Danh mục: Tin khoa học công nghệ

  • Trường Đại học Thủy lợi tăng cường kết nối, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học

    Trường Đại học Thủy lợi tăng cường kết nối, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học

    Chiều ngày 10/8/2026, tại Phòng họp 225 – Nhà A2, Trường Đại học Thủy lợi tổ chức buổi làm việc với Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp nhằm trao đổi, kết nối và thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và sản phẩm sở hữu trí tuệ của Nhà trường.

    Buổi làm việc do PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Nhà trường chủ trì. Tham dự về phía Nhà trường có đại diện lãnh đạo Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế, Viện Nghiên cứu ứng dụng và Hợp tác quốc tế, Khoa Kinh tế và Quản lý, Khoa Kế toán và Kinh doanh, cùng các thầy cô thuộc Khoa Hóa và Môi trường. Về phía Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp có ông Đoàn Trường Giang – Phó Giám đốc Trung tâm, cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị: Văn phòng Trung tâm, Phòng Dữ liệu thị trường và Chuyển đổi số, Phòng Hợp tác quốc tế và Phát triển thị trường, Phòng Tổ chức sự kiện và Dịch vụ, Phòng Phát triển mỗi xã một sản phẩm và Kinh tế xanh, Phòng Truyền thông và Tư vấn.

    Tại buổi làm việc, hai bên tập trung trao đổi về cơ chế phối hợp thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ và trình tự thương mại hóa sản phẩm sở hữu trí tuệ. Các nội dung thảo luận cũng hướng tới tăng cường kết nối giữa nhà trường – doanh nghiệp – địa phương, tạo điều kiện để những kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng tiếp cận thị trường và các đối tác có nhu cầu. Hai bên bàn về khả năng chuyển giao, đặt hàng, sản xuất thử nghiệm và nhân rộng mô hình, từng bước hình thành chuỗi giá trị từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm, dịch vụ phục vụ thực tiễn.

    Đặc biệt, việc xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu về sản phẩm khoa học – công nghệ cùng các dự án khởi nghiệp tiềm năng, tích hợp trên nền tảng số được xác định là hướng đi quan trọng trong kết nối cung – cầu công nghệ và xúc tiến thương mại.

    Thúc đẩy khởi nghiệp và thương mại hóa sản phẩm của sinh viên

    Bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, chương trình còn hướng tới phối hợp đào tạo, hướng dẫn sinh viên phát triển sản phẩm khởi nghiệp ứng dụng công nghệ số và kinh tế số; đồng thời hỗ trợ hoàn thiện mô hình kinh doanh, chiến lược truyền thông và thương mại điện tử. Đây là cách tiếp cận phù hợp với định hướng tăng cường hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong trường đại học, giúp sinh viên không chỉ phát triển ý tưởng mà còn từng bước đưa sản phẩm nghiên cứu, sáng tạo vào thực tiễn.

    Mở ra cơ hội hợp tác thiết thực

    Buổi làm việc giữa Trường Đại học Thủy lợi và Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp là cơ hội để hai bên phát huy thế mạnh, mở rộng mạng lưới hợp tác và đưa các kết quả nghiên cứu khoa học đến gần hơn với thị trường. Thông qua kết nối với doanh nghiệp và địa phương, các sản phẩm khoa học – công nghệ và ý tưởng khởi nghiệp có thêm cơ hội được hoàn thiện, thử nghiệm, chuyển giao và thương mại hóa, góp phần nâng cao giá trị của hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo tại Nhà trường.

    Chương trình cũng đặt nền tảng cho những hoạt động hợp tác tiếp theo, hướng tới hình thành các mô hình liên kết hiệu quả giữa nghiên cứu – đổi mới sáng tạo – doanh nghiệp – thị trường, góp phần gia tăng giá trị và sức lan tỏa của các sản phẩm khoa học, công nghệ trong thực tiễn.

    Trường Đại học Thủy lợi tăng cường kết nối, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học

    P.KHCN&HTQT

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo khoa học về quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu tại Thành Phố Hải Phòng

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo khoa học về quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu tại Thành Phố Hải Phòng

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo khoa học về quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu tại Thành Phố Hải Phòng

    Ngày 23/6/2026, tại Hải Phòng, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng phối hợp với Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo khoa học “Ứng dụng công nghệ quy hoạch đô thị nhằm phòng chống ngập nước và ảnh hưởng biến đổi khí hậu tại thành phố Hải Phòng”. Hội thảo thu hút sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước, đại diện Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam, các viện nghiên cứu, trường đại học cùng nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương trên địa bàn thành phố.

    Nhận lời mời của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng, Trường Đại học Thủy lợi đã cử Đoàn công tác do TS. Lê Quang Tuấn – Phó Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế cùng các nhà khoa học của Trường và chuyên gia quốc tế đến từ Trung tâm ACROSS tham dự Hội thảo, đóng góp tham luận và tham gia trưng bày sản phẩm khoa học công nghệ bên lề sự kiện.

    Hai bài tham luận của Trường Đại học Thủy lợi tại Hội thảo

    Tại Hội thảo, Trường Đại học Thủy lợi đã trình bày 02 bài tham luận được Ban Tổ chức và các đại biểu đánh giá cao.

    Bài tham luận thứ nhất “Quy hoạch không gian rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng: cân bằng phát triển cảng biển và logistics với bảo tồn “lá chắn xanh” rừng ngập mặn” do PGS.TS Trần Thanh Tùng – Phó Trưởng Khoa Công trình trình bày, đã phân tích vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn trong giảm thiểu rủi ro thiên tai và đề xuất các giải pháp dung hòa giữa phát triển kinh tế cảng biển với bảo tồn không gian sinh thái ven biển.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo khoa học về quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu tại Thành Phố Hải Phòng

    PGS.TS Trần Thanh Tùng – Phó Trưởng Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi trình bày tham luận về quy hoạch không gian rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng.

    Bài tham luận thứ hai “Quy hoạch và quản lý ngập lụt đô thị Hải Phòng trong kỷ nguyên số: Định hướng phát triển Digital Twin” do PGS.TS Đặng Minh Hải – Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước trình bày, đã đề xuất khung tiếp cận ứng dụng công nghệ Digital Twin trong quản trị ngập lụt đô thị, kết nối dữ liệu từ hệ thống cảm biến IoT vào mô hình bản sao số của thành phố – hướng đi được Hải Phòng xác định ưu tiên triển khai trong thời gian tới.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo khoa học về quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu tại Thành Phố Hải Phòng

    PGS.TS Đặng Minh Hải – Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, Trường Đại học Thủy lợi trình bày tham luận về định hướng phát triển Digital Twin trong quản lý ngập lụt đô thị Hải Phòng 

    Song song với phiên Hội thảo, Trường Đại học Thủy lợi tham gia trưng bày các sản phẩm khoa học công nghệ tiêu biểu liên quan đến chủ đề Hội thảo, đồng thời phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu ACROSS trình diễn các sản phẩm ứng dụng AI và công nghệ 3D phục vụ quản lý rủi ro ngập lụt, thu hút sự quan tâm của nhiều đại biểu tham dự.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo khoa học về quy hoạch đô thị thích ứng biến đổi khí hậu tại Thành Phố Hải Phòng

    Các đại biểu tham quan, trao đổi và trải nghiệm các sản phẩm khoa học công nghệ do Trường Đại học Thủy lợi và Trung tâm ACROSS giới thiệu tại Hội thảo. (Nguồn: baohaiphong.vn)

    Khẳng định vai trò và mở rộng hợp tác

    Việc tham gia tích cực tại Hội thảo tiếp tục khẳng định vai trò, uy tín và năng lực nghiên cứu của Trường Đại học Thủy lợi trong các lĩnh vực thủy lợi, tài nguyên nước, công trình ven biển, quy hoạch đô thị thích ứng và ứng dụng công nghệ số; đồng thời mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng hơn giữa Nhà trường với thành phố Hải Phòng và các đối tác trong nước, quốc tế trong giải quyết những thách thức do biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đô thị hóa nhanh đặt ra.

    Video toàn bộ hội thảo: https://www.youtube.com/live/usY7_POzPSk

    Bài viết của Báo Hải Phòng: https://baohaiphong.vn/de-xuat-ung-dung-digital-twin-iot-quan-tri-ngap-ung-do-thi-tai-hai-phong-546201.html

    Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế.

     

  • Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

     

    Ngày 14/12/2025, Bộ Xây dựng đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1”, mã số RD 24-24. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng – Phó chủ nhiệm Khoa Công trình trường Đại học Thủy lợi.

    Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm 09 thành viên là các chuyên gia, nhà khoa học đến từ trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Viện nghiên cứu và đại diện cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, do TS. Lê Minh Long, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng làm Chủ tịch Hội đồng.

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của nhiệm vụ.

    Thay mặt nhóm nghiên cứu, Chủ nhiệm nhiệm vụ PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng đã trình bày báo cáo tóm tắt các nội dung nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và những kết quả chính của nhiệm vụ. Báo cáo tập trung làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu, biên soạn hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn châu Âu EN 1992-1-1, phù hợp với điều kiện kỹ thuật, vật liệu và trình độ thiết kế – thi công tại Việt Nam.

    Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa xây dựng, phát triển nhà ở và công trình theo hướng hiện đại, bền vững, việc nghiên cứu, xây dựng tài liệu hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn EN cho kết cấu bê tông lắp ghép có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng thiết kế, bảo đảm an toàn kết cấu và hội nhập với tiêu chuẩn quốc tế.

    Mặc dù đã được sử dụng từ khá lâu và hiện nay đã trở lên phổ biến nhưng hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều tài liệu hướng dẫn thiết kế riêng cho bê tông lắp ghép, đặc biệt thiết kế theo tiêu chuẩn Châu Âu. Vì vậy việc nghiên cứu các tiêu chuẩn các nước tiên tiến như Châu Âu hay Vương quốc Anh (BS EN 1992-1-1.2004; Precast Eurocode 2: Design Manual; British Precast. 2008; BS EN 13225. 2013; BS EN 206. 2013; BS EN 1994-1-1. 2004) để ban hành các tài liệu hướng dẫn thiết kế là thực sự cần thiết. Các tiêu chuẩn thiết kế của Châu Âu này được thừa nhận là các tiêu chuẩn tiên tiến và có tính khoa học cao. Chính vì vậy ở nước ta đang có định hướng hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn của Châu Âu cho việc thiết kế công trình xây dựng.

    Kết quả của nhiệm vụ bao gồm:

    • Báo cáo nghiên cứu tổng hợp về cơ sở lý thuyết và thực tiễn áp dụng tiêu chuẩn EN 1992-1-1 cho kết cấu bê tông lắp ghép;
    • Dự thảo hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo EN 1992-1-1;
    • Các ví dụ tính toán, minh họa phục vụ công tác thiết kế và đào tạo;
    • Báo cáo tóm tắt các công trình khoa học đã công bố của đề tài.

    Kết quả của đề tài làm rõ cơ sở khoa học và quy định thiết kế kết cấu bê tông lắp ghép theo Eurocode 2 (EN 1992-1-1) trên cơ sở hệ thống hóa các quy định, nguyên tắc thiết kế kết cấu bê tông lắp ghép và bán lắp ghép trong tiêu chuẩn EN 1992-1-1.

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Bộ

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Cơ sở – Trường Đại học Thủy lợi

    Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ. Kết quả của đề tài đã góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa học cho việc xây dựng tài liệu hướng dẫn thiết kế kết cấu bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn châu Âu, đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống tiêu chuẩn xây dựng, thúc đẩy ứng dụng công nghệ bê tông lắp ghép, phục vụ phát triển xây dựng bền vững và hội nhập quốc tế của ngành xây dựng Việt Nam.

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu tại Trường Đại học Thủy lợi

    Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài đạt “Khá”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    Ngày 17/11/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia: “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ”, mã số ĐTĐL.CN-42/22.

    Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 09 thành viên do GS.TS. Lê Đình Thành, Hội Thủy lợi Việt Nam – Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, làm Chủ tịch Hội đồng.

    Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và

    kết quả của nhiệm vụ.

    Vùng duyên hải Trung Trung Bộ, với hơn 430 km bờ biển cát và nhiều cửa sông, đầm phá, là khu vực nhạy cảm bậc nhất Việt Nam trước tác động khí tượng – hải văn. Những năm gần đây, khu vực này liên tục chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, sóng lớn và nước dâng, gây xói lở sâu, bồi lấp cửa sông, phá hủy hạ tầng và thu hẹp không gian bãi tắm.

    Sự biến động mạnh của chế độ sóng – triều – dòng chảy theo mùa, kết hợp phát triển đô thị – du lịch và các công trình chỉnh trị thiếu đồng bộ, đang làm gia tăng mất cân bằng bùn cát và rủi ro cho kinh tế – xã hội ven biển. Thách thức này trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh điều chỉnh địa giới hành chính từ 01/7/2025, đòi hỏi cách tiếp cận liên vùng, dùng chung dữ liệu và công cụ mô hình hóa thống nhất dọc toàn tuyến bờ.

    Để hướng tới mục tiêu tăng cường hiệu quả quản lý và phát triển bộ công cụ tích hợp theo dõi – đánh giá – dự báo hình thái bờ có ý nghĩa cấp bách cả về khoa học lẫn thực tiễn, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ” (mã số ĐTĐL.CN-42/22), với 3 mục tiêu:

    Xây dựng bộ công cụ tích hợp phục vụ đánh giá và dự báo biến động hình thái các bãi biển Trung Trung Bộ;

    Làm rõ chế độ thủy thạch động lực và cơ chế biến đổi bãi biển khu vực;

    Ứng dụng thử nghiệm để định hướng giải pháp ổn định cho bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng).

    Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:

    Báo cáo đánh giá thực trạng cơ chế biến động hình thái bãi biển vùng Trung Trung Bộ;

    Bộ cơ sở dữ liệu về điều kiện địa hình, khí tượng, hải văn cho khu vực nghiên cứu, chi tiết cho khu vực bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng;

    Bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái các bãi biển đặc thù vùng Trung Trung Bộ;

    Báo cáo đánh giá chế độ thủy thạch động lực, cơ chế biến đổi hình thái bãi biển đặc thù vùng Trung Trung Bộ;

    Báo cáo định hướng các giải pháp ổn định cho một số bãi biển bị suy thoái vùng Trung Trung Bộ và Mỹ Khê;

    Báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt.

    Đăng ký 01 giải pháp hữu ích;

    04 công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCI/SCIE/SCOPUS;

    05 công bố trên các hội nghị quốc tế hoặc tạp chí chuyên ngành trong nước;

    Tham gia đào tạo sau đại học: Đào tạo 02 Thạc sĩ và hỗ trợ đào tạo 03 nghiên cứu sinh.

    Kết quả của đề tài không chỉ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và quản lý bờ biển, mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên ven biển Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng rõ rệt.

    Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp quốc gia.

    Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.

    Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài đạt “Xuất sắc”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.

    Nguồn: https://mst.gov.vn/nghien-cuu-xay-dung-bo-cong-cu-phuc-vu-danh-gia-du-bao-bien-dong-hinh-thai-va-giai-phap-on-dinh-bai-bien-vung-trung-trung-bo-197251118090823242.htm

  • Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

     

    Đà Nẵng đang đối mặt với thách thức lớn trong việc bảo vệ và duy trì bờ biển, đặc biệt tại các khu vực Mỹ Khê, Cửa Đại, Tam Tiến – nơi thường xuyên xảy ra xói lở nghiêm trọng trong những năm gần đây, gây ảnh hưởng đến hạ tầng, hoạt động du lịch và sinh kế cộng đồng. Trong bối cảnh đó, sáng 9/9 tại phường Hội An Tây, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức Hội thảo “Biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ”, báo cáo sơ bộ kết quả đề tài Khoa học Công nghệ cấp quốc gia do GS.TS Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi làm chủ nhiệm.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu

    Nhóm nghiên cứu của Trường đã tập trung khảo sát, phân tích tình trạng xói lở điển hình ở Mỹ Khê và Tam Tiến, chỉ ra các dạng xói lở như xói mạn tính, xói do chòm răng cưa lớn, xói cục bộ do bão và công trình. Từ những phân tích khoa học này, các chuyên gia đã đề xuất giải pháp ổn định bãi biển theo hướng kết hợp công trình cứng và mềm, vừa bảo vệ bờ biển, vừa giữ gìn cảnh quan để phát triển du lịch. Đặc biệt, Trường Đại học Thủy lợi đã xây dựng và thử nghiệm thành công bộ công cụ giải đoán đường bờ và địa hình từ ảnh vệ tinh, UAV, camera, hỗ trợ giám sát và dự báo biến động hình thái bờ biển. Hệ thống camera quan trắc trực tuyến được Nhà trường lắp đặt tại Mỹ Khê từ năm 2022 đã mang lại dữ liệu thời gian thực, phục vụ thiết thực cho công tác quản lý của địa phương.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Ông Lê Quang Nam – Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng – phát biểu tại hội thảo

    Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Lê Quang Nam đánh giá cao đóng góp của Trường Đại học Thủy lợi, coi đây là cơ sở khoa học quan trọng giúp thành phố chuyển từ thế bị động sang chủ động trong quản lý và bảo vệ bờ biển. Ông nhấn mạnh, với khu vực đô thị cũ, giải pháp phải thiên về ứng phó để bảo tồn hạ tầng hiện có, còn với khu vực phát triển mới cần có biện pháp chủ động, quy hoạch vùng đệm hợp lý, hạn chế tối đa rủi ro xói lở. Thành phố sẽ dựa trên kết quả nghiên cứu của Trường để định hướng quy hoạch phân khu bờ biển, đồng thời tiếp tục đặt hàng các giải pháp khoa học phục vụ chiến lược phát triển bền vững.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Bãi biển Mỹ Khê bị sạt lở nhiều năm gần đây

    Trong thời gian tới, Đà Nẵng sẽ phối hợp chặt chẽ với Trường Đại học Thủy lợi để hoàn thiện, chuyển giao bộ công cụ vào vận hành thực tế, thiết lập hệ thống quan trắc hiện đại tại Mỹ Khê, tích hợp dữ liệu vào hạ tầng đô thị thông minh, đồng thời tổ chức tập huấn cho cán bộ, cộng đồng ven biển nâng cao kiến thức ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Sạt lở bờ biển Hội An, TP Đà Nẵng

    Với năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm triển khai thực tế, Trường Đại học Thủy lợi đang khẳng định vai trò tiên phong trong việc tìm kiếm và đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ cho bài toán bảo vệ bờ biển Đà Nẵng. Đây không chỉ là đóng góp mang tính cấp bách mà còn đặt nền tảng vững chắc cho thành phố hướng tới mục tiêu xây dựng đô thị biển sinh thái, thông minh và bền vững.

    Tổng hợp: Bình Dương

    Link các bài báo liên quan

    https://vov.vn/xa-hoi/da-nang-tim-giai-phap-ton-tao-on-dinh-bo-bien-post1228786.vov

    https://baodanang.vn/toi-uu-hoa-cac-giai-phap-chong-xoi-lo-on-dinh-bai-bien-my-khe-3301410.html

    https://baovanhoa.vn/doi-song/tim-giai-phap-huu-hieu-chong-xoi-lo-on-dinh-bai-bien-167098.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

    https://tuoitrethudo.vn/da-nang-tim-giai-phap-huu-hieu-bao-ve-bo-bien-288749.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

    https://cand.com.vn/doi-song/bo-bien-da-nang-truoc-thach-thuc-lien-tuc-bi-xoi-lo-i780997/?zarsrc=10&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

  • Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ

    Chiều 16-8, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ

    Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030 – Ảnh: TTXVN

    Cùng dự có Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng; đại diện lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; 240 đại biểu, đại diện cho gần 5.000 đảng viên của 46 cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ.

    Kỹ năng số toàn dân được nâng cao, nhân dân được hưởng thụ

    Với chủ đề “Đoàn kết – Kỷ cương – Đột phá – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025 – 2030 đã nghe và thảo luận các dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ, nhiệm kỳ 2025 – 2030 nhằm tổng kết, đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2020 – 2025, thống nhất phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Đại hội cũng đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Báo cáo tại đại hội nêu rõ, từ ngày 1-3-2025, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ được thành lập trên cơ sở hợp nhất Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ và Đảng bộ Bộ Thông tin và Truyền thông.

    Kế thừa và phát huy những thành quả đã đạt được, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của bộ.

    Nhiều nghị quyết, chương trình hành động được ban hành đã tạo đột phá về tư duy và phương thức lãnh đạo, thúc đẩy cải cách thể chế, mở rộng không gian phát triển mới; toàn Đảng bộ cơ bản, các chỉ tiêu đặt ra đã được hoàn thành và hoàn thành vượt mức.

    Trong đó, hoàn thành 3 chỉ tiêu được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 gồm: tỉ trọng kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 19-20%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam đứng thứ 44/193 quốc gia; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 46,2%, cao hơn giai đoạn 2016 – 2020.

    Đại hội thống nhất, nhiệm kỳ tới, toàn Đảng bộ tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

    Đảng bộ lãnh đạo xây dựng Bộ Khoa học và Công nghệ thành cơ quan đầu mối quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bưu chính, viễn thông, tiêu chuẩn hóa, sở hữu trí tuệ và năng lượng nguyên tử; đủ năng lực dẫn dắt, điều phối và kiến tạo môi trường thuận lợi để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

    Trong đó, phấn đấu đến hết nhiệm kỳ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp 5% GDP; kinh tế số đạt tỉ trọng 30% GDP; hoàn thiện hạ tầng số và khoa học, công nghệ hiện đại, bảo đảm 100% dân số được phủ sóng 5G, triển khai thí điểm 6G; xây dựng 100 trung tâm đổi mới sáng tạo, trong đó ít nhất 6 trung tâm đạt tầm khu vực; xây dựng 1 trung tâm siêu tính toán quốc gia; chỉ số tích hợp phát triển bưu chính vào nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới…

    Đại hội cũng đề ra mục tiêu đưa vào vận hành các sàn giao dịch công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, bảo đảm 40% kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được thương mại hóa hoặc ứng dụng thực tế; hỗ trợ tối thiểu 1.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ.

    Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phấn đấu triển khai hiệu quả chương trình phát triển năng lượng nguyên tử; hoàn thành đào tạo 50.000 kỹ sư trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn hóa; thu hút 500 chuyên gia quốc tế và trí thức kiều bào làm việc dài hạn tại Việt Nam; bảo đảm làm chủ tối thiểu 70% công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Phát biểu chúc mừng và chỉ đạo đại hội trong không khí cả nước đang sôi nổi kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và không khí đổi mới, hành động quyết liệt của toàn Đảng và cả dân tộc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025 – 2030 là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ vừa qua, mà còn là dịp để xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong nhiệm kỳ tới.

    Thủ tướng biểu dương tinh thần làm việc khẩn trương, bài bản, nghiêm túc của Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ trong công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội; quán triệt và nghiêm túc triển khai thực hiện theo đúng tinh thần Chỉ thị số 45 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 07 của Đảng ủy Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của cấp trên, để chuẩn bị chu đáo các nội dung theo yêu cầu và tổ chức đại hội các đảng bộ trực thuộc để tiến hành tổ chức Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Đánh giá kết quả đạt được của Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ qua, Thủ tướng nhấn mạnh: thể chế được hoàn thiện; hạ tầng được nâng cấp; chuyển đổi số được thúc đẩy; đổi mới sáng tạo được lan tỏa; Chính phủ số được nâng cấp; kỹ năng số toàn dân được nâng cao, nhân dân được hưởng thụ; xây dựng Đảng được củng cố và tăng cường; khó khăn được tháo gỡ; niềm tin được thắp sáng.

    Thủ tướng chỉ rõ, nhiệm kỳ qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành 32/34 chỉ tiêu, trong đó có nhiều chỉ tiêu hoàn thành vượt bậc, có đột phá.

    Trong đó, công tác xây dựng thể chế được quan tâm chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, đặc biệt sau khi có Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị; hoàn thành các nhiệm vụ chuyển đổi số và phát triển hạ tầng số toàn diện phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước; công tác bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu được nâng cao; các nền tảng quản lý và các công cụ số hóa ngày càng hiện đại, kết nối liên thông với các bộ, ngành và địa phương;

    Mạng lưới tổ chức khoa học, công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao từng bước được hình thành, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt theo yêu cầu, tiến độ chỉ đạo của Trung ương;

    Đặc biệt, đã ổn định, xác định rõ chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị sau hợp nhất hai bộ…

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ
    Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030 – Ảnh: TTXVN

    Phải vận dụng sáng tạo 5 nguyên tắc, 5 phương thức lãnh đạo của Đảng

    Ghi nhận nỗ lực và biểu dương những kết quả Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như: phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia còn chậm, chưa có đột phá;

    Tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách lớn so với nhóm các nước phát triển; chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ lõi; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức; cần quan tâm hơn công tác xây dựng Đảng…

    Phân tích tình hình thế giới, nhất là sự phát triển “vũ bão” của khoa học công nghệ, đặc biệt là những ngành như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ sinh học, năng lượng mới, và đặc biệt là xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số toàn cầu, Thủ tướng Chính phủ cho biết, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, vừa qua Bộ Chính trị đã ban hành “Bộ tứ trụ cột”, trong đó có Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

    Thủ tướng chỉ rõ, thực hiện Nghị quyết 57, chúng ta phải hoàn thiện thể chế, tháo bỏ rào cản phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạo tiếp cận bình đẳng các nguồn lực; khuyến khích, tạo xu thế, phong trào phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo;

    Với phương châm “khoa học, công nghệ là nền tảng, đổi mới sáng tạo là động lực, chuyển đổi số là kết nối, con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực, nguồn lực của sự phát triển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong sự phát triển.

    Chỉ rõ vị trí, vai trò đặc biệt của Bộ Khoa học và Công nghệ, Thủ tướng Chính phủ cho rằng những lĩnh vực mà bộ quản lý đều là lĩnh vực trọng yếu, có tiềm năng tạo đột phá mà mang tính dẫn dắt, đưa đất nước phát triển vượt bậc, nhảy vọt trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

    Thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung làm tốt công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, trong đó phải thực hiện nghiêm và vận dụng sáng tạo 5 nguyên tắc, 5 phương thức lãnh đạo của Đảng;

    Tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, nâng cao năng lực hoạch định và triển khai chính sách khoa học, công nghệ, với phương châm “lấy dữ liệu làm nền tảng; lấy công nghệ làm công cụ; lấy đổi mới sáng tạo làm động lực; lấy chuyển đổi số làm phương thức; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”;

    Tập trung ưu tiên mọi nguồn lực để hoàn thiện các dự án luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trong đó có Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Trí tuệ nhân tạo (AI)…

    Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Đảng bộ và Bộ Khoa học và công nghệ có cơ chế, chính sách, giải pháp để khuyến khích đa dạng các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là đầu tư tư nhân; đẩy mạnh phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, ưu tiên các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, bán dẫn, dữ liệu lớn, sinh học, năng lượng mới…

    Sớm giải quyết dứt điểm các hồ sơ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ còn tồn đọng; triển khai mô hình doanh nghiệp lớn chủ trì nghiên cứu, Nhà nước đồng hành hỗ trợ. Bộ Khoa học và Công nghệ phải thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số.

    Đặc biệt chú trọng phát triển hạ tầng số, nền tảng dữ liệu quốc gia, và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, chủ quyền số; quan tâm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao, có năng lực tư duy phản biện, tích hợp công nghệ – quản lý – kinh doanh; tạo điều kiện thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là đội ngũ trí thức trẻ và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.

    Yêu cầu toàn Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội XIV của Đảng và các văn kiện Đại hội Đảng bộ Chính phủ lần thứ nhất, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, ngay sau đại hội, cấp ủy bộ cần khẩn trương tổ chức quán triệt và cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình hành động để triển khai thực hiện;

    Đồng thời phân công, giao trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, đơn vị bảo đảm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ thẩm quyền; kịp thời khen thưởng động viên, nhân rộng những mô hình hay, cách làm tốt, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra.

    Nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là xu thế, mà là “con đường tất yếu” để Việt Nam vươn lên thành quốc gia phát triển, giàu mạnh, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm;

    Mỗi đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới, cũng như lãnh đạo bộ, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Khoa học và Công nghệ phải là chiến sĩ tiên phong, người dẫn dắt, đi đầu trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính tin tưởng, với phương châm Đoàn kết – Kỷ cương – Đột phá – Sáng tạo – Phát triển, trong nhiệm kỳ tới, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện thành công các nội dung nghị quyết đại hội đã đề ra, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, phồn vinh và thịnh vượng của dân tộc như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ.

    Tại đại hội, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã trao các quyết định của Đảng ủy Chính phủ chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng ủy nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ – được chỉ định tiếp tục giữ chức Bí thư Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Theo TTXVN

    Nguồn tin: https://tuoitre.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-moi-can-bo-bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-phai-la-mot-chien-si-20250816185520661.htm

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

     

    Ngày 15/8/2025 tại Nha Trang, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Tăng cường hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực đề xuất nhiệm vụ khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển nông nghiệp xanh”. Thông qua cơ chế tài trợ linh hoạt, minh bạch và giàu tính kết nối, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã hỗ trợ hàng nghìn nhiệm vụ nghiên cứu chất lượng cao, tạo ra nhiều công trình có giá trị ứng dụng. Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, NAFOSTED, các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp cùng nhiều đối tác quốc tế.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Phát biểu khai mạc, PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc NAFOSTED nhấn mạnh, nông nghiệp xanh đang trở thành xu thế toàn cầu; đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của nhiều chủ thể, trong đó nghiên cứu khoa học, ĐMST, công nghệ số và HTQT đóng vai trò then chốt.

    Với chức năng tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, HTQT và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, những năm qua, NAFOSTED đã tài trợ hàng nghìn nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chất lượng cao, hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm; nhiều công trình trong số đó được công bố quốc tế uy tín, có tác động lan tỏa lớn trong cộng đồng khoa học; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương cùng phát huy sáng kiến và xây dựng các giải pháp hiệu quả cho phát triển bền vững. Bên cạnh đó, hoạt động HTQT của Quỹ ngày càng mở rộng, thiết lập mối quan hệ với hơn 20 đối tác ở các nước phát triển, tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận các chương trình tài trợ song phương, đa phương, nâng cao năng lực và mở rộng không gian nghiên cứu.

    Theo ông Đào Ngọc Chiến, để tận dụng hiệu quả hơn nữa các cơ hội tài trợ quốc tế và huy động nguồn lực toàn xã hội cho nghiên cứu khoa học và ĐMST, cần tiếp tục nâng cao chất lượng đề xuất nhiệm vụ, đổi mới tư duy triển khai, cũng như chú trọng đến các yếu tố như sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và liên kết ứng dụng thực tiễn; đặc biệt trong lĩnh vực có tiềm năng như nông nghiệp xanh.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc NAFOSTED phát biểu khai mạc Hội thảo.

    Ông Đào Ngọc Chiến kỳ vọng, sau Hội thảo, nhiều ý tưởng sáng tạo sẽ được hình thành, nhiều đề xuất chất lượng sẽ được xây dựng và đặc biệt là nhiều mối quan hệ hợp tác chiến lược sẽ được khởi động – góp phần đưa KHCN,ĐMST&CĐS thực sự trở thành động lực phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng xanh, bền vững và hội nhập.

    Tham dự Hội thảo, đại diện Trường Đại học Thủy lợi, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng với TS. Lê Quang Tuấn – Phó Trưởng Phòng Khoa học công nghệ và HTQT đã có những trao đổi trực tiếp với lãnh đạo NAFOSTED cũng như các cán bộ chuyên môn về nội dung chương trình, định hướng ưu tiên trong thời gian tới và những khó khăn thường gặp khi triển khai đề tài.

    Phó Hiệu trưởng Nguyễn Cảnh Thái mong muốn được đồng hành cùng NAFOSTED trong việc xây dựng và triển khai các nhiệm vụ hợp tác quốc tế, đặc biệt là các chương trình song phương và đa phương, đồng thời chia sẻ những vướng mắc thực tiễn trong quá trình triển khai các hợp tác nghiên cứu.

    Giới thiệu tổng quan về cơ chế tài trợ hoạt động HTQT của Quỹ, TS. Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED cho biết, NAFOSTED hiện đang triển khai ba loại hình nhiệm vụ HTQT, gồm: Nhiệm vụ Nghị định thư; Hợp tác song phương; Hợp tác đa phương. Các nhiệm vụ HTQT được triển khai qua ký kết MOU giữa hai nước; tổ chức kết nối các nhà khoa học hai nước; kêu gọi tài trợ chung; đánh giá, tài trợ, triển khai và nghiệm thu; trong đó nhà khoa học được chủ động đề xuất nội dung, sản phẩm và không phải “bảo vệ” trực tiếp trước hội đồng.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    TS. Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED giới thiệu tổng quan về cơ chế tài trợ hoạt động HTQT của Quỹ.

    Điểm mới trong quản lý tài trợ là ưu tiên cấp kinh phí theo cơ chế quỹ, chấp nhận rủi ro khi không đạt kết quả như dự kiến, cho phép khoán chi nguyên vật liệu, trang thiết bị và miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản chi từ ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ KH&CN. Thủ tục hồ sơ, chứng từ và thanh toán cũng được đơn giản hóa…

    Trong giai đoạn tới, Quỹ định hướng hoàn thiện cơ chế, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục, tương thích quốc tế; đẩy mạnh các lĩnh vực được ưu tiên như công nghệ chiến lược, công nghệ cao…; tăng kinh phí, số lượng nhiệm vụ và tổng kinh phí cho các nhiệm vụ HTQT; mở rộng hợp tác với Mỹ, Canada, Úc…; tăng số lượng nhiệm vụ ở mỗi nước; tăng chất lượng hồ sơ. Qua đó, nâng cao chất lượng nghiên cứu NAFOSTED – đóng vai trò cầu nối thúc đẩy hội nhập KHCN,ĐMST&CĐS.

    Báo cáo tại Hội thảo, Bà Trịnh Quỳnh Trang, Vụ Hợp tác quốc tế cho biết, trong giai đoạn 2021 – 2025, Việt Nam đã ký hơn 90 văn bản hợp tác, thu được trên 2.500 tài liệu từ các nghiên cứu chung, tận dụng hạ tầng và dữ liệu quốc tế. Mục tiêu dài hạn là đưa Việt Nam trở thành trung tâm ĐMST của khu vực với nền tảng KH&CN vững chắc, hệ sinh thái khởi nghiệp năng động và hạ tầng số hiện đại; trong đó, HTQT đóng vai trò quan trọng, kết nối nguồn lực toàn cầu và nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng khoa học thế giới.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Bà Trịnh Quỳnh Trang, Vụ Hợp tác quốc tế phát biểu tại Hội thảo.

    Bên cạnh đó, bà cũng chia sẻ kinh nghiệm chuẩn bị và nâng cao chất lượng hồ sơ đề xuất nhiệm vụ HTQT, từ việc nắm rõ quy trình tài trợ, yêu cầu hồ sơ và tiêu chí đánh giá, đến kỹ năng viết đề cương mạch lạc, tránh lỗi thường gặp, cũng như phương pháp xây dựng kết nối hiệu quả với đối tác nước ngoài. Theo đó, để tăng khả năng thành công, các đơn vị cần chủ động xây dựng mạng lưới quốc tế vững mạnh, cân bằng giữa tính khả thi và tính đột phá của đề xuất, đồng thời tham vấn sớm với Vụ HTQT để bảo đảm định hướng phù hợp với ưu tiên của từng chương trình.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Bà Nguyễn Thị Hoàng Hạnh, Cục Sở hữu trí tuệ phát biểu tại Hội thảo.

    Về vai trò sở hữu trí tuệ (SHTT) trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bảo hộ quyền SHTT đối với kết quả nghiên cứu và khai thác tài sản trí tuệ từ kết quả nghiên cứu, bà Nguyễn Thị Hoàng Hạnh, Cục SHTT khuyến nghị các tổ chức nghiên cứu cần thành lập bộ phận chuyên trách về SHTT, xây dựng chính sách quản lý và thương mại hóa tài sản trí tuệ, thúc đẩy hợp tác giữa viện, trường và doanh nghiệp trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu đồng thời xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động SHTT rõ ràng, lựa chọn hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu phù hợp và liên tục cập nhật kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực này để thích ứng với xu hướng mới.

    Chia sẻ về nhu cầu và định hướng phát triển nông nghiệp xanh theo hướng ĐMST, ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nhấn mạnh, ngành Nông nghiệp cần tạo đột phá bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, phát triển nông nghiệp sinh thái theo hướng đa giá trị, đa ngành và lồng ghép các giá trị kinh tế – xã hội và môi trường. Theo đó, cần ứng dụng công nghệ cao như sử dụng các công nghệ như cảm biến, internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) để giám sát và điều khiển các yếu tố môi trường trong sản xuất nông nghiệp, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và nâng cao hiệu quả sản xuất; Nhà nước cần chuẩn hóa, liên thông dữ liệu quản lý sản xuất, tiêu thụ, vùng trồng, vùng nuôi, dịch bệnh, dự báo thị trường giữa các địa phương và Trung ương, ứng dụng AI, Big data phân tích, dự báo xu hướng, tối ưu hóa nguồn lực; Khuyến khích hợp tác công tư, xã hội hóa đầu tư vào nền tảng số, phần mềm chuyên ngành, logistics thông minh, thương mại điện tử cho nông nghiệp….

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

    Về cách tiếp cận đổi mới trong đề xuất nhiệm vụ HTQT, liên kết doanh nghiệp – viện – trường trong triển khai và đề xuất cải tiến tiêu chí đánh giá và cơ chế phối hợp, PGS.TS. Trần Hưng Trà, Trưởng khoa Cơ khí, Trường Đại học Nha Trang cho rằng việc lựa chọn đúng đối tác quyết định đến 50% thành công của một dự án hợp tác; do đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá toàn diện, tham khảo từ các tổ chức uy tín như IEEE. Đồng thời, kiến nghị thành lập các nhóm ĐMST liên kết viện – trường – doanh nghiệp, hoàn thiện tiêu chí đánh giá nhiệm vụ hợp tác và xây dựng cơ chế phối hợp thống nhất. “Đối với Việt Nam, nếu mô hình này được triển khai thành công, nó sẽ trở thành động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu quốc gia thu nhập cao và trung tâm ĐMST của khu vực – điều đó đòi hỏi tầm nhìn chiến lược cùng hành động quyết liệt, đồng bộ từ Chính phủ, viện/trường và cộng đồng doanh nghiệp”, ông nhấn mạnh.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    PGS.TS. Trần Hưng Trà, Trưởng khoa Cơ khí, Trường Đại học Nha Trang phát biểu tại Hội thảo.

    Tại Hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau trao đổi, thảo luận, gợi mở sáng kiến, bàn giải pháp ứng dụng ĐMST, CĐS và tăng cường bảo hộ SHTT trong phát triển nông nghiệp xanh; đồng thời kết nối mạng lưới hợp tác giữa giới khoa học – viện nghiên cứu, trường đại học – doanh nghiệp và địa phương trong và ngoài nước nhằm hình thành các đề xuất, chương trình, dự án liên ngành, liên kết và có tính khả thi cao. Qua đó, nâng cao năng lực xây dựng, hoàn thiện và đề xuất nhiệm vụ KH&CN đáp ứng tiêu chí quốc tế.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Các đại biểu chụp ảnh kỷ niệm.

    Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

     

  • Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030

    Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030

     

     Buổi làm việc diễn ra trong tinh thần cởi mở, xây dựng, tạo tiền đề rất thuận lợi cho mối quan hệ hợp tác sâu rộng giữa hai bên trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm góp phần cùng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024 của Bộ Chính trị.

    Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030

    Toàn cảnh cuộc họp với Sở KH&CN Tỉnh Quảng Ninh

    Đoàn công tác của Trường Đại học Thủy lợi do PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng làm Trưởng đoàn, cùng với sự tham gia của đại diện lãnh đạo Phòng Khoa học Công nghệ và HTQT, lãnh đạo một số Khoa và đơn vị nghiên cứu khoa học thuộc Trường. Về phía Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh có đồng chí Nguyễn Mạnh Cường – Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở cùng Ban Giám đốc và đông đủ lãnh đạo các phòng chuyên môn và đơn vị trực thuộc có liên quan.

    Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030

    Phát biểu khai mạc, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường trân trọng chào mừng Đoàn, nhấn mạnh sự chủ động của Trường Đại học Thủy lợi, đơn vị đào tạo và nghiên cứu khoa học đầu tiên đã đề xuất với Sở Khoa học và Công nghệ các nội dung hợp tác nhằm hỗ trợ Sở và các cơ quan liên quan ở địa phương triển khai các nhiệm vụ  then chốt về tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển KTXH của tỉnh. Để triển khai toàn diện chỉ đạo của Đảng theo tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TU, tỉnh Quảng Ninh rất cần sự hỗ trợ, tham mưu các chính sách, giải pháp đột phá chiến lược thông qua hợp tác hiệu quả với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo hàng đầu như Trường Đại học Thủy lợi.

    Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030

    Thay mặt Lãnh đạo và Đoàn công tác của Trường Đại học Thủy lợi, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái- Phó Hiệu trưởng Nhà trường cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức đón tiếp Đoàn rất chu đáo, trọng thị, đồng thời bày tỏ Nhà trường mong muốn luôn được đồng hành cùng tỉnh trong triển khai các chương trình, nhiệm vụ KHCN gắn với đặc điểm tự nhiên và định hướng phát triển kinh tế – xã hội bền vững của địa phương. Nhà trường cam kết huy động mọi nguồn lực để tập trung nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ để hỗ trợ Sở giải quyết các vấn đề thực tiễn về khoa học công nghệ, chuyển đổi số tại địa phương nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.

    Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030

    Trong khuôn khổ của cuộc họp, hai bên cũng đã ký kết Thỏa thuận hợp tác tăng cường hợp tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo phục vụ góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025–2030. Thỏa thuận này sẽ là nền tảng thúc đẩy các hoạt động phối hợp nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phục vụ cộng đồng trên địa bàn tỉnh.
    Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030Trường Đại học Thủy lợi và Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025–2030

    Nội dung làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh là một trong chuỗi hoạt động phối hợp của Trường Đại học Thủy lợi với các cơ quan quản lý khoa học tại các tỉnh/thành phố nhằm triển khai tốt kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của​ của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo dự kiến, Trường Đại học Thủy lợi sẽ chủ động tổ chức các Đoàn công tác gồm các chuyên gia giỏi chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn đi tìm hiểu, nắm bắt tình hình và tư vấn, phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên môn và khoa học của địa phương triển khai các nhiệm vụ hướng tới cộng đồng nhằm góp phần phát triển KTXH tại các địa phương./.

    Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế

     

  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng độc quyền sáng chế

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng độc quyền sáng chế

    Trong những năm gần đây, hoạt động sở hữu trí tuệ tại Trường Đại học Thủy lợi đã có bước phát triển mạnh mẽ, thể hiện vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và đổi mới sáng tạo. Ngày càng nhiều giảng viên và nhà khoa học của Trường chủ động đăng ký bảo hộ các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là sáng chế và giải pháp hữu ích. Nhiều công trình đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp bằng độc quyền sáng chế, khẳng định tính mới, tính sáng tạo và khả năng ứng dụng thực tiễn cao của các nghiên cứu do đội ngũ cán bộ của Trường thực hiện.

    Vừa qua, các tác giả TS. Lê Trung Phong, PGS. TS. Nguyễn Cảnh Thái, PGS. TS. Hồ Sỹ Tâm – Trường Đại học Thủy lợi và TS. Nguyễn Phi Long – Học viện Hàng không Việt Nam đã nhận 02 bằng Độc quyền sáng chế:

    Bằng Độc quyền sáng chế số 49323 “Cơ cấu hỗ trợ thay thế thanh vật liệu họ tre” số 49323 theo quyết định số 120112/QĐ-SHTT ngày 25/06/2025:

    Sáng chế đề cập đến cơ cấu hỗ trợ thay thế thanh vật liệu họ tre. Cơ cấu hỗ trợ thay thế thanh vật liệu họ tre (200) gồm có cùm thép (201), vai đỡ liên kết, thanh vít đỡ và cùm liên kết phụ. Cùm thép dạng nửa hình bán nguyệt được cố định với nhau bằng bu lông liên kết cùm thép (207) để cố định hệ cột bằng các thanh vật liệu họ tre, trong mỗi nửa hình bán nguyệt có một tấm đệm (205) để hỗ trợ cố định các thanh vật liệu họ tre. Vai đỡ liên kết (202) hình tam giác vuông khuyết, một bên được sử dụng để cố định với hai chi tiết cùm thép (201) ở hai lớp, bên còn lại có lỗ ren để ăn khớp các thanh vít đỡ (203) và điều chỉnh chiều cao của cùm liên kết phụ (204) thông qua thanh vít đỡ (203). Thanh vít đỡ (203) có một đầu gắn với cùm liên kết phụ (204). Cùm liên kết phụ (204) gồm hai nửa chi tiết được liên kết với nhau bằng cụm bu lông liên kết cùm phụ (206).

    Bằng Độc quyền sáng chế số 49325 “Cơ cấu lắp ghép dàn khung họ tre và cơ cấu lắp ghép dàn khung họ tre có cơ cấu hỗ trợ thay thế thanh vật liệu họ tre” số 49325 theo quyết định số 120154/QĐ-SHTT ngày 25/06/2025:

    Sáng chế đề cập đến cơ cấu lắp ghép dàn khung họ tre có cơ cấu hỗ trợ thay thế thanh vật liệu họ tre bao gồm cơ cấu lắp ghép, cơ cấu hỗ trợ thay thế và đệm thép. Trong đó, cơ cấu lắp ghép giúp cố định các thanh vật liệu họ tre lại với nhau để tạo thành cột và kèo trong dàn khung một cách tiện lợi, đệm thép có chức năng giúp ổn định khoảng cách giữa các thanh vật liệu họ tre trong kết cấu, cơ cấu thay thế giúp thay thế các thanh kèo vật liệu họ tre trong dàn khung đang sử dụng một cách linh hoạt mà không làm thay đổi cấu trúc hay khả năng chịu lực của toàn bộ kết cấu.

    Hoạt động sở hữu trí tuệ không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tác giả, mà còn mở ra cơ hội chuyển giao công nghệ, thương mại hóa sản phẩm khoa học, đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường uy tín học thuật của Nhà trường. Trường Đại học Thủy lợi cũng đã và đang xây dựng cơ chế hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động đăng ký, khai thác, và quản lý tài sản trí tuệ, từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với thực tiễn ngành Thủy lợi và Môi trường.

    P9

  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền sáng chế

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền sáng chế

    Vừa qua nhóm giảng viên của Trường Đại học Thủy lợi đã chính thức được Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng Độc quyền sáng chế cho công trình nghiên cứu “Phương pháp đo hệ số ma sát cối quay cửa van cung”.

     ​

    Cửa van là một bộ phận kết cấu quan trọng liên quan đến an toàn và hiệu quả của công trình Thủy lợi. Các công trình ngăn sông lớn thường có mức độ yêu cầu rất cao về hệ thống cửa van như trong quá trình khai thác, vận hành phải đáp ứng các nhiệm vụ: giữ nước, thoát lũ, đảm bảo điều kiện giao thông thủy qua công trình. Cửa van cung là loại cửa van có mặt cắt ngang dạng hình cung tròn, tâm cung thường trùng với tâm quay của cửa van, phần chắn nước là tổ hợp bản mặt lắp ghép, thông qua kết cấu giàn càng truyền lực lên trụ pin thông qua cối quay. Các đặc điểm cấu tạo cho phép cửa van cung có: khả năng chịu lực lớn; quá trình nâng hạ cửa van có lợi về lực do cửa van đóng mở quay quanh cối bản lề nên một phần trọng lượng cửa van được truyền lên trụ pin thông qua cối quay và bản mặt hình cung nên có thể lợi dụng sức nước để giảm lực nâng cửa van. Như vậy, cối quay là bộ phận đặc biệt quan trọng của cửa van cung.

    Thực tế vận hành các cửa van trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy rất nhiều hư hại của đập có liên quan đến sự cố cửa van. Phân tích nguyên nhân các sự cố cửa van chỉ ra ba nguyên nhân chính gây ra các sự cố là: lực ma sát tại cối quay bị bỏ qua khi thiết kế; hiện tượng ăn mòn trên bề mặt trụ quay, do các tác động từ môi trường và do không được bảo trì thường xuyên nên lực ma sát lớn nhất lên đến mức gây ra phá hủy càng van và sự thiếu hụt cũng như giảm chất lượng theo thời gian của chất bôi trơn dẫn đến sự gia tăng lực ma sát tại cối quay.

    Thực tế ăn mòn và suy giảm chất lượng của chất bôi trơn của bộ phận bạc cầu cối quay

    Việc kiểm tra, đánh giá chính xác lực ma sát tại cối quay của cửa van có vai trò quyết định đến an toàn và hiệu quả vận hành của toàn bộ công trình. Hiện nay ở nước ta phương pháp đo hệ số ma sát cối quay tại hiện trường vẫn chưa được nghiên cứu và đề xuất.

    Thông qua quá trình nghiên cứu trạng thái ứng suất – biến dạng của cụm cối quay bằng mô hình số và mô hình vật lý, các tác giả đã xây dựng được phương pháp đo hệ số ma sát cối quay cửa van cung với độ chính xác, độ tin cậy cao và có thể dễ dàng thực hiện tại hiện trường trong điều kiện vận hành bình thường của công trình.

    Việc được cấp bằng Độc quyền sáng chế không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho nỗ lực không ngừng của các tác giả, mà còn khẳng định mạnh mẽ năng lực nghiên cứu khoa học và tiềm năng ứng dụng công nghệ của Trường Đại học Thuỷ lợi. Sáng chế này được kỳ vọng sẽ sớm được chuyển giao và áp dụng rộng rãi vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành và đảm bảo an toàn cho các công trình Thuỷ lợi, Thuỷ điện trên cả nước.

    Nhóm nghiên cứu