Vừa qua, Cục Sở hữu trí tuệ – thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ – đã cấp Bằng giải pháp hữu ích số 4828 cho sáng chế “Quy trình sản xuất hạt tảo để ứng dụng trong thiết bị nội thất hỗ trợ cải thiện chất lượng không khí”. Chủ bằng là Phạm Thị Hồng, giảng viên Trường Đại học Thủy lợi; trong đó trường Đại học Thủy lợi đồng thời là đơn vị đồng sở hữu bằng độc quyền.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng, chất lượng không khí trong nhà đang trở thành vấn đề đáng quan tâm. Nhiệt độ nền tăng cao cùng với sự xâm nhập của các chất ô nhiễm từ bên ngoài như bụi mịn, SO₂ và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (PAH) khiến hệ thống thông khí hiện có thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải, đặc biệt tại những không gian đông người. Đồng thời, sự suy giảm nguồn nhiên liệu hóa thạch cũng hạn chế khả năng vận hành các hệ thống thông khí công suất lớn. Vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp bổ trợ để cải thiện chất lượng không khí trong nhà là hết sức cần thiết.
Sáng chế thuộc lĩnh vực sinh học môi trường này đề xuất một giải pháp mới: sản xuất và ứng dụng hạt tảo trong thiết bị nội thất nhằm hỗ trợ thanh lọc không khí. Tảo vi sinh như Chlorella vulgaris, Nannochloropsis oculata, Dunaliella salina hay Synechococcus elongatus có khả năng quang hợp mạnh, hấp thụ CO₂, giải phóng O₂ và loại bỏ các hợp chất hữu cơ độc hại trong không khí. Ngoài ra, tảo còn có màu sắc đa dạng, phù hợp tích hợp vào thiết kế nội thất.
Điểm mới của sáng chế nằm ở quy trình tạo hạt tảo trên môi trường rắn dạng hạt, trong đó tảo được cố định trong một nền vật liệu có khả năng hấp thụ và nhả chậm các chất dinh dưỡng như nitơ và phospho. Nhờ đó, tảo duy trì trạng thái sống chậm, kéo dài tuổi thọ và hoạt động ổn định hơn so với các phương pháp trước đây vốn chỉ phục vụ nghiên cứu ngắn hạn hoặc bảo quản giống.
Các hạt tảo sau khi tạo thành có thể được tích hợp vào các thiết bị nội thất như đèn chiếu sáng hoặc vật trang trí, vừa mang tính thẩm mỹ, vừa góp phần cải thiện chất lượng không khí trong không gian sống.
Sáng chế mở ra hướng tiếp cận mới trong việc kết hợp công nghệ sinh học với thiết kế nội thất bền vững, góp phần xây dựng môi trường sống xanh và thân thiện hơn.
Vừa qua, đoàn giảng viên Trường Đại học Thủy lợi đã tham dự vòng Chung kết Cuộc thi Đổi mới sáng tạo khoa học và công nghệ các nước Lancang – Mekong tại thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), để lại nhiều dấu ấn chuyên môn và mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế.
Đội thi Trường Đại học Thủy lợi
Đoàn gồm các giảng viên Khoa Công trình: TS. Trương Hồng Sơn, PGS.TS. Đào Văn Hưng, TS. Nguyễn Phương Dung, TS. Phan Khánh Linh và TS. Lê Hồng Phương.
Cuộc thi năm nay thu hút hơn 200 đội đến từ 6 quốc gia trong khu vực gồm Trung Quốc, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Sau các vòng tuyển chọn khắt khe, 120 đội xuất sắc bước vào Bán kết theo hình thức trực tuyến và chỉ 60 đội tiêu biểu được lựa chọn tham gia vòng Chung kết.
Tại vòng thi quyết định, các đội được chia thành hai bảng: Team Group và Enterprise Group, quy tụ đông đảo nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp có năng lực nghiên cứu – đổi mới sáng tạo trong khu vực.
Đại diện Trường Đại học Thủy lợi tham gia bảng Team Group với dự án đề xuất giải pháp công trình trữ nước ngọt kết hợp kiểm soát lũ và ngăn mặn cho các vùng cửa sông lớn tại Đồng bằng sông Cửu Long. Dự án thể hiện định hướng gắn kết nghiên cứu khoa học với nhu cầu thực tiễn, đồng thời phát huy thế mạnh của Nhà trường trong lĩnh vực thủy lợi, tài nguyên nước và kỹ thuật công trình.
Tại Chung kết, đoàn đã trình bày dự án trước Hội đồng giám khảo quốc tế với phong thái tự tin, lập luận khoa học rõ ràng và cách tiếp cận liên ngành. Tham gia sân chơi khoa học – công nghệ tầm khu vực không chỉ là dịp giới thiệu kết quả nghiên cứu mà còn tạo cơ hội để các thành viên học hỏi kinh nghiệm từ những mô hình nghiên cứu có tính ứng dụng cao và định hướng phát triển dài hạn.
Đội thi trình bày báo cáo tại vòng Chung kết trước Ban giám khảo Cuộc thi
Thông qua các phiên báo cáo và trao đổi chuyên môn, đoàn đã mở rộng góc nhìn học thuật, tích lũy thêm kinh nghiệm nghiên cứu, đồng thời tăng cường kết nối với cộng đồng khoa học quốc tế. Đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và phát triển trong thời gian tới.
Trong khuôn khổ chương trình, đoàn công tác cũng đã làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vân Nam và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Lancang – Mekong – các đơn vị tổ chức cuộc thi. Bên cạnh đó, đoàn đã đến thăm và trao đổi với Công ty Đường cao tốc Sơn Đông (Shandong Hi-Speed Ltd) chi nhánh Vân Nam, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng và vận hành hạ tầng giao thông hiện đại.
Tại các buổi làm việc, các bên đã trao đổi về khả năng hợp tác trong nghiên cứu khoa học, tổ chức hội thảo chuyên ngành, phối hợp đào tạo và kết nối nguồn lực. Các đối tác bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với Trường Đại học Thủy lợi, mở ra nhiều cơ hội phát triển trong thời gian tới.
Tặng quà Bà Liu Chang – Phó Giám đốc Sở Khoa học công nghệ tỉnh Vân Nam
Đội thi trao đổi cùng Trung tâm Đổi mới sáng tạo Lancang-Mekong
Đội thi đến thăm và làm việc với Công ty Đường cao tốc Sơn Đông
Việc góp mặt tại vòng Chung kết không chỉ khẳng định năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học Nhà trường, mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh một cơ sở đào tạo năng động, chủ động hội nhập và có tiềm năng hợp tác quốc tế. Đây cũng là động lực quan trọng thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo của Trường Đại học Thủy lợi trong giai đoạn tiếp theo./.
Ngày 05/02/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí, hướng dẫn kỹ thuật sử dụng đường ống dẫn nước trong công trình thuỷ lợi vùng trung du và miền núi”.
Hội đồng nghiệm thu gồm có 07 thành viên do GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh – Hội Thủy lợi Việt Nam, làm Chủ tịch Hội đồng. Đến dự phiên họp có Bà Nguyễn Giang Thu – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
PGS. TS. Đặng Minh Hải – Chủ nhiệm đề tài, thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung và kết quả của nhiệm vụ
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 291.013 km kênh mương các loại, trong đó hệ thống đường ống chỉ chiếm khoảng 1.200 – 2.910 km, tương đương từ 0,5-1%, còn lại chủ yếu là kênh đất. Thực tế, việc sử dụng đường ống trong hệ thống thủy lợi sẽ đem đến nhiều lợi ích như: bảo đảm nguồn nước cả về lượng và chất ở những nơi có địa hình phức tạp, bị chia cắt; phù hợp với xu hướng hiện đại hóa và công nghệ hóa; giảm thiểu chi phí sửa chữa khi có thiên tai. Đặc biệt, hệ thống đường ống rất thích hợp để xây dựng tại khu vực đất dốc, khu vực miền núi và trung du, hoặc khu vực chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang cây công nghiệp. Vì vậy, cần tăng cường các biện pháp đẩy mạnh ứng dụng đường ống trong hệ thống thủy lợi tại nước ta.
Nhằm thúc đẩy việc sử dụng đường ống trong công trình thủy lợi, nâng cao hiệu quả đầu tư và tính bền vững tại khu vực trung du và miền núi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí, hướng dẫn kỹ thuật sử dụng đường ống dẫn nước trong công trình thuỷ lợi vùng trung du và miền núi”, với 2 mục tiêu chính:
Xây dựng bộ tiêu chí để lựa chọn giải pháp cấp nước tưới bằng đường ống cho vùng trung du và miền núi;
Đề xuất giải pháp kỹ thuật sử dụng đường ống cấp nước tưới hợp lý phục vụ đầu tư xây dựng hiệu quả công trình thuỷ lợi cho khu vực trung du và miền núi.
Các kết quả đạt được của nhiệm vụ bao gồm:
Báo cáo đánh giá thực trạng sử dụng đường ống cấp nước tưới ở vùng trung du và miền núi;
Sổ tay hướng dẫn lựa chọn giải pháp, kỹ thuật sử dụng đường ống cấp nước tưới hợp lý cho khu vực trung du và miền núi (Bao gồm Bộ tiêu chí định tính và định lượng để lựa chọn giải pháp cấp nước tưới bằng đường ống cho vùng trung du và miền núi; Giải pháp kỹ thuật sử dụng đường ống cấp nước tưới hợp lý phục vụ đầu tư xây dựng hiệu quả công trình thuỷ lợi cho khu vực trung du và miền núi; Phần mềm OSPI hỗ trợ bố trí, thiết kế và quản lý vận hành công trình cấp nước tưới bằng đường ống);
Dự thảo TCVN: Tiêu chí và yêu cầu kỹ thuật bố trí, thiết kế và quản lý vận hành đường ống trong công trình thuỷ lợi;
Áp dụng thiết kế 02 hệ thống thuỷ lợi (được ứng dụng bộ tiêu chí, sổ tay hướng dẫn và phần mềm hỗ trợ để lựa chọn giải pháp, bố trí, thiết kế và quản lý vận hành đường ống cấp nước tưới);
Báo cáo tổng kết và tóm tắt kết quả thực hiện của đề tài;
08 công bố trên tạp chí chuyên ngành và hội nghị trong nước;
Hỗ trợ đào tạo 02 Thạc sĩ và 01 Nghiên cứu sinh.
Kết quả của đề tài đã góp phần bổ sung cơ sở lý luận về sử dụng đường ống trong hệ thống thủy lợi, thúc đẩy ứng dụng đường ống nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và tính bền vững của công trình thủy lợi vùng trung du và miền núi. Theo đó, mức đảm bảo tưới được tăng lên cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phương pháp canh tác hợp lý sẽ gia tăng thu nhập của người nông dân, góp phần cải thiện điều kiện kinh tế – xã hội và môi trường của người dân vùng trung du và miền núi.
Nguyễn Giang Thu – Phó Vụ trưởng Vụ KH&CN – Bộ NN&MT phát biểu tại phiên họp Hội đồng
Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm đề tài và Cơ quản chủ trì; báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt được trình bày khoa học, cấu trúc hợp lý và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Các sản phẩm về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng đều đạt yêu cầu. Hội đồng nghiệm thu thống nhất đánh giá đề tài ở mức “Đạt”. Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu các ý kiến góp ý của Hội đồng và hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường ra quyết định công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Ngày 04/02/2026, Vụ Khoa học và Công nghệ – Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: ” Nghiên cứu mô phỏng ngập lũ cho vùng Nam Trung Bộ, áp dụng cho lưu vực điển hình”, mã số ĐTKHCN.15/35/23.
Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 07 thành viên do GS.TS. Trần Đình Hoà, Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là Chủ tịch Hội đồng.
TS. Đặng Thị Kim Nhung thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của nhiệm vụ
Vùng Nam Trung Bộ có đặc điểm địa hình hẹp ngang, sông ngắn và dốc, đồng bằng ven biển thấp trũng, cửa sông thường xuyên bị bồi lấp, khiến khả năng tiêu thoát lũ rất hạn chế. Khi xuất hiện mưa lớn, dòng chảy tập trung nhanh, thời gian truyền lũ ngắn, dễ gây ngập sâu và thiệt hại nghiêm trọng ở hạ lưu. Trong những năm gần đây, tác động của biến đổi khí hậu cùng với quá trình đô thị hóa nhanh đã làm thay đổi mạnh mẽ điều kiện dòng chảy tự nhiên, làm gia tăng tần suất và cường độ mưa cực đoan. Nhiều trận lũ lịch sử như các năm 1996, 2009, 2013, 2016, 2020 và 2024 đã gây ngập lụt trên diện rộng, thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống dân sinh và phát triển kinh tế – xã hội của khu vực.
Hiện nay, hệ thống hồ chứa, công trình thủy lợi và hạ tầng phòng chống thiên tai ở vùng Nam Trung Bộ vẫn còn hạn chế, thiếu sự phối hợp đồng bộ trong vận hành. Bên cạnh đó, công tác dự báo và cảnh báo ngập lụt phần lớn còn dựa trên kinh nghiệm, thiếu công cụ mô phỏng hiện đại có khả năng cập nhật, tích hợp dữ liệu thực tế và hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng. Trong khi đó, khu vực này lại là vùng kinh tế – xã hội trọng điểm của cả nước, tập trung nhiều đô thị, khu công nghiệp, hạ tầng giao thông và du lịch ven biển. Việc đảm bảo an toàn phòng chống lũ, giảm nhẹ thiệt hại và thích ứng với biến đổi khí hậu vì thế trở thành một yêu cầu cấp bách, mang tính chiến lược.
Trước thực tế đó, việc nghiên cứu và xây dựng bộ công cụ mô phỏng ngập lụt cho vùng Nam Trung Bộ, áp dụng cho lưu vực điển hình là hết sức cần thiết. Bộ công cụ này, với sự tích hợp giữa các mô hình thủy văn – thủy lực (1D – 2D) và công nghệ GIS, viễn thám, WebGIS, sẽ giúp mô phỏng chính xác quá trình mưa – dòng chảy – ngập lũ, cho phép xác định được vùng ngập và hỗ trợ cảnh báo sớm ngập lụt. Kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang giá trị thực tiễn cao, phục vụ công tác quy hoạch phát triển hạ tầng, quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.
Đề tài “Nghiên cứu mô phỏng ngập lũ cho vùng Nam Trung Bộ, áp dụng cho lưu vực điển hình” được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó, góp phần nâng cao năng lực dự báo, điều hành và quản lý ngập lụt ở quy mô vùng, tạo cơ sở khoa học và công nghệ cho việc ra quyết định, đảm bảo an toàn dân cư, phát triển bền vững và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu ở khu vực Nam Trung Bộ với Các mục tiêu:
(1) Đánh giá thực trạng và nguyên nhân gây lũ, ngập lũ các lưu vực sông vùng Nam Trung Bộ.
(2) Xây dựng được bộ công cụ tính toán, mô phỏng lũ, ngập lụt vùng Nam Trung Bộ để phục vụ công tác cảnh báo sớm.
(3) Áp dụng thí điểm cho 01 lưu vực sông điển hình ở Nam Trung Bộ.
Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:
Sản phẩm khoa học 1: Báo cáo đánh giá thực trạng và nguyên nhân gây lũ, ngập lũ các lưu vực sông vùng Nam Trung Bộ
Sản phẩm khoa học 2: Bộ công cụ hỗ trợ công tác cảnh báo sớm lũ, ngập lụt trên lưu vực sông vùng Nam Trung Bộ: Áp dụng cho lưu vực sông Kôn-Hà Thanh
Sản phẩm khoa học 3: Báo cáo đề xuất giải pháp ứng phó lũ, ngập lũ trên các lưu vực sông vùng Nam Trung Bộ: áp dụng cho lưu vực sông Kôn-Hà Thanh
Sản phẩm khoa học 4: Bộ số liệu cơ bản phục vụ đánh giá, tính toán, mô phỏng lũ, ngập lụt các lưu vực sông cho vùng Nam Trung Bộ
Báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt.
02 công bố trên Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thuỷ lợi và Môi trường, Trường Đại học Thuỷ lợi, số 95 (9/2025), số 96 (T12/2025);
Hỗ trợ đào tạo 02 Thạc sĩ và 01 nghiên cứu sinh.
Các sản phẩm của đề tài đóng góp vào quản lý lũ cả trong ngắn hạn (dự báo, cảnh báo) và trong dài hạn (giải pháp) cũng như các định hướng về chính sách dựa trên các đánh giá về nguyên nhân ngập lũ trên các lưu vực sông trong vùng Nam Trung Bộ. Các sản phẩm sẽ trợ giúp các nhà quản lý ở Trung ương và địa phương định ra các quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững thích ứng với lũ trên các lưu vực sông; Góp phần thực hiện thành công chiến lược Quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai mà cụ thể là thiên tai lũ, lụt và ngập úng và bảo vệ môi trường cho vùng Nam Trung Bộ.
Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Bộ.
Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.
Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài đạt “Đạt”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường ra quyết định công nhận kết quả nhiệm vụ.
Ngày 04/02/2026, Vụ Khoa học và Công nghệ – Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: ” Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả lấy nước, chuyển nước vào sông Đáy”.
Hội đồng họp đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 07 thành viên do GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh, Hội Thủy lợi Việt Nam là Chủ tịch Hội đồng.
TS. Lưu Văn Quân thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của nhiệm vụ
Hiện tại, lưu vực sông Đáy có 3 hệ thống tiếp nguồn lớn (hệ thống Cẩm Đình-Hiệp Thuận có nhiệm vụ lấy nước vào sông Đáy với lưu lượng 30÷100m3/s; Cống Liên Mạc có nhiệm vụ cấp nước cho hệ thống thủy lợi sông Nhuệ với lưu lượng thiết kế là 36,25m3/s; Hệ thống Tắc Giang có nhiệm vụ cấp nước, tạo nguồn trong mùa kiệt và lấy sa trong mùa lũ cấp nước cho sông Châu Giang, sông Đáy với lưu lượng thiết kế 69,61m3/s), tuy nhiên do mực nước sông Hồng trong những năm gần đây thường thấp các công trình này không lấy được nước theo thiết kế. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương đã phải trang bị hàng loạt trạm bơm dã chiến để tiếp nguồn, tăng đầu nước cho các công trình lấy nước, trữ nước vào các ao hồ, trục sông và cả ngành thủy lợi phải căng mình ra chống hạn. Bên cạnh đó lưu vực sông Đáy còn là khu vực quan trọng đối với công tác phòng chống lũ cho thủ đô Hà Nội nói riêng và toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng – sông Thái Bình nói chung.
Mặc dù đã có một số nghiên cứu gần đây liên quan đến xác định nguyên nhân và giải pháp ứng phó tình trạng hạ thấp mực nước, giải pháp cho phòng chống lũ cho các lưu vực sông tuy nhiên do mỗi lưu vực sông đều có những đặc điểm khác nhau về thời tiết, khí hậu, thảm phủ, chế độ thủy văn, thủy lực, địa chất lòng dẫn cũng như phương thức quản lý lưu vực nên phương thức tiếp cận cũng như hướng giải quyết vấn đề có nhiều khác nhau. Và riêng đối với lưu vực sông Đáy và cụm công trình đầu mối thì chưa có nghiên cứu đầy đủ và chi tiết đối với các giải pháp giải pháp công trình, phi công trình nâng cao hiệu quả lấy nước mùa kiệt, chuyển nước mùa lũ vào sông Đáy.
Trước thực tế đó, việc nghiên cứu các giải pháp giải pháp công trình, phi công trình nâng cao hiệu quả lấy nước mùa kiệt, chuyển nước mùa lũ vào sông Đáy là hết sức cần thiết.
Đề tài “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả lấy nước, chuyển nước vào sông Đáy” được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó, với Các mục tiêu:
Đánh giá hiệu quả hoạt động và các tác động đến hoạt động của cụm đầu mối sông Đáy trong điều kiện hiện tại và dự báo đối với tương lai.
Nghiên cứu, phân tích thực trạng và yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế, xã hội lưu vực sông Đáy
Nghiên cứu đánh giá tác động diễn biến dòng chảy mùa lũ và mùa kiệt đến hiệu quả hoạt động của cụm đầu mối sông Đáy.
Nghiên cứu phân tích, đánh giá và lựa chọn các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả lấy nước mùa kiệt, chuyển nước mùa lũ vào sông Đáy.
Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:
Sản phẩm khoa học 1: Báo cáo đánh giá hiệu quả hoạt động của cụm đầu mối sông Đáy
Sản phẩm khoa học 2: Báo cáo đề xuất các giải pháp công trình, phi công trình nâng cao hiệu quả lấy nước mùa kiệt vào sông Đáy, đảm bảo cấp nước phục vụ sản xuất, dân sinh và cải thiện môi trường
Sản phẩm khoa học 3: Báo cáo đề xuất các giải pháp công trình, phi công trình đảm bảo chống lũ nội tại và thoát được lưu lượng 2500 m3/s trong trường hợp chuyển lũ từ sông Hồng vào sông Đáy
Sản phẩm khoa học 4: Bản đồ và bản vẽ các giải pháp nâng cao hiệu quả lấy nước, chuyển nước vào sông Đáy
Báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt.
Đăng được 02 bài báo trên Tạp chí Khí tượng Thủy văn, số 771, tháng 03/2025, tr. 65-77, ISSN 2525-2208 và Tạp chí Khoa học Kỹ thuât Thủy lợi & Môi trường, số 95, tháng 9/2025, tr. 131-137, ISSN 1859 -3941);
Hỗ trợ đào tạo 02 Thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước tại trường Đại học Thủy lợi.
Các Sản phẩm của đề tài đóng góp giúp các cơ quan quản lý đưa ra các quyết định chính xác và kịp thời về: (1) Vận hành điều tiết lũ, phân lũ an toàn và hiệu quả (vừa chống lũ vừa cấp nước); (2) Cảnh báo, dự báo lũ, ngập lụt chính xác hơn, giúp giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản; (3) Đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình để giảm thiểu rủi ro (xây dựng đê, kè, phân lũ, di dời dân cư).
Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.
Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài “Đạt”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường ra quyết định công nhận kết quả nhiệm vụ.
Một số ảnh trong buổi họp đánh giá, nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả lấy nước, chuyển nước vào sông Đáy”
Nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Thủy lợi gồm 5 giảng viên Khoa Công trình đã xuất sắc lọt vào vòng Bán kết Cuộc thi Đổi mới sáng tạo Khoa học và Công nghệ các nước Lancang – Mekong (Lancang – Mekong Countries Science and Technology Innovation Competition), một sân chơi khoa học công nghệ quốc tế uy tín nhằm thúc đẩy các ý tưởng đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển bền vững và quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông Mekong. Nhóm nghiên cứu do TS. Trương Hồng Sơn – Trưởng nhóm, cùng các thành viên gồm PGS. TS Đào Văn Hưng, TS. Nguyễn Phương Dung, TS. Phan Khánh Linh và TS. Lê Hồng Phương đều là các giảng viên, nhà khoa học có chuyên môn sâu trong lĩnh vực công trình thủy và thủy động lực học.
Sản phẩm dự thi của Nhóm mang tên “Nghiên cứu phát triển công nghệ đập thuyền để xây dựng hệ thống hồ trữ nước ngọt – phòng lụt – ngăn mặn ở vùng cửa sông lớn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long”. Dự án đề xuất một giải pháp công trình thủy đa chức năng dựa trên hệ thống caisson di động, có khả năng tích trữ nước ngọt ven biển trong điều kiện bình thường và linh hoạt chuyển sang chế độ đập chắn triều, chắn nước dâng bão khi xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan. Giải pháp này hướng tới việc giảm xâm nhập mặn, tăng cường an ninh nguồn nước, hạn chế khai thác nước ngầm và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời được xây dựng trên cơ sở mô hình hóa thủy động lực hình thái hiện đại và kinh nghiệm quốc tế.
Nhóm trình bày bài dự thi vòng Bán kết vào chiều ngày 29/01/2026
Chiều ngày, 29/01/2026 Nhóm dự thi của TLU đã trình bày báo cáo trước Hội đồng Ban giám khảo, cùng các đội thi đến từ các nước trong lưu vực Langcang – Mekong, đã được lựa chọn qua các vòng loại nghiêm ngặt của Ban tổ chức. Việc lọt vào vòng Bán kết cuộc thi không chỉ khẳng định năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thủy lợi, mà còn cho thấy vai trò tiên phong của nhà trường trong việc đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ phục vụ các bài toán lớn về tài nguyên nước, phòng chống thiên tai và phát triển bền vững vùng cửa sông, ven biển Việt Nam.
Nghiên cứu ứng dụng dự án cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Mô hình hóa hệ thống động lực các cửa sông Đồng bằng sông Cửu Long
Hình ảnh minh họa một phần các kết quả tính toán và phân tích mà nhóm nghiên cứu đạt được. Từ cơ sở lý thuyết đến ứng dụng thực tiễn, phát triển từ một nhánh sông đơn lẻ (sông Hàm Luông) đến toàn bộ hệ thống cửa sông của Đồng bằng sông Cửu Long./.
Đề tài: “Nghiên cứu đặc tính tan rã và cơ chế xói lở của đất đắp mái đập hạ lưu vùng Nam Trung Bộ và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý” Mã số: ĐTĐL.CN-50/22 là đề tài cấp nhà nước thuộc Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học Biển giai đoạn 2017 – 2025 – Lĩnh vực Khoa học trái đất (chương trình 562).
Các thông tin chính:
Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học và Công nghệ
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Thủy lợi
Chủ nhiệm: PGS. TS Hồ Sỹ Tâm
Năm 2022, đề tài được Bộ Khoa học và Công nghệ đặt hàng với 03 mục tiêu chính:
Xác định được đặc điểm thành phần vật chất, đặc tính tan rã của đất đắp đập vùng Nam Trung Bộ;
Làm rõ nguyên nhân, cơ chế xói lở mái hạ lưu đập đất do đặc tính tan rã của đất đắp vùng Nam Trung Bộ;
Đề xuất được các giải pháp, công nghệ để xử lý xói lở mái hạ lưu đập do đặc tính tan rã của đất đắp đập.
Sau 03 năm thực hiện, ban chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu đã hoàn thành khối lượng theo đề xuất và đạt được các kết quả khoa học nổi bật sau:
Xây dựng bản đồ phân bố đất tan rã khu vực NTB từ kết quả khảo sát hiện trạng và thí nghiệm hiện trường (dữ liệu bản đồ);
Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu (mức độ tan rã, thành phần vật chất, chỉ tiêu cơ lý) đất tan rã khu vực NTB từ các kết quả thí nghiệm trong phòng và hiện trường (dữ liệu web);
Giải thích được nguyên nhân và cơ chế xói phổ biến khu vực NTB: xói mặt, xói rãnh, xói bậc thang, xói hố sụt thông qua kết quả thí nghiệm máng kính giàn mưa;
Đề xuất các giải pháp và qui trình công nghệ xử lý tính tan rã của đất, vật liệu phối trộn và tỷ lệ phối trộn hợp lý cho từng loại đất;
Xây dựng “Tài liệu hướng dẫn, kiểm tra, xử lý xói lở mái hạ lưu do đặc tính tan rã của đất vùng Nam Trung Bộ”.
Bản đồ phân bố xói lở và tan rã khu vực Nam Trung Bộ
Website dữ liệu đề tài
Nghiệm thu đề tài cấp nhà nước
Đề tài nghiệm thu cấp cơ sở tại trường Đại học Thủy lợi ngày 26/11/2025, nghiệm thu cấp nhà nước ngày 15/01/2026 tại Bộ Khoa học Công nghệ và được các hội đồng thông qua với mức đạt. Các kết quả đề tài được hội đồng đánh giá có hàm lượng khoa học cao và có ý nghĩa thực tiễn trong lĩnh vực quản lý an toàn đập, an ninh nguồn nước khu vực Nam Trung Bộ./.
Với tốc độ tăng công bố quốc tế khoảng 20% mỗi năm, xuất hiện các bài báo trên Science, Nature và sự hình thành hàng chục nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng, Chương trình 562 đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong phát triển khoa học cơ bản. Hội thảo khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức sáng 19/12 tập trung đánh giá kết quả giai đoạn 2017–2025, đồng thời kiến nghị các giải pháp chính sách cho giai đoạn tiếp theo.
Phát biểu khai mạc, ông Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên (Bộ KH&CN), nhấn mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản là nền tảng lâu dài của khoa học và công nghệ quốc gia, giữ vai trò then chốt đối với phát triển khoa học ứng dụng, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong các lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học Trái đất và Khoa học biển (Chương trình 562), được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 562/QĐ-TTg, bắt đầu triển khai thực chất từ năm 2019. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Chương trình đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Về công bố khoa học, số lượng và chất lượng bài báo quốc tế tăng trung bình khoảng 20% mỗi năm; đã có các công bố trên những tạp chí hàng đầu thế giới như Science, Nature. Số lượt trích dẫn quốc tế gia tăng, phản ánh tác động khoa học và mức độ hội nhập của đội ngũ nghiên cứu Việt Nam. Đáng chú ý, hai tạp chí khoa học trong lĩnh vực Hóa học và Khoa học Trái đất của Việt Nam đã được đưa vào hệ thống SCOPUS, góp phần nâng cao vị thế tạp chí khoa học trong nước.
Về vị thế khoa học, Việt Nam tiếp tục duy trì thứ hạng tương đối cao trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xếp từ thứ 38–50 thế giới, thứ 10–12 châu Á và thứ 3–5 khu vực ASEAN, cho thấy hiệu quả của việc đầu tư có trọng điểm cho khoa học cơ bản.
Ông Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên phát biểu khai mạc Hội thảo
Về phát triển tiềm lực nghiên cứu, thông qua 95 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, Chương trình 562 đã góp phần hình thành khoảng 90 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó nhiều nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng từng bước khẳng định năng lực nghiên cứu độc lập, hội nhập quốc tế và gắn kết chặt chẽ nghiên cứu với đào tạo sau đại học. Đến nay, khoảng 70/95 đề tài đã được nghiệm thu; các đề tài còn lại đang hoàn thiện theo quy định, nhiều kết quả đã được đưa vào thử nghiệm và có định hướng ứng dụng rõ ràng.
Trong lĩnh vực Hóa học, các nghiên cứu tập trung vào xử lý chất độc hại môi trường, phát triển vật liệu mới phục vụ y dược, hóa học xanh, góp phần thực hiện Công ước Stockholm. Khoa học sự sống ghi nhận việc xây dựng nhiều cơ sở dữ liệu quan trọng như cơ sở dữ liệu hệ gen người Việt Nam, dữ liệu hệ gen phục vụ chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh, dữ liệu độc chất học môi trường và cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tích hợp vào hệ thống GBIF.
Ở Khoa học Trái đất và Khoa học biển, các nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao, bao gồm: xây dựng tiêu chí lồng ghép yếu tố sinh thái và biến đổi khí hậu trong quy hoạch sử dụng đất; xác định bể chứa cacbon hữu cơ tại Đồng bằng sông Hồng; đánh giá tiềm năng khoáng sản vàng ẩn sâu; xây dựng tiêu chí phân vùng cảnh quan biển, đảo phục vụ phát triển kinh tế biển xanh; nghiên cứu cơ chế hình thành bão và dự báo mưa lớn, gió mạnh tại miền Trung.
Theo ông Trần Quốc Cường, những kết quả nêu trên càng có ý nghĩa trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá chiến lược, trong đó khoa học cơ bản là nền tảng tri thức; các nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu trẻ là lực lượng nòng cốt quyết định năng lực cạnh tranh khoa học quốc gia trong trung và dài hạn. Chương trình 562, được xây dựng từ Nghị quyết 46/NQ-CP của Chính phủ, đã tạo nền tảng thực tiễn quan trọng để triển khai tinh thần Nghị quyết 57, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, bảo đảm tính ổn định dài hạn của nhiệm vụ nghiên cứu và chính sách phát triển đội ngũ khoa học trẻ.
Các đại biểu trình bày tham luận tại Hội thảo
Tại Hội thảo, nhiều tham luận chuyên sâu đã được trình bày, tập trung làm rõ vai trò của các nhóm nghiên cứu trẻ trong nâng cao tiềm lực khoa học cơ bản, với sự tham gia của các trường đại học, viện nghiên cứu lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường Đại học Thủy lợi.
Các ý kiến, đề xuất tại Hội thảo được kỳ vọng sẽ đóng góp thiết thực cho Bộ KH&CN trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản sau năm 2025, với trọng tâm là đầu tư có chọn lọc cho các hướng nghiên cứu mũi nhọn; xây dựng cơ chế dài hạn, ổn định cho các nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu trẻ; tăng cường gắn kết nghiên cứu với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế.
Các đại biểu chụp hình lưu niệm
Hội thảo không chỉ là dịp tổng kết Chương trình 562, mà còn là diễn đàn quan trọng để cộng đồng khoa học trao đổi, đề xuất giải pháp và kiến nghị chính sách cho giai đoạn phát triển tiếp theo của khoa học cơ bản Việt Nam.
Trung tâm Truyền thông KH&CN – Bộ Khoa học và công nghệ
Ngày 19/12/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu đề tài KH&CN cấp Quốc gia: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long”, mã số ĐTĐL.CN-37/22 do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì, Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Văn Chín.
Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 09 thành viên do GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh, Hội Thủy lợi Việt Nam/Ban Chủ nhiệm Chương trình KC.14/21-30, làm Chủ tịch Hội đồng.
GS.TS. Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng thay mặt lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại buổi nghiệm thu
Trong những năm gần đây hạn, mặn đã xuất hiện với tần xuất dày hơn và cường độ lớn hơn, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng ĐBSCL. Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn (nồng độ dưới 2‰) đã ảnh hưởng đến tất cả các tỉnh vùng ĐBSCL trong tháng 3/2016 và diễn ra khốc chưa từng có trong lịch sử vào mùa khô năm 2020, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất (trên 160.000 ha đất canh tác bị nhiễm mặn), ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân (khoảng 600.000 hộ dân không đủ nước sinh hoạt). Có đến 5 tỉnh, thành đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp thiên tai, vựa lúa gạo lớn nhất cả nước đang đối mặt với thách thức lớn.
Hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước có thể xảy ra thường xuyên hơn và khốc liệt hơn trong những năm tới, bởi vậy một mặt cần nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất bền vững hơn trong điều kiện hạn mặn, mặt khác cần có các giải pháp xây dựng các công trình tích trữ nước ngọt chủ động đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trong các tháng mùa khô ở ĐBSCL. Chính vì vậy đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long” là rất cần thiết. Nghiên cứu không đi sâu nghiên cứu các giải pháp trữ nước tổng thể trên phạm vi và qui mô lưu vực, mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các giải pháp tích trữ nước phân tán trong nội vùng sản xuất.
PGS.TS. Lê Văn Chín – Chủ nhiệm đề tài thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của đề tài.
Để chủ động ứng phó với tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước, một mặt cần nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất bền vững hơn trong điều kiện hạn mặn, mặt khác cần có các giải pháp xây dựng các công trình tích trữ nước ngọt chủ động đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trong các tháng mùa khô ở đồng bằng sông Cửu Long, Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện với 3 mục tiêu:
Đánh giá được hiện trạng nguồn nước và khả năng cấp nước ngọt cho các ngành kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL.
Đề xuất được giải pháp tích trữ nước ngọt phù hợp cho vùng ĐBSCL.
Thiết kế 03 mô hình tích trữ nước ngọt điển hình (hồ chứa, ô ruộng, kênh trữ nước).
Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:
Báo cáo đánh giá hiện trạng và tương lai nguồn nước, khả năng cấp nước ngọt cho các ngành kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL
Sơ đồ phân vùng cấp nước
Sơ đồ phân vùng thiếu nước
Báo cáo cơ sở lý luận và thực tiễn về các giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế xã hội ĐBSCL
Báo cáo xác định tiềm năng, loại hình, địa điểm, quy mô, giải pháp kỹ thuật xây dựng và quản lý, vận hành các công trình tích trữ nước ngọt ở các vùng/tiểu vùng thuộc ĐBSCL
Tài liệu hướng dẫn thiết kế và quản lý, vận hành các loại hình công trình tích trữ nước ngọt điển hình của vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tứ Giác Long Xuyên và vùng Bán đảo Cà Mau
Hồ sơ thiết kế 03 mô hình tích trữ nước ngọt điển hình cho ba vùng: vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tứ Giác Long Xuyên và vùng Bán đảo Cà Mau
Báo cáo Tổng hợp kết quả KHCN đề tài
Công bố 01 bài báo trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCOPUS;
Công bố 04 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành trong nước;
Tham gia đào tạo sau đại học: Đào tạo 02 Thạc sĩ và hỗ trợ đào tạo 01 nghiên cứu sinh.
Viết 02 sách chuyên khảo.
Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.
Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí thông qua kết quả thực hiện đề tài. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.
Nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu”, mã số RD 35-24.
Ngày 20/12/2025, Bộ Xây dựng đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu”, mã số RD 35-24.Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thắng – Giảng viên Bộ môn Xây dựng dân dụng và công nghiệp, khoa Công trình.
Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 09 thành viên là các chuyên gia, nhà khoa học đến từ trường Đại học, Viện nghiên cứu, Tổ chức nghề nghiệp và đại diện cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, do TS. Lê Minh Long, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng, làm Chủ tịch Hội đồng.
TS. Lê Quang Tuấn – Đại diện đơn vị chủ trì phát biểu
TS. Nguyễn Văn Thắng thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của nhiệm vụ.
Bê tông và thép kết cấu là hai vật liệu quan trọng, phổ biến trong xây dựng, với tính chất bổ sung nhược điểm lẫn nhau. Nhờ đó, kết cấu liên hợp thép-bê tông ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các công trình nhà dân dụng nhiều tầng tại Việt Nam. Tuy nhiên, đảm bảo an toàn kết cấu dưới tác động động đất đang là thách thức lớn đối với ngành kỹ thuật xây dựng.
Hiện nay, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn thiết kế riêng cho kết cấu liên hợp thép-bê tông. Do đó, việc thiết kế, thi công và quản lý chất lượng thường phải tham khảo tiêu chuẩn châu Âu như EN 1994-1-1 (thiết kế liên hợp) và EN 1998-1 (kháng chấn). Khi áp dụng, cần điều chỉnh đặc trưng vật liệu theo TCVN 5574:2018 (bê tông cốt thép), TCVN 5575:2024 (kết cấu thép), đồng thời xem xét tải trọng và tổ hợp tải trọng (bao gồm động đất) theo TCVN 2737:2023 – khác biệt so với hệ thống châu Âu. Điều này làm các kỹ sư vẫn gặp nhiều khó khăn trong tính toán đồng bộ cấu kiện, đảm bảo độ dẻo và khả năng tiêu tán năng lượng động đất. Vì vậy, việc nghiên cứu kết hợp tiêu chuẩn châu Âu với tiêu chuẩn Việt Nam để ban hành hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông chịu động đất cho nhà dân dụng là thực sự cần thiết và cấp bách.
Đề tài nghiên cứu với mục đích xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà dân dụng chịu động đất dựa trên tiêu chuẩn EN 1994-1-1 và EN 1998-1 có tham chiếu tham số, quy định và phụ lục từ tiêu chuẩn TCVN 5574:2018, TCVN 5575:2024, TCVN 9386:2012 và TCVN 2737:2023 để phù hợp với điều kiện Việt Nam. Do đó đề tài đặt ra những mục tiêu chính sau:
Thu thập thông tin, nghiên cứu tổng quan trong nước và trên thế giới;
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, vướng mắc, bất cập trong công tác thiết kế kết cấu liên hợp thép – bê tông cho nhà dân dụng có yêu cầu kháng chấn ở Việt Nam;
Nghiên cứu những quy định về thiết kế kháng chấn cho kết cấu liên hợp và kết cấu nhà dân dụng trong tiêu chuẩn EN 1994-1-1 và EN 1998-1 và sự tương thích với tiêu chuẩn TCVN 5574:2018, TCVN 5575:2024, TCVN 9386:2012, và TCVN 2737:2023;
Xây dựng quy trình thiết kế dầm, cột liên hợp chịu động đất;
Hệ thống và chi tiết hóa các yêu cầu thiết kế kháng chấn cho nhà dân dụng khung mô men và khung giằng dùng kết cấu liên hợp thép-bê tông, có ví dụ tính toán cụ thể;
Xây dựng báo cáo tổng kết.
Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:
01 Báo cáo tổng kết đề tài;
01 Báo cáo tóm tắt đề tài;
01 Dự thảo “Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép – bê tông cho nhà dân dụng nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu.”
03 bài báo đăng trên tạp và và tuyển tập Hội nghị uy tín có chỉ số ISBN.
Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Bộ
Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì. Tất cả các sản phẩm (Dự thảo Hướng dẫn thiết kế, Báo cáo tổng kết, Báo cáo tóm tắt, Sản phẩm khoa học) có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo Hợp đồng đã ký kết. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.
Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài đạt loại “Khá”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các ý kiến nhận xét của Hội đồng và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.