Danh mục: Nghiên cứu

  • Giải thưởng Khoa học và Công nghệ dành cho sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học năm 2022 (giải Vifotech)

    Giải thưởng Khoa học và Công nghệ dành cho sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học năm 2022 (giải Vifotech)

    Trường Đại học Thủy lợi vinh dự đã có 01 đề tài nghiên cứu của sinh viên được tham dự báo cáo tại vòng chung khảo và đạt giải nhì với tên đề tài “Nghiên cứu sử dụng cát biển và phụ gia khoáng kết hợp với dung dịch kiềm hoạt hóa để chế tạo bê tông ứng dụng cho các công trình Thủy lợi” do sinh viên Đặng Trần Long – Khoa Công trình làm chủ nhiệm đề tài dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Quang Phú, TS. Ngô Thị Ngọc Vân – Giảng viên Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi.

    ​

  • Danh sách ứng viên được đề nghị bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2022

    Danh sách ứng viên được đề nghị bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2022

    Trường Đại học Thủy lợi thông báo Danh sách ứng viên được đề nghị bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2022.

    Chi tiết: TẠI ĐÂY

  • Hội thảo khởi động Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long

    Hội thảo khởi động Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long

    Hội thảo khởi động Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long

    Tham gia hội thảo, về phía Tổng cục Phòng chống thiên tai có: ông Nguyễn Văn Tiến – Phó Tổng cục trưởng; ông Tăng Quốc Chính – Vụ trưởng vụ Kiểm soát an toàn thiên tai; ông Lê Minh Nhật – Phó cục trưởng Cục Ứng phó và Khắc phục hậu quả thiên tai; ông Vương Viết Hưng – Giám đốc dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững vùng ĐBSCL”.

    Về phía địa phương và chuyên gia tham dự có: ông Phạm Công Danh – Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kiên Giang; Đại diện các đơn vị của Sở NN&PTNT, Sở Giao thông vận tải, Ban phòng chống lụt bão các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp; Các chuyên gia thuộc Viện Khoa học thủy lợi Miền Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam.

    Phía đơn vị thực hiện có: PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Cố vấn trưởng Dự án, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi; PGS.TS Nguyễn Đăng Tính – Phó giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi; Đại diện các đơn vị liên danh và các chuyên gia khoa học khác.

    Gói thầu dịch vụ tư vấn “Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long” (GEF-CPMU-CS-QCBS-02) do Ban Quản lý Trung ương các Dự án Thủy lợi (CPO) thuộc Bộ NN&PTNT (MARD) là chủ dự án được bổ sung hỗ trợ kỹ thuật cho Dự án GEF-ICRSL tập trung vào các hoạt động nghiên cứu và đổi mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả phòng, chống lũ và ngập lụt, các phương án di dân và đặc biệt là các phương án đảm bảo an toàn cho trẻ em trong mùa lũ vùng Đồng bằng sông Cửu Long thông qua xây dựng hệ thống mô phỏng lũ và ngập lụt.

    Hội thảo khởi động Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long là nhiệm vụ tiên quyết của Dự án nhằm khởi động và đánh giá tổng quan tình hình lũ, ngập lụt và phương án ứng phó của các địa phương, qua đó lấy các ý kiến đóng góp của chuyên gia và thu thập một số dữ liệu cơ bản, cụ thể:

    + Thu thập các thông tin, báo cáo, và dữ liệu cơ bản;

    + Phân tích các tài liệu, báo cáo và đánh giá tổng quan;

    + Phân tích, đánh giá về tình hình lũ lụt, ngập úng và các phương án ứng phó.

    Phát biểu Khai mạc hội thảo, ông Nguyễn Văn Tiến – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai giới thiệu những yêu cầu cơ bản của dự án phục vụ công tác phòng chống thiên tai.

    Ông Nguyễn Văn Tiến – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai báo cáo khai mạc

    Đại diện liên danh các đơn vị tham gia dự án, chuyên gia Nghiêm Tiến Lam trình bày báo cáo Giới thiệu chung về dự án Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long và những kết quả dự kiến. Trong đó có nêu rõ các nội dung chính là: Phương pháp luận và kế hoạch thực hiện dự án; Danh sách các dữ liệu yêu cầu và kế hoạch thu thập dữ liệu, khảo sát bổ sung; Kịch bản rủi ro ngập lụt, kế hoạch, nhu cầu đào tạo, chuyển giao sản phẩm và các đề xuất, kiến nghị.

    Chuyên gia Nghiêm Tiến Lam trình bày báo cáo Giới thiệu chung về dự án Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Cố vấn trưởng Dự án, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi chủ trì phần tham luận, thảo luận đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các chuyên gia tại hội thảo.

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Cố vấn trưởng Dự án, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi chủ trì phần tham luận, thảo luận

    Các ý kiến đóng góp của lãnh đạo địa phương và các chuyên gia thuộc các sở, trung tâm của 04 tỉnh liên quan tham gia đều bày tỏ sự quan tâm và sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ cung cấp dữ liệu tốt nhất, cập nhật hàng năm cho dự án đạt hiệu quả cao nhất.

    Ông Tăng Quốc Chính – Vụ trưởng vụ Kiểm soát an toàn thiên tai cho biết trong bài phát biểu, dự án cần phải xây dựng được các kịch bản cụ thể bảo vệ lúa và cây trồng, bảo vệ hệ thống đê điều, bảo vệ các vùng dân sinh kinh tế và bảo vệ các cơ sở hạ tầng…

    Ông Tăng Quốc Chính – Vụ trưởng vụ Kiểm soát an toàn thiên tai phát biểu tham luận

    Ông Phạm Công Danh – Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang mong muốn dự án sẽ đạt được kết quả tốt nhất, thuận tiện nhất để địa phương có thể quản lý, cập nhật dữ liệu hàng năm để vận hành hệ thống, xây dựng các kịch bản và phương án ứng phó tốt nhất cho địa phương.

    Được biết, “Dự án Xây dựng hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Đồng bằng sông Cửu Long” bao gồm 07 nhiệm vụ và dự kiến có 17 kết quả. Trong đó có: Bộ bản đồ ngập lụt theo các kịch bản rủi ro thiên tai ở dạng số hóa trực quan trên giao diện WebGIS của phần mềm mô phỏng lũ, ngập lụt ĐBSCL; Phần mềm tính toán mô phỏng lũ, ngập lụt vùng ĐBSCL; Xây dựng hệ thống mô phỏng và hướng dẫn sử dụng, chuyển giao công nghệ hệ thống mô phỏng lũ, ngập lụt cho ĐBSCL.

    Theo chiến lược phát triển khoa học công nghệ theo tính ứng dụng thực tiễn cao, các đơn vị khoa học công nghệ của Trường Đại học Thủy Lợi đã và đang tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, liên danh liên kết thực hiện các đề tài lớn trong công tác đảm bảo an toàn phòng chống lũ và thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm bảo vệ nhân dân, tạo hệ sinh thái bền vững cho phát triển xã hội đất nước, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    Theo Truyền thông và Hợp tác – Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi

  • Hội thảo Tính toán dòng chảy bùn cát gây bồi lắng hồ chứa và các giải pháp giảm thiểu bồi lắng

    Hội thảo Tính toán dòng chảy bùn cát gây bồi lắng hồ chứa và các giải pháp giảm thiểu bồi lắng

    Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học đến từ các đơn vị: Tổng cục Thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và các giảng viên của Trường Đại học Thủy lợi.

    Được sự ủy quyền của BGH Trường, PGS.TS. Nguyễn Thu Hiền – chủ nhiệm đề tài Nghị định thư đại diện Nhà trường phát biểu khai mạc Hội thảo và cảm ơn các nhà khoa học từ các đơn vị đã và đang có những cộng tác chặt chẽ với Nhà trường trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy.

    PGS.TS. Nguyễn Thu Hiền cho biết, hồ chứa nước là công trình thủy lợi để điều tiết dòng chảy cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, phát điện, điều tiết lũ… Việc xây dựng và khai thác hồ chứa đóng góp vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội cho cả một khu vực, vùng lãnh thổ. Hiện nay, theo báo cáo về “An ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và quản lý an toàn hồ, đập” giải trình với Quốc Hội ngày 16/09/2020: Việt Nam có 7.570 đập, hồ chứa đã đưa vào vận hành khai thác với tổng dung tích khoảng 70,5 tỷ m3, trong đó có 429 đập, hồ chứa thủy điện với tổng dung tích khoảng 56 tỷ m3, 7.169 đập, hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trên 14,5 tỷ m3. Tuy nhiên, các hồ chứa này sau một thời gian sử dụng đều xuất hiện bồi lắng ở các mức độ khác nhau làm giảm hiệu quả vận hành và tuổi thọ công trình. Vì vậy, việc tính toán, dự báo dòng chảy bùn cát đến hồ và phân bố bùn cát trong phạm vi lòng hồ cũng như nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu bồi lắng hồ chứa có một ý nghĩa khoa học và thưc tiễn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hồ chứa và kéo dài tuổi thọ công trình.

    Trong khuôn khổ Hội thảo, các đại biểu đã được nghe 04 bài báo cáo về: (1) Phương pháp tính toán dòng chảy bùn cát và bồi lắng hồ chứa; (2) Ứng dụng mô hình SWAT tính dòng chảy bùn cát đến hồ Pleikrong; (3) Ứng dụng mô hình HECRAS để tính toán dự báo bồi lắng lòng hồ Pleikrong; (4) Các giải pháp giảm bồi lắng hồ chứa, tăng tuổi thọ công trình.

    Các kết quả đã đạt được của đề tài đều được đánh giá rất cao và đã thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước, quốc tế và các đại biểu tham gia Hội thảo…

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Kế hoạch bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2022

    Kế hoạch bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2022

    • Kế hoạch bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư của Trường Đại học Thủy lợi năm 2022: TẠI ĐÂY
    • Nhu cầu bổ nhiệm chức danh Giáo sư, Phó giáo sư:  TẠI ĐÂY
    • Bản đăng ký xét bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư (mẫu số 1); 
    • Lý lịch khoa học (mẫu số 2).  
  • Quyết định 2219/QĐ-ĐHTL V/v ban hành Quy định về khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH

    Quyết định 2219/QĐ-ĐHTL V/v ban hành Quy định về khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH

    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Số: 2219/QĐ-ĐHTL

    Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2022

    QUYẾT ĐỊNH

    V/v ban hành Quy định về khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH

    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    Căn cứ Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi ban hành theo Nghị quyết số 19/NQ-HĐT4 ngày 04/01/2022 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi;

    Căn cứ Tờ trình về quy định khuyến khích hỗ trợ công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học đối với sinh viên có thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học;

    Theo đề nghị của Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ,

    ​

    QUYẾT ĐỊNH:

    Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định về khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học.

    Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế các văn bản ban hành trước đây quy định về khuyến khích công nhận điểm, hỗ trợ điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học. 

    Điều 3. Trưởng các phòng KHCN, KT&ĐBCL, Trưởng các Khoa, Giám đốc các Trung tâm đào tạo, Trưởng các đơn vị và cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

    Nơi nhận:

    • BGH (để b/c);
    • Như điều 3;
    • Lưu: VT, KHCN (NTH.15b).

    KT. HIỆU TRƯỞNG

    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

    (đã ký)

    PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái

    QUY ĐỊNH VỀ KHUYẾN KHÍCH CÔNG NHẬN ĐIỂM, ĐIỀU CHỈNH ĐIỂM MÔN HỌC CHO SINH VIÊN CÓ THÀNH TÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    (Ban hành kèm theo Quyết định số 2219/QĐ-ĐHTL ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi)

    Chương I

    QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

    Văn bản này quy định việc khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học đối với sinh viên có thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) bao gồm: nội dung khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH; quản lý hoạt động khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH.

    Văn bản áp dụng đối với sinh viên đại học hệ chính quy đang học tập tại Trường Đại học Thủy lợi.

    Điều 2. Mục tiêu của Quy định

    Khuyến khích và hỗ trợ công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH.

    Giúp cho sinh viên rèn luyện, nâng cao năng lực NCKH; phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ trong NCKH; đẩy mạnh phong trào NCKH trong sinh viên.

    Điều 3. Yêu cầu của Quy định

    1. Phù hợp với khả năng và nguyện vọng của sinh viên.

    2. Đảm bảo tính nghiêm túc, khách quan, công khai, công bằng và chính xác.

    3. Đảm bảo yếu tố bình đẳng, dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của người được khuyến khích, hỗ trợ.       

    4. Phối hợp đồng bộ, chặt chẽ các bộ phận, các đơn vị có liên quan trong Trường tham gia công tác khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học đối với sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH.

    Điều 4. Nội dung của Quy định

    Nội dung khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học cho sinh viên theo mức đạt được một trong các mặt dưới đây:

    a) Sinh viên có đề tài NCKH được báo cáo tại Hội nghị Khoa học Sinh viên (HNKHSV) cấp Khoa; đạt giải thưởng tại HNKHSV cấp Khoa của Trường Đại học Thủy lợi.

    b) Sinh viên có đề tài NCKH đạt giải thưởng tại HNKHSV cấp Trường của Trường Đại học Thủy lợi; đạt giải thưởng cấp Ngành, Bộ, Quốc gia và cấp Quốc tế.

    Chương II

    NỘI DUNG KHUYẾN KHÍCH CÔNG NHẬN ĐIỂM, ĐIỀU CHỈNH ĐIỂM MÔN HỌC CHO SINH VIÊN CÓ THÀNH TÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG NCKH

    Điều 5. Đối với sinh viên có đề tài NCKH được báo cáo, đạt giải thưởng tại HNKHSV cấp Khoa

    1. Các sinh viên tham gia đề tài NCKH sẽ được xem xét điều chỉnh điểm quá trình cho 01 môn học có liên quan đến hướng đề tài NCKH được báo cáo và đề tài NCKH đạt giải thưởng:

    – Đạt giải Nhất: được tính 10 điểm

    – Đạt giải Nhì: được tính 9,5 điểm

    – Đạt giải Ba: được tính 9,0 điểm

    – Tham gia báo cáo cấp Khoa: được tính 8,0 điểm

    2. Trường hợp nếu môn học dự kiến điều chỉnh điểm quá trình đã đạt điểm cao hơn so với điểm khuyến khích hỗ trợ ở trên thì sẽ được cộng thêm 0,5 điểm so với mức điểm quá trình hiện có.

    Điều 6. Đối với sinh viên có đề tài NCKH đạt giải thưởng tại HNKHSV cấp Trường, cấp Ngành, Bộ, Quốc gia và cấp Quốc tế

    1. Các sinh viên tham gia đề tài NCKH sẽ được xem xét điều chỉnh điểm thi cho 01 môn học có liên quan đến hướng đề tài NCKH đạt giải thưởng.

    2. Đối với đề tài NCKH có từ 02 đến 05 sinh viên tham gia thực hiện nghiên cứu thì cách phân chia điểm căn cứ vào mức độ đóng góp thực hiện đề tài NCKH và do sinh viên của nhóm tự bình bầu điểm của các thành viên của nhóm NCKH.

    3. Bảng thang điểm tương ứng với loại giải thưởng của đề tài NCKH sinh viên được chi tiết hóa như sau:

    4. Trường hợp nếu môn học dự kiến điều chỉnh điểm thi đã đạt điểm cao hơn so với điểm khuyến khích hỗ trợ ở trên thì sẽ được cộng thêm 0,5 điểm so với mức điểm thi hiện có.

    Chương III

    QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN KHÍCH CÔNG NHẬN ĐIỂM, ĐIỀU CHỈNH ĐIỂM MÔN HỌC CHO SINH VIÊN CÓ THÀNH TÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG NCKH

    Điều 7. Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Khoa học Công nghệ

    1. Giúp Hiệu trưởng chỉ đạo, quản lý hoạt động khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học đối với sinh viên có thành tích trong NCKH.

    2. Làm thủ tục công nhận kết quả hoạt động khuyến khích công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học đối với sinh viên có thành tích trong NCKH.

    Điều 8. Nhiệm vụ của các Bộ môn, Khoa và các đơn vị liên quan

    1. Nhiệm vụ của giáo viên hướng dẫn:

    a) Giáo viên hướng dẫn rà soát lại thông tin và xác nhận vào bản Thông tin sinh viên thực hiện đề tài NCKH tại Mẫu 01-KT SVNCKH trước khi sinh viên nộp cho Khoa 01 bản cứng.

    b) Giáo viên hướng dẫn rà soát lại các thông tin liên quan đến sinh viên tại Mẫu 03a-KT SVNCKH, Mẫu 3b-KT SVNCKH và hỗ trợ tư vấn sinh viên lựa chọn môn học có liên quan đến hướng đề tài NCKH đạt thành tích được quy định tại Điều 5, Điều 6 của Quy định này.

    2. Nhiệm vụ của các Bộ môn trong Khoa:

    Rà soát và xét duyệt đề xuất nguyện vọng được công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học đối với các sinh viên có thành tích trong hoạt động NCKH và lập danh sách gửi cho Khoa tổng hợp chung (Mẫu 04a-KT SVNCKH).

    3. Nhiệm vụ của các Khoa:

    a) Các Khoa tổng hợp danh sách các sinh viên, nhóm sinh viên NCKH đã có sự thỏa thuận về phần đóng góp của từng thành viên trong nhóm đề tài nghiên cứu (Mẫu 02-KT SVNCKH) và gửi về Phòng KHCN trước 07 ngày diễn ra HNKHSV cấp Khoa hoặc trước khi gửi hồ sơ tham dự các cuộc thi KHCN cấp Ngành, Bộ, Quốc gia, Quốc tế.

    b) Đề nghị Trường khen thưởng sinh viên dưới hình thức khuyến khích công nhận điểm, hỗ trợ điều chỉnh điểm môn học đối với sinh viên có thành tích trong NCKH và tổng hợp danh sách gửi về Phòng KHCN (Mẫu 04b-KT SVNCKH).

    4. Nhiệm vụ của Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng:

    Chịu trách nhiệm nhập điểm cho sinh viên.

    5. Các đơn vị liên quan khác theo chức năng và nhiệm vụ có trách nhiệm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên, nhóm sinh viên NCKH theo quy định của Trường.

    Điều 9. Trách nhiệm và quyền hạn của sinh viên

    1. Trách nhiệm của sinh viên:

    a) Hoàn thiện bản Thông tin sinh viên thực hiện đề tài NCKH theo Mẫu 01-KT SVNCKH và nộp cho Khoa 01 bản cứng trước 14 ngày diễn ra HNKHSV cấp Khoa hoặc trước khi gửi hồ sơ tham dự các cuộc thi KHCN cấp Ngành, Bộ, Quốc gia, Quốc tế.

    b) Sinh viên đạt thành tích trong hoạt động NCKH có nguyện vọng được công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học viết giấy đề nghị công nhận điểm môn học theo Mẫu 03a-KT SVNCKH, giấy đề nghị điều chỉnh điểm môn học theo Mẫu 03b-KT SVNCKH và nộp cho Bộ môn 01 bản cứng.

    2. Quyền lợi của sinh viên:

    a) Được lựa chọn đề xuất môn học có liên quan đến hướng đề tài NCKH đạt thành tích được quy định tại Điều 5, Điều 6 của Quy định này.

    b) Được công nhận điểm, điều chỉnh điểm môn học 01 lần/mỗi đề tài NCKH và ở cấp dự thi cao nhất đối với mỗi đề tài NCKH.

    c) Những vấn đề khác như học bổng, điểm rèn luyện, khen thưởng… của sinh viên ở các kỳ trước đây nếu có thay đổi sau khi có kết quả công nhận điểm, điều chỉnh điểm theo Quy định này thì không được điều chỉnh.

    Chương IV

    TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Điều 10: Điều khoản thi hành

    1. Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký Quyết định ban hành và áp dụng từ năm học 2022 – 2023.

    2. Trưởng các đơn vị có liên quan và CBVC, sinh viên trong Trường chịu trách nhiệm thi hành Quy định này.

    Điều 11. Sửa đổi, bổ sung

    1. Trong quá trình triển khai thực hiện, tùy thuộc vào yêu cầu thực tế, quy định này sẽ được bổ sung và điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.

    2. Việc bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi bản quy định này do phòng KHCN xem xét và quyết định dưới sự cho phép của Ban Giám hiệu.

    Tải Quyết định số 2219/QĐ-ĐHTL xem Tại đây.

    Các Mẫu biểu xem Tại đây.

  • Hội thảo Quốc tế “Establishment of a landslide monitoring and prediction system” thuộc đề tài Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất

    Hội thảo Quốc tế “Establishment of a landslide monitoring and prediction system” thuộc đề tài Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất

    Ngày 02/11/2022 tại Hội trường 225/A2, Trường Đại học Thủy lợi đã chủ trì và tổ chức Hội thảo Quốc tế “Establishment of a landslide monitoring and prediction system” thuộc đề tài “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”, Mã số NĐT67/e-Asia19. Đề tài NĐT67/e-Asia19 do trường Đại học Thủy lợi chủ trì phía Việt Nam (từ năm 2019 – 2022) và trong chương trình nghiên cứu chung Đông Á (e-Asia JRP) với chủ đề phòng, chống và giảm thiểu thiên tai khu vực.

    Mục đích của Hội thảo là tổng kết kết quả nghiên cứu chung của ba nước thành viên thực hiện đề tài NĐT67/e-Asia19 (năm 2019 – 2022) gồm: Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam nhằm chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu, đào tạo, các công bố khoa học chung và định hướng hợp tác mở rộng nghiên cứu trong những năm tiếp theo.

    Tham dự Hội thảo có các đại diện của Tổ chức Khoa học công nghệ Nhật Bản JST; Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam; lãnh đạo các đơn vị phối hợp nghiên cứu với Trường Đại học Thủy lợi; các nhà khoa học đến từ các Trường Đại học, Viện nghiên cứu; Chủ tịch Hội Cơ học Đất và Địa kỹ thuật Công trình Việt nam; Tập đoàn, các trưởng nhóm nghiên cứu (PI) từ ba nước thành viên.

    Toàn cảnh buổi Hội thảo

    Phát biểu chào mừng Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi đã đánh giá cao sự phối hợp nghiên cứu chặt chẽ giữa 03 nước thành viên trong nhóm nghiên cứu và gửi lời cảm ơn các nhà khoa học Nhật Bản, Thái Lan, các đơn vị phối hợp nghiên cứu gồm Trường Đại học Giao thông vận tải và Viện Địa chất đã có những đóng góp thiết thực trong nghiên cứu, đào tạo và mong muốn sẽ tiếp tục có những hợp tác nghiên cứu thiết thực, hiệu quả với các đối tác. Đặc biệt PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái gửi lời cảm ơn các lãnh đạo thị xã Sa Pa, lãnh đạo huyện Nguyên Bình đã có những giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ để nhóm nghiên cứu có kết quả nghiên cứu tốt.

    PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Trong khuôn khổ Hội thảo, các đại biểu đã được nghe 13 bài báo cáo. Trong đó, phiên buổi sáng là các bài báo cáo của trưởng nhóm nghiên cứu ba nước thành viên và 03 báo cáo của khách mời; phiên buổi chiều có 07 báo cáo điển hình của các thành viên nhóm nghiên cứu ba nước và tập trung các nội dung xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở đất, phát triển trạm đo trượt lở đất theo thời gian thực và hệ thống truyền dẫn, xây dựng mô hình dự đoán trượt đất tích hợp theo thời gian thực, mô phỏng 3D khối trượt đất theo tiếp cận định lượng để phát triển bản đồ nguy cơ trượt đất tỷ lệ lớn.

    Tại Hội thảo, PGS.TS. Hoàng Việt Hùng – Chủ nhiệm đề tài NĐT 67/e-Asia19 (Principal Investigator from Vietnam) đã trình bày báo cáo tóm tắt các thông tin đề tài và các kết quả nghiên cứu từ năm 2019 – 2022 của nhóm Việt Nam đã đạt được gồm: 12 bài báo SCIE, 02 bài báo tạp chí trong nước, đào tạo 01 thạc sỹ và cung cấp số liệu cho 02 nghiên cứu sinh nghiên cứu về trượt lở đất.

    PGS.TS. Hoàng Việt Hùng – Chủ nhiệm đề tài NĐT67/e-Asia19 báo cáo tại Hội thảo

    Tương tự, TS. Jessada Karnjana – Trưởng nhóm nghiên cứu phía nước Thái Lan, đến từ Trung tâm Công nghệ máy tính, điện tử Quốc gia Thái Lan đã có bài trình bày về quan trắc trượt lở đất và truyền dẫn số liệu. Theo đó nhóm nghiên cứu Thái lan đã hoàn thành được các sản phẩm phần mềm xử lý chất lượng ảnh vệ tinh, ảnh viễn thám phục vụ nhận diện trượt lở đất; và nhiều kết quả nghiên cứu khác của nhóm Thái Lan như: tối ưu hóa hệ thống truyền dẫn không dây để phục vụ sử lý số liệu đo từ các trạm thành phần quan trắc trượt lở đất về máy chủ, phân tích dữ liệu LiDAR trong phòng chống đá lở đá rơi…

    TS. Jessada Karnjana – Trung tâm Công nghệ máy tính, điện tử Quốc gia Thái Lan trình bày báo cáo của nhóm nghiên cứu Thái Lan

    Xử lý ảnh quan trắc đánh giá trượt lở đất

    GS.TS. Akihiko Wakai – Đại diện nhóm nghiên cứu phía nước Nhật Bản đến từ Trường Đại học Gunma, đồng thời GS.TS. Akihiko Wakai cũng là Lead PI đã có bài trình bày về kết quả phát triển phần mềm dự đoán trượt lở đất theo thời gian thực. Với mô hình phân tích mái dốc đề xuất, kết quả nghiên cứu đã phát triển hoàn chỉnh được bản đồ nguy cơ trượt lở đất theo thời gian thực. Từ số liệu mưa trạm đo thời gian gian thực thể hiện được biến đổi mực nước ngầm tương ứng dẫn đến kết quả hệ số ổn định mái dốc biến đổi tương ứng. Ngoài ra GS.TS. Akihiko Wakai cũng trình bày nhiều nội dung liên quan tới các nghiên cứu ở các nước thành viên…

    GS.TS. Akihiko Wakai – Trường Đại học Gunma trình bày báo cáo của nhóm nghiên cứu Nhật Bản

    Tóm tắt kết quả phát triển hệ thống dự đoán trượt lở đất theo thời gian thực

    Tại buổi Hội thảo, TS. Phùng Đức Long – Chủ tịch Hội Cơ học Đất và Địa kỹ thuật Công trình Việt Nam đã chia sẻ với các đại biểu về kinh nghiệm hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Với hơn 15 năm kinh nghiệm hoạt động khoa học Công nghệ tại Thụy Điển, TS. Phùng Đức Long đã có đánh giá cao về hiệu quả chương trình phối hợp nghiên cứu chung e-Asia JRP và ấn tượng với kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu 03 nước.

    TS. Phùng Đức Long – Chủ tịch Hội Cơ học Đất và Địa kỹ thuật Công trình Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

    Kết luận Hội thảo, GS.TS. Kenji Satake – Trường Đại học Tokyo đại diện Cục Khoa học Công nghệ Nhật Bản (JST) phát biểu tổng kết Hội thảo và định hướng mở rộng nghiên cứu ba bên tập trung giải quyết vấn đề thiên tai miền Trung. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu phối hợp ba bên rất tốt, cần phát huy thế mạnh nghiên cứu và hiệu quả hơn nữa để đóng góp thiết thực cho phòng chống thiên tai ở ba nước và khu vực. Chất lượng các sản phẩm khoa học và đào tào của đề tài NĐT67/e-Asia19 đáp ứng được yêu cầu về mặt khoa học và thực tiễn: trong 03 năm (từ năm 2019 – 2022) nhóm nghiên cứu của ba nước (Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản) đã công bố 26 bài báo SCIE, đào tạo 01 tiến sĩ từ Đại học Gunma, 09 thạc sĩ (trong đó có 05 thạc sĩ lĩnh vực Công nghệ thông tin (Thái Lan), 01 Thạc sĩ lĩnh vực Địa kỹ thuật Xây dựng (Việt Nam), 03 Thạc sĩ Địa kỹ thuật (Nhật Bản).

     GS.TS. Kenji Satake phát biểu kết luận Hội thảo

    Hội thảo kết thúc vào hồi 17h00 cùng ngày sau phiên thảo luận. Kết thúc Hội thảo, toàn thể các đại biểu dự Hội thảo trực tiếp đã có chuyến tham quan các cơ sở vật chất của Trường Đại học Thủy lợi tại cơ sở Hà Nội.

    Các đại biểu tham dự Hội thảo trực tiếp tại hội trường 225/A2 chụp ảnh kỷ niệm

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Hội thảo “Lựa chọn phương pháp xác định giá sản phẩm dịch vụ tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam”

    Hội thảo “Lựa chọn phương pháp xác định giá sản phẩm dịch vụ tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam”

    Mục đích của Hội thảo nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương pháp, quá trình thực hiện việc lập và quản lý việc xác định giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi nói chung và phục vụ sản xuất nông nghiệp nói riêng.

    Tham dự Hội thảo có các đại diện của Tổ chức phát triển quốc tế IDH; chuyên gia đến từ Tổ chức đối tác về nước Australia (AWP); Tổng cục Thủy lợi; Chi cục Thủy lợi Hà Nội; Viện Kinh tế và Quản lý – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam; CPO Thủy lợi Việt Nam; các đơn vị đến từ các Doanh nghiệp khai thác công trình Thủy lợi gồm: Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Nhuệ, Xí nghiệp Khai thác Thủy lợi Phú Xuyên, một số Hợp tác xã Nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội; và các đơn vị thuộc Trường Đại học Thủy lợi như: Viện Đào tạo và Ứng dụng miền Trung, Viện Kỹ thuật Tài nguyên nước, Viện Kỹ thuật Công trình, Bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước, Bộ môn Quản lý xây dựng.

    Toàn cảnh buổi Hội thảo

    Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi có bài giới thiệu về các hoạt động tiêu biểu của Nhà trường. PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái cho biết: Nhà trường đã và đang giúp Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thủy lợi xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật, tính giá dịch vụ thủy lợi cho các hồ chứa nước Cửa Đạt, Ngàn Trươi và hệ thống thủy lợi lớn như Cái Lớn, Cái Bé, hệ thống Bắc Hưng Hả, hệ thống chống ngập cho Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với các địa phương, Nhà trường đã xây dựng định mức và giá dịch vụ thủy lợi cho các tỉnh thành như: Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Lâm Đồng.

    PGS. TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Tại buổi Hội thảo, ông Nguyễn Hồng Khanh – Cục Trưởng Cục Quản lý khai thác công trình Thủy lợi, Tổng cục thủy lợi đã chia sẻ với các đại biểu về những khó khăn trong việc thực hiện xác định giá dịch vụ thủy lợi, trong quá trình chuyển đổi mô hình và hình thức quản lý hệ thống công trình thủy lợi. Những khó khăn hiện nay đang gặp trong phương pháp tính và làm sao đưa ra được phương pháp phù hợp với đặc thù từng vùng từng hệ thống.

    Ông Nguyễn Hồng Khanh – Cục Quản lý khai thác công trình Thủy lợi, Tổng cục Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Tương tự, chia sẻ tại buổi Hội thảo, đại diện Tổ chức phát triển quốc tế (IDH) và chuyên gia Tổ chức đối tác về nước Australia (AWP) cũng chia sẻ với các đại biểu những kinh nghiệm, phương pháp xác định tính toán giá nước tại Australia và đưa ra những khuyến nghị, bài học cho tính toán giá dịch vụ nước tưới trong các hệ thống thủy lợi.

    Ông Rob Rendell – Chuyên gia tổ chức AWP phát biểu tại Hội thảo

    Trong khuôn khổ Hội thảo, các đại biểu đã được nghe 04 bài tham luận của các chuyên gia, trong đó 01 tham luận của chuyên gia Australia, 01 tham luận của Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển thủy lợi sông Nhuệ, 01 tham luận của trường Đại học Thủy lợi và 01 tham luận của Hợp tác xã Phú Nghĩa, Phú Xuyên, Hà Nội.

    Ông Đặng Hữu Chỉnh – Chủ tịch HĐQT HTX Phú Nghĩa, Phú Xuyên, Hà Nội phát biểu tại Hội thảo

    Kết luận Hội thảo, TS. Đỗ Văn Quang – Trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi đại diện cho đơn vị tổ chức chủ trì buổi thảo luận và tổng kết các kết quả thảo luận của Hội thảo như: (1) Qua Hội thảo này các chuyên ra đã đưa ra 04 phương pháp xác định giá dịch vụ tưới cho sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam, bao gồm: định giá theo phương pháp chi phí trung bình; phương pháp định giá hai thành phần; phương pháp định giá theo bậc thang; phương pháp định giá theo định mức Kinh tế kỹ thuật; (2) Cần bổ sung trong tính giá nước theo các kịch bản áp lực đầu ra (với hệ thống tưới áp lực), mức độ chất lượng dịch vụ, thời gian sử dụng điện.

    TS. Đỗ Văn Quang – Trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Hội thảo Khoa học quốc tế “Thúc đẩy công bố kết quả nghiên cứu của giảng viên lĩnh vực Khoa học Giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”

    Hội thảo Khoa học quốc tế “Thúc đẩy công bố kết quả nghiên cứu của giảng viên lĩnh vực Khoa học Giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”

    1. Ngôn ngữ sử dụng tại Hội thảo

    – Tiếng Việt hoặc tiếng Anh

    2. Thời gian, địa điểm tổ chức Hội thảo

    – Thời gian: Ngày 15/4/2022

    – Địa điểm: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành – 300A Nguyễn Tất Thành – Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nội dung chi tiết xin xem Tại đây.

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Tìm giải pháp khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng

    Tìm giải pháp khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng

    Tham dự hội thảo có đại diện các Bộ, Ngành trung ương; các tổ chức quốc tế; các trường Đại học, Viện nghiên cứu; các sở, ban, ngành liên quan. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến.

    Các đại biểu tham dự hội thảo

    Bãi tắm Cửa Tùng là một bãi tắm nổi tiếng không chỉ của Quảng Trị mà của miền Trung và cả nước, là một trong những điểm đến du lịch trên tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây và có một vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển tổng thể của tỉnh Quảng Trị.

    Phát biểu tại hội thảo, ông Hà Sỹ Đồng – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, những năm qua bãi tắm Cửa Tùng đã bị xâm thực nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống dân sinh và sự phát triển KT – XH của tỉnh Quảng Trị.

    Nhằm mục đích ngăn cát, chống bồi lấp luồng, tỉnh đã triển khai xây dựng kè phía Nam cửa sông Bến Hải vào năm 2004, kè phía Bắc năm 2013. Đồng thời nỗ lực triển khai các biện pháp để tìm giải pháp ổn định cho bãi tắm Cửa Tùng và khu vực xung quanh nhưng cho đến nay tình trạng xâm thực bãi tắm vẫn tiếp tục diễn ra.

    Bãi tắm Cửa Tùng ngày càng bị thu hẹp do sự xâm thực gia tăng cả về quy mô lẫn cường độ. Từ chỗ bãi cát trắng mịn rộng hàng trăm mét với độ dốc thoải nay chỉ còn khoảng 20 m – 30 m và độ dốc bãi đã tăng lên đột biến làm giảm mạnh lượng khách du lịch đến với bãi tắm này. Bên cạnh đó, cửa sông Bến Hải luôn có xu thế bị bồi lấp đã làm ảnh hưởng rất lớn đến giao thông thủy, tàu bè ra vào neo đậu khu vực cảng Cửa Tùng.

    Bãi tắm Cửa Tùng ngày càng bị thu hẹp do sự xâm thực gia tăng cả về quy mô lẫn cường độ

    Từ chỗ bãi cát trắng mịn rộng hàng trăm mét với độ dốc thoải nay chỉ còn khoảng 20-30m và độ dốc bãi đã tăng lên đột biến làm giảm mạnh lượng khách du lịch đến với bãi tắm Cửa Tùng

    Xác định rõ việc khắc phục xâm thực bãi biển Cửa Tùng nói riêng và giải pháp tổng thể, căn cơ hiệu quả cho toàn bộ khu vực Cửa Tùng nói chung là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp, cần có những nghiên cứu khoa học chuyên sâu, vì vậy UBND tỉnh Quảng Trị đã kêu gọi các trung tâm khoa học của quốc gia nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khắc phục.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị mong muốn thông qua hội thảo lần này, các nhà khoa học trong cả nước, các tổ chức quốc tế, các địa phương cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm thực hiện dự án chống xói lở bờ biển và nuôi bãi để tìm ra giải pháp tối ưu nhất nhằm hoàn trả lại bãi tắm Cửa Tùng.

    Công trình kè chắn sóng phía bờ Nam Cửa Tùng bị hư hỏng nghiêm trọng

    Hội thảo đã nghe báo cáo tham luận về nguyên nhân gây xâm thực, giải pháp phục hồi và bảo vệ bãi tắm Cửa Tùng, chia sẻ những kinh nghiệm về chống xói lở bờ biển, nuôi bãi, tôn tạo bãi biển, khắc phục xói lở bờ biển, đề xuất giải pháp tổng thể và đồng bộ cho toàn bộ khu vực Cửa Tùng và vùng lân cận của các chuyên gia đến từ Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Viện Địa lý, Viện Tài nguyên và Môi trường biển.

    Bên cạnh đó, hội thảo cũng được nghe những chia sẻ của đại diện Cơ quan Phát triển Pháp trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ quốc tế về thích ứng với biến đổi khí hậu, đóng góp ý kiến Công ty TNHH DHI Việt Nam (Viện Thủy lực Đan Mạch) thông qua các các dự án chống xói lở bờ biển ở Việt Nam và trên Thế giới.

    Kết luận hội thảo, ông Hà Sỹ Đồng – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cảm ơn các ý kiến đóng góp tâm huyết của các nhà quản lý, nhà khoa học và các chuyên gia. Các ý kiến này có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp tỉnh Quảng Trị tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng nhằm tìm ra giải pháp tối ưu nhất để hoàn trả lại bãi tắm.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị khẳng định, ngoài sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Quảng Trị, tỉnh cần tiếp tục có sự ủng hộ của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương, các tổ chức quốc tế, sự chung tay, góp sức của các nhà đầu tư và sự đồng hành, hỗ trợ của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong việc khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng, thúc đẩy phát triển KT – XH của tỉnh.

    Trong khuôn khổ hội thảo, sáng cùng ngày, các chuyên gia đã tiến hành khảo sát thực địa bãi biển Cửa Tùng và bãi biển phía Nam cầu Cửa Tùng để có cái nhìn tổng quan về hiện trạng bãi tắm Cửa Tùng và khu vực xung quanh.

    Theo Báo Quảng Trị