Danh mục: Nghiên cứu

  • Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL V/v ban hành Quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi

    Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL V/v ban hành Quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi

    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Số: 2060/QĐ-ĐHTL

    Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 2022

    QUYẾT ĐỊNH

    Về việc ban hành quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi

    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    Căn cứ Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi ban hành theo Quyết định số 1249/BNN-TCCB ngày 29/4/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

    Căn cứ Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi ban hành theo Nghị quyết số 19/NQ-HĐT4 ngày 04/01/2022 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi;

    Căn cứ Tờ trình về quy định hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trường Đại học Thủy lợi;

    Theo đề nghị của Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này bản quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi.

    Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế các văn bản ban hành trước đây quy định về công tác quản lý sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi.

    Điều 3. Trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Trưởng các khoa, Giám đốc các trung tâm đào tạo, Trưởng các đơn vị và cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

    Nơi nhận:

    • BGH (để b/c);
    • Như điều 3;
    • Lưu: VT, KHCN (NTH.14b).

    KT. HIỆU TRƯỞNG

    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

    (đã ký)

    PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái

    QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HỌC THUẬT CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    (Ban hành kèm theo Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi)

    Chương I

    QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

    Văn bản này quy định về hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi, bao gồm: xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động sinh hoạt học thuật (SHHT) của giảng viên; quản lý hoạt động SHHT của giảng viên; trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên tham gia báo cáo SHHT.

    Văn bản này được áp dụng đối với giảng viên đang công tác tại Trường Đại học Thủy lợi.

    Điều 2. Mục tiêu hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên

    Bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi.

    Khuyến khích, hỗ trợ và công nhận giờ NCKH cho giảng viên tham gia hoạt động SHHT.

    Điều 3. Yêu cầu về hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên

    1. Phù hợp với nội dung môn học của bộ môn và chuyên ngành đào tạo do bộ môn quản lý.

    2. Định hướng phát triển ngành đào tạo chuyên môn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Nhà trường và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

    3. Nâng cao năng lực nghiên cứu, kinh nghiệm chuyên môn và kỹ năng tay nghề cho giảng viên và cán bộ khoa học của Trường.

    4. Các đăng ký sinh hoạt học thuật phải đảm bảo qui định chưa được trình bày tại hội thảo, hội nghị khoa học do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì tổ chức.

    Điều 4. Nội dung hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên

     Nội dung sinh hoạt học thuật cần bám sát các tiêu chí sau:

    1) Nâng cao trình độ kiến thức, lý luận dạy học, kinh nghiệm chuyên môn của đội ngũ giảng viên và cán bộ của Trường.

    2) Truyền bá, phổ biến kiến thức mới liên quan đến chuyên môn của bộ môn nhưng chưa được phổ biến rộng rãi.

    3) Công bố khoa học, giới thiệu kết quả NCKH mà tác giả đã và đang thực hiện (không thuộc các đề tài do trường Đại học Thủy lợi là cơ quan chủ trì thực hiện).

    Chương II

    XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HỌC THUẬT CỦA GIẢNG VIÊN

    Điều 5. Xây dựng kế hoạch hoạt động sinh hoạt học thuật sinh hoạt học thuật của giảng viên

    1. Hàng năm phòng KHCN thông báo kế hoạch hoạt động SHHT vào đầu học kỳ I và đầu học kỳ II của năm học.

    2. Kế hoạch SHHT của giảng viên là một phần kế hoạch khoa học và công nghệ của Trường, bao gồm các nội dung:

    a) Xác định danh mục báo cáo SHHT, triển khai thực hiện và tổ chức hội nghị báo cáo SHHT của giảng viên.

    b) Tổ chức hoạt động thông tin SHHT của giảng viên.

    3. Số lượng tối đa mỗi giảng viên đăng ký 01 báo cáo học thuật/01 học kỳ.

    Điều 6. Xác định danh mục SHHT và triển khai thực hiện báo cáo SHHT của giảng viên

    1. Xác định danh mục SHHT của giảng viên:

    a) Giảng viên đề xuất SHHT với Bộ môn chuyên môn.

    b) Bộ môn chuyên môn xác định danh mục SHHT của giảng viên thuộc Bộ môn và gửi cho Khoa/Trung tâm tổng hợp chung theo đơn vị (Mẫu 01-SHHT).

    c) Khoa/Trung tâm tổng hợp danh mục đăng ký báo cáo SHHT của đơn vị và gửi và gửi về phòng KHCN trước ngày 10/9 hàng năm (Mẫu 02-SHHT).

    d) Thời gian hoàn thành việc xác định danh mục SHHT của giảng viên là tháng 9 hàng năm.

    đ) Hiệu trưởng phê duyệt danh mục SHHT của giảng viên.

    2. Triển khai thực hiện báo cáo SHHT của giảng viên:

    a) Giảng viên triển khai thực hiện báo cáo SHHT theo đăng ký đã được duyệt.

    b) Thời gian thực hiện báo cáo SHHT của giảng viên diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm đối với học kỳ 1, và từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm đối với học kỳ 2 của năm học.

    Điều 7. Tổ chức hội nghị SHHT của giảng viên

    1. Giảng viên nộp báo cáo SHHT cho Bộ môn chuyên môn trước 10 ngày tổ chức hội nghị SHHT.

    2. Bộ môn chuyên môn rà soát, thẩm định báo cáo SHHT và gửi thông tin về tiêu đề, nội dung bản báo cáo SHHT, tên báo cáo viên và địa điểm tổ chức SHHT về Phòng KHCN trước 10 ngày tổ chức hội nghị SHHT.

    3. Bộ môn chuyên môn chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức hội nghị SHHT của giảng viên thuộc Bộ môn.

    4. Trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày diễn ra hội nghị SHHT, giảng viên là báo cáo viên chính của báo cáo SHHT nộp 01 hồ sơ gồm các tài liệu sau đây về phòng KHCN: biên bản hội nghị SHHT (Mẫu 03-SHHT), danh sách đại biểu tham dự (Mẫu 04-SHHT), phiếu nhận xét của chuyên gia phản biện và toàn văn báo cáo học thuật.

    Chương III

    QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HỌC THUẬT CỦA GIẢNG VIÊN

    Điều 8. Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Khoa học Công nghệ

    1. Giúp Hiệu trưởng chỉ đạo, quản lý hoạt động SHHT của giảng viên.

    2. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động SHHT của giảng viên.

    3. Làm thủ tục công nhận kết quả hoạt động SHHT cho giảng viên.

    Điều 9. Nhiệm vụ của các Khoa/Trung tâm đào tạo, Bộ môn và các đơn vị liên quan

    1. Nhiệm vụ của các Khoa/Trung tâm đào tạo:

    Đăng ký, phối hợp với Phòng KHCN và các đơn vị chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch SHHT của giảng viên theo đăng ký.

    2. Nhiệm vụ của các Bộ môn trong Khoa/Trung tâm:

    a) Chủ trì thông báo rộng rãi đến các nhà khoa học thuộc Bộ môn, Khoa quản lý và các nhà khoa học thuộc các tổ chức khác tham dự hội nghị SHHT.

    b) Phân công cán bộ khoa học có uy tín, kinh nghiệm, trách nhiệm và năng lực làm chuyên gia phản biện báo cáo SHHT.

    c) Chịu trách nhiệm về chất lượng nội dung của hội nghị SHHT.

    3. Nhiệm vụ của các đơn vị liên quan:

    Các đơn vị liên quan trong Trường có trách nhiệm tạo điều kiện tốt nhất cho giảng viên SHHT theo quy định của Trường.

    Điều 10. Trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên tham gia SHHT

    1. Trách nhiệm của giảng viên:

    a) Thực hiện báo cáo SHHT theo kế hoạch đã phê duyệt của Trường.

    b) Trung thực, cháp hành nghiêm chỉnh các quy định hiện hành về hoạt động khoa học và công nghệ.

    c) Giảng viên là báo cáo viên chính chịu trách nhiệm cập nhật thông tin về hoạt động SHHT trên phần mềm cơ sở dữ liệu tại web: khcn.tlu.edu.vn tương tự như các hoạt động KHCN khác.

    2. Quyền hạn của giảng viên:

    a) Được tạo điều kiện sử dụng các thiết bị sẵn có của Trường để tiến hành hoạt động báo cáo SHHT theo quy định hiện hành về quản lý và sử dụng tài sản của Trường.

    b) Số giờ NCKH được tính cho mỗi báo cáo học thuật tối đa là 30 giờ và chỉ tính cho báo cáo viên chính (tác giả chính).

    Chương IV

    TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Điều 11: Điều khoản thi hành

    1. Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký quyết định han hành và áp dụng từ năm học 2022 – 2023.

    2. Trưởng các đơn vị có liên quan và CBVC trong Trường chịu trách nhiệm thi hành quy định này.

    Điều 12. Sửa đổi, bổ sung

    1. Trong quá trình thực hiện, tùy thuộc vào yêu cầu thực tế, quy định này sẽ được bổ sung và điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.

    2. Việc bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi bản quy định này do phòng KHCN xem xét và quyết định dưới sự cho phép của Ban Giám hiệu.

    Tải Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL xem Tại đây.

    Mẫu bảng tổng hợp đk của Bộ môn xem Tại đây.

    Mẫu bảng tổng hợp đk của Khoa, TT xem Tại đây.

    Mẫu biên bản SHHT xem Tại đây.

    Mẫu danh sach đại biểu tham dự hội nghị SHHT xem Tại đây.

    Mẫu phiếu nhận xét phản biện báo cáo học thuật xem Tại đây.​

  • Danh mục Báo cáo Sinh hoạt học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Danh mục Báo cáo Sinh hoạt học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Quý Thầy Cô có đăng ký thực hiện triển khai theo đúng kế hoạch đã đăng ký và thông tin về Phòng KHCN, Email: [email protected] .

    Chi tiết Danh mục Báo cáo Sinh hoạt học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023: xem tại đây.

    Kính thông báo.

  • Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 9/2022

    Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 9/2022

    Tại hội thảo ngày 24/9/2022 nhóm ROOM (Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ/Research of Organic Matter) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Nghiên cứu về ô nhiễm của một số hợp chất hữu cơ độc trong môi trường và ứng dụng kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam”. Tại hội thảo nhóm ROOM đã trình bày 03 bài tham luận về: (1) Một số kết quả nghiên cứu mới về ô nhiễm các chất POPs trong không khí tại Việt Nam do PGS.TS Từ Bình Minh trình bày; (2) Mô hình kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, phục vụ phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ do PGS.TS Nguyễn Hồng Quân trình bày; (3) Nghiên cứu ô nhiễm của một số hợp chất hữu cơ gây rối loạn nội tiết (PAE, Paraben) trong môi trường tại Việt Nam do bà Lê Minh Thùy trình bày.

    Tương tự, ngày 25/9/2022 nhóm MLIC (Nghiên cứu Kỹ thuật học máy và điều khiển thông minh/Machine Learning Techniques and Intelligent Control) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Mạng Nơ ron tích chập đồ thị GCN” do PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh trình bày. Tại hội thảo nhóm MLIC giới thiệu về mạng nơ ron tích chập đồ thị GCN (Graph Convolutional Networks). GCN là một kiến trúc mạng nơ ron rất mạnh mẽ cho học máy trên đồ thị. Một cách làm việc trực quan và toán học phía sau của GCN được đã trình bày và thảo luận trong seminar này.

    Ngày 30/9/2022 nhóm GRAT (Ứng dụng GIS và viễn thám/GIS and Remote sensing Application) đã tổ chức thành công hội thảo với chủ đề “Xác định các tham thông số nhám cho mô hình thủy lực” do PGS. TS. Trần Kim Châu trình bày. Nghiên cứu này xác định việc xác định các thông số nhám cho các thí nghiệm thủy lực là công việc mất rất nhiều thời gian. Đây là công việc đòi hỏi người làm thí nghiệm phải có nhiều kinh nghiệm trong việc tạo độ nhám cho mô hình thủy lực. Nghiên cứu này dựa trên các thí nghiệm về việc sắp xếp các hạt nhám (đường kính, khoảng cách cát hạt) và so sánh với trường hợp mô phỏng không có hạt nhám, để tìm ra quan hệ giữa các thông số nhám. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng  cho nhà máy thủy điện Ialy.

    Nhìn chung, việc xác định các thông số nhám là thực sự cần thiết cho các mô hình thủy lực. Kết quả nghiên cứu đóng góp đáng kể vào việc giảm thời gian để sắp xếp, bố trí các hạt nhám. Có thể áp dụng kết quả nghiên cứu cho nhiều bài toán thủy lực khác.

    Nhóm Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ (ROOM) tại buổi hội thảo

    Nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GRAT) tại buổi hội thảo

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • UBND tỉnh Quảng Bình nghe báo cáo về giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh

    UBND tỉnh Quảng Bình nghe báo cáo về giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh

    Tham dự buổi làm việc có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương liên quan; các nguyên lãnh đạo tỉnh và ngành NN&PTNT qua các thời kỳ.

    Ông Đoàn Ngọc Lâm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình đặt vấn đề tại buổi làm việc

    Đặt vấn đề tại buổi làm việc, ông Đoàn Ngọc Lâm – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình nêu rõ, xuất phát từ tình hình lũ lụt thường xuyên xảy ra trong nhiều năm trên địa bàn 2 huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh, đặc biệt sau trận lũ lụt lịch sử tháng 10-2020 đã gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng, UBND tỉnh đã đề xuất Bộ NN&PTNT hỗ trợ tìm giải pháp để thoát lũ hiệu quả, giúp người dân địa phương chung sống an toàn, bền vững.

    Theo đó, Trường đại học Thủy lợi đã được Bộ NN&PTNT giao thực hiện đề tài nghiên cứu, tìm giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy và Quảng Ninh.

    Theo PGS.TS. Trần Thanh Tùng – Đại diện nhóm nghiên cứu của Trường đại học Thủy lợi, nguyên nhân gây ngập lụt kéo dài ở vùng Lệ Thủy và Quảng Ninh là do mưa lớn bất thường, cửa sông Nhật Lệ bị bồi lấp, lũ chồng lũ và đỉnh lũ trùng với đỉnh triều cường, các công trình hạ tầng hai bên bờ sông cản trở dòng chảy và do đặc điểm địa hình.

    PGS.TS. Trần Thanh Tùng – Đại diện nhóm thực hiện đề tài thuyết minh về các nhóm giải pháp tăng khả năng thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh

    Dựa theo các kết quả phân tích, điều tra, khảo sát và xây dựng bản đồ ngập lụt cho khu vực Lệ Thủy, Quảng Ninh, nhóm nghiên cứu Trường đại học Thủy lợi đã đề xuất 2 nhóm giải pháp, gồm: Nhóm giải pháp tăng khả năng thoát lũ với các phương án được đề xuất là: Nạo vét, nâng cao khả năng thoát lũ cửa Nhật Lệ; cải tạo hành lang thoát lũ; mở cửa thoát lũ mới ra biển (gồm các phương án: kênh dẫn kết hợp các hồ chứa tại huyện Lệ Thủy; kênh dẫn ra biển, ranh giới Lệ Thủy và Quảng Ninh, kênh dẫn ra biển Bảo Ninh).

    Đối với nhóm giải pháp phòng ngập lụt, chống lũ, nhóm nghiên cứu đề xuất các phương án: Nâng cấp đập Mỹ Trung kết hợp với mở rộng khẩu độ của cống để tăng khả năng thoát lũ…; nâng cấp tuyến đê sông để kết nối với đập Mỹ Trung.

    Trong 2 nhóm giải pháp được đưa ra, đề tài nghiên cứu thiên về ưu tiên thực hiện Nhóm giải pháp tăng khả năng thoát lũ.

    Ông Phạm Phước, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình phát biểu tại buổi làm việc

    Tại buổi làm việc, các đại biểu đã có nhiều ý kiến thảo luận, phân tích về cơ sở khoa học, tính phù hợp, khả thi của từng phương án. Các đại biểu đánh giá cao công trình nghiên cứu công phu, được thực hiện trong thời gian khá gấp rút của nhóm chuyên gia Trường đại học Thủy lợi; đồng thời cho rằng, cần bổ sung thêm các dữ liệu có liên quan để chứng minh tính khả thi của đề tài; xác định rõ chiến lược thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh ở mức độ nào; đánh giá tác động môi trường khi thực hiện các phương án cụ thể…

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Thủy lợi phát biểu tại buổi làm việc

    Phát biểu kết luận tại buổi làm việc, ông Đoàn Ngọc Lâm – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bìnhghi nhận công trình nghiên cứu có tính khoa học và công phu của Trường đại học Thủy lợi, là tiền đề quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo.

    Mặt khác, đề tài đã góp phần giúp cho các cấp, ngành chức năng của tỉnh Quảng Bình có cái nhìn tổng quát hơn đối với nguyên nhân gây ngập lụt kéo dài do lũ và định hướng một số giải pháp để thoát lũ hiệu quả cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh.

    Quang cảnh buổi làm viêc

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình nhấn mạnh, lũ lụt ở vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh là do nhiều nguyên nhân gây ra và đây cũng là các địa phương thường xuyên xảy ra lũ lụt.

    Vì vậy, để giải quyết vấn đề này cần phải có một giải pháp tổng hợp, đồng bộ, với những bước thực hiện phù hợp, có tính khả thi cao, mang tính bền vững, thân thiện với môi trường và bảo đảm cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. 

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng đề nghị nhóm thực hiện đề tài của Trường đại học Thủy Lợi trong điều kiện có thể, tiếp thu thêm những ý kiến đóng góp của các đại biểu, nhất là các vấn đề có tính thực tiễn, bổ sung thêm các dữ liệu để hoàn thiện báo cáo nhiệm vụ “Đánh giá nguyên nhân gây ngập lụt kéo dài do lũ và định hướng giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”.

    Ông Đoàn Ngọc Lâm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình phát biểu kết luận tại buổi làm việc

    Theo Báo Quảng Bình

  • Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 8/2022

    Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 8/2022

    Tại hội thảo ngày 06/8/2022, nhóm AICOST (Trí tuệ nhân tạo cho biến đổi khí hậu và điều khiển hệ thống/Artificial Intelligence for Tackling Climate Change and Controlling System) đã tổ chức thành công hội thảo với 03 bài tham luận do ThS. Nguyễn Quang Đạt; PGS.TS. Nguyễn Ngọc Doanh như sau: (1) Mô hình lai ARIMA-ANN dùng trong dự báo chuỗi thời gian; (2) Mô hình lai sử dụng Seasonal, Online ARIMA và Online RNN dự báo phụ tải điện ngắn hạn; (3) Online SARIMA ứng dụng trong dự báo ngắn hạn phụ tải điện. Qua 03 bài tham luận trên cho thấy, các kết quả nghiên cứu của nhóm AICOST tập trung vào một số điểm chính sau đây:

    (1) Mô hình truyền thống có nhiều ứng dụng mạnh trong dự báo chuỗi thời gian. Mỗi mô hình có những điểm mạnh và yếu khác khau. Khi kết hợp các mô hình đơn lẻ lại trở thành một mô hình lai (hybrid model) thì chúng ta có thể kết hợp các điểm mạnh của từng mô hình đơn lẻ, đồng thời có thể hạn chế được nhiều nhược điểm trong các mô hình đó. Vì vậy, mô hình lai được hy vọng sẽ cho ra kết quả dự báo chính xác hơn.

    (2) Mô hình truyền thống là mô hình được huấn luyện trên bộ dữ liệu có sẵn. Mô hình được cố định sau khi đã huấn luyện xong. Tuy nhiên khi dữ liệu thực tế là dạng được cập nhật liên tục theo thời gian thực thì mô hình không tận dụng được các giá trị mới cập nhật này.

    (3) Mô hình online được đưa ra nhằm tận dụng được việc cập nhật dữ liệu này. Tại các thời điểm có dữ liệu mới được thêm vào dữ liệu của chúng ta, mô hình sẽ tiến hành cập nhật một số tham số của mô hình (nhưng các siêu tham số – hyperparameters – thì vẫn giữ nguyên). Từ đó làm cho kết quả của mô hình tốt hơn.

    (4) Nhiều dữ liệu thực tế là các dữ liệu có tính mùa. Việc phân tích tính mùa trong dữ liệu đem lại hiệu quả tốt hơn cho mô hình. Mô hình SARIMA là một mô hình có sử dụng được tính mùa của dữ liệu. Khi tạo một mô hình online đối với SARIMA thì khi đó ta vừa tận dụng được tính mùa từ mô hình SARIMA, đồng thời cũng tận dụng được việc cập nhật dữ liệu để cập nhật mô hình liên tục. Khi đó, chúng ta có thể hy vọng mô hình mới sẽ có kết quả tốt hơn so với mô hình ARIMA online không có tính mùa.

    Nhóm Trí tuệ nhân tạo cho biến đổi khí hậu và điều khiển hệ thống (AICOST) tại buổi hội thảo

    Tương tự, ngày 28/8/2022 nhóm GRAT (Ứng dụng GIS và viễn thám/GIS and Remote sensing Application) đã tổ chức thành công hội thảo với chủ đề “Xác định các tham số đặc trưng đường cong IDF cho dữ liệu mưa Tân Sơn Hòa, TP. Hồ Chí Minh” do TS. Lê Thị Hòa Bình trình bày. Nghiên cứu này xác định việc xác định đường cong IDF là mối quan tâm hàng đầu trong việc thiết kế hệ thống thoát nước đô thị; hiện nay có khá nhiều công thức biểu diễn mối quan hệ IDF, trong đó công thức của Sherman được sử dụng khá phố biến. Từ kết quả nghiên cứu đã đạt được, nhóm nghiên cứu đã đưa ra đề xuất: sử dụng công thức của Sherman và đề xuất các tham số địa phương phù hợp. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng vào các lĩnh vực quy hoạch, thiết kế các dự án cơ sở hạ tầng.

    Nhìn chung, việc xác định đường cong IDF có ý nghĩa thiết thực trong công tác quy hoạch, thiết kế hệ thống tiêu thoát nước, cơ sở hạ tầng. Do vậy nên áp dụng phương pháp nghiên cứu cho các vùng khác nhau để thấy được sự khác biệt ncủa đường cong IDF của các vùng mưa.

    Nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GRAT) tại buổi hội thảo

    Ngày 27/8/2022 nhóm MLIC (Nghiên cứu Kỹ thuật học máy và điều khiển thông minh/Machine Learning Techniques and Intelligent Control) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Mạng Nơ ron tích chập đồ thị và ứng dụng” do PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh trình bày. Trong nghiên cứu này, nhóm MLIC giới thiệu về cách thực hiện học sâu trên các đồ thị với mạng nơ ron tích chập đồ thị GCN (Graph Convolutional Networks), một loại mạng nơ ron mạnh mẽ được thiết kế để làm việc trực tiếp trên các đồ thị và tận dụng thông tin cấu trúc của nó. Bên cạnh đó nhóm MLIC cũng giới thiệu một số ứng dụng điển hình của nó.

    Nhóm Nghiên cứu Kỹ thuật học máy và điều khiển thông minh (MLIC) tại buổi hội thảo

    Ngày 30/8/2022 nhóm ROOM (Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ/Research of Organic Matter) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Đánh giá thực trạng và nghiên cứu rủi ro môi trường tại một số tỉnh thành phía Bắc của Việt Nam”. Tại hội thảo nhóm ROOM đã trình bày 03 bài tham luận về: (1) Nghiên cứu về sự cố môi trường trong nông nghiệp, nông thôn khi có thiên tai xảy ra do PGS.TS Bùi Quốc Lập trình bày; (2) Nghiên cứu phân tích, đánh giá sự xuất hiện của hợp chất methylsiloxane mạch vòng dễ bay hơi trong môi trường Hà Nội do NCS Nguyễn Nữ Mỹ Hà trình bày; (3) Đánh giá thực trạng môi trường các vùng nuôi tôm tỉnh Nam Định do bà Pham Trương Thảo Nguyên trình bày.

    Nhóm Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ (ROOM) tại buổi hội thảo

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Đăng ký kế hoạch báo cáo học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Đăng ký kế hoạch báo cáo học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Thời gian các đơn vị (Khoa/Trung tâm) gửi hồ sơ tổng hợp đăng ký về phòng KHCN: đến trước 11h00 ngày 31/8/2022. 

    Thời gian Khoa/Trung tâm tiếp nhận hồ sơ từ Bộ môn do Khoa/Trung tâm qui định.

    Hồ sơ gồm mẫu 1 và mẫu 2.

    Bản in gửi về phòng KHCN: Phòng 510, Tòa nhà Hành chính A1, Trường Đại học Thủy lợi.

    Bản mềm gửi về địa chỉ email: [email protected]

    Kính thông báo.

  • Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 7/2022

    Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 7/2022

    Tại hội thảo ngày 28/7/2022, nhóm GRAT (Ứng dụng GIS và viễn thám/GIS and Remote sensing Application) đã tổ chức thành công hội thảo với chủ đề “Ứng dụng Google Eartch Engine (GEE) xác định diện tích đất nông nghiệp bị ảnh hưởng do lũ trên lưu vực sông Bùi, Việt Nam” do ThS. Trần Ngọc Huân trình bày. Trong nghiên cứu này, nhóm GRAT sử dụng công cụ Google Earth Engine để xác định phần đất bị mất do lũ trên lưu vực sông Bùi. Ngoài ra, nhóm GRAT cho biết kết quả nghiên cứu này hoàn toàn có thể áp dụng cho lưu vực sông khác trên cả nước (với diện tích lưu vực nhỏ).

    Tương tự, ngày 31/7/2022 nhóm ROOM (Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ/Research of Organic Matter) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Tồn lưu và ô nhiễm của một số chất độc hại trong môi trường”. Tại hội thảo nhóm ROOM đã trình bày 03 bài tham luận về: (1) Ô nhiễm sterol trong sông Kim Ngưu, Hà Nội do bà Tô Xuân Quỳnh trình bày; (2) Tồn lưu PAH trong trầm tích Hồ Tây do bà Vũ Thị Thu Huyền trình bày; (3) Đánh giá rủi ro bụi PM5, khí độc đối với người lao động tại một số nhà máy phía Bắc do ông Nguyễn Việt Phong trình bày. Qua buổi hội thảo này nhóm ROOM đã trình bày về các kết quả nghiên cứu được cũng như thảo luận về các vấn đề như: Ô nhiễm sterol trong nước và trầm tích sông Kim Ngưu, Hà nội; Đặc điểm phân bố các hợp chất PAH trong trầm tích Hồ tây, Hà Nội; Đánh gia rủi ro bụi PM5.

    Các buổi Hội thảo online trên phần mềm Zoom đã đánh giá và thảo luận toàn diện được các kết quả nghiên cứu trong tháng 7/2022 của các nhóm Nghiên cứu mạnh TLU đạt được. Mặt khác qua đó còn có nhiều trao đổi, kết nối về các hướng hợp tác NCKH giữa các nhóm Nghiên cứu mạnhs với các đơn vị khác trong thời gian tới.

    Dưới đây là một số hình ảnh được ghi nhận tại các buổi hội thảo.

    Nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GRAT) tại buổi hội thảo

    ​

    Nhóm Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ (ROOM) tại buổi hội thảo

    ​

  • Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi kết thúc phiên làm việc thứ 3

    Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi kết thúc phiên làm việc thứ 3

    Trong 13 ứng viên có 2 ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư (GS) là PGS.TS. Bùi Quốc Lập và PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Cúc – ngành Thủy lợi, chuyên ngành Kỹ thuật và quản lý môi trường và 11 ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh Phó Giáo sư (PGS) các ngành: Giao thông vận tải (02); Xây dựng (02); Thủy lợi (03); Công nghệ thông tin (01); Tự động hóa (01); Toán học (02).

    Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi kết thúc phiên làm việc thứ 3

    GS.TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi phát biểu

    Theo GS.TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi năm 2022, các ứng viên đăng ký xét tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm nay đều là những nhà giáo ưu tú, có nhiều đóng góp cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của Nhà trường. Có thể kể đến như: PGS.TS. Bùi Quốc Lập, PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Cúc, TS. Đỗ Văn Quang, TS. Lê Thị Thu Hiền, TS. Ngô Trí Thường,…

    Giáo sư Thụ cho biết thêm, Hội đồng đã làm việc nghiêm túc, đảm bảo tính công bằng, khách quan nhờ sự đánh giá chuyên môn đến từ các giáo sư, phó giáo sư đầu ngành trong và ngoài Trường.

    Kết quả 13/13 ứng viên của Trường Đại học Thủy lợi đều được 15/15 thành viên Hội đồng nhất trí thông qua.

    Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi kết thúc phiên làm việc thứ 3​

    Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi năm 2022

    Theo quy trình, sau khi được Hội đồng Giáo sư cơ sở thông qua, hồ sơ của 13 ứng viên của Trường Đại học Thủy lợi sẽ được gửi đến đánh giá ở các Hội đồng GS ngành, liên ngành trước khi trình lên Hội đồng GS Nhà nước. Trước đó, hồ sơ điện tử của ứng viên phải công khai trên Trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học (nơi nhận hồ sơ của ứng viên) và Trang thông tin điện tử của Hội đồng Giáo sư nhà nước.

    BV

  • Hội thảo Khoa học quốc gia “Thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững: Kết nối tầm nhìn quốc gia với hành động của địa phương và doanh nghiệp”

    Hội thảo Khoa học quốc gia “Thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững: Kết nối tầm nhìn quốc gia với hành động của địa phương và doanh nghiệp”

    Mục tiêu Hội thảo:

    Nhằm tạo diễn đàn để các cơ quan quản lý, các nhà khoa học, chuyên gia, địa phương, doanh nghiệp cùng trao đổi quan điểm, kết quả nghiên cứu, kiến thức cùng các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam.  

    Thời gian, địa điểm tổ chức:

    – Thời gian tổ chức: Dự kiến tổ chức vào tháng 9 năm 2022

    – Địa điểm tổ chức: Tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Các bài viết được chọn sẽ được in trong kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia có mã số ISBN “Thúc đẩy tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững: Kết nối tầm nhìn quốc gia với hành động của địa phương và doanh nghiệp”.

    Nội dung chi tiết xin xem tại đây 

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Hội thảo Khoa học “Chuyển đổi số và công nghệ số trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển bền vững”

    Hội thảo Khoa học “Chuyển đổi số và công nghệ số trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển bền vững”

    Mục tiêu Hội thảo:

    Nhằm trao đổi, chia sẻ các kết quả nghiên cứu mới và khuyến khích các nhà khoa học trẻ tích cực tham gia nghiên cứu và đề xuất các giải pháp chuyển đổi số, áp dụng công nghệ số trong ngành tài nguyên và môi trường.

    Thời gian, hình thức và địa điểm tổ chức:

    – Thời gian dự kiến: Ngày 28 tháng 7 năm 2022

    – Hình thức tổ chức: Trực tiếp và trực tuyến

    Địa điểm trực tiếp: Hội trường tầng 15, Tổng cục Khí tượng Thủy văn, số 8 Pháo Đài Láng, Đống Đa, Hà Nội.

    Trực tuyến: Qua phần mềm ZOOM. Mã phòng họp ID: 969 1772 7231, Mật khẩu: 2872022.

    Nội dung chi tiết xem tại đây

    Thu Hiền – Phòng KHCN