại đất này đã và đang được sử dụng rất đa dạng cho sản xuất nông nghiệp, trồng lúa; lúa-màu; cây công nghiệp ngắn ngày; rau đậu; ngô; cây ăn quả các loại. Mặc dù nhóm đất cát có vai trò rất lớn đối với tiềm lực phát triển kinh tế, xã hội của ba tỉnh nêu trên như: tạo ra các sản phẩm nông nghiệp và cây trồng có giá trị, ổn định góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, nhóm đất này còn có nhiều hạn chế trong trồng trọt và canh tác nông nghiệp như nghèo dinh dưỡng, thành phần cơ giới nhẹ, độ rỗng lớn nên không phù hợp với canh tác. Để giúp người dân các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị có thể sử dụng đất cát biển một cách hiệu quả và bền vững, việc nghiên cứu giải pháp nông-lâm thủy lợi kết hợp cải tạo đất để phát triển nông nghiệp ổn định là cần thiết.

    Đất cát ven biển Miền Trung

    Chính vì vậy, các giảng viên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước thuộc Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, Trường Đại học Thủy lợi đã đề xuất và được Bộ Khoa học & Công nghệ giao cho thực hiện Đề tài “Nghiên cứu giải pháp khoa học công nghệ thủy lợi, nông lâm kết hợp nhằm cải tạo và khai thác đất cát ven biển phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững vùng Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị)” nhằm đem lại màu xanh trù phú trên mảnh đất cát khô cằn nơi đây, giúp cho kinh tế xã hội của người dân trong vùng được phát triển một cách bền vững.

    Đề tài được thực hiện trong 3 năm (từ năm 2019 đến năm 2021) do GS.TS. Trần Viết Ổn, Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Thủy lợi làm chủ nhiệm với sự tham gia của các giảng viên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước và một số giảng viên các đơn vị khác trong Trường Đại học Thủy lợi, kết hợp với các cán bộ của Sở NN&PTNT Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Đề tài bắt đầu được triển khai vào đầu tháng 4 năm 2019. Dưới đây là một số hình ảnh về buổi đi điều tra khảo sát thu thập số liệu của các thầy cô giáo bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước, Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước – những người thực hiện đề tài. 

    Hiện trạng canh tác trên đất cát ven biển Miền Trung

    PGS.TS. Nguyễn Thị Hằng Nga – Thành viên thực hiện đề tài đi thực địa tại vùng đất cát ven biển Miền Trung

    TVB

  • Đổi mới sáng tạo vì một tương lai xanh

    Đổi mới sáng tạo vì một tương lai xanh

    Đây là chủ đề của Ngày sở hữu trí tuệ (SHTT) thế giới 26/4/2020 mới được Tổ chức SHTT giới (WIPO) đưa ra. Ngày SHTT thế giới 2020 đặt đổi mới sáng tạo và các quyền SHTT hỗ trợ đổi mới sáng tạo là trung tâm của những nỗ lực tạo ra một tương lai xanh. Bởi vì những lựa chọn chúng ta đưa ra hôm nay sẽ định hình tương lai của chúng ta mai sau. Trái đất là nhà của chúng ta. Chúng ta cần quan tâm đến Trái đất.

    Theo WIPO, xác định một lộ trình đến tương lai xanh là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Tất cả chúng ta đều chia sẻ thử thách này và mỗi người có một vai trò trong việc xây dựng một tương lai xanh. Điều này đòi hỏi nỗ lực lớn lao và đa chiều, nhưng chúng ta có thể tạo ra một tương lai xanh. Vì chúng ta có trí tuệ, sự khéo léo và khả năng sáng tạo tập thể để đưa ra những cách thức mới hiệu quả hơn nhằm định hình một tương lai ít carbon. Nhưng chúng ta phải hành động ngay.

    Chủ đề Ngày SHTT thế giới 2020 cũng tôn vinh các nhà sáng chế và sáng tạo truyền cảm hứng trên khắp thế giới đang đánh cược vào một tương lai xanh – họ (những phụ nữ, nam giới và những người trẻ tuổi) đang làm các công việc nhằm tạo ra sự thay thế sạch hơn cho các công nghệ dựa trên nhiên liệu hóa thạch, các hệ thống kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thực phẩm hiệu quả và bền vững hơn; những người đang sử dụng hệ thống SHTT để hỗ trợ công việc của họ cũng như tiếp thu và sử dụng trong cộng đồng.

    Hãy cùng nhau khám phá vai trò của đổi mới sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ trong việc mở ra một con đường dẫn đến một tương lai xanh. Chia sẻ những thành quả đổi mới sáng tạo xanh yêu thích của bạn và cho mọi người biết bạn sẽ thúc đẩy năng lực xanh của mình như thế nào.

    CM

    Nguồn: http://vjst.vn/vn/tin-tuc/3112/doi-moi-sang-tao-vi-mot-tuong-lai-xanh.aspx

    P. KHCN

  • Nhu cầu nguồn nhân lực cho lĩnh vực Thủy điện

    Nhu cầu nguồn nhân lực cho lĩnh vực Thủy điện

    Việt Nam có nguồn tài nguyên thủy năng tương đối lớn do có vị trí địa lý nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều, cộng với bờ biển kéo dài hơn 3400 km cùng với sự thay đổi cao độ từ hơn 3100 m cho đến độ cao mặt biển đã tạo ra nguồn thế năng to lớn do chênh lệch địa hình. Theo đánh giá về tiềm năng thủy điện, công suất thủy điện có thể khai thác được vào khoảng từ 25.000 MW đến 26.000 MW, tương ứng với khoảng từ 90 tỷ kWh đến 100 tỷ kWh điện năng. Trên thực tế, tiềm năng về công suất thủy điện có thể khai thác còn nhiều hơn. Theo kinh nghiệm khai thác thủy điện trên thế giới, công suất thủy điện ở Việt Nam có thể khai thác trong tương lai có thể bằng từ 30.000 MW đến 38.000 MW và điện năng có thể khai thác được từ 100 tỷ kWh đến 110 tỷ kWh.

    Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ thiếu điện, nhất là giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2025 và sau đó. Theo tính toán từ Bộ Công Thương, lượng điện thiếu hụt ước tính 3,7 tỷ kWh vào năm 2021, khoảng 10 tỷ kWh vào năm 2022. Đặc biệt, dự báo đến năm 2023, hệ thống sẽ thiếu hụt khoảng 15 tỷ kWh. Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, phát triển nguồn thủy điện và năng lượng tái tạo là mục tiêu được ưu tiên. Theo đó, công suất lắp đặt nguồn thủy điện đến năm 2025 sẽ đạt 24.600 MW và đến năm 2030 đạt 27.800 MW. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tính đến 2018, cả nước có 818 dự án thủy điện với tổng công suất lắp đặt 23.182 MW. Trong đó, đã đưa vào khai thác sử dụng 385 dự án thủy điện với tổng công suất lắp đặt 18.564 MW, đang xây dựng 143 dự án thủy điện với tổng công suất lắp đặt 1.848 MW và đang nghiên cứu đầu tư 290 dự án thủy điện với tổng công suất lắp đặt 2.770 MW.

    Ngoài ra, trên nhiều địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, tài liệu cơ bản để lập quy hoạch còn hạn chế, điều kiện khảo sát thực địa không thuận lợi… Hơn nữa, cơ quan xây dựng quy hoạch các tỉnh có dự án còn thiếu hoặc chưa có cán bộ chuyên môn; sự phối hợp giữa các Sở, Ngành của địa phương trong quá trình lập quy hoạch cũng chưa thực sự chặt chẽ, chất lượng quy hoạch thủy điện nhỏ bộc lộ khá nhiều bất cập. Mặt khác, do tình hình phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết như giao thông, lưới điện… tại các khu vực này còn chậm do đó nhiều lưu vực sông có tiềm năng thủy điện vẫn chưa được khai thác hoặc chưa khai thác hết. Nhiều vị trí có thể xây dựng dự án thủy điện chưa được xem xét bổ xung vào quy hoạch. Hoặc nhiều dự án thủy điện cũng do những vấn đề nêu trên mà đã bị loại khỏi quy hoạch.

    Do nhu cầu năng lượng điện ngày tăng cao, trong những năm vừa qua nguồn nhiệt điện, nhất là nhiệt điện than đã phát triển rất nhanh. Điều này sẽ dẫn đến những hệ lụy về môi trường và an ninh năng lượng trong tương lai. Do đó, việc nghiên cứu khai thác và tận dụng tối đa nguồn năng lượng sạch và rẻ như thủy điện cần được quan tâm và tạo điều kiện, cơ chế chính sách cho phát triển. Điều này đồng thời cũng yêu cầu về nguồn nhân lực được đào tạo về lĩnh vực thủy điện.

     Chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy là một trong những chương trình đào tạo có truyền thống thuộc khoa Công trình của Trường Đại học Thủy lợi. Mục tiêu của chương trình là đào tạo kỹ sư có phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức tốt, có sức khỏe, có năng lực thiết kế, xây dựng và khai thác vận hành các công trình thủy lợi, thủy điện, năng lượng tái tạo, cảng, đường thủy và phòng chống thiên tai. Chuyên ngành Thủy điện và công trình năng lượng là một trong ba chuyên ngành của ngành Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy. Đây là nơi đào tạo và cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao về công trình thủy điện nói riêng và công trình thủy nói chung.

    Sau khi tốt nghiệp, sinh viên chuyên ngành Thủy điện và công trình năng lượng có thể làm việc tại các công ty tư vấn thiết kế, thi công; các ban quản lý dự án, viện nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực thủy lợi, thủy điện và năng lượng tái tạo; các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Bộ Công Thương. Ngoài ra, sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Thủy điện và công trình năng lượng với nền kiến thức cơ bản, cơ sở thuộc khối ngành xây dựng vững chắc nên dễ dàng chuyển đổi làm việc sang các lĩnh vực khác như giao thông, xây dựng dân dụng. Theo thống kê tình hình việc làm của sinh viên học về Thủy điện và năng lượng tái tạo cho thấy: Tỷ lệ sinh viên sau khi ra trường có việc làm trong ba năm gần đây đều đạt trên 95%. Theo đó: tỷ lệ có việc làm của sinh viên tốt nghiệp năm 2016, là 95,5%, năm 2017 là 96,22% và năm 2018 là 97,1%. Nhiều cựu sinh viên thành đạt, được giữ những vị trí quan trọng có thể kể đến như: TS. Hoàng Văn Thắng (Cựu SV K17-Thủy điện, Nguyên Thứ trưởng Bộ NN & PTNT), Anh Lê Văn An (Cựu SV K17-Thủy điện, Anh hùng lao động, Chủ tịch Tổng Cty Cơ điện Xây dựng), Anh Nguyễn Tài Sơn (Nguyên CTHĐQT, TGĐ Công ty CP Tư vấn xây dựng điện 1), GS.TS. Nguyễn Vũ Việt (Cựu SV K20-Thủy điện, Giám đốc Viện KHTL Việt Nam), Anh Trần Đăng Ninh (Cựu SV K22-Thủy điện, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Hòa Bình), Anh Nguyễn Văn Đại (Cựu SV K22-Thủy điện, GĐ Sở NN & PTNT Bắc Ninh), Anh Vũ Nam Tiến (Cựu SV K22-Thủy điện, GĐ Sở NN & PTNT Ninh Bình), Anh Nguyễn Hoàng Hiệp (Cựu SV 29Đ – Thứ trưởng Bộ NN & PTNT), TS. Phạm Nguyên Hùng (Cựu SV 32Đ, CTHĐQT, TGĐ Công ty CP Tư vấn xây dựng điện 1), Anh Phạm Văn Lập (Cựu SV 32Đ, Bí thư Huyện ủy Thủy Nguyên, Tp Hải Phòng), Anh Bùi Phương Nam (Cựu SV 36Đ, Giám đốc Ban Quản lý dự án điện 1 – Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN), Anh Trần Việt Hòa (Cựu SV 37Đ, Vụ trưởng Vụ KHCN, Bộ Công thương), …

    Mặt khác, theo thống kê trong vài năm gần đây cho thấy một sự mất cân đối rõ rệt trong cơ cấu ngành nghề xét tuyển. Điều này là do các thí sinh lựa chọn nguyện vọng xét tuyển vẫn chủ yếu dựa vào cảm tính và tâm lý đám đông, chứ chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Theo đó, năm 2019 khối ngành kinh doanh và quản lý được coi là hót và thời thượng có số nguyện vọng đăng ký xét tuyển đông nhất, chiếm trên 30% trong tổng số nguyện vọng của thí sinh, trong khi các ngành này đã được cảnh báo là đang bão hòa. Trong khi đó, các ngành khoa học kỹ thuật gần như không thu hút được thí sinh, nguồn tuyển vào những ngành này rất hạn chế. Ngành Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy là một trong nhiều ngành cũng nằm trong số này. Điều này sẽ gây thiếu hụt nguồn nhân lực trầm trọng cho nhiều ngành nghề trong tương lai và có thể sẽ dẫn đến hệ lụy lâu dài cho đất nước. Thực tế này đã bộc lộ rõ trong một, hai năm gần đây, khi mà rất nhiều các công ty làm trong lĩnh vực thủy lợi, thủy điện đang có nhu cầu lớn về nhân lực nhưng lại gặp khó khăn trong việc tuyển dụng. Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi sự quan tâm của nhiều bộ, ban ngành trong cả nước. Đồng thời, vấn đề này cũng đặt ra suy nghĩ cho nhiều người, nhất là các thí sinh trước khi lựa chọn ngành nghề khi đăng ký xét tuyển.

    Nguồn: Khoa Công trình – ĐHTL

    http://ce.tlu.edu.vn/

    P. KHCN

  • Các nhà nghiên cứu của TLU hợp tác với IRD Việt Nam để mô phỏng các biện pháp ngăn chặn COVID-19

    Các nhà nghiên cứu của TLU hợp tác với IRD Việt Nam để mô phỏng các biện pháp ngăn chặn COVID-19

    Viện Nghiên cứu phát triển (IRD) Cộng hoà Pháp, trung tâm đại diện tại Việt Nam đã thành lập một nhóm các nhà nghiên cứu đa ngành từ các đơn vị nghiên cứu viện gồm UMMISCO (Alexis Drogoul, Benoit Gaudou, Arthur Brugière, Kevin Chapuis), MIVEGEC (Marc Choisy), được hỗ trợ bởi các đồng nghiệp từ trường Đại học Thuỷ lợi (Nguyễn Ngọc Doanh), trường Đại học Cần Thơ (Huỳnh Quang Nghi), INRAE (Patrick Taillandier) và SPH-HKU (Damien Philippon), để thiết kế các mô hình máy tính có tính đến yếu tố không gian thực tế trong nền tảng mô phỏng GAMA, từ dữ liệu được cung cấp của chính phủ (điều tra dân số, dữ liệu dịch tễ học) hoặc thu được từ các tác nhân tư nhân (dữ liệu Facebook, dữ liệu điện thoại di động) để thông báo nhanh nhất có thể các quyết định về sức khỏe cộng đồng của chính quyền Việt Nam, đặc biệt là các quyết định liên quan đến tác động của chiến lược ngăn chặn khi phát hiện trường hợp.

    Mô phỏng các biện pháp ngăn chặn CoVid19 bằng GAMA:

    Mô phỏng sự lan truyền CoVid19 trong hai nghiên cứu trường hợp sau:

     

    So sánh tỷ lệ người nhiễm bệnh giữa việc đeo khẩu trang và không đeo khẩu trang:

     
    

    Trích nguồn: https://gama-platform.github.io/covid19 

    P. KHCN

  • 8 nhà khoa học được đề cử Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020

    8 nhà khoa học được đề cử Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020

    Giải thưởng Tạ Quang Bửu của Bộ Khoa học và Công nghệ được tổ chức hàng năm nhằm khích lệ và tôn vinh các nhà khoa học có thành tựu nổi bật trong nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Qua 6 đợt xét tặng, Giải thưởng Tạ Quang Bửu đã được trao cho 17 nhà khoa học ở các trường đại học và viện nghiên cứu thuộc đầy đủ các ngành, lĩnh vực thuộc khoa học tự nhiên và kỹ thuật (Toán học, Khoa học thông tin và máy tính, Vật lý, Hóa học, Khoa học trái đất và môi trường, Khoa học nông nghiệp, Khoa học y dược, Cơ học kỹ thuật), với 14 giải thưởng chính và 3 giải thưởng trẻ.

    Đợt xét tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia – Cơ quan thường trực của giải thưởng đã nhận được 48 hồ sơ đề cử/ứng cử. Kết quả rà soát điều kiện hành chính và đánh giá của các hội đồng khoa học chuyên ngành của Quỹ có 8 hồ sơ (5 giải thưởng chính và 3 giải thưởng trẻ) được đề cử xét tặng tại Hội đồng Giải thưởng.

    Hội đồng Giải thưởng dự kiến sẽ họp đánh giá hồ sơ vào tháng 4/2020. Lễ trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020 dự kiến được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2020, nhân dịp kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5.

    Danh sách đề cử Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020

    TT

    Họ tên nhà khoa học

    Cơ quan công tác

    Chuyên ngành

    Giải thưởng chính

    1

    PGS.TS Phạm Tiến Sơn

    Trường Đại học Đà Lạt

    Toán học

    2

    PGS.TS Nguyễn Quang Hưng

    Trường Đại học Duy Tân

    Vật lý

    3

    TS Trần Mạnh Trí

    Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

    Hóa học

    4

    PGS.TS Vương Thị Ngọc Lan

    Trường Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh

    Khoa học y dược

    5

    TS Nguyễn Thạch Tùng

    Trường Đại học Dược Hà Nội

    Khoa học y dược

    Giả thưởng trẻ

    1

    TS Võ Hoàng Hưng

    Trường Đại học Sài Gòn

    Toán học

    2

    TS Nguyễn Trương Thanh Hiếu

    Trường Đại học Tôn Đức Thắng

    Vật lý

    3

    TS Hoàng Thanh Tùng

    Viện Nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam

    Khoa học nông nghiệp

     

    Nguồn Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam

    P. KHCN

  • Khí hậu và Nước: Mối quan tâm chung của nhân loại

    Khí hậu và Nước: Mối quan tâm chung của nhân loại

    Năm nay, Ngày Nước thế giới (22/3) và Ngày Khí tượng thế giới (23/3) cùng chia sẻ chủ đề: Khí hậu và Nước. Tài nguyên nước và khí hậu luôn có mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau. Chế độ khí tượng thủy văn dẫn đến các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra ngày càng thường xuyên và khó dự đoán, làm ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm. Vì vậy, Liên hợp quốc chọn chủ đề Ngày Nước thế giới năm 2020 là “Nước và Biến đổi khí hậu” và chủ đề Ngày Khí tượng thế giới năm 2020 cũng là "Khí hậu và Nước" với khẩu hiệu "Đo đếm từng hạt mưa – Chắt chiu từng giọt nước".

    Theo số liệu của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, hiện có khoảng gần 1/3 dân số thế giới không có nước uống hợp vệ sinh và an toàn. Truyền đi thông điệp về Ngày Nước thế giới và Ngày Khí tượng thế giới, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: tại Việt Nam, biến đổi khí hậu đang diễn ra từng ngày, từng giờ gây ra những hậu quả nghiêm trọng như tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước trên phần lớn các khu vực; kéo theo các vấn đề về dân sinh, kinh tế và môi trường. Chính vì vậy, các giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước đóng vai trò quan trọng. Công tác quản lý tài nguyên nước cần tập trung vào các vấn đề:

    – Xây dựng và triển khai quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông làm cơ sở triển khai các giải pháp phân bổ, bảo vệ tài nguyên nước.

    – Tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước. Vận hành các hồ chứa tuân thủ đúng quy trình vận hành liên hồ chứa đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm đảm bảo các nhu cầu sử dụng nước thiết yếu và giảm thiểu các tác hại do lũ lụt, hạn hán, thiếu nước trên các lưu vực sông.

    – Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tình trạng ô nhiễm trên các lưu vực sông; tăng cường giám sát việc tuân thủ pháp luật của các hoạt động xả nước thải; thu gom xử lý ô nhiễm từ nguồn; khuyến khích đầu tư vào công nghiệp xử lý nước thải. Đồng thời, tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ công bằng và hợp lý các nguồn nước liên quốc gia.

    Việt Nam là một đất nước có rất nhiều bão, lũ hàng năm; đặc biệt có nhiều dòng sông xuyên biên giới. Song song với nỗ lực quản lý nhà nước và tạo điều kiện cho việc thu thập và chia sẻ dữ liệu về mưa, về nước là cơ sở cho các hoạt động giám sát và dự báo thủy văn, cũng như cảnh báo sớm về lũ lụt và hạn hán. Tuy nhiên, công tác quan trắc, dự báo khí tượng thủy văn luôn là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra và tác động đến các điều kiện tự nhiên làm cho các loại thiên tai ngày càng “dị thường hơn, cực đoan hơn” cả về tần suất lẫn cường độ, nhất là các thiên tai liên quan đến mưa, nước.

    Giải quyết các vấn đề về tài nguyên nước chính là chìa khóa giúp thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu, đồng thời có thể giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Để đạt được mục tiêu sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước cần sự chung tay của tất cả các ban, ngành trung ương, địa phương, tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học. Các ngành sử dụng nước như nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, thủy điện, giao thông thủy… cần có các giải pháp chiến lược, căn cơ để ứng phó với diễn biến bất thường của tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu; sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, cùng với các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước. Mỗi người dân sử dụng nước tiết kiệm hàng ngày, tăng cường ý thức bảo vệ nguồn nước là những đóng góp thiết thực, hiệu quả cho công tác quản lý tài nguyên nước và ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Nguồn Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam

     http://vjst.vn/vn/pages/Trangchu.aspx 

    P. KHCN

  • Khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học, ươm mầm và hiện thực hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học ra thị trường

    Khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học, ươm mầm và hiện thực hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học ra thị trường

    Thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Mặt khác, nghiên cứu khoa học đặc biệt cần thiết giúp các em tiếp cận và làm quen với môi trường khoa học, cũng như rèn luyện khả năng tư duy sáng tạ. Đặc biệt đối với nghiên cứu phát triển, việc ươm mầm và hiện thực hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học ra ngoài thị trường là rất cần thiết. Nhận thức rõ điều này, thời gian qua, Trường Đại học Thủy lợi luôn khuyến khích, động viên sinh viên nghiên cứu các đề tài có tính khả thi cao và có khả năng phát triển sản phẩm ra thị trường. Chương trình hôm nay, PGS. TS.Nguyễn Ngọc Doanh – Phó Trưởng Phòng KHCN, Trường Đại học Thủy lợi bàn câu chuyện “Khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học, ươm mầm và hiện thực hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học ra thị trường”.

    Nội dung chi tiết xin xem Tại đây

    P. KHCN

    Theo VOV