Danh mục: Nghiên cứu

  • Nam sinh “con nhà nông” thiết kế bàn tay robot cho người liệt vừa chơi game, vừa chữa bệnh

    Với sản phẩm “Thiết kế mô hình bàn tay robot để phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt một bàn tay” dưới hướng dẫn của TS. Ngô Quang Vĩ và PGS.TS Nguyễn Trọng Thắng, em Dương Văn Vũ, sinh viên khoa Điện – Điện tử, Trường Đại học Thủy lợi mới đây đã xuất sắc giành giải Nhất nghiên cứu khoa học cấp trường.

    Thiết kế

    Dương Văn Vũ với sản phẩm bàn tay robot. Ảnh: Tào Nga

    “Bàn tay robot” – vừa chơi game, vừa chữa bệnh

    Chia sẻ với PV báo Dân Việt sau khi nhận giải Nhất nghiên cứu khoa học với sản phẩm bàn tay robot, Dương Văn Vũ bày tỏ: “Em rất vui với kết quả này và đây là động lực cho em hoàn thiện sản phẩm hơn nữa để ứng dụng hữu ích hơn cho người bệnh”. 

    Vũ cho biết, nghiên cứu mô hình với mục tiêu mang đến cho người bệnh một thiết bị phục hồi chức năng bàn tay tại nhà. Bàn tay này có khả năng gập duỗi các ngón tay linh hoạt theo nhiều mức độ khác nhau bằng công nghệ xử lý ảnh. Bên cạnh đó, sản phẩm còn phát triển thêm các bài tập thụ động và các bài tập có mục tiêu.

    “Ý tưởng xuất phát từ trường hợp thực tế của thầy giáo hướng dẫn em có người cháu bị bẩm sinh khó vận động bàn tay. Hai thầy trò đã quyết định nghiên cứu sản phẩm để phục hồi chức năng cho những người như cháu. Trên thị trường đã có các sản phẩm tương tự nhưng nhược điểm là trẻ con rất chán với những bài tập đơn điệu và đeo vào nóng nên đòi cởi ra không chịu tập.

    Khi đó em nghĩ trẻ con rất thích chơi game nên đã chuyển hóa các bài tập thành game. Người bệnh sẽ chủ động luyện tập chứ không còn bị ép. Từ lúc lên ý tưởng đến phát triển sản phẩm, em thực hiện trong vòng 6 tháng”, Vũ kể.

    Thiết kế

    Vũ đang giới thiệu về sản phẩm. Ảnh: Tào Nga

    Theo chia sẻ của Vũ, sản phẩm hiện đang phát triển 2 game là bắt bóng dành cho trẻ 2-3 tuổi và xếp hình dành cho trẻ 5-6 tuổi. Thiết bị này không dây nên sử dụng độc lập. Người lớn thì được lập trình các bài tập bình thường. Bàn tay cũng có nhiều kích cỡ linh hoạt cho mọi người đều sử dụng được.

    “Sắp tới em sẽ nghiên cứu phát triển thêm cho sản phẩm có thể giúp bác sĩ thăm khám bệnh từ xa thay vì bệnh nhân phải đến bệnh viện. Tính năng này hiện đã có nhưng khoảng cách chưa được xa. Ngoài ra em muốn tích hợp sản phẩm có thể theo dõi tình trạng sức khỏe và không chỉ phục hồi bàn tay mà cả cánh tay”, Vũ cho hay.

    Gây ấn tượng với bàn tay robot ứng dụng trong y tế này, trước đây Vũ cũng có 2 đề tài về cánh tay robot ứng dụng trong dây chuyền sản xuất công nghiệp.

    Thiết kế

    Sinh viên Dương Văn Vũ, lớp TĐH1, Khoa Điện – Điện tử trình bày đề tài đạt giải Nhất mang tên: Nghiên cứu thiết kế mô hình bàn tay robot để phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt 1 bàn tay. Ảnh: NVCC

    Chàng trai mê nghiên cứu khoa học từ cấp 2

    Vũ sinh ra trong gia đình làm nông, một mình mẹ nuôi 3 chị em Vũ ăn học giỏi giang. Chị của Vũ vừa tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại thương. Vũ kể, từ năm cấp 2 em đã có đam mê về điện. Lên cấp 3 và đại học, em có cơ hội được thực hành nhiều hơn. Tuy nhiên, do mải mê làm các mô hình mà Vũ từng bỏ bê việc học năm cấp 3, học lệch, chỉ giỏi môn Vật lý. Khi thi đại học, Vũ đã phải dồn sức học ôn các môn còn lại để trúng tuyển vào Trường Đại học Thủy lợi. 

    Hiện tại Vũ đã biết cân bằng hơn giữa việc học và tham gia nghiên cứu khoa học. Ngược lại, Vũ thấy rằng việc nghiên cứu khoa học giúp cho việc học trở nên dễ dàng hơn. 

    Thiết kế

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó hiệu trưởng trao thưởng cho các đề tài xuất sắc đạt giải Nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2023. Ảnh: NVCC

    Được biết, năm lớp 12 khi dịch Covid-19 bùng phát, Vũ đã nghiên cứu làm ra máy rửa tay sát khuẩn kèm đo nhiệt độ được sử dụng tại chính ngôi trường mình đang học là Trường THPT Yên Phong, Bắc Ninh. Cũng trong năm lớp 12, Vũ gây ấn tượng với nghiên cứu máy bay không người lái để phục vụ cho việc phun thuốc trừ sâu. 

    Khi được hỏi về kinh phí đã dành cho nghiên cứu khoa học, Vũ tiết lộ: “Em không tốn nhiều tiền mà tận dụng tháo bộ điều khiển từ các dự án từ trước đã làm. Khi lên đại học, em có đi làm thêm nên có tiền để chủ động mua thiết bị nghiên cứu chứ không phải tháo lắp ra nữa”.

    “Hiện tại em muốn phát triển về mảng robot và sau đó sẽ học lên thạc sĩ”, Vũ chia sẻ thêm.

    Đánh giá về các công trình nghiên cứu khoa học, GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi cho biết: Năm học 2022-2023 phong trào nghiên cứu khoa học sinh viên Trường Đại học Thủy lợi tăng cao khi đã nhận được kỷ lục với 263 đề tài. Các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên đã tiếp cận với nhiều vấn đề khoa học công nghệ mới, sản phẩm có khả năng ứng dụng cao. Phần lớn các báo cáo có chất lượng tốt, khả năng thuyết trình của sinh viên rất tự tin. Năm nay có 10 đề tài xuất sắc được trao giải và Dương Văn Vũ là sinh viên đạt giải cao nhất. 

    Theo Dân Việt

  • Thiếu điện – Cắt điện – Tiết kiệm nước

    Thiếu điện – Cắt điện – Tiết kiệm nước

    Vì ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, tình trạng nắng nóng, hạn hán, thiếu nước đã làm cho các hồ thủy điện ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây là dấu hiệu đáng lo ngại cho sự thiếu nước sản xuất, sinh hoạt cũng như việc sản xuất điện sẽ gặp nhiều khó khăn khi mà trong thời gian tới, nắng nóng còn gia tăng. Việc đưa ra các giải pháp tức thời và dài hạn để nhằm giảm mạnh việc tiêu hao lượng nước một cách lãng phí là rất cần thiết lúc này. Trường Đại học Thủy lợi đã góp phần không nhỏ trong công tác phát triển thủy điện của nước ta.

    Với nhà máy thủy điện, việc duy trì mực nước phù hợp là cực kỳ quan trọng. Với các nhà máy ví dụ như các hình dưới (hình 1): khi mực nước hồ về mực nước chết (MNC) thì:

    1. Công suất khả dụng (công suất có thể phát được) chỉ còn (56 ÷ 65)%. Lúc này, nếu có nhiều nước cũng không thể phát công suất lớn được.
    2. Tiêu hao nước tăng cao (167 ÷ 186) % (để phát được 1kWh ở mực nước thấp cần lượng nước gần 2 lần so với khi ở mực nước cao).
    3. Việc vận hành trong điều kiện cột nước thấp sẽ phát sinh các điều kiện làm việc bất lợi đối với thiết bị của nhà máy thủy điện.

     

    Hình  1 – Biểu đồ đặc tính năng lượng của nhà máy thủy điện (đường đỏ – công suất phát; đường xanh: mức độ tiêu hao nước)

    Các giải pháp có thể thực hiện:

    1. Giải pháp tức thời: tiết kiệm năng lượng

    • Các hộ dùng điện sử dụng điện tiết kiệm
    • Các nhà thủy điện: xác định chế độ phát điện tốt khi mực nước hồ thấp (tiết kiệm nước)

    2. Các giải pháp dài hạn:

    Với mục tiêu NetZero vào 2050, khi đó tỷ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống tăng cao thì vai trò của thủy điện lại càng đặc biệt quan trọng (khi không có các nguồn lưu trữ khác). Cần có giải pháp dài hạn trong vận hành các công trình hiện có và phát triển các công trình thủy điện mới:

    • Xác định lại chế độ vận hành của các nhà máy thủy điện khi tỷ trọng năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, …) trong hệ thống điện tăng cao;
    • Đánh giá hiện trạng chất lượng vận hành của các nhà máy thủy điện (đánh giá mức độ hiệu quả trong sử dụng nước), từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng vận hành;
    • Nâng cao khả năng dự báo thủy văn trong việc lập kế hoạch phát điện cho các nhà máy thủy điện (dài hạn và ngắn hạn);
    • Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong việc nâng cao chất lượng vận hành các nhà máy thủy điện;
    • Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án thủy điện tích năng. Tăng công suất quy hoạch của các nhà máy lưu trữ năng lượng, đặc biệt là các nhà máy thủy điện tích năng.

    3. Các giải pháp TLU đã thực hiện:

    • Nghiên cứu chế độ vận hành hợp lý (tối ưu, cận tối ưu) cho các nhà máy thủy điện, bậc thang nhà máy thủy điện
    • Tập huấn nâng cao chất lượng vận hành phát điện cho các nhà máy thủy điện (hình 2)
    • Xây dựng các công cụ hỗ trợ vận hành phát điện, chuyển giao cho các nhà máy thủy điện (Phần mềm: Vận hành tối ưu trạm thủy điện) (hình 3, 4)
    • Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác vận hành các nhà máy thủy điện. (hình 5)

    Hình  2 – Trường Đại học Thủy lợi tổ chức tập huấn nâng cao chất lượng vận hành phát điện cho các nhà máy thủy điện

    Hình  3 – Cán bộ vận hành theo dõi chỉ dẫn vận hành phát điện từ phần mềm Vận hành tối ưu trạm thủy điện

    Hình 4 – Kết quả ứng dụng sản phẩm khoa học công nghệ của Trường Đại học Thủy lợi trong vận hành nhà máy thủy điện

    Hình  5 – Tập thể giảng viên Bộ môn Thủy điện và năng lượng tái tạo – Trường Đại học Thủy lợi

    TS. Nguyễn Đức Nghĩa – Bộ môn Thủy điện và Năng lượng tái tạo

     Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi

  • Quản lý chất thải nhựa ngành Nông nghiệp, thực trạng và giải pháp

    Quản lý chất thải nhựa ngành Nông nghiệp, thực trạng và giải pháp

    Nông nghiệp và phát triển nông thôn là một trong những ngành kinh tế quan trọng của quốc gia. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp góp phần thiết yếu trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định đời sống và an sinh xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này cũng tạo áp lực lớn cho môi trường, trong đó có vấn đề chất thải nhựa trong ngành. Tổng lượng chất thải rắn (bao gồm chất thải nhựa) phát sinh từ trồng trọt khoảng 661,5 nghìn tấn/năm (gồm 550 nghìn tấn ni lông, 77,49 nghìn tấn vỏ bao bì phân bón và 33,98 nghìn tấn vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật); chất thải rắn phát sinh từ chăn nuôi là 67,93 triệu tấn, trong đó riêng chất thải nhựa 77 nghìn tấn từ nhựa vỏ bao bì thức ăn; thủy sản là 880 nghìn tấn bùn thải và 273 nghìn tấn chất thải nhựa từ bao bì thức ăn, vỏ thuốc thú y và các loại chất rắn khác.. Chính từ hiện trạng trên, cần thiết thúc đẩy các giải pháp hành động giảm thiểu chất thải nhựa ngành nông nghiệp một cách có hệ thống.

    Theo ông Phùng Đức Tiến – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các giải pháp này phải huy động nguồn lực của tất cả các bên nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động sản xuất, hướng tới phát triển nền sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững. Qua đó, góp phần xây dựng nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Thúc đẩy mô hình thu gom và tái chế hiệu quả

    Hiện nay, một số giải pháp đang triển khai tại nhiều địa phương, giúp giảm thiểu, thu gom, phân loại, tái sử dụng và tái chế chất thải trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

    Điển hình là mô hình thu gom rác thải nhựa trên tàu cá, kết nối với cơ sở thu hồi vật liệu tại Quy Nhơn (Bình Định), thuộc Dự án “Nhân rộng mô hình cộng đồng quản lý chất thải sinh hoạt và nhựa tại 5 thành phố” được tài trợ bởi UNDP Việt Nam và Đại sứ quán Nauy tại Việt Nam. Chất thải nhựa được tái chế thành các sản phẩm như: viên nén nhiêu liệu (RDF), các sản phẩm tái chế như: ngói lợp, gạch, hàng rào và các sản phẩm khác.

    Gạch tái chế từ cất thải nhựa- Dự án UNDP _DWP5C giai đoạn 2  (Ảnh: Phương Lan)

    Cụ thể, hoạt động gom rác thải nhựa trên tàu cá, kết nối với cơ sở thu hồi vật liệu giúp tận dụng lực lượng ngư dân thành thành viên trong tổ thu gom rác trên biển, giảm thiểu lượng chất thải nhựa trôi nổi, đem lại thu nhập cũng như gia tăng giá trị kinh tế cho nguồn chất thải có thể tái chế.

    Hay như mô hình chuyển đổi phao xốp trong nuôi trồng thủy sản sang vật liệu nổi theo quy chuẩn tại Quảng Ninh. Hoạt động này hướng tới việc thay thế dần vật liệu nhựa dùng một lần, khó thu gom và tái sử dụng bằng vật liệu đã tái chế, thân thiện với môi trường…

    Cán bộ Hải đội Biên phòng 2 BĐBP Quảng Ninh cùng đoàn viên thanh niên địa phương thu gom rác thải nhựa, phao xốp từ hoạt động nuôi trồng thủy sản trên biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Internet

    Ngoài ra, An Phát Bioplastics, doanh nghiệp số 1 Đông Nam Á trong lĩnh vực sản xuất bao bì màng mỏng đã mở rộng nghiên cứu, phát triển, sản xuất dòng sản phẩm sinh học phân hủy hoàn toàn, thân thiện với môi trường như: Túi sinh học phân hủy hoàn toàn, màng bọc thực phẩm, dao-thìa-nĩa sinh học phân hủy hoàn toàn Không chỉ vậy, sản phẩm màng nông nghiệp, lưới đánh cá từ nguyên liệu phân hủy sinh học AnBio cũng được nghiên cứu, sản xuất thành công đem lại giải pháp xanh cho ngành nông – ngư nghiệp.

    ​

    Túi lưới giữ rác thải nhựa trên tàu cá (Ảnh: Internet)

     Để thực hiện thành công kế hoạch quốc gia về giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành nông nghiệp, bà Ramla Khalidi – Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam khuyến nghị Việt Nam cần đẩy nhanh các giải pháp hiệu quả hướng tới kế hoạch quốc gia.

    Việt Nam cần xây dựng dữ liệu cơ sở về ô nhiễm nhựa và chất thải nhựa, cũng như hệ thống giám sát khả thi từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh để đánh giá quá trình giảm thiểu chất thải nhựa trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy những mô hình thu gom và tái chế hiệu quả, sử dụng vật liệu đóng gói thay thế cho nhựa dùng một lần trên đồng ruộng; tập huấn người dân và các bên liên quan trong nông nghiệp về tác động đến môi trường của nhựa cũng như sự sẵn có của các giải pháp thay thế.

    Nguyễn Thị Phương Lan

  • Lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi tham gia Hội nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện các tỉnh, thành phố có đê từ cấp III đến cấp đặc biệt năm 2023

    Lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi tham gia Hội nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện các tỉnh, thành phố có đê từ cấp III đến cấp đặc biệt năm 2023

    Hội nghị quán triệt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về các nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý đê điều, phòng chống thiên tai năm 2023; trao đổi, thảo luận nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, phát huy những sáng kiến kinh nghiệm tốt trong quá trình thực hiện.

    Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu khai mạc hội nghị

    Phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu lãnh đạo các huyện có đê trên toàn quốc cần nghiên cứu Chỉ thị số 1148/CT-BNN-ĐĐ của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc tăng cường công tác quản lý đê điều và chuẩn bị sẵn sàng hộ đê, chống lũ bão năm 2023. Thứ trưởng nhấn mạnh các địa phương cần theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, đặc biệt có phương án chủ động ứng phó với các sự cố bất thường xảy ra đối với 288 điểm xung yếu trên hệ thống 2.741km đê từ cấp 3 đến cấp đặc biệt; nếu có mưa lũ bất thường chắc chắn xảy ra sự cố thì phải có phương án khắc phục kịp thời. Bên cạnh đó, cần chú trọng tăng cường tuyên truyền tập huấn, nâng cao nhận thức từ cấp lãnh đạo đến các cán bộ quản lý, kỹ thuật và cộng đồng về ảnh hưởng của sự cố đê; nếu xảy ra sự cố sẽ ảnh hưởng hậu quả lớn đến cộng đồng và xã hội, mất ổn định đời sống nhân dân, thậm chí rất khó khăn để khôi phục thiệt hại trong hàng chục năm tới. Ngoài ra, trên phạm vi cả nước có gần 8.000 vụ vi phạm an toàn đê và số lượng các vụ ngày càng tăng, việc giải quyết còn nhiều tồn đọng (sạt lở, khai thác cát, lấn chiếm lòng sông, bãi sông), cần phải được Hội nghị bàn bạc, nhất trí và đồng lòng triển khai thực hiện.

    Đại diện Tổng cục Khí tượng thủy văn báo cáo về dự báo mưa, tình hình thời tiết, thủy văn năm 2023 và giai đoạn tiếp theo

    Lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị

    Bổ sung chỉ đạo của Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, Ông Phạm Đức Luận – Cục trưởng Cục Quản lý Đê điều và PCTT đề nghị lãnh đạo các địa phương cần quan tâm huy động nguồn lực, đánh giá trọng điểm các khu vực xung yếu; chuẩn bị vật tư, phương án xử lý sự cố đê; chỉ đạo phòng chức năng và các đơn vị chuyên môn rà soát, chuẩn bị phương án, vật tư và các phương án cụ thể, có kế hoạch kiểm tra thực tế các phương án để đảm bảo khi có sự cố sẽ kích hoạt triển khai được ngay các các phương án đã được cấp có thẩm quyền thông qua.

    Hiệu trưởng Trịnh Minh Thụ trao đổi với các đại biểu tham dự Hội nghị

    Trường Đại học Thủy lợi là cơ sở đào tạo, nghiên cứu hàng đầu cả nước trong lĩnh vực thủy lợi và phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trường đã tham gia thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất cho các địa phương để giải quyết các vấn đề thực tiễn, phục vụ xã hội. Kết quả của các đề tài dự án do Trường thực hiện đã được ứng dụng rộng rãi, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành và của đất nước.

    Tin bài và ảnh: Phòng KHCN&HTQT

  • Nghiệm thu kết quả nhiệm vụ theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”

    Nghiệm thu kết quả nhiệm vụ theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”

    Chiều ngày 01/6/2023, tại Văn phòng các Chương trình Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ đã diễn ra phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”, mã số NĐT.67/e-Asia19 do Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị Tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ: PGS.TS Hoàng Việt Hùng.

    PGS.TS Hoàng Việt Hùng – Chủ nhiệm nhiệm vụ báo cáo kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ

    Nhiệm vụ triển khai thực hiện từ đầu năm 2020 với mục tiêu:

    – Thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực tại Tả Van – Sa Pa và Tĩnh Túc – Cao Bằng. Xây dựng bản độ nhạy cảm trượt lở đất tỷ lệ 1/2000 cho khu vực trọng điểm sạt lở ở hai khu vực nghiên cứu.

    – Xây dựng quy trình công nghệ cảnh báo trượt lở đất theo thời gian thực.

    – Nâng cao năng lực hợp tác nghiên cứu giữa các nước trong khu vực.

    Qua 3 năm triển khai thực hiện, Nhiệm vụ đã đạt được nhiều kết quả là cơ sở quan trọng trong việc giúp xây dựng hoàn chỉnh các giải pháp phòng, chống trượt lở đất ở hai khu vực trọng điểm nghiên cứu, bao gồm cả các giải pháp công trình, các giải pháp phi công trình gồm quan trắc, ứng phó thiên tai, quy hoạch dân cư… Công bố 11 bài báo quốc tế thuộc danh mục SCIE/SCOPUS, 02 bài báo trên các Tạp chí trong nước có mã số ISSN và 02 bài đăng trên Hội thảo quốc tế; Hỗ trợ đào tạo 03 Tiến sĩ và 02 Thạc sĩ chuyên ngành Địa kỹ thuật/Trượt lở đất.

    Kết quả đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao về chất lượng khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn trong lĩnh vực quản lý và giảm nhẹ rủi ro thiên tai./.

      

    Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”, mã số NĐT.67/e-Asia19

    KHCN

  • Nữ TS Việt duy nhất trong top ảnh hưởng nhất thế giới

    Nữ TS Việt duy nhất trong top ảnh hưởng nhất thế giới

    Cuối năm 2022, TS. Lê Thái Hà được vinh danh trở thành người phụ nữ Việt duy nhất trong top 100.000 nhà khoa học có tầm ảnh hưởng nhất thế giới.

    TS Hà hiện là Giám đốc điều hành của giải thưởng VinFuture, sau gần 10 năm là giám đốc nghiên cứu và giảng viên cao cấp ở trường đại học. Chị cũng là nhà khoa học nữ duy nhất của Việt Nam trong danh sách 100.000 nhà khoa học có tầm ảnh hưởng nhất được Nhà xuất bản Elsevier công bố hồi tháng 10.

    Chị tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế, Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), Singapore, trong gần 3,5 năm và hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ trong hai năm với điểm số cao nhất khóa 4.92/5 – điều chưa từng xảy ra ở NTU. Khi đó, Thái Hà 24 tuổi.

    TS Hà hiện có hơn 70 bài báo nghiên cứu khoa học công bố trên các tạp chí học thuật quốc tế uy tín, gồm nhiều tạp chí hàng đầu trong các lĩnh vực kinh tế năng lượng, môi trường và kinh tế ứng dụng. Tất cả các bài báo nghiên cứu khoa học của chị đều thuộc danh mục ISI/Scopus, trong đó khoảng 85% thuộc nhóm Scopus Q1 hoặc ABDC (Australian Business Deans Council), với chất lượng nghiên cứu xếp hạng A/A*.

    St.

  • Nhiều đề tài có tính ứng dụng cao tham dự Hội nghị Khoa học sinh viên lần thứ 36

    Nhiều đề tài có tính ứng dụng cao tham dự Hội nghị Khoa học sinh viên lần thứ 36

    Hội nghị Khoa học sinh viên thu hút đông đảo sự quan tâm của các em sinh viên

    Nghiên cứu khoa học, ươm mầm các ý tưởng sáng tạo đã trở thành nhiệm vụ thiết yếu và là nhu cầu của tuổi trẻ, sinh viên Trường Đại học Thủy lợi, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong Nhà trường. Hội nghị Khoa học sinh viên Trường Đại học Thủy lợi dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban Giám hiệu đã trở thành hoạt động thường kỳ.

    Tiếp nối thành công của các kỳ hội nghị trước, năm học 2022-2023 phong trào nghiên cứu khoa học sinh viên với sự nỗ lực đặc biệt của các thầy cô giáo và các em sinh viên, đã đã nhận được số đề tài đăng ký kỷ lục với 263 đề tài. Tuy nhiên một số đề tài mặc dù đã cố gắng triển khai nhưng chưa kịp hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu.

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng nhận xét, đánh giá các đề tài tham dự Hội nghị cấp trường

    Với tiêu chí để Hội nghị cấp Khoa thực sự trở thành ngày hội nghiên cứu khoa học của sinh viên, để tôn vinh các ý tưởng sáng và khuyến khích tinh thần say mê nghiên cứu khoa học của sinh viên, Hội nghị cấp Khoa đã được tổ chức vào ngày thứ bảy (13/5/2023) với 24 tiểu ban. Nhìn chung, các tiểu ban tổ chức rất nghiêm túc, đảm bảo đúng quy trình, số lượng đề tài nghiên cứu tăng lên đáng kể so với những năm trước và có sự động đều hơn giữa các khoa. Cụ thể: Khoa Cơ khí có 38 đề tài, Khoa Công nghệ thông tin có 28 đề tài, Khoa Công trình có 28 đề tài, Khoa Điện – Điện tử có 41 đề tài, Khoa Hóa – Môi trường có 24 đề tài, Khoa Kinh tế và Quản lý có 48 đề tài, Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước có 18, Khoa Luật và Lý luận Chính trị có 14 đề tài, Ngành Ngôn ngữ Anh tuy mới tuyển sinh được 02 năm nhưng cũng đã động viên được 04 nhóm sinh viên tham gia. Đặc biệt, năm nay hòa cùng không khí Hội nghị khoa học sinh viên lần thứ 36, Phân hiệu Trường cũng có 19 đề tài tham gia. Các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên đã tiếp cận với nhiều vấn đề khoa học công nghệ mới, sản phẩm có khả năng ứng dụng cao. Phần lớn các báo cáo có chất lượng tốt, khả năng thuyết trình của sinh viên rất tự tin. Kết quả, có 78 đề tài đạt giải, trong đó có 23 đạt giải Nhất, đề tài đạt 26 giải Nhì và 29 đề tài đạt giải Ba cấp Khoa. Để có được con số ấn tương đó này ngoài sự nỗ lực của các em sinh viên còn phải kể để những đóng góp to lớn của các thầy, cô giáo, sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Giám hiệu, các phòng, khoa, ban trong Nhà trường.

    Các nhóm sinh viên báo cáo tại Hội nghị

    Năm nay có 10 đề tài xuất sắc đã được các Hội đồng cấp Khoa đánh giá cao và gửi tham gia xét giải cấp Trường diễn ra vào ngày 30/5, Hội đồng đã thống nhất chọn 01 giải Nhất, 02 giải Nhì, 03 giải Ba và 04 giải Khuyến khích. Lễ trao giải và khen thưởng dự kiến tổ chức vào ngày 9/6 tới đây.

    Link ảnh: TẠI ĐÂY 

    MT

  • Danh sách ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư năm 2023

    Danh sách ứng viên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư năm 2023

    Năm 2023 có 13 ứng viên nộp hồ sơ đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS tại HĐGSCS Trường Đại học Thủy lợi.

    Theo quy định tại Điều 11, Quyết định 37/2018/QĐ-TTg, Trường Đại học Thủy lợi công khai hồ sơ của các ứng viên.

    Chi tiết xin xem Tại đây

    TT

    Họ và tên ứng viên

    Đăng ký xét

    Link bản đăng ký xét công nhận chức danh

    Chức danh (GS/PGS)

    Ngành/Chuyên ngành

             I. Ứng viên Giáo sư

    1

      Bùi Quốc Lập

    GS

      Thủy lợi/Môi trường

    Link

    2

      Nguyễn Thị Kim Cúc

    GS

      Thủy lợi/Kỹ thuật môi trường

    Link

            II. Ứng viên Phó giáo sư

    1

      Lê Văn Chính

    PGS

      Thuỷ lợi/Kinh tế Thuỷ lợi

    Link

    2

      Lê Minh Thoa

    PGS

      Thuỷ lợi/Kinh tế Thuỷ lợi

    Link

    3

      Trương Đức Toàn

    PGS

      Thuỷ lợi/Kinh tế Thuỷ lợi

    Link

    4

      Nguyễn Thiện Dũng

    PGS

      Thủy lợi/Kinh tế thủy lợi

    Link

    5

      Nguyễn Đức Ngọc

    PGS

      Động lực/ Ô tô- máy kéo

    Link

    6

      Nguyễn Tiến Thành

    PGS

      Thủy lợi/Phòng chống thiên tai và thích   ứng với biến đổi khí hậu

    Link

    7

      Bùi Thị Kiên Trinh

    PGS

      Thủy lợi/Kỹ thuật và quản lý tài nguyên     nước

    Link

    8

      Nguyễn Ngọc Thắng

    PGS

      Kỹ thuật xây dựng

    Link

    9

      Đỗ Thị Mỹ Dung

    PGS

      Kỹ thuật xây dựng

    Link

    10

      Lâm Thanh Quang Khải

    PGS

      Kỹ thuật xây dựng

    Link

    11

      Phạm Đức Đại

    PGS

      Tự động hóa/ Điều khiển học

    Link

     

  • Thư mời viết bài Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường

    Thư mời viết bài Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường

    Kính gửi: Các nhà khoa học

    Tạp chí Khoa học kỹ thuật (KHKT) Thuỷ lợi và Môi trường (chỉ số ISSN 1859-3941)  – Trường Đại học Thủy lợi là tạp chí chuyên ngành hàng đầu, công bố các kết quả nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực:

    • Thủy lợi, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai;
    • Xây dựng dân dụng và công trình giao thông;
    • Cơ khí;
    • Điện – điện tử;
    • Công nghệ thông tin;
    • Hóa – môi trường;
    • Kinh tế và quản trị kinh doanh…

    Tạp chí xuất bản định kỳ 5 số/năm, gồm 04 số tiếng Việt (tháng 03, 06, 09, 12) và 01 số Tiếng Anh (xuất bản tháng 12).

    Với chất lượng các công bố trong nhiều năm qua, Tạp chí Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước các ngành: Thủy lợi, Giao thông vận tải, Xây dựng – Kiến trúc, Cơ khí – Động lực, Cơ học, Hóa học – Công nghệ thực phẩm tính điểm công trình KHCN từ 0,25 ÷ 1,0 điểm.

    Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thuỷ lợi và Môi trường – Trường Đại học Thủy lợi trân trọng kính mời các nhà khoa học công bố các kết quả nghiên cứu của mình. Các bài đăng trên Tạp chí đều được gửi phản biện kín bởi các chuyên gia có uy tín, được biên tập theo quy trình chặt chẽ.

    Thời gian nhận bài thường xuyên và liên tục trong năm. Thể lệ bài viết và các thông tin khác được đăng tải trên website: https://tapchivatuyentap.tlu.edu.vn/

    Thông tin liên hệ:

    Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thuỷ lợi và Môi trường – Trường Đại học Thủy lợi

    Địa chỉ: Số 175, phố Tây Sơn, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

    Điện thoại: (024) 35 638.158

    Email: [email protected]

    Website: https://tapchivatuyentap.tlu.edu.vn/

    Trân trọng./.

    ​​

  • Hội thảo xin ý kiến chuyên gia về kết quả nghiên cứu của đề tài NCKH cấp Bộ

    Hội thảo xin ý kiến chuyên gia về kết quả nghiên cứu của đề tài NCKH cấp Bộ

    Vừa qua, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức Hội thảo xin ý kiến chuyên gia về kết quả nghiên cứu của đề tài NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu đánh giá nguyên nhân, các biện pháp đã áp dụng và đề xuất giải pháp xử lý sự cố cống dưới đê đảm bảo an toàn chống lũ”, Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thắng

    Tham dự hội thảo có các đại biểu đến từ các đơn vị khoa học công nghệ  như Viện Thủy công – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam; Đại diện lãnh đạo và chuyên viên phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế – Trường Đại học Thủy lợi. Hội thảo đã thu hút được rất nhiều các nhà khoa học trong và ngoài trường tham gia thảo luận sôi nổi vì nội dung nghiên cứu của đề tài là một trong những chủ đề thời sự khi mùa mưa bão đang tới gần.

    PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng – Chủ nhiệm đề tài trình bày tóm tắt các kết quả đạt được của đề tài

    Đề tài đã thực hiện được các nội dung: 

    – Đánh giá được hiện trạng hư hỏng, sự cố cống dưới đê; 

    – Đánh giá được nguyên nhân sự cố và hiệu quả của các giải pháp đã áp dụng; từ đó đề xuất giải pháp công nghệ và quy trình xử lý sự cố cống dưới đê do các yếu tố: Thủy động lực học; do xói ngầm; do biến đổi cấu trúc nền; do hư hỏng khớp nối; do hư hỏng cục bộ các bộ phận kết cấu và do hư hỏng của van và thiết bị đóng mở.

    Sản phẩm của đề tài:

    – Bộ số liệu số Webgis về các cống đã xảy ra sự cố và các biện pháp xử lý đã được áp dụng

    – Thuyết minh dự thảo sổ tay kỹ thuật “hướng dẫn xử lý sự cố cống dưới đê”

    – Báo cáo chính và báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của Đề tài.

    Hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp thiết thực của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý đến từ Cục Quản lý đê điều và phòng chống thiên tai và xin tiếp thu, chỉnh sửa để hoàn thiện.

    Ban chủ nhiệm đề tài chụp ảnh kỷ niệm cùng các đại biểu

    Phòng KHCN&HTQT