Tác giả: Data Old

  • Khánh thành Ký túc xá 11 tầng trường Đại học Thủy Lợi.

    Khánh thành Ký túc xá 11 tầng trường Đại học Thủy Lợi.

    Dự án đầu tư xây dựng mở rộng Ký túc xá trường Đại học Thủy Lợi, gọi tắt là dự án A45 đã được phê duyệt lần đầu năm 2002 với tổng mức đầu tư là 55.05 tỷ đồng, được phê duyệt điều chỉnh năm 2008 và năm 2010, đến nay tổng mức đầu tư là 130.506 tỷ đồng. Đây là một công trình tương đối lớn với diện tích xây dựng là 2172m2, diện tích sàn xây dựng 20312m2, gồm 11 tầng, 1 tầng hầm, 18 phòng sinh hoạt chung, 8 phòng chức năng, đáp ứng 2050 chỗ ở cho sinh viên nội trú với hệ thống phòng ở khép kín, hiện đại.


    Trải qua rất nhiều những khó khăn, có những khó khăn tưởng chừng khó có thể vượt qua, nhưng được sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp & PTNT, các cơ quan chức năng của Bộ, Bộ xây dựng, UBND thành phố Hà Nội, các sở, ban, ngành của thành phố , cùng với sự chỉ đạo sát sao của Ban Giám hiệu Nhà trường đến nay ký túc xá 11 tầng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng.


    Sáng nay ngày 29/7/2011, lễ khánh thành Ký túc xá 11 tầng đã long trọng diễn ra tại trường Đại học Thủy Lợi. Đến dự có đại diện của Bộ Nông nghiệp & PTNT ông Phùng Xuân Hào – phó cục trưởng cục quản lý xây dựng công trình; đại diện Bộ Xây dựng ông Nguyễn Trọng Ninh – Phó Cục trưởng cục Quản lý Nhà; sở xây dựng thành phố Hà Nội ông Trần Trọng Nghĩa – đại diện phòng phát triển Nhà. Về phía Nhà trường có GS. TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường; GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trường Nhà trường; các thầy trong Ban Giám hiệu, Công đoàn, Đoàn Thanh niên; Đại diện các phòng, khoa, ban, sinh viên nội trú.


    Phát biểu tại buổi lễ khánh thành, GS.TS Phạm Ngọc Quý – Phó Hiệu trưởng, trưởng ban Quản lý sự án A45 đã khái quát chặng đường dài của ký túc xá 11 tầng, với sự nỗ lực của lãnh đạo Nhà trường, sự giúp đỡ của các ban, ngành, kết quả của ngày hôm nay là sự cố gắng không mệt mỏi của tất cả các đơn vị trong ngày hôm qua, từ lập dự án, nguồn vốn, đến các đơn vị thiết kế thi công, các nhà cung cấp trang thiết bị. Từ  ngày hôm nay sẽ có thêm 2050 chỗ ở hiện đại và tiện nghi cho sinh viên nội trú; 2172m2 dành cho nhà để xe; 01 phòng tự học gồm 270 chỗ cho sinh viên, các phòng chức năng, phòng sinh hoạt chung, nhà ăn ký túc xá…


    Chia sẻ tại buổi lễ khánh thành, GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường đã gửi một thông điệp: Sinh viên hãy thực sự coi nhà Ký túc xá như chính nhà của mình, để bảo quản và gìn giữ ngôi nhà luôn sạch đẹp và mới. Hiệu trưởng cũng mong muốn Trung tâm Quản lý nội trú xây dựng quy trình sử dụng nhà Ký túc xá có hiệu quả và bền vững.


    Đại diện lãnh đạo Bộ, nhà thầu, các đơn vị cùng thi công…cũng đã chia sẻ niềm vui với Nhà trường trong lễ khánh thành ngày hôm nay và mong rằng trong tương lai Trường Đại học Thủy Lợi lại có nhiều khu nhà to và đẹp như khu KTX 11 tầng.


    Cũng trong buổi lễ, đã có rất nhiều sự chia sẻ ngoài lề dành cho khu nhà 11 tầng này: Những thế hệ sinh viên đi trước có mặt tại đây không khỏi xuýt xoa trước quy mô hoành tráng của khu nhà – nơi mà các sinh viên hiện đang theo học tại Nhà trường được sống và học tập, có lẽ họ thầm ao ước được trẻ lại thời sinh viên để được là một chủ nhân trong ngôi nhà lớn này; Một quay phim của VTV thì thốt lên rằng: Đẹp quá, chắc khác nào một khách sạn cả! Còn những sinh viên có mặt tại buổi lễ khi được hỏi về tâm trạng của mình khi được sống trong khu nhà tiện nghi này, các em đều chia sẻ sự thích thú và hạnh phúc…


    Có lẽ đó cũng là tâm trạng chung của tất cả mọi người trong lễ khánh thành ngày hôm nay, từ hôm nay lại có thêm một niềm tự hào nữa mang tên Đại học Thủy Lợi. Có thể thấy rằng khó có một trường Đại học nào là có một khu nhà ở dành cho sinh viên lại khang trang và hiện đại như trường Đại học Thủy Lợi. Tôi rất thích thú với cụm từ: Khách sạn sinh viên – nó muốn nói rằng: các bạn sinh viên hãy xem khu nhà ở của mình như một khách sạn, để từ đó các bạn có ý thức giữ gìn chúng luôn sạch, đẹp, mới. Mỗi một sinh viên nội trú hãy là một người khách đầy trách nhiệm với chính căn phòng của mình. Đó cũng là niềm mong mỏi mà Nhà trường gửi gắm cho các bạn, vì đó là nhà của các bạn, sinh ra để dành cho các bạn!


    Một số hình ảnh tại buổi lễ khánh thành:


     









    Văn nghệ chào mừng








    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Phó Hiệu trưởng – Trưởng ban QL dự án A45









    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng phát biểu tại buổi lễ









    Các đại biểu tham dự lễ khánh thành khu Ký túc xá 11 tầng









    Lãnh đạo Nhà trường và các đơn vị tham gia xây dựng Ký túc xá 11 tầng ……








    …..cắt băng khánh thành

















    Giám đốc Trung tâm Quản lý nội trú – ông Đào Vũ- Niềm vui xen lẫn những trăn trở để quản lý và sự dụng hiệu quả ký túc xá 11 tầng


















    Hiệu trưởng Nhà trường thăm các phòng sinh hoạt của sinh viên trong Kí túc xá 11 tầng









    Ký túc xá 11 tầng – Những khát vọng vươn tới tầm cao


    Anh  Nguyễn

  • Chiến dịch Mùa hè xanh 2011: Vì biên cương Tổ quốc

    Chiến dịch Mùa hè xanh 2011: Vì biên cương Tổ quốc

    Tạm biệt Tiếp sức mùa thi 2011, các tình nguyện viên CLB Sinh viên tình nguyện tạm xa với mái trường, tạm xa với các kỳ nghỉ hè với Gia đình, bạn bè và người thân, tiếp tục cuộc hành trình kéo dài gần 10 ngày để đến với các người người dân tại bản Nà Đán, Xã Tri Phương, huyện Trà Lĩnh, Tỉnh Cao Bằng. Tri Phương là một xã nghèo, với điều kiện cực kỳ khó khăn (giao thông, thủy lợi…), hơn 90% người dân ở đây thuộc các dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng. Tuy nhiên, điều ấy không làm khó các bạn Sinh viên Thủy Lợi, với phương châm “Chiến sĩ mùa hè xanh trường Đại học Thủy Lợi ở dân thương – làm dân tin – đi dân nhớ”, các chiến sĩ khoác trên vai màu áo xanh, mang trong mình trí tuệ, lòng nhiệt huyết, lòng tự hào đến từ ngôi trường hơn 50 năm truyền thống  đã đến ăn cùng nhân dân, ở cùng nhân dân và làm việc cùng nhân dân tại địa phương.









    Chụp ảnh trước khi lên đường làm nhiệm vụ (Ảnh chụp lúc 4h00 sáng ngày 07/7/2011 trước cổng chính trường ĐH Thủy Lợi)


     







    Do ô tô không vào trong được bản nên đoàn chuyển sang đi xe chở đá – trải nghiệm đầu tiên từ chuyến đi xa của các bạn tình nguyện viên


    Tại lễ gặp mặt và đón tiếp đoàn, các bạn sinh viên cảm nhận được sự hiếu khách, sự ấm áp từ người dân địa phương, đặc biệt là sự quan tâm của lãnh đạo tại đây. Đồng chí Hoàng Đức Hậu – Tỉnh ủy viên, Bí thư huyện ủy Trà Lĩnh thay mặt lãnh đạo và nhân dân huyện gửi lời cảm ơn chân thành các bạn tình nguyện viên không quản ngại khó khăn, đường xá xa xôi để đến với người dân tại địa phương, giúp ích bà con trong công cuộc xây dựng và phát triển, đặc biệt trong công tác tư tưởng, đổi mới công tác an sinh xã hội…


     







    Tiết mục mở màn chương trình “Mùa hè xanh vì biên cương tổ quốc” do đội mùa hè xanh 2011 trường ĐH Thủy Lợi trình bày.


     




















    Các đơn vị nhân hoa từ BCĐ chiến dịch mùa hè TNTN. Anh Nguyễn Công Viễn thay mặt tuổi trẻ nhà trường lên nhận hoa từ BCĐ và tặng quà tới các lãnh đạo huyện, xã và các Gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại Xã.


     







    Các tình nguyện viên luôn tự hào về mái trường ĐH Thủy Lợi


     







    Đốt lửa trại, giao lưu văn nghệ cùng đoàn viên thanh niên và bà con nhân dân tại Xã.


    Trong chương trình mùa hè xanh tại địa phương, các tình nguyện viên kết hợp cùng đoàn viên thanh niên và nhân dân tại địa phương làm các công tác tuyên truyền, phổ cập giáo dục, thăm hỏi và tặng quà các gia đình nghèo, giao lưu văn hóa, văn nghệ cùng nhân dân tại Xã. Đặc biệt, chương trình ý nghĩa nhất mà các tình nguyện viên đã và đang làm, đấy là kết hợp cùng địa phương làm công trình thanh  niên tình nguyện. Công trình dự kiến dài 2km kéo dài từ đầu vào đến cuổi bản Nà Hán. Bên cạnh đấy, kết hợp cùng huyện đoàn Trà Lĩnh, đồn biên phòng Hùng Quốc tổ chức tuần tra và  phát quang quanh các cột mốc xung quanh biên giới tại địa bàn Xã. Tại đây, các tình nguyện viên đã trải nghiệm rất nhiều điều như: nghi lễ chào cờ trước cột mốc biên giới , leo núi trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt… Đồng chí Bế Văn Quang – Phó bí thư tỉnh đoàn Cao Bằng phát biểu: “Chương trình mùa hè xanh vì biên cương tổ quốc rất ý nghĩa và thiết thực, điều ấy càng thôi thúc hơn tinh thần yêu nước của mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ…”


     
















    Tuy thời tiết không thuận lợi, nhưng các tình nguyện viên kết hợp cùng huyện đoàn Trà Linh, đồn biên phòng Hùng Quốc tổ chức tuần tra và phát quang quanh các cột mốc vùng biên giới.


     







    Kết hợp cùng nhân dân địa phương làm công trình thanh niên.


    Chương trình Mùa hè xanh 2011 còn gần một tuần nữa là kết thúc, mặc dù điều kiện ở đây còn thiếu thốn rất nhiều như chỗ ăn, ở và nghỉ ngơi, nhưng các tình nguyện viên luôn nở trên môi nụ cười. Tự hào và trách nhiệm, đó là những gì mà các tình nguyện viên đều giữ trong lòng, quyết tâm hoàn thành suất xắc nhiệm vụ, đưa hình ảnh tốt đẹp về sinh viên Thủy Lợi năng động, nhiệt tình, sáng tạo, không sợ khó, không sợ khổ…


     







    Tự hào và trách nhiệm, đó là những gì mà các tình nguyện viên đều giữ trong lòng, quyết tâm hoàn thành suất xắc nhiệm vụ…


     


                Trà Lĩnh ngày 07/9/2011


    Duy Quang – Đội trưởng đội mùa hè xanh 2011

  • Đại hội III – Hội Thủy lợi Việt Nam: Đoàn kết, dân chủ và trí tuệ

    Đại hội III – Hội Thủy lợi Việt Nam: Đoàn kết, dân chủ và trí tuệ

    Sáng ngày 11 tháng 6 năm 2011 vừa qua, tại Hội trường T45 Trường Đại học Thuỷ lợi đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III  Hội Thuỷ lợi Việt Nam. Đến dự Đại hội có gần 200 đại biểu, đại diện cho 3 Chi hội thành viên, 16 hội viên tập thể, thay mặt cho hàng vạn hội viên trong cả nước. Đại hội rất vinh dự được đón tiếp GS.Viện sĩ.TSKH Đặng Vũ Minh – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam và đồng chí Nguyễn Đăng Khoa – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT. Tham dự Đại hội còn có các đại biểu đại diện các Cục, Vụ, Viện, Trường thuộc Bộ Nông nghiệp &PTNT; Bộ Tài nguyên & Môi trường; các Hội ngành Trung ương: Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước, Hội Tưới tiêu, Hội công nghiệp bê tông; các Hội Thuỷ lợi địa phương; các Sở Nông nghiệp và PTNT; các doanh nghiệp tiêu biểu và đông đảo các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và Hà Nội.









    Chương trình văn nghệ chào mừng Đại hội


    Trong một buổi làm việc nghiêm túc, khẩn trương, Đại hội đã được nghe GS.TS Đào Xuân Học – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam thay mặt cho Ban Chấp hành Trung ương Hội khoá II trình bày Báo cáo “Đánh giá tình hình hoạt động nhiệm kỳ II ( 2005-2011) và Phương hướng nhiệm kỳ III (2011-2016) của Hội Thuỷ lợi Việt Nam”. Bản báo cáo chính của Đại hội đã nêu rõ: Trong nhiệm kỳ II, Hội Thuỷ lợi Việt Nam hoạt động trong bối cảnh chung của đất nước, có nhiều thuận lợi song cũng rất nhiều khó khăn. Đối với ngành Thuỷ lợi đã gặp nhiều trở ngại, thách thức to lớn, đặc biệt điều kiện biến đổi khí hậu, tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá quá nhanh…đã khiến cho nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi không đáp ứng kịp cả về quy mô và công nghệ; công tác xây dựng cơ bản, công tác quản lý khai thác công trình cũng gặp phải nhiều trở ngại do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.v.v.Mặc dù có nhiều khó khăn, nhưng được sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và PTNT, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, đặc biệt là sự nỗ lực của các đồng chí trong Ban Thường vụ, trong nhiệm kỳ qua Hội Thuỷ lợi Việt Nam đã đạt được những kết quả chính như: Tập trung nghiên cứu, đóng góp tích cực vào những vấn đề lớn của Ngành và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cụ thể là: Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước, Chiến lược phát triển thuỷ lợi đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050; tập trung trí tuệ của các nhà khoa học, nhà quản lý để đóng góp vào việc rà soát, xây dựng Quy chuẩn thiết kế và chỉnh sửa Tiêu chuẩn thiết kế của Ngành; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT và Liên Hiệp các Hội KH và KT Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết “ Tam nông “của Chính phủ.







    GS.TS Đào Xuân Học  trình bày Báo cáo Đánh giá tình hình hoạt động nhiệm kỳ II và phương hướng nhiệm kỳ III của Hội Thủy lợi Việt Nam



    Với chức năng, nhiệm vụ của mình, thời gian qua Hội đã tăng cường triển khai các hoạt động: Tổ chức hội thảo, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, thực hiện hợp tác, giúp đỡ các cơ quan, tổ chức liên quan, tham gia tư vấn, phản biện, thẩm tra dự án.v.v. Hội đã tham gia tích cực và có hiệu quả vào các dự án lớn của ngành như: Quy hoạch chống ngập cho khu vực TP. Hồ Chí Minh, quy hoạch chống ngập úng cho Thủ đô Hà Nội, quy hoạch chỉnh trị sông Hồng đoạn qua Hà Nội. Ngoài ra, Hội cũng đã thực hiện nhiều đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao như: Đề tài “ Vai trò của thuỷ lợi trong biến đổi khí hậu toàn cầu”, “ Nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng để xây dựng phương pháp và Tiêu chí giám sát, đánh giá kết quả thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới” .v.v.Ngoài  các hoạt động về chuyên môn, trong nhiệm kỳ II vừa qua, Hội cũng đã từng bước kiện toàn bộ máy tổ chức, đẩy mạnh công tác xây dựng, phát triển Hội. Nhằm tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về khoa học công nghệ, cung cấp thông tin, phổ biến kiến thức về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực thuỷ lợi, thuỷ điện, trong 10 năm qua, Hội luôn duy trì xuất bản đều đặn Đặc san “ Tài nguyên nước” đến các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành; đẩy mạnh hoạt động trong Mạng lưới cộng tác vì nước Đông Nam Á và tiến hành các thủ tục cần thiết để gia nhập Hội nước Quốc tế.v.v.


    Đại hội rất phấn khởi lắng nghe bài phát biểu của GS. Viện sỹ. TSKH Đặng Vũ Minh và Thứ trưởng Nguyễn Đăng Khoa. Các đồng chí Nguyễn Đăng Khoa và  Đặng Vũ Minh đã đánh giá cao những kết quả đạt được, những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp  xây dựng, phát triển ngành Thuỷ lợi, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Hội; đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò, nhiệm vụ của Hội trong thời gian tới cần tập trung nghiên cứu, thực hiện công tác tư vấn, phản biện xã hội; đẩy mạnh xây dựng công trình thuỷ lợi gắn với xây dựng nông thôn mới, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước; luôn quan tâm, động viên đội ngũ những người làm công tác thuỷ lợi; tăng cường công tác phòng chống thiên tai trong tình hình mới…


    Đại hội đã thảo luận sôi nổi, trên tinh thần dân chủ, đoàn kết, đầy trí tuệ, đóng góp bổ sung cho các văn kiện do Ban Chấp hành Trung ương khoá II trình Đại hội. Đại hội đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh rằng: Trong những năm tới, trước tình hình biến đổi khí hậu nặng nề, nhiệm vụ của Hội Thuỷ lợi Việt Nam cũng như của mỗi cán bộ, hội viên là rất lớn, đòi hỏi có sự đoàn kết, nhất trí cao trong nếp nghĩ và cách làm, mang lại hiệu quả thiết thực.


    Phấn khởi trước những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ qua, đoàn kết hướng tới mục tiêu phía trước, với sự nhất trí cao, Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Hội Thuỷ lợi Việt Nam khoá III với hơn một trăm Uỷ viên, bao gồm những đồng chí tiêu biểu cho hàng vạn hội viên, có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ và đặc biệt là lòng nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp để gánh vác những trọng trách nặng nề trong thời gian tới. GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT được vinh dự bầu làm Chủ tịch Hội; các đồng chí: Nguyễn Cảnh Dinh, nguyên Bộ truởng Bộ Thuỷ lợi và đồng chí Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Uỷ Ban đối ngoại của Quốc hội được bầu làm Chủ tịch danh dự.










    Ban lãnh đạo Hội Thủy lợi Khóa III ra mắt Đại hội – GS.TS Vũ Trọng Hồng – Nguyên Thứ trưởng Bộ NN và PTNT được bầu làm Chủ tịch Hội Thủy lợi Khóa III 


    Với tinh thần: Đoàn kết-hợp tác-phát triển, Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, hội viên, các Chi hội và các Hội thuỷ lợi địa phương phát huy khí thế, thắng lợi của Đại hội III, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, góp phần đưa Hội thuỷ lợi Việt Nam thực sự trở thành tổ chức xã hội nghề nghiệp vững mạnh.Thành công của Đại hội sẽ tạo nên sức mạnh mới, niềm tin lớn lao vào sự nghiệp Thuỷ lợi nước nhà.


    Tin và ảnh: Hà Linh Ngọc


                                                                                            

  • Ngày Môi trường thế giới 5-6: Chung tay đối phó với biến đổi khí hậu

    Ngày Môi trường thế giới 5-6: Chung tay đối phó với biến đổi khí hậu

    Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề được nhắc đến rất nhiều trong thời gian gần đây bởi những tác động nặng nề của nó đến cuộc sống toàn nhân loại. Bão lụt, hạn hán những thiên tai bất thường chỉ là một số những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.


    Một lần nữa, nhân Ngày Môi trường thế giới 5-6, hồi chuông cảnh báo về biến đổi khí hậu lại tiếp tục được rung lên, và kêu gọi mọi người cùng chung tay như chủ đề của năm nay: Trái đất cần chúng ta! Hãy liên kết chống lại biến đổi khí hậu.









     


    Nhiều hiểm họa từ biến đổi khí hậu


    Theo tài liệu phục vụ Ngày Môi trường thế giới của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, báo cáo của Cơ quan phát triển Liên hợp quốc năm 2007-2008 cho biết, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Với tốc độ ấm dần lên của Trái đất như hiện nay, dự báo năm 2100 mực nước biển khu vực nước ta sẽ dâng lên khoảng 1m, làm cho 1/5 diện tích lãnh thổ bị ngập chìm trong nước, khoảng 22 triệu người dân sẽ bị mất nhà cửa và diện tích canh tác.


    Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, nhiệt độ trung bình của nước ta trong khoảng 50 năm qua (1951-2000) đã tăng lên 0,7 độ C. Số liệu quan trắc cũng cho thấy mực nước biển trong 50 năm tăng lên khoảng 20cm. Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây. Năm 2007 chỉ có 16 đợt không khí lạnh, bằng 56% trung bình nhiều năm. Những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn và dịch chuyển dần vào phía Nam.


    Biến đổi khí hậu tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Sự ấm lên toàn cầu, hạn hán gia tăng đã khiến tài nguyên nước đang có nguy cơ suy giảm ở một số vùng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất điện. Nước biển dâng làm giảm diện tích rừng ngập mặn, nguy cơ diệt chủng của các loài động, thực vật gia tăng. Nhiệt độ tăng cũng làm tiêu thụ điện năng cho sinh hoạt và công nghiệp tăng, trong khi đó ngành thủy điện bị ảnh hưởng do thay đổi lưu lượng nước vào hồ thủy điện. Ngành giao thông vận tải cũng bị ảnh hưởng tiêu cực do đây là ngành thải ra nhiều khí nhà kính, do vậy đòi hỏi phải áp dụng các công nghệ mới, ít chất thải hơn cũng như phải quy hoạch, thiết kế lại hệ thống hạ tầng kỹ thuật giao thông ở đất liền, trên biển và ven biển.


    Hãy bằng những việc làm thiết thực


    Trước những tác động, nguy cơ nhìn thấy được của hiện tượng trái đất ấm lên, Liên hợp quốc đã đưa ra nhiều thông điệp kêu gọi mọi người cùng chung tay chống lại biến đổi khí hậu, một trong những hiểm họa toàn cầu. Năm 2009 được Liên hợp quốc chọn là năm quốc tế về biến đổi khí hậu. Trước đó, Ngày Môi trường thế giới đã nhiều lần lấy chủ đề liên quan đến biến đổi khí hậu, năm 2006 chủ đề là “Sa mạc và hoang mạc hóa”, năm 2007 đưa ra chủ đề “Băng tan-một vấn đề nóng bỏng”, năm 2008 chọn vấn đề “CO2-hãy thay đổi thói quen”.


    Việc thay đổi một số thói quen hằng ngày cũng có thể giúp ngăn chặn biến đổi khí hậu một cách thiết thực. Theo ông Lê Kế Sơn, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chúng ta có thể sử dụng năng lượng một cách hợp lý, không nên lạm dụng các loại năng lượng. Hãy sử dụng bóng đèn compact, chỉ bật công tắc đèn khi cần thiết, sử dụng tối đa ánh sáng mặt trời. Hạn chế sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân, khuyến khích đi xe đạp, xe buýt. Đó đều là những việc làm góp phần chống lại biến đổi khí hậu


    GS.TS Nguyễn Đức Ngữ, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng thủy văn cho rằng, mỗi cá nhân phải nhận thức được rằng năng lượng và hành động bảo vệ môi trường là hết sức quan trọng để làm cho thế giới tốt hơn. Cũng theo GS.TS Nguyễn Đức Ngữ, có rất nhiều biện pháp liên ngành và đòi hỏi chính sách phù hợp với từng địa phương để hạn chế tình trạng biến đổi khí hậu, đầu tiên chúng ta cần lên kế hoạch cẩn thận, chặt chẽ, nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, phải xem xét lại chiến lược phát triển và đưa ra biện pháp để giải quyết. Một vấn đề nữa là bảo đảm an ninh lương thực thông qua phát triển nông nghiệp, chúng ta cần nghiên cứu các vụ mùa có thể trồng ở khu vực ít mưa hơn.


     MẠNH HƯNG –  QĐND


     

  • Quyết định về việc điều chỉnh danh sách xét học vụ kỳ 1 năm học 2010-2011 cho sinh viên K50, 51, 52 – CS2 hệ Đại học chính quy.






    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


     

           
     Số: 454/QĐ-ĐHTL

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


     

               Hà nội, ngày 19  tháng 5  năm 2011


    QUYẾT ĐỊNH


    Về việc điều chỉnh danh sách xét học vụ kỳ 1 năm học 2010-2011


    cho sinh viên K50, 51, 52 – CS2 hệ Đại học chính quy.


     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;


    Căn cứ Quyết định số 997/QĐ-ĐHTL ngày 16/8/2010 về việc ban hành Hướng dẫn thực hiện Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo tín chỉ của trường Đại học Thủy lợi;


    Căn cứ Quyết định số 335/QĐ-ĐHTL ngày 21/4/2011 về việc xử lý học vụ kỳ 1 năm học 2010-2011 cho sinh viên K50 hệ Đại học chính quy;


    Căn cứ Quyết định số 336/QĐ-ĐHTL ngày 21/4/2011 về việc xử lý học vụ kỳ 1 năm học 2010-2011 cho sinh viên K51 hệ Đại học chính quy;


    Căn cứ Quyết định số 337/QĐ-ĐHTL ngày 21/4/2011 về việc xử lý học vụ kỳ 1 năm học 2010-2011 cho sinh viên K52 hệ Đại học chính quy;


    Căn cứ vào thông báo số 296/TB-ĐHTL ngày 18/4/2011 về việc xét học vụ cho sinh viên học theo tín chỉ kỳ 1 năm học 2010 – 2011;


    Căn cứ vào tờ trình về việc điều chỉnh danh sách xét học vụ kỳ 1 năm học 2010 – 2011 ngày 09/5/2011.


    Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Giám đốc Cơ sở 2,


    QUYẾT ĐỊNH:


    Điều 1. Nay điều chỉnh mức xử lý học vụ kỳ 1 năm học 2010-2011 cho sinh viên K50, 51, 52 – CS2 của Quyết định số 335/QĐ-ĐHTL, Quyết định số 336/QĐ-ĐHTL và Quyết định số 337/QĐ – ĐHTL ngày 21/4/2011 (Danh sách kèm theo).


    Điều 2. Các sinh viên có tên trong danh sách thực hiện theo điều 2 của Quyết định số 335/QĐ-ĐHTL, Quyết định số 336/QĐ-ĐHTL và Quyết định số 337/QĐ – ĐHTL ngày 21/4/2011.

                  Điều 3. Trưởng các phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Giám đốc Cơ sở 2, các đơn vị liên quan và sinh viên có tên trong danh sách trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.







    Nơi nhận:


    –          Bộ NN&PTNT (để b/c);


    –          Bộ GD&ĐT (để b/c);


    –          Như điều 3;

             –          Lưu: VT, P.CTCT&QLSV.

    KT. HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

        PGS. TS. Trịnh Minh Thụ


    Danh sách kèm theo.

  • Quyết định về việc giao đề tài thiết kế tốt nghiệp cho sinh viên K49 tại Cơ sở 2.






    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

            TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

                   Số:  430/QĐ-ĐHTL

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Hà nội, ngày 4 tháng 4 năm 2011




    QUYẾT ĐỊNH


    Về việc giao đề tài thiết kế tốt nghiệp cho sinh viên K49 tại Cơ sở 2


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


                Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế đào tạo Đại học & Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ;


                Căn cứ vào Quyết định số 1193QĐ/ĐHTL ngày 03/11/2009 về việc Ban hành Quy định Đồ án tốt nghiệp, thi khóa luận tốt nghiệp theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Thủy Lợi;


                Căn cứ kế hoạch đào tạo cho khóa K49 hệ chính quy;


                Căn cứ vào kết quả học tập của sinh viên khóa 49 hệ chính quy


                Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng các khoa ;


    QUYẾT ĐỊNH:


                Điều 1. 1./ Nay giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn cho các sinh viên hệ đại học chính quy học theo tín chỉ đã tích lũy đủ tín chỉ môn học  và đã hoàn thành chứng chỉ GDQP, GDTC, Chính trị cuối khóa (Danh sách 1 kèm theo)


                            2./ Giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn có điều kiện cho các sinh viên hệ Đại học chính quy học theo tín chỉ:


                            – Đã tích lũy đủ số tín chỉ  nhưng còn nợ Quân sự, Thể dục, Chính trị cuối khoá (Danh sách 2 kèm theo).


                            – Còn nợ môn học và đã hoàn thành chứng chỉ GDQP, GDTC, Chính trị cuối khóa (Danh sách 3 kèm theo)


                            – Còn nợ môn học, Quân sự, Thể dục, Chính trị cuối khoá (Danh sách 4 kèm theo).


                            3/ Không giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn cho các sinh viên hệ đại học chính quy  học theo tín chỉ chưa tích lũy đủ số tín chỉ ( Danh sách 5 kèm theo)


                Điều 2. 1./ Thời gian làm đồ án tốt nghiệp là 14 tuần từ 04/4/2011 ÷ 8/7/2011. Trong thời gian trên sinh viên chịu sự quản lý về mọi mặt của Nhà trường và thực hiện đầy đủ các yêu cầu của giáo viên hướng dẫn.


                            2./ Những sinh viên được giao đề tài đồ án tốt nghiệp có điều kiện (danh sách 2,3,4) phải học và thi trả nợ các môn còn thiếu thì mới được công nhận tốt nghiệp trong thời gian cho phép theo quy chế.


                            3/ Những sinh không được giao đề tìa thiết kế tốt nghiệp ( Danh sách 5) phải học và thi trả nợ các môn còn thiếu, khi tích lũy đủ số tín chỉ phải có đơn xin làm đồ án tốt nghiệp để Nhà trường xét làm với đợt sau.

                Điều 3. Các ông Trưởng phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, , Trưởng các khoa , Phòng Tài vụ các đơn vị có liên quan và sinh viên có tên trong các danh sách trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.







    Nơi nhận:


                    – Như điều 3;

                    – Lưu VT, CTCT&QLSV

    KT. HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

            PGS.TS. Trịnh Minh Thụ

    Danh sách kèm theo: Danh sách 1; Danh sách 2; Danh sách 3; Danh sách 4; Danh sach 5.

  • Hành trình đến với trẻ em nghèo vùng cao

    Hành trình đến với trẻ em nghèo vùng cao

    Với tình yêu thương, chia sẻ giữa người với người, CLB Thanh niên tình nguyện vận động hiến máu nhân đạo đã có một cuộc hành trình dài 2 ngày từ Hà Nội qua Phú Thọ về với Yên Bái. Vượt qua hơn 200km, chúng tôi đã đến thăm các em nhỏ người H’mông ở bản Đồng Hẻo xã Cát Thịnh huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái. Trải qua một cuộc hành trình dài, chúng tôi vượt qua những con suối, đường đi rất khó khăn, có những đoạn đường dốc đứng, quanh co, một bên là vách núi cao sừng sững, một bên là vực thẳm. Chúng tôi mới thấu hiểu được những khó khăn, thiếu thốn của người dân nơi này.


     







    .


    Cuộc sống của người dân trong Bản còn rất nhiều thiếu thốn, nhiều em nhỏ không được cắp sách đến trường. Trường học,cơ sở vật chất còn kém. Chúng tôi đến thăm trường tiểu học ở xã, ngôi trường là đơn sơ với những vách tre trát đất được người dân dựng lên cho con em mình được đi học, cũng chỉ có được 3 lớp học.


     







    .


    Tuy khó khăn, thiếu thốn về vật chất là thế nhưng người dân nơi đây rất hiếu khách, các em nhỏ cũng rất ngoan ngoãn, khi thấy chúng tôi đến thăm lớp học, các em lễ phép chào hỏi và còn mạnh dạn hát múa tặng cho chúng tôi. Nhìn những ánh mắt hồn nhiên sáng lấp lánh và nụ cười giòn tan thích thú của các em khi được chúng tôi tặng quà, những món quà bé nhỏ, những tập vở, cây bút, những quyển sách mà chúng tôi quyên góp được.


     







    .


    Tuy những phần quà nhỏ bé đó nhưng trong đó chứa đựng sự sẻ chia, tình thương yêu to lớn mà chúng tôi muốn gửi tặng các em. Cuộc hành trình 2 ngày, có nhiều bạn trong CLB bị say xe, tuy rất mệt nhưng nhìn thấy các em nhỏ, tới thăm Bản thì tất cả các bạn đều rất sôi nổi, tổ chức trò chơi cho các em, những đêm văn nghệ giao lưu cùng người dân trong Bản.


    Cũng như các cô giáo trẻ yêu nghề, yêu trẻ từ các huyện về Bản làng xa xôi để dạy cho các em nhỏ biết chữ, sinh hoạt cùng với người dân nơi đây. Chúng tôi cũng muốn góp sức mình giúp đỡ một chút gì đó cho các em. Mong cho tất cả các em đều được cắp sách tới trường, sau này trưởng thành xây dựng quê hương giàu đẹp hơn.


     







    .


    Sau chuyến đi đầy ý nghĩa này, tình đoàn kết, tình cảm của các thành viên trong CLB cũng gắn kết hơn. Mỗi chúng tôi đều tự nhủ rằng sẽ cố gắng thật nhiều, hoạt động và học tập thật tốt để góp sức trẻ của mình giúp ích cho cộng đồng.









    .



     


    Lê Anh – CLB TNTN Vận động hiến máu nhân đạo

  • Tìm hiểu về Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

    1.Quốc hội có vị trí như thế nào trong bộ máy Nhà nước ta? Tại sao nói Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất?

    Trả lời:

    Trong bộ máy Nhà nước ta, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội, hoạt động của công dân, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

    Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, bởi vì theo quy định của Hiến pháp, ở nước ta, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Điều đó có nghĩa nhân dân là người chủ của quyền lực Nhà nước. Quốc hội là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiền quyền lực của nhân dân. Chỉ có Quốc hội mới có quyền biến ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành luật, thành các quy định chung mang tính chất bắt buộc, tính cưỡng chế nhà nước đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.

    2. Tại sao nói Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân?

    Trả lời:

    Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân được thể hiện ở các mặt sau đây:

    – Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Bầu cử đại biểu Quốc hội là kết quả lựa chọn thống nhất của nhân dân cả nước;

    – Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân. Quốc hội là sự thể hiện rõ nhất khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho trí tuệ của nhân dân cả nước.

    – Quốc hội có nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân và dân tộc, nói lên tiếng nói của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước.

    – Quốc hội là cơ quan duy nhất có  quyền lập hiến, lập pháp và quyết định những vấn đề chủ quyền quốc gia cũng như các vần đề trọng đại của đất nước.

    3. Đại biểu Quốc hội cần có những tiêu chuẩn gì?

    Trả lời:

    Đại biểu Quốc hội có những tiêu chuẩn như sau đây:

    – Trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;

    – Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật;

    – Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

    – Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân; được nhân dân tín nhiệm;

    – Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.

    4.Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân được quy định thế nào?

    Trả lời:

    Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

    Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.

    Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với các hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm soát nhân dân cùng cấp, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan  nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.

    5. Đại biểu Hội đồng nhân dân phải có những tiêu chuẩn gì?

    Trả lời:

    Đại biểu Hội đồng nhân dân có những tiêu chuẩn sau đây:

    – Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng, phát triển địa phương.

    – Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    – Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân daanm có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật, am hiểu tình hình kinh tế – xã hội để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương.

    – Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.

    – Có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.

    6. Vì sao lại tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân đân cùng một thời điểm?

    Trả lời:

    Việc Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tổ chức cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 vào cùng một thời điểm vì sẽ mang nhiều thuận lợi. Thứ nhất là tiết kiệm được thời gian và công sức của các cơ quan lãnh đạo và nhân dân. Trước kia phải dành hai lần, thời gian để lãnh đạo và tham gia bầu cử thì nay chỉ cần một lần. Thứ hai, để tiết kiệm chi phí và ngân sách từ hai cuộc bầu cử nay giảm gần một nửa. Thứ ba, là thuận tiện hơn cho việc ứng cử của công dân và công tác cán bộ của các cơ quan lãnh đạo, đồng thời thuận lợi cho cử tri trong việc lựa chọn người tiêu biểu nhất để bầu.

    7. Những quy định mới cơ bản trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là gì?

    Trả lời:

    Những thay đổi chủ yếu trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là:

    – Thay đổi tên gọi và bổ sung nhiệm vụ – quyền hạn các tổ chức bầu cử.

    – Quy định lại thẩm quyền cơ quan thành lập các tổ chức bầu cử.

    – Sửa đổi thống nhất quy định về số lượng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu.

    – Quy định về số người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội.

    – Sửa đổi, thống nhất quy định về mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu.

    – Thời hạn niêm yết danh sách cử tri, thời gian giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri.

    8. Thẻ cử tri sau khi công dân đã bỏ phiếu xong thì xử lý như thế nào?

    Trả lời:

    Sau khi cử tri thực hiện xong việc bỏ phiếu bầu cử Đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu  Hội đồng nhân dân thì Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “đã bỏ phiếu” vào Thẻ cử tri và giao lại cho công dân giữ Thẻ cử tri đó.

  • Nghị quyết hướng dẫn một số điểm về tổ chức cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

    UỶ BAN THƯỜNG VỤ
    QUỐC HỘI

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Nghị quyết số: 1020/2011/UBTVQH12

    Hà Nội, ngày 14 tháng 02 năm 2011

     

    NGHỊ QUYẾT

    HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỂM VỀ VIỆC TỔ CHỨC CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2011 – 2016

    ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10;
    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11;
    – Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12,

    QUYẾT NGHỊ:

    Điều 1. Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử

    Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định tại Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) và Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) được thực hiện như sau:

    1. Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi là ngày bầu cử) đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định (ngày 22/5/2011). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau.

    2. Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Điều 2. Lập danh sách cử tri và niêm yết danh sách cử tri

    Việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, các điều 23, 24 và 28 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    1. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri quy định tại khoản 8 của điều này thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó;

    2. Trong thời gian lập danh sách cử tri, những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử, cụ thể như sau: thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội.

    3. Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    4. Cử tri là người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, các doanh nghiệp có đăng ký tạm trú, lưu trú thì được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    5. Kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu, cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình với Uỷ ban nhân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi mới đến Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri, tham gia bỏ phiếu ở nơi đó và được tính vào tổng số cử tri ở nơi mới đến. Nếu họ chưa có Thẻ cử tri, Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mới đến yêu cầu những người này liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc chỉ huy đơn vị nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” để được bầu cử ở nơi mới đến. Nếu thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được bầu đại biểu Quốc hội.

    6. Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến Uỷ ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú); được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

    7. Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri và cấp giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác”.

    8. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 25 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 3. Về việc ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp.

    Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 4. Về việc kê khai tài sản, thu nhập khi ứng cử

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại mục 4 chương II của Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ.

    Bản kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử là tài liệu trong Hồ sơ ứng cử.

    Điều 5. Căn cứ tính số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi đơn vị hành chính được tính trên cơ sở dân số theo quy định tại Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Số liệu dân số do Cục Thống kê cung cấp tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.

    2. Đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên bốn mươi đại biểu; số lượng cụ thể do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

    Điều 6. Đơn vị bầu cử

    Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) được xác định là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), liên huyện hoặc liên xã; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), liên xã hoặc liên thôn; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã được xác định là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khối phố (gọi chung là thôn, tổ dân phố), hoặc liên thôn, liên tổ dân phố.

    Trường hợp thành lập hai đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị hành chính huyện, xã hoặc ở một thôn, tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử có trách nhiệm xác định ranh giới rõ ràng, hợp lý giữa các đơn vị bầu cử để tổ chức thực hiện bầu cử thuận lợi.

    Điều 7. Số người ứng cử ở đơn vị bầu cử

    1. Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử, chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban bầu cử báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư nhiều nhất trong cùng tỉnh, thành phố đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong danh sách đã Hiệp thương lần thứ ba và không thể chuyển người ứng cử từ đơn vị bầu cử khác đến thì Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

    2. Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Trường hợp Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cho số người trong danh sách ứng cử ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn hai người so với số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Uỷ ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết người ứng cử, trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.

    Điều 8. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    1. Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.

    2. Trường hợp người ứng cử đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng trong thời gian Hội đồng bầu cử chưa công bố danh sách này mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý như sau:

    a) Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu;

    b) Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi trao đổi ý kiến với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giới thiệu.

    Điều 9. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theoquy định của pháp luật.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 43 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử. Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Uỷ ban bầu cử. Quyết định của Uỷ ban bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    Điều 11. Vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm.

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thì thực hiện quyền vận động bầu cử ở địa phương đó.

    Điều 12. Mục đích, yêu cầu vận động bầu cử

    1. Việc tổ chức vận động bầu cử có mục đích sau đây:

    a) Tạo điều kiện cho người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu;

    b) Tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    2. Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) Công khai, dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;

    b) Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

    c) Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

    d) Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử;

    đ) Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình;

    e) Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;

    g) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.

    Điều 13. Hình thức, nội dung vận động bầu cử

    1. Việc vận động bầu cử của người ứng cử được tiến hành thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức; trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng; gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người ứng cử công tác.

    2. Nội dung vận động bầu cử của người ứng cử bao gồm:

    a) Người ứng cử trình bày dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    b) Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    c) Người ứng cử và cử tri trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm;

    d) Người ứng cử trả lời các câu hỏi của cử tri.

    Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử

    1. Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác vận động bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.

    2. Các cơ quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử.

    3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; bảo đảm cho việc tổ chức vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật.

    5. Các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về Hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình vận động bầu cử ở địa phương.

    Điều 15. Tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử

    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu những nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương để người ứng cử đại biểu Quốc hội xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.

    Người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình;

    2. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.

    3. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:

    a) Tuyên bố lý do;

    b) Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;

    c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;

    đ) Người chủ trì Hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc Hội nghị.

    4. Sau Hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ; Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.

    Điều 16. Vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng

    1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử (nếu có) để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử;

    2. Trên cơ sở chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.

    Điều 17. Kinh phí vận động bầu cử

    Kinh phí vận động bầu cử do ngân sách nhà nước cấp từ kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan, tổ chức và kinh phí phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

    Điều 18. Thời gian tiến hành vận động bầu cử

    Việc tổ chức để những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện quyền vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách những người ứng cử và kết thúc hai mươi bốn giờ trước giờ bỏ phiếu.

    Điều 19. Thẻ cử tri

    Người đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được phát thẻ cử tri

    Thẻ cử tri của công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú ký tên và đóng dấu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên và đóng dấu.

    Thẻ cử tri của công dân ở đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị ký tên và đóng dấu.

    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.

    Điều 20. Về biểu mẫu và dấu bầu cử

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, mẫu Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” và các biểu mẫu khác phục vụ bầu cử.

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử và giao cho Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc khắc dấu bầu cử trong địa phương mình.

    Điều 21. Địa điểm bỏ phiếu

    Địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải được trang trí trang nghiêm, tiết kiệm, thuận tiện cho cử tri đến bầu cử, có đầy đủ bàn, ghế, bút, mực và các vật dụng khác phục vụ cho việc bầu cử.

    Điều 22. Xác định phiếu hợp lệ và phiếu không hợp lệ

    1. Những phiếu sau đây là phiếu hợp lệ:

    a) Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;

    b) Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    c) Phiếu bầu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.

    2. Những phiếu sau đây là phiếu không hợp lệ:

    a) Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;

    b) Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

    c) Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    d) Phiếu gạch, xoá hết họ, tên những người ứng cử;

    đ) Phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.

    Điều 23. Báo cáo tình hình trong ngày bầu cử

    1. Trong ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo với Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ; Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp về các nội dung sau:

    a) Các điều kiện phục vụ cho ngày bầu cử;

    b) Những thuận lợi, khó khăn về giao thông, thời tiết ảnh hưởng đến việc bầu cử;

    c) Số cử tri đi bầu và tiến độ cử tri đi bầu;

    d) Dư luận trong nhân dân về cuộc bầu cử và những người ứng cử;

    đ) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    e) Những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo trực tiếp bằng điện thoại, thư điện tử hoặc fax đến Hội đồng bầu cử theo tiến độ hai giờ một lần. Kết thúc ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo đầy đủ với Hội đồng bầu cử các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này bằng fax; ở những nơi có sự cố đột xuất xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bầu cử thì phải báo cáo ngay với Hội đồng bầu cử để xin ý kiến chỉ đạo.

    3. Uỷ ban bầu cử có bộ phận thường trực để tiếp nhận thông tin từ các Ban bầu cử, Tổ bầu cử gửi đến.

    Điều 24. Biên bản xác định kết quả bầu cử

    1. Sau khi kết thúc cuộc bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Ban bầu cử gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Uỷ ban bầu cử.

    3. Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có bộ phận tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử.

    Hội đồng bầu cử tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội tại những điểm sau:

    a) Văn phòng Quốc hội, số 37 đường Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội;

    b) Vụ Công tác miền Trung và Tây nguyên, số 4 đường Trần Quý Cáp, thành phố Đà Nẵng;

    c) Nhà khách Văn phòng Quốc hội – 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

    Điều 25. Công bố kết quả bầu cử

    1. Sau khi nhận và kiểm tra Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương mình.

    2. Căn cứ vào Biên bản tổng kết cuộc bầu cử, Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử ở địa phương mình.

    Điều 26. Tổng kết cuộc bầu cử

    Hội đồng bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử trong phạm vi cả nước; Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương.

    Nội dung tổng kết cuộc bầu cử bao gồm:

    1. Đánh giá quá trình chuẩn bị cuộc bầu cử:

    a) Các bước chuẩn bị bầu cử theo quy định của pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    b) Việc tổ chức tiếp xúc cử tri nơi công tác, nơi cư trú, nơi bầu cử, vận động bầu cử của những người ứng cử;

    c) Việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác bầu cử của Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử ở địa phương;

    d) Việc tổ chức các Hội nghị hiệp thương;

    đ) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về bầu cử và các văn bản hướng dẫn bầu cử của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    e) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương trong thời gian chuẩn bị bầu cử và trong ngày bầu cử;

    g) Việc xem xét, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    h) Sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức hữu quan;

    i) Việc sử dụng kinh phí bầu cử.

    2. Những kinh nghiệm từ việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016:

    a) Việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc bầu cử;

    b) Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đại biểu;

    c) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    d) Đánh giá về công tác lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử ở địa phương.

    3. Kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức cuộc bầu cử.

    Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Báo cáo tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp.

    Điều 27. Không tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân theo Điều 1 của Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 của cấp đó, không thành lập Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.

    Điều 28. Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Việc thành lập Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo các quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Danh sách Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn phải được báo cáo lên Ủy ban nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện.

    Điều 29. Thành lập Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Ủy ban nhân dân phường sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 1 và khoản 6 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Điều 30. Gửi biên bản Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Sau khi kết thúc các Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn, biên bản hiệp thương phải được gửi ngay đến Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Điều 31. Tổ chức hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức theo đơn vị tổ dân phố nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.

    Điều 32. Gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn và Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận.

    Điều 33. Hiệu lực thi hành

    Các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.

    Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ký.

    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 1078/2007/NQ/UBTVQH11 ngày 29/01/2007.

     

     

    TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    CHỦ TỊCH

    Nguyễn Phú Trọng

     

  • Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân

    Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
    Chi tiết xem tại đây.