Danh mục: Nghiên cứu

  • Kỷ niệm 78 năm Ngày truyền thống ngành Thủy lợi

    Kỷ niệm 78 năm Ngày truyền thống ngành Thủy lợi

    Toàn cảnh buổi gặp mặt

    Nhìn lại lịch sử, khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong tuyên cáo ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Bộ Giao thông Công chính – cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ về thủy lợi. Hệ thống thủy lợi giữ vai trò quan trọng, không thể thiếu trong việc phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu, đưa sản lượng nông nghiệp Việt Nam từ chỗ không đủ cung cấp nội địa đến trở thành một trong những nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hàng đầu.

    Theo Cục Thủy lợi, đến nay, cả nước đã xây dựng được hơn 900 hệ thống thủy lợi có quy mô phục vụ từ 200 ha trở lên. Trong đó, có 122 hệ thống thủy lợi vừa và lớn (hơn 2.000 ha). Bên cạnh đó, còn có hơn 86.200 công trình thủy lợi, gồm: 6.750 hồ chứa, 592 đập dâng, 19.416 trạm bơm, 27.754 cống, 16.057 đập tạm, 291.013 km kênh mương, 16.573 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tập trung. Ngoài ra, trên hầu hết các lưu vực sông đều có hệ thống hồ chứa tham gia phòng chống lũ với tổng dung tích cắt, giảm lũ cho hạ du ở các hồ chứa lớn khoảng 14,6 tỷ mét khối nước.

    Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Thủy lợi

    Cùng với đó, hệ thống đê sông hiện có 9.242 km, 1.035 km kè, 1.563 cống dưới đê và hơn 30 nghìn cống bọng, 28 nghìn trạm bơm nội đồng tưới, tiêu kết hợp; hàng nghìn ki-lô-mét bờ bao, phục vụ chống lũ, ngăn mặn, tiêu thoát nước ở đồng bằng sông Cửu Long. Qua đánh giá, các công trình, hệ thống công trình thủy lợi, phòng chống thiên tai đã góp phần cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, bảo vệ dân sinh, sản xuất, cải thiện môi trường, nhất là góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ quốc gia thiếu lương thực, trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

    Sau thời gian xây dựng kỹ lưỡng, bảo đảm chất lượng, Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 847/QÐ-TTg ngày 14/7/2023. Mục tiêu đến năm 2023 của Quy hoạch là cấp nước tưới chủ động cho lúa hai vụ với tần suất bảo đảm 85%, riêng vùng đồng bằng sông Hồng từ 85 đến 90%; cấp nước tưới bảo đảm cho 70% diện tích cây trồng cạn; nâng dần tần suất bảo đảm tưới cho rau màu lên 90%; bảo đảm cấp đủ nước cho gia súc, gia cầm với khoảng 10,5 triệu con; bảo đảm tiêu thoát nước qua công trình thủy lợi cho khoảng 3,5 triệu héc-ta sản xuất nông nghiệp…

    Phát biểu tại buổi gặp mặt, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chỉ ra bốn thời cơ với ngành thủy lợi, đó là: Thứ nhất, ngành thủy lợi được tiếp thu nền tảng vững chắc của những người đi trước, nền tảng không chỉ được trong nước mà cả thế giới thừa nhận. Thứ hai, đến thời điểm này có cả Luật Thủy lợi và Quy hoạch Thủy lợi, cùng với đó là các chỉ đạo đầy đủ từ Đảng và Nhà nước về công tác thủy lợi. Thứ ba, những vấn đề đặt ra về biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế nóng đặt ra nhiều mặt trái, nhưng cũng là cơ hội cho ngành thủy lợi. Thứ tư, các cán bộ trong ngành thủy lợi là những người có nhiều kinh nghiệm.

    Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu tại buổi gặp mặt

    Tuy nhiên, bên cạnh đó, ngành thủy lợi cũng có nhiều thách thức như việc xác định hướng đi và lộ trình của ngành là câu chuyện khó. Thách thức thứ hai là câu chuyện về nhân lực trong vòng 5 đến 10 năm tới là vấn đề lớn của ngành. Hiện, số sinh viên học ngành thủy lợi rất ít nên trong giai đoạn khoảng 10 năm tới ngành có thể không còn nhân lực.

    Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh trước mắt ngành thủy lợi cần tập trung vào một số công trình lớn như đập dâng Sông Hồng, xây dựng phương án chuyển nước tại Đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu các công trình kiểm soát mặn, ngọt tại cửa Hàm Luông, cửa Vàm Cỏ. Ngành thủy lợi cần nghiên cứu các giải pháp và từng bước biến các thách thức thành cơ hội. Về nguồn nhân lực, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đề xuất ngành thủy lợi có thể đặt hàng đào tạo 50-100 sinh viên về các ngành cần cho thủy lợi để giải quyết vấn đề lớn này của ngành.

    Kỷ niệm 78 năm ngày truyền thống ngành thủy lợi Việt Nam là cơ hội để mỗi người làm công tác thủy lợi nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của ngành để viết tiếp các trang lịch sử hào hùng, phấn đấu hoàn thành tốt sứ mệnh “Thủy lợi đi đến đâu, đói nghèo ra đi đến đấy”.

    HNN (mard.gov.vn)

  • Hướng dẫn tra cứu các tạp chí quốc tế và nhà xuất bản quốc tế uy tín

    Hướng dẫn tra cứu các tạp chí quốc tế và nhà xuất bản quốc tế uy tín

    A. Danh mục các tạp chí quốc tế và Nhà xuất bản quốc tế uy tín

    1. Danh mục tạp chí Web of Science – ISI

    Web of Science (WoS), còn được gọi là ISI, được rộng rãi thừa nhận và sử dụng để đánh giá chất lượng của các tạp chí khoa học. Bắt đầu từ những năm 1960, ISI chỉ bao gồm SCI (Science Citation Index), sau đó được mở rộng thành SCIE (Science Citation Index Expanded). Hiện nay, WoS-ISI bao gồm thêm SSCI (Social Science Citation Index), A&HCI (Arts & Humanities Citation Index), và gần đây nhất là ESCI (Emerging Sources Citation Index).

    Tuy nhiên, 3 danh mục trọng tâm (flagship) của WoS-ISI chỉ bao gồm SCIE/SCI, SSCI và AHCI. Trong khi đó, ESCI là danh mục của các nguồn mới nổi, bao gồm các tạp chí chưa đủ điều kiện vào 3 danh mục uy tín và lâu đời phía trên, nhưng được cộng đồng giới học thuật giới thiệu hay yêu cầu đưa vào.

    Để kiểm tra tạp chí có thuộc danh mục SCIE/SCI, SSCI, AHCI, ESCI hay không, nhà khoa học có thể vào link http://mjl.clarivate.com/ và tìm kiếm theo tên tạp chí hoặc số P-ISSN của tạp chí. Click vào “Coverage” của kết quả tìm kiếm phù hợp (nếu có) để lấy thông tin về danh mục cụ thể của tạp chí. Nếu không có kết quả tìm kiếm phù hợp, tức là tạp chí đó không nằm trong WoS-ISI.

    Chú ý, chỉ các tạp chí thuộc danh mục SCIE/SCI hoặc SSCI mới có Impact Factor (IF). Chỉ số này của các tạp chí được cập nhật hàng năm trong Journal Citation Reports. Chỉ số IF càng cao thì được hiểu là chất lượng của tạp chí đó càng tốt. 

    Tra chỉ số IF của Tạp chí: 

    https://www.scijournal.org/index.html

    2. Danh mục tạp chí Scopus

    Scopus được xây dựng từ tháng 11 năm 2004 và thuộc sở hữu của Nhà xuất bản Elsevier (Hà Lan). Bên cạnh WoS-ISI, Scopus cũng là một danh mục được rộng rãi sử dụng để đánh giá chất lượng các tạp chí khoa học.

    Để kiểm tra tạp chí có thuộc danh mục Scopus hay không, nhà khoa học có thể vào link https://www.scopus.com/sources và tìm kiếm theo tên tạp chí hoặc số P-ISSN của tạp chí. Nếu không có kết quả tìm kiếm phù hợp, tức là tạp chí đó không nằm trong danh mục Scopus.

    Cần lưu ý, tạp chí khoa học (Journals) chỉ là một trong các sản phẩm khoa học thuộc danh mục Scopus bên cạnh Book Series, Conference Proceedings, Trade Publications. Nhà khoa học cần kiểm tra mục Source Type để đảm bảo tạp chí thuộc mục Journals. Ngoài ra, nhà khoa học có thể dùng bộ lọc của kết quả tìm kiếm để biết được tạp chí thuộc quartile nào (Q1, Q2, Q3 hoặc Q4) tại mục Display Options.

    3. Danh mục tạp chí ABS

    ABS Rankings (từ 2015 trở đi còn được gọi là AJG Rankings) là một bảng xếp hạng chất lượng các tạp chí, được công bố hàng năm bởi Hiệp hội các trường đại học Kinh doanh (Chartered Association of Business Schools). ABS/AJG có 4 hạng là 4, 3, 2, 1. Các tạp chí có hạng 4 sẽ có chất lượng tốt nhất, tiếp đến là các tạp chí có hạng 3, 2, và cuối cùng là hạng Đặc biệt, trong mỗi lĩnh vực, có một vài tạp chí đạt hạng 4* là các tạp chí hàng đầu thế giới về lĩnh vực đó.

    Để kiểm tra, nhà khoa học vào link https://charteredabs.org/academic-journal- guide-2018-view/ (cần phải tạo tài khoản và đăng nhập) và tìm kiếm theo tên tạp chí hoặc số P-ISSN của tạp chí. Cột Rankings sẽ hiển thị thứ hạng mới nhất của tạp chí.

    4. Danh mục tạp chí ABDC

    ABDC Journal Quality List là danh mục các tạp chí chất lượng của Hội đồng Trưởng khoa Kinh doanh các trường đại học Úc (Australian Business Deans Council). ABDC có 4 hạng: A*, A, B, C. Các tạp chí có hạng A* sẽ có chất lượng tốt nhất, tiếp đến là các tạp chí có hạng A, B, và cuối cùng là C.

    Để kiểm tra, nhà khoa học vào link https://abdc.edu.au/research/abdc-journal-list/ và tìm kiếm theo tên tạp chí hoặc số P-ISSN của tạp chí. Trong kết quả tìm kiếm được (nếu có), cột Rating sẽ hiển thị thứ hạng mới nhất của tạp chí.

    5. Danh mục nhà xuất bản quốc tế có uy tín

    Các tạp chí được xuất bản bởi một số nhà xuất bản sau đây thường cũng sẽ là các tạp chí uy tín như: Springer; Elsevier; Wiley-Blackwell; Taylor and Francis; Sage; Oxford University Press; Cambridge University Press; Emerald; Macmillan Publishers; Inderscience Publishers; Edward Elgar Publishing; Degruyter; World Scientific….

    Ngoài ra, các nhà xuất bản của 100 trường đại học hàng đầu thế giới theo xếp hạng của Times Higher Education World University Rankings (THE) do tạp chí Times Higher Education (Anh) hợp tác với Thomson Reuters bình chọn hàng năm cũng thuộc các Nhà xuất bản có uy tín.

    B. Kiểm tra thứ hạng SJR của các tạp chí quốc tế

    Nhóm nghiên cứu SCImago (SCImago Research Group) xây dựng chỉ số SCImago Journal Rank (SJR) nhằm đo lường mức độ uy tín của các tạp chí khoa học. Scimago Journal Rank có 4 hạng Quartile: Q1, Q2, Q3, Q4. Các tạp chí thuộc Q1 sẽ có chất lượng tốt nhất, tiếp đến là các tạp chí thuộc Q2, Q3, và cuối cùng là Q4. Để kiểm tra, Nhà Khoa học vào link http://www.scimagojr.com/index.php và tìm kiếm theo tên tạp chí hoặc số P-ISSN của tạp chí. Click vào kết quả tìm kiếm phù hợp (nếu có), kéo xuống Quartiles và để chuột vào ngành tương ứng của bài báo và năm mới nhất, trang web sẽ hiển thị số liệu Quartile cần thiết.

    C. Các nhà xuất bản/tạp chí “tai tiếng”, kém chất lượng

    Một số nhà xuất bản/tạp chí “tai tiếng” (predatory) được cảnh báo để các Nhà khoa học cân nhắc trước khi gửi bài, tránh ảnh hưởng đến uy tín sau này. Nhà khoa học có thể truy cập danh sách này tại: https://beallslist.net/ và https://predatoryjournals.com/

    Ngoài danh mục tạp chí “tai tiếng” được liệt kê ở hai trang web trên, hiện nay cũng có hiện tượng một số tạp chí truy cập mở (Open-Access) kém chất lượng gửi email mời chào các tác giả đăng bài với mức phí xử lý bài cao. Một số tạp chí loại này vẫn đang thuộc danh mục ISI/Scopus; nhưng trong tương lai nhiều khả năng những tạp chí này sẽ bị rút ra khỏi danh mục ISI/Scopus và bị đưa vào danh sách Beallslist.

    Nguồn: HƯỚNG DẪN TRA CỨU CÁC TẠP CHÍ QUỐC TẾ VÀ NHÀ XUẤT BẢN QUỐC TẾ UY TÍN

  • Thông báo lớp Tập huấn về Sở hữu trí tuệ, Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ  tại Trường Đại học Thủy lợi

    Thông báo lớp Tập huấn về Sở hữu trí tuệ, Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ tại Trường Đại học Thủy lợi

    Trân trọng kính mời các anh chị em giảng viên và nghiên cứu viên của Trường Đại học Thủy Lợi tham dự lớp Đào tạo Tập huấn về Sở hữu trí tuệ, Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ do Trường ĐHTL phối hợp với Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp, Hội Nữ trí thức Việt Nam tổ chức. Đây là một trong những hoạt động của Chương trình phát triển Tài sản trí tuệ của Bộ KH&CN do Cục Sở hữu trí tuệ quản lý.

    Thời gian: 8h30 – 16h30, thứ Sáu, ngày 25 tháng 8 năm 2023

    Địa điểm: Hội trường T35, Trường Đại học Thủy lợi

    Rất mong các anh chị tham dự lớp Tập huấn đúng giờ.

    Mọi thông tin chi tiết xin vui lòng liên hệ với: TRUNG TÂM ỨNG DỤNG KHCN VÀ KHỞI NGHIỆP, HỘI NỮ TRÍ THỨC VIỆT NAM

    Người liên hệ: C. Vân, tel: 0913597827

    CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TẬP HUẤN SỞ HỮU TRÍ TUỆ, THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    KHOA HỌC VÀ ĐÀM PHÁN HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

    Thời gian

    Nội dung

    Người thuyết trình

    8h30 – 8h35

    Nêu lý do và nội dung chương trình

    8h35 – 10h50

    Sáng chế và khai thác thông tin sáng chế phục vụ hoạt động nghiên cứu và triển khai

    Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Giám đốc Trung tâm thông tin sở hữu công nghiệp, Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ KH&CN

    10h50 – 11h30

    Hỏi và đáp

    Chiều

    13h30 – 14h30

    Nhận diện và xác lập quyền SHTT đối với kết quả nghiên cứu khoa học

    TS. Nguyễn Thị Hoàng Hạnh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ,  tư vấn Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ KH&CN

    14h30 – 15h00

    Hỏi và đáp

    15h00 – 16h00

     – Phương thức thương mại hóa kết qủa nghiên cứu khoa học

    – Kỹ năng đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ thành công

    Bà Lê Thị Khánh Vân, Nguyên Phó Cục trưởng Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp, Hội Nữ TTVN

    16h00 – 16h30

    Hỏi và đáp

  • Ngày 28/8 – Ngày truyền thống của ngành Thủy lợi Việt Nam

    Ngày 28/8 – Ngày truyền thống của ngành Thủy lợi Việt Nam

    Vào ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Tuyên cáo thành lập Bộ Giao thông Công chính có chức năng giúp Chính phủ quản lý công tác thuỷ lợi cùng với giao thông và bưu điện, đó chính là tiền thân của Bộ Thủy lợi và của ngành Thủy lợi Việt Nam.

    Đập Lòng Sông – Một niềm tự hào của Thủy lợi Việt Nam

    Tháng 9/1955, Quốc hội khoá I đã Quyết định tách Bộ Giao thông Công chính thành 2 Bộ: Bộ Giao thông và Bưu điện, Bộ Thuỷ lợi và Kiến trúc và đến ngày 29/4/1958, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa I ra Nghị quyết tách Bộ Thủy lợi và Kiến trúc thành hai Bộ: Bộ Thủy lợi và Bộ Kiến trúc. Từ đây Thuỷ lợi là một ngành kinh tế kỹ thuật độc lập có nhiệm vụ thống nhất quản lý trên toàn lãnh thổ các công việc liên quan đến nguồn tài nguyên nước, khai thác mặt lợi và chế ngự mặt hại, bao gồm cả thủy nông, thủy điện, cấp thoát nước cho công nghiệp và thành phố.

    Tháng 10/1995, Kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá IX đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Thuỷ lợi. Ngày 1/11/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 73-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ NN&PTNT: “Là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn”. Đến năm 2007, Bộ Thủy sản cũng đã hợp nhất vào Bộ NN&PTNT. Để tôn vinh và giáo dục truyền thống, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1135/QĐ-TTg ngày 21/8/2008 lấy ngày 28/8 hàng năm là “Ngày truyền thống của ngành thủy lợi Việt Nam”.

    Nguồn: Tổng hợp Internet

  • Nguy cơ từ 337 hồ chứa hư hỏng, vận hành hồ thủy lợi kiểu ‘lái mù’ gây lũ chồng lũ

    Nguy cơ từ 337 hồ chứa hư hỏng, vận hành hồ thủy lợi kiểu ‘lái mù’ gây lũ chồng lũ

    Nhiều hồ thủy lợi trên cả nước xuống cấp chưa được sửa chữa cộng với việc bị động dự báo mưa, dòng chảy về hồ là nguyên nhân gây ‘lũ chồng lũ’.

    Hồ Vực Mấu (Nghệ An) xả lũ năm 2022 - Ảnh: DOÃN HÒA

    Hồ Vực Mấu (Nghệ An) xả lũ năm 2022 – Ảnh: DOÃN HÒA

    Nhiều ý kiến của các chuyên gia, địa phương được chia sẻ tại hội thảo Quản lý An toàn đập, hồ chứa thủy lợi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại TP Vinh, Nghệ An ngày 10-8.

    337 hồ chứa hư hỏng

    Hội thảo diễn ra trong bối cảnh các địa phương có số lượng hồ chứa lớn nhưng việc nâng cấp, sữa chữa hồ đập trước mùa mưa bão đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.

    Ông Nguyễn Đăng Hà – Trưởng phòng An toàn đập và hồ chứa nước, Cục Thủy lợi – cho biết từ năm 2003 đến nay ngành Thủy lợi cả nước đã sửa chữa hơn 1.500 hồ chứa lớn có dung tích 3 triệu m3 trở lên, với tổng kinh phí khoảng 30.000 tỉ đồng.

    Tuy nhiên, qua rà soát vẫn còn 337 hồ chứa bị hư hỏng chưa được bố trí nguồn vốn để sửa chữa nâng cấp, tiềm ẩn nguy cơ vỡ hồ, đập.

    Các hồ bị xuống cấp, hư hỏng nặng tập trung vào nhóm hồ vừa và nhỏ, được xây dựng từ những năm 70-80 của thế kỷ trước.

    Hiện nay, khu vực hạ du đang hình thành các đô thị, thành phố dẫn đến hệ quả hành lang thoát lũ của các hồ chứa thủy lợi đang bị thu hẹp lại. Lưu lượng xả của các hồ chứa nếu xả theo thiết kế sẽ gây ngập lụt cho hạ du”, ông Hà nói.

    Theo ông Hà, việc dự báo tình hình mưa, bão, lũ ở nhiều nơi cũng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế khiến các địa phương gặp nhiều khó khăn khi đưa ra những kịch bản, chủ động phân xả lũ, ngăn lũ.

    “Các hồ thủy điện, hồ thủy lợi cần hoàn thiện cơ chế vận hành và thông tin đến người dân một cách kịp thời, tránh tình trạng xả lũ xong mới báo để người dân trở tay không kịp”, ông Hà kiến nghị.

    Ông Nguyễn Quốc Dũng nêu các thách thức trong vận hành hồ chứa ở Việt Nam - Ảnh: DOÃN HÒA

    Ông Nguyễn Quốc Dũng nêu các thách thức trong vận hành hồ chứa ở Việt Nam – Ảnh: DOÃN HÒA

    Bị động dự báo mưa, dòng chảy về hồ

    Cùng quan điểm với ông Hà, ông Nguyễn Quốc Dũng – Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam – nêu ra thách thức trong vận hành hồ chứa gắn với yêu cầu chống lũ ở hạ du, đặc biệt quy trình vận hành liên hồ chứa trên cùng lưu vực.

    “Chúng ta đang bị động trong công tác quan trắc dự báo, cảnh báo mưa và dòng chảy về hồ. Điều này dẫn tới việc các chủ hồ đang vận hành hồ theo kiểu “lái mù”, nghĩa là mưa thì mở cửa xả lũ, không mưa thì đóng cửa. Hệ quả gây ra những rủi ro như xả lũ nhân tạo, lũ chồng lũ cho hạ du”, ông Dũng nói.

    Theo ông Nguyễn Tùng Phong – Cục trưởng Cục Thủy lợi, trong số 7.342 đập, hồ thủy lợi trong cả nước mới chỉ có 28% hồ có phương án ứng phó với tình huống khẩn cấp và 12% số hồ lắp đặt thiết bị thông tin, cảnh báo an toàn cho đập và vùng hạ du.

    Chỉ ra những thách thức trong vận hành hồ chứa, đặc biệt khi biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, ông Phong đề nghị các địa phương cần theo dõi sát diễn biến thời tiết, làm tốt công tác dự báo, cảnh báo và đưa ra quyết định tích nước, xả lũ để “vừa đảm bảo an toàn hồ đập, vừa đảm bảo nguồn nước cho mùa khô”. 

    “Bộ sẽ tổng hợp ý kiến của các tỉnh, chuyên gia kiến nghị Chính phủ, Bộ Tài chính tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn; tính đúng, tính đủ giá dịch vụ thủy lợi chứ không để ngành cứ mãi ăn đong được”, ông Phong nói.

    Ông Phong cho biết thêm Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang ưu tiên kinh phí để xây dựng quy trình vận hành thông minh cho bốn hồ chứa lớn quan trọng đặc biệt, liên quan đến an ninh quốc gia gồm hồ Dầu Tiếng, Cửa Đạt, Ngàn Trươi và Tả Trạch.

    Nếu duy trì vận hành tốt sẽ tạo ra năng lực dự báo tốt, qua đó tiến tới khai thác, sử dụng hiệu quả công trình đạt chuẩn đa mục tiêu. Đây là hình mẫu để các địa phương, các cơ quan quản lý áp dụng theo.

    Nguồn: Nguy cơ từ 337 hồ chứa hư hỏng, vận hành hồ thủy lợi kiểu ‘lái mù’ gây lũ chồng lũ – Tuổi Trẻ Online (tuoitre.vn)

  • Hội thảo quản lý An toàn đập, hồ chứa thủy lợi

    Hội thảo quản lý An toàn đập, hồ chứa thủy lợi

    Sáng 10/8, tại thành phố Vinh, Cục Thủy lợi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hội thảo Quản lý an toàn đập, hồ chứa thủy lợi.

    Hiện cả nước có 6.570 hồ chứa thủy lợi, trong đó hồ chứa nhỏ chiếm đến 63%. Nhiều hồ chứa do các địa phương quản lý xuống cấp hư hỏng, năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý hồ còn yếu, trong khi đó diễn biến thời tiết phức tạp khó lường… Đây là những nguyên nhân gây mất an toàn hồ chứa khi mùa mưa lũ về.

    Đồng chí Nguyễn Tùng Phong – Cục trưởng Cục Thủy lợi phát biểu đề dẫn tại hội thảo

    Các báo cáo tham luận hội nghị đã cung cấp thông tin, gợi ý những đề xuất, kiến nghị về quản lý hiệu quả và nâng cao an toàn đập. Quản lý an toàn đập theo tiếp cận an toàn xả lũ cho hạ du. Điều chỉnh quy trình vận hành để nâng cao hiệu quả khai thác các hồ chứa đặc biệt.

    Với những khó khăn bất cập được đưa ra tại hội thảo, các đại biểu đại diện cho 45 tỉnh, thành và các cơ quan chuyên môn đã đưa ra nhiều giải pháp trong công tác quản lý, vận hành đảm bảo an toàn đập và hạ du. Trong đó, các đại biểu đã tập trung thảo luận về việc nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo mưa lũ, hiện đại hóa công tác quản lý, khai thác hồ đập, nâng năng lực cho đội ngũ quản lý hồ chứa do địa phương quản lý, sửa chữa, nâng cấp hồ chứa… hướng đến vận hành hồ chứa theo diễn biến thực tế đáp ứng yêu cầu an toàn công trình, giảm thiểu thiệt hại cho vùng hạ du.

    Thông qua hội thảo, các đơn vị quản lý nhìn lại công tác quản lý, đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn hồ chứa trong điều kiện diễn biến thời tiết phức tạp, khó lường như hiện nay.

    Toàn cảnh hội thảo

    Nguồn: Nâng cao hiệu quả quản lý an toàn đập, hồ chứa thủy lợi – Đài phát thanh và truyền hình Nghệ An (truyenhinhnghean.vn)

  • Thị ủy Quảng Yên: Làm việc với Trường Đại học Thủy lợi nghiên cứu giải pháp tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực Hà Nam

    Thị ủy Quảng Yên: Làm việc với Trường Đại học Thủy lợi nghiên cứu giải pháp tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực Hà Nam

    Tham dự có Đồng chí Hồ Văn Vịnh, Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy, Chủ tịch HĐND TX Quảng Yên; PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng, Viện trưởng viện Kỹ thuật công trình – Trường Đại học Thủy lợi, đồng chủ trì. Đồng chí Phạm Lê Hưng, Phó Bí thư Thường trực Thị ủy; Các đồng chí Phó Chủ tịch UBND thị xã cùng dự.

    Quảng Yên nằm ở khu vực cửa sông, gần biển, phần lớn diện tích được bao bọc, bảo vệ bởi hệ thống các tuyến đê dài 70km, hệ thống bãi triều ngoài đê có hơn 3.000ha đầm nuôi trồng thủy sản…. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, Quảng Yên đã và đang triển khai nhiều dự án hạ tầng giao thông, KCN, dẫn đến chế độ thủy văn, dòng chảy thay đổi làm ảnh hưởng đến khả năng vận hành của hệ thống tiêu thoát nước trên địa bàn toàn thị xã nói chung, nhất là khu vực Hà Nam. Do vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cho việc tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, có tính đến sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của TX Quảng Yên nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chung.

    Quang cảnh buổi làm việc

    Tại buổi làm việc, PGS.TS Ngô Lê Long, Chủ nhiệm đề tài, đã giới thiệu và báo cáo tiến độ thực hiện Đề tài. Nhấn mạnh thực trạng toàn bộ khu vực Hà Nam của TX Quảng Yên hiện hầu như chưa có hệ thống thoát nước mưa, chủ yếu là chẩy tràn trên bề mặt tự nhiên và thoát ra kênh rạch, ao hồ xung quanh khu dân cư, một số cụm dân cư đã xây rãnh thoát nước chung kiểu tự xây nhưng không đồng bộ, không đáp ứng được nhu cầu thoát nước, nhiều chỗ ứ đọng gây ô nhiễm môi trường.

    PGS.TS Ngô Lê Long, cũng nhấn mạnh đến nguyên nhân xẩy ra tình trạng ngập lụt khu vực Hà Nam: lượng mưa lớn; thủy triều; cao độ địa hình thấp, hệ thống tiêu thoát nước đã cũ, xuống cấp, nhiều tuyến cống trong khu dân cư bị lấn chiếm, bị bồi lấp…; tốc độ đô thị hóa nhanh; chưa có quy trình vận hành khoa học cho 9 cống tiêu đầu mối; hệ thống hạ tầng kỹ thuật thoát nước đầu tư manh mún, chưa khớp nối đồng bộ; công tác duy tu, bảo dưỡng, nạo vét các tuyến kênh chưa được đầu tư kịp thời; nguồn lực đầu tư cho công tác này còn hạn chế.

    Các đại biểu dự họp nghiên cứu bằng bản đồ kết quả mô phỏng hiện trạng ngập lụt khu vực Hà Nam

    Một số định hướng và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Xây dựng hệ thống thoát nước chung các khu dân cư Nam Hòa, Phong Hải, Liên Vị. Các tuyến cống bao thu gom nước thải từ các cống hiện hữu dẫn về tuyến cống chính (theo Quy hoạch mới) và đưa về trạm xử lý; trạm xử lý phân kỳ xây dựng theo các giai đoạn; xây dựng các giếng tách nước mưa trên các tuyến cống bao chạy dọc theo các kênh thoát nước. Xây dựng hệ thống thoát nước riêng  cho các khu dân cư mới.

    Giải pháp ngập lụt: cải tạo, nâng cấp các tuyến thu gom nước mưa hiện có tại các tiểu khu để đảm bảo không bị ngập với  trận mưa có chu kỳ lặp lại 2 năm; Cải tạo các kênh, nhánh thu gom nước mưa hiện có để đảm bảo không bị ngập với trận mưa có chu kỳ lặp lại 5 năm; Cải tạo các kênh, sông chính thu gom nước mưa hiện có để đảm bảo khôn bị ngập với trận mưa có chu kỳ lặp lại 10 năm;  cải tạo các ao, hồ có chức năng điều tiết; Rà soát lại diện tích phục vụ, quy mô, vị trí của 5 trạm bơm (đã có trong quy hoạch); xây dựng quy trình vận hành khoa học cho 9 cống thoát nước đầu mối.

    Đồng chí Phạm Lê Hưng, Phó Bí thư Thường trực Thị uỷ phát biểu tại buổi làm việc

    Đồng chí Lê Mạnh Tuyến, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thị xã phát biểu tại buổi làm việc.

    Tại cuộc làm việc, các đồng chí lãnh đạo TX Quảng Yên đã phát biểu, đưa ra nhiều ý kiến tâm huyết, thực tế trước thực trạng của TX Quảng Yên đối với việc ngập lụt, giảm thiểu môi trường, những đặc điểm về điều kiện tự nhiên của Quảng Yên tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra thiên tai.v.v.

     

    Đồng chí Hồ Văn Vịnh, Bí thư Thị ủy, Chủ  tịch HĐND TX Quảng Yên phát biểu tại buổi làm việc.

    Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Hồ Văn Vịnh, Bí thư Thị ủy, Chủ tịch HĐND TX Quảng Yên thay mặt các đồng chí lãnh đạo thị xã đánh giá cao Đề tài nghiên cứu. Đồng chí nhấn mạnh: TX Quảng Yên luôn băn khoăn, lo lắng và luôn luôn tìm các giải pháp để việc tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường- nhất là các địa phương khu vực Hà Nam, để đảm bảo, ổn định đời sống của người dân. Do vậy, việc xây dựng Đề tài nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, có tính đến việc biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của TX Quảng Yên. Đồn chí mong muốn đơn vị tư vấn tiếp tục cập nhật những cơ sở pháp lý, cũng như hiện trạng hiện hữu của Quảng Yên, giúp cho thị xã có giải pháp thực hiện nhiệm vụ này.

    Về nhiệm vụ cụ thể, đồng chí giao các các cơ quan chuyên môn của thị xã phối hợp chặt chẽ với nhóm nghiên cứu đề tài để cung cấp dữ liệu, cung cấp hiện trạng cũng như thực trạng các khu vực trong thị xã để nhóm nghiên cứu thực hiện Đề tài nghiên cứu, mô phỏng giúp cho Quảng Yên sớm nhận diện rõ những thực trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cũng như việc tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường…một cách đồng bộ, để Quảng Yên chủ động với mọi tình huống thiên tai xẩy ra./

    Nguồn: https://www.quangninh.gov.vn/donvi/TXQuangYen/Trang