Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Tạo được sự hòa đồng

    Tạo được sự hòa đồng

    Khi bước vào môi trường công ty, mỗi bạn trẻ cần ý thức rằng chúng ta sẽ làm việc chung với nhiều người có trình độ, tính cách… hoàn toàn khác biệt.  

    Một nguyên tắc sống đơn giản nhưng lại rất hiệu quả mà tôi học được từ mẹ tôi là: “Điều gì mình không thích người khác gây ra cho mình, thì cũng đừng bao giờ mang đến cho họ”. Đó là câu nói bà thường lặp đi lặp lại khi giải quyết các mâu thuẫn hằng ngày giữa anh em tôi khi còn bé: đứa này dùng viết chì màu của đứa kia mà không xin phép; cuốn truyện ba mới mua để thưởng cho đứa này nhưng đứa kia ngang nhiên giành đọc… Trong môi trường làm việc cũng vậy. Bạn sẽ phản ứng ra sao khi cần dùng đến một tập tài liệu lưu trữ tại tủ hồ sơ chung của cả phòng, nhưng khi mở ra thấy hồ sơ lộn xộn, có những công văn bạn đã từng tra cứu trước đây nhưng nay không còn tại vị trí cũ? Lúc ấy chắc chắn rằng bạn sẽ thấy rất khó chịu nhưng phản ứng của bạn như thế nào mới là vấn đề.

    Vậy giải quyết tình huống nói trên sao cho tốt nhất? Trước hết hãy suy nghĩ xem phản ứng của mình có gây khó khăn hay ảnh hưởng gì đến đồng nghiệp không? Sau đó, có thể góp ý trực tiếp một cách nhẹ nhàng với những người liên quan hoặc thẳng thắn nêu vấn đề trong cuộc họp của phòng ban để mọi người cùng khắc phục.

    Khi đi làm, thời gian chúng ta tiếp xúc với đồng nghiệp còn nhiều hơn cả người thân trong gia đình. Do vậy, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp là một việc hết sức cần thiết. Hãy hòa đồng, nhiệt tình giúp đỡ mọi người trong công việc cũng như sẵn sàng tiếp nhận góp ý xây dựng của đồng nghiệp để bản thân ngày càng hoàn thiện. Nếu như bạn gặp phải những đồng nghiệp “trái tính, trái nết”, ít nhiều gây khó dễ cho bạn thì đó cũng là lẽ thường tình. Hãy luôn giữ vững nguyên tắc “lấy công việc làm trọng tâm”, không để những chuyện vặt vãnh cá nhân ấy ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.

    Một lời khuyên là hãy xem môi trường làm việc như một ngôi trường lớn để học hỏi và rèn luyện kỹ năng, gom góp kinh nghiệm cũng như hoàn thiện nhân cách bản thân. 

     

  • Công đoàn Trường Đại học Thuỷ lợi

    Tổ chức Công Đoàn Nhà trường


    1. Cơ cấu tổ chức:


         Công  đoàn Trường Đại học Thủy lợi hiện có 568 công đoàn  viên thuộc 15 Công đoàn bộ phận, 18 tổ Công đoàn trực thuộc, 55 uỷ viên BCH Công đoàn bộ phận.


    2. Các hoạt động chủ yếu của Công đoàn Trường trong 5 năm qua:


        a/  Công tác tuyên truyền vận động:


             –  Quán triệt, học tập thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước.


               –   Tuyên truyền và tổ chức các hoạt động nhân kỷ niệm  các ngày lễ lớn trong năm.


               – Vận động đoàn viên công đoàn thực hiện tốt các cuộc vận động như “Thực hiện kỷ cương văn minh đô thị”; “Thực hiện nếp sống văn minh công nghiệp trong công chức, viên chức lao động thủ đô”.


               –  Vận động đoàn viên tham gia các hoạt động xã hội từ thiện, luôn có ý thức xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh.


       b/  Công tác thi đua và tham gia quản lý.


               –  Ban chuyên môn công đoàn đã tham gia tích cực trong công tác thi đua khen thưởng, là một kênh thông tin quan trọng giúp Hội đồng thi đua Nhà trường.


               – Công đoàn tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến trong việc soạn thảo, đóng góp ý kiến để xây dựng các quy định, quy chế hoạt động của Nhà trường.


               –  Vận động Cán bộ công chức thực hiện cải cách hành chính trong Nhà trường..


               –  Phối hợp cùng Nhà trường tổ chức tốt Hội nghị công chức, viên chức và tổng kết năm học hàng năm.


           c/  Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đoàn viên công đoàn.


             –  Chăm lo cho đoàn viên công đoàn nghỉ mát, điều dưỡng, thăm hỏi ốm đau, hiếu hỷ…


             – Cùng với Nhà trường lo tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ giáo viên.


          d/  Công tác xây dựng tổ chức Công đoàn và xây dựngĐảng.


             –  Tổ chức tập huấn cho cán bộ công đoàn hàng năm.


             –  Tổ chức bồi dưỡng và giới thiệu các đoàn viên công đoàn ưu tú cho Đảng.


     

  • Hội thảo Khoa học” Ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường”

    Tham dự Hội thảo có các đại biểu đến từ Vụ Khoa học công nghệ, Vụ hợp tác Quốc tế, Chi cục Phòng chống lụt bão và quản lý đê điều, chương trình quốc gia Chống sa mạc thuộc Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên Môi trường, Liên hiệp các Hội Khoa học công nghệ Việt Nam Hội cơ học đất , Hội cơ học đá, Khoa Kỹ thuật Bờ biển Trường Đại học Thủy lợi, đại diện các Trường Đại học…GS.TS Paul Nguyễn Viết Trương, Giám đốc TVNI- Đại diện khu vực Châu Á Thái Bình Dương, bà Elise Pinners, chuyên gia Nông nghiệp Hà Lan.


    Hội thảo nhằm giới thiệu những kết quả nổi bật của Hội thảo Quốc tế lần thứ 4 ICV-4, một số định hướng mới trong ứng dụng công nghệ cỏ Vetiver ở Việt Nam và trên thế giới, trao giải thưởng của Mạng lưới Vetiver Quốc tế (TVNI) và Nhà vua Thái Lan


    Cỏ Vetiver thuộc họ Graminaea, tên Khoa học là Vetiveria zizanioides L. Lợi ích to lớn của chúng là chống xói mòn do bộ rễ phát triển mạnh, thành chùm đan xen trong đất và có thể chịu được lực bằng 1/6 lần so với chịu lực của bê-tông (75 Mpa). Hơn nữa, bộ rễ của loài cỏ này ăn sâu trong đất, 3 mét sâu trong một năm đầu. Do đó, trồng loài cỏ này được xem như xây dựng một hàng rào bê tông sinh học chống lại xói mòn và bảo vệ đất đai.


    Trong vòng 6 năm qua, cỏ Vetiver đã được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam (40/64 tỉnh thành trong cả nước)


    Nhận thấy sự cần thiết đổi mới cuốn “Vetiver grass – The hedge against erosion” do WB xuất bản lần đầu tiên cách đây đã 20 năm, nhóm tác giả GS.TS Paul Trương, TS.Trần Tân Văn – Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản và bà Elise Pinners đã tổ chức biên soạn và giới thiệu tại Hội thảo cuốn “Cẩm nang hướng dẫn kĩ thuật” để quảng bá rộng rãi đến các địa phương đơn vị cũng như có một văn bản hướng dẫn thống nhất, thuận lợi cho việc áp dụng công nghệ cỏ Vetiver. Đại sứ quán Hà Lan hỗ trợ kinh phí xuất bản Tiếng Việt.


    Phần cuối Hội thảo trình bày một số báo cáo về hiệu quả của công nghệ cỏ Vetiver trong giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, các chương trình ứng dụng đã được nghiên cứu và thử nghiệm tại Việt Nam.


    Linh Ngọc


     

  • Giới thiệu sách mới tháng 12































    Earth Science/ Ralph Feather, Jr., Susan Leach Snyder.- New York: Glencoe/McGraw-Hill, 1997.- 792; 28cm (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: giới thiệu về khoa học trái đất, kết cấu của quả đất, sự thay đổi bề mặt, các quá trình chuyển đổi trong lòng đất, quá trình biến đổi của trái đất trong lịch sử, nước và không khí trên địa cầu, sự tác động của con người và môi trường đối với trái đất, chiêm tinh học.


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     



    Science voyages: Exploring the life, Earth and Physical sciences. – North Carolina ed. – New York : Glencoe/McGraw-Hill, 2000. – xxiv, 642 p. : col. ill. ; 28 cm (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: trình bày sự đa dạng của vật chất và tài nguyên thiên nhiên, các hình thái sự sống, khám phá không gian, các tương tác trong thế giới vật lý.


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2



    Invitation to languages: Foreign language exploratory program/ Conrad J. Schmitt.- New York: Glencoe/McGraw-Hill, 1998.- 300; 25cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: giới thiệu một số ngôn ngữ phổ biến như: tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Đức, Latinh, Nhật bản.


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     



    Energy services for the world’s poor.- Washington, DC : The World Bank, 2000.- VII, 127tr; 28cm (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Tập hợp các bài viết phân tích một số khía cạnh giữa sự phát triển của ngành kinh tế năng lượng và vai trò của những chính sách này trong việc cải thiện sự nghèo đói. Giới thiệu những định hướng trong đầu tư tư nhân trong ngành năng lượng những năm 1990-99


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     



    The American Journey/ Joyce Appleby, Ph.D, Alan Prinkley, Ph.D, James M. McPherson, Ph.D.- New York: Glencoe/McGraw-Hill, 2002.- 1000tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: trình bày quá trình hình thành và phát triển của nước Mỹ.


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     



    Storm Center: The Supreme Court in American Politics/ David M. O’Brien.- 6th edition.- New York: Norton & Company, 2003.- 450tr; 21cm (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Kiến thức tìm hiểu về pháp luật và toà án tối cao cũng như luật hiến pháp của quốc gia Hoa Kỳ, một phần quan trọng trong thể chế chính trị Hoa Kỳ. Vấn đề đấu tranh quyền lực liên quan đến luật pháp và toà án, các cơ quan pháp luật, các quyết định toà án và cuộc sống của người dân Mỹ


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     



    American government 03 / 04.- 33rd edition.- Connecticut: McGraw-Hill, 2004.- 225tr; 28cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: Giới thiệu những kiến thức nền tảng về chính trị Mỹ: cơ cấu và hoạt động của Chính phủ Mỹ; tổng thống, Quốc hội và luật pháp Mỹ ; các chính trị gia, các đảng phái và vấn đề bầu cử. Các chính sách kinh tế, xã hội và an ninh quốc gia


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     



    An Introduction to Object – Oriented analysis: Object and UML in Plain English/ David Willam Brown.- 2nd edition.- USA: John Wiley & Son, 2002.- 668tr, 24cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: trình bày các khái niệm về hướng đối tượng và kỹ thuật phân tích hướng đối tượng có sử dụng các ví dụ trong thế giới thực. Tài liệu tập trung vào phân tích, cung cấp các lý thuyết và kỹ năng để thực hành áp dụng các phương pháp phân tích hướng đối tượng trong chu trình phát triển hệ thống.


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     



    Numerical methods for engineers : with software and programming applications/ Steven C. Chapra, Raymond P. Canale. – 4th ed. – Boston : McGraw-Hill, 2003. – xvii, 926 p. : ill. ; 23,5cm. (Sách do Quỹ Châu Á tặng)


    Tóm tắt: trình bày mô hình toán học và kỹ thuật giải quyết vấn đề, giới thiệu phần mềm và lập trình, sai số trong phép tính xấp xỉ và làm tròn, nghiệm của phương trình, nghiệm của đa thức, ma trận…


    Tìm sách tại Kho Ngoại văn tầng 2


     


  • Thư viện trường ĐHTL giới thiệu sách mới

    1.Bê tông cốt sợi thép / B.s.: Nguyễn Viết Trung (ch.b.), Nguyễn Ngọc Long, Phạm Duy Anh. – H. : Xây dựng, 2004. – 102tr. : hình vẽ ; 24cm


    Tóm tắt:
    Cấu tạo chung của bê tông cốt sợi. Tính chất của bê tông cốt sợi thép. Nghiên cứu thực nghiệm về bê tông cốt sợi thép. Cơ sở tính toán kết cấu bê tông cốt sợi thép.



    Kí hiệu: VĐV 554 – 555 (Phòng TLTK tầng 2  viện)


    Phòng đọc Mở tầng 3


    2.Từ điển kỹ thuật xây dựng và máy móc thiết bị thi công Anh – Pháp – Việt/Phạm Thái Vinh.- H.: Xây dựng, 2005.- 831tr; 24cm 


    Tóm tắt:
    Kí hiệu: VĐV 556 – 557 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3










    Sách 1


    Sách 2



    3.Bài tập địa kỹ thuật/Trần Thanh Giám. – H. : Xây dựng, 2005. – 232tr. : bảng, biểu đồ ; 27cm


    Tóm tắt:


    Trình bày lí thuyết và bài tập phân loại đất và tính chất vật lí của đất, tính chất cơ học của đất, tính toán dòng chảy ổn định của NDĐ vào công trình thu nước nằm ngang, tính toán thấm của nước dưới đất và giếng khoan, thí nghiệm tại hiện trường.


     Kí hiệu: VĐL 1888 -1889 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3


    4.Khoa học công nghệ và tổ chức xây dựng / Trịnh Quốc Thắng. – H. : Xây dựng, 2005. – 185tr. : hình vẽ ; 27cm


    Tóm tắt:


    Những vấn đề cơ bản về công nghệ xây dựng, và những định hướng phát triển công nghệ xây dựng ở Việt Nam trong tương lai. Những vấn đề cơ bản về tổ chức xây dựng. Tổ chức lao động khoa học. Tổ chức dự án xây dựng. Tổ chức thời gian và không gian. Áp dụng ISO 9000:2000 trong xây dựng


    Kí hiệu: VĐL 1892 -1893 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3










    Sách 3

            Sách 4


    5.Thiết kế tổng mặt bằng xây dựng / Trịnh Quốc Thắng.- Tái bản – H. : Xây dựng, 2005. – 221tr : bảng, hình vẽ ; 27cm


     Tóm tắt:


    Những khái niệm cơ bản về tổng mặt bằng xây dựng. các chỉ dẫn về thiết kế và các tính toán các công trình tạm cần thiết phục vụ cho quá trình xây dựng


    Kí hiệu: VĐL 1894 -1895 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3


    6.Ván khuôn và giàn giáo / Phan Hùng, Trần Như Đính. – Tái bản. – H. : Xây dựng, 2005. – 221tr : minh hoạ ; 27cm


    Tóm tắt:


    Những khái niệm chung về ván khuôn và giàn giáo, các loại ván khuôn và giàn giáo thông dụng áp dụng cho các loại công trình khác nhau; Những yêu cầu chung về kỹ thuật ván khuôn giàn giáo; Số liệu thiết kế và một số bảng tra tính năng kỹ thuật của ván khuôn, giàn giáo trong xây dựng dân dụng và công nghiệp


    Kí hiệu: VĐL 1896 -1897 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3










            Sach 5         Sach 6

    7.Bài tập cơ học kết cấu / B.s: Nguyễn Tài Trung (Ch.b), Nguyễn Xuân Ngọc, Nguyễn Mạnh Khoa… – In lần thứ 2.- H. : Xây dựng, 2005. – 251tr : hình vẽ ; 27cm


     Tóm tắt:


    Cuốn sách tập hợp 150 bài tập cơ học kết cấu, thuộc bộ môn sức bền vật liệu – Cơ học kết cấu; có lời giải, chủ yếu làm tài liệu học tập cho sinh viên các ngành kĩ thuật xây dựng công trình và tham khảo cho sinh viên, kĩ sư các ngành có liên quan


    Kí hiệu: VĐL 1898 -1900 (Phòng TLTK tầng 2 )


    8.Cơ sở kỹ thuật rung trong xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng / Trần Văn Tuấn. – H. : Xây dựng, 2005. – 377tr. : hình vẽ ; 27cm


    Tóm tắt:


    Tìm hiểu dao động tuyến tính của cơ hệ dao động phi tuyến và ứng dụng trong xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng. Tính toán thiết kế một số loại máy rung sử dụng trong xây dựng và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng


    Kí hiệu: VĐL 1901 -1902 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3









            Sach 7         Sach 8


    9.Giáo trình kết cấu thép – gỗ / B.s: Tạ Thanh Vân (ch.b), Nguyễn Ngọc Thức, Trần Thị Kim Thúy. – Tái bản.- H. : Xây dựng, 2005. – 232tr. : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt:


    Đặc điểm, vật liệu, liên kết, kết cấu thép và gỗ dùng trong xây dựng. Phương pháp tính toán các chi tiết dầm thép, gỗ xây dựng



    Kí hiệu: VĐL 1903 -1904 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3


    10.Bài tập Địa chất thủy văn công trình / Nguyễn Uyên. – H. : Xây dựng, 2005. – 156tr. : bảng, hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt:


    Trình bày lí thuyết và bài tập về địa chất thuỷ văn cơ sở, địa chất thuỷ văn công trình, đặc biệt nghiên cứu sự vận động của dòng thấm dưới đất trong vùng xây dựng các công trình



    Kí hiệu: VĐL 1905 -1906 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3









            Sach 9         Sach 10


    11.Giáo trình vật liệu xây dựng. – H. : Xây dựng, 2005. – 182tr ; 27cm



    Tóm tắt:


    Các tính chất cơ bản của vật liệu xây dựng; Khái niệm, phân loại, thành phần, tính chất, sử dụng vật liệu đá thiên nhiên, bê tông, gốm xây dựng, các chất kết dính, vữa xây dựng và các vật liệu khác




    Kí hiệu: VĐL 1907 -1908 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3


    12.Thuỷ năng và điều tiết dòng chảy / Nguyễn Thượng Bằng, Hoàng Đình Dũng, Vũ Hữu Hải. –In lần thứ 2.-  H. : Xây dựng, 2005. – 210tr : hình vẽ ; 27cm



    Tóm tắt


    Trình bày các phương pháp và kỹ thuật tính toán điều tiết dòng chảy, tính toán thuỷ năng – thuỷ lợi nhằm khai thác có hiệu quả năng lượng tiềm tàng của dòng chảy để phục vụ nhu cầu của con người



    Kí hiệu: VĐL 1909 -1910 (Phòng TLTK tầng 2 )


    Phòng đọc Mở tầng 3









            Sach 11         Sach 12

  • Kết luận giao ban Ban chỉ đạo thực hiện cuộc vận động nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục Quý 1/2007

    Theo Thông báo số 405 TB/ĐHTL-QLSV ngày 24 tháng 4 năm 2007


    THÔNG BÁO


    Kết luận giao ban Ban chỉ đạo thực hiện cuộc vận động nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục Quý 1/2007


     


    Thực hiện chỉ đạo của Bộ GD và ĐT và Bộ NN và PTNT về việc thực hiện cuộc vận động nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, Nhà trường đã giao cho Ban chỉ đạo phòng chống tệ nạn xã hội chỉ đạo thực hiện cuộc vận động này. Ngày 19/4/2007, Ban chỉ đạo đã họp giao ban quý 1/2007, sau khi nghe thường trực Ban chỉ đạo báo cáo và các thành viên đóng góp ý kiến, thảo luận, GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng – Trưởng ban đã kết luận như sau:


    I. Kết quả đã thực hiện trong thời gian qua


    – Hưởng ứng cuộc vận động của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và thực hiện chỉ đạo của 2 Bộ, ngày 13/10/2006 Nhà trường đã có chương trình hành động số 1118/CTr-ĐHTL về việc hưởng ứng cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và đã được triển khai đến toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên để thực hiện.


    – Quán triệt nội dung Chỉ thị 33/2006/CT-TTg  của Thủ tướng Chính phủ, mục đích yêu cầu của cuộc vận động nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, phát động phong trào thi đua trong toàn thể cán bộ giảng viên, công nhân viên và sinh viên trong Nhà trường. Tại Hội nghị tổng kết năm học 2005-2006 Nhà trường đã phát động phong trào sinh viên thực hiện kỳ thi nghiêm túc, không vi phạm quy chế thi và không có tiêu cực trong học tập và thi, kiểm tra.


    – Tuyên truyền trong sinh viên trên hệ thống phát thanh và trong các thông báo sinh hoạt chính trị cho sinh viên để triển khai, hưởng ứng mạnh mẽ cuộc vận động này.


    – Nhà trường đã tiến hành làm thẻ nhựa mã vạch cho sinh viên để quản lý chặt chẽ, theo hướng hiện đại và cũng như chống gian lận trong thi cử.


    – Đã bố trí các hòm thư tố giác các hiện tượng tiêu cực, kiện toàn tổ thăm dò dư luận sinh viên để nắm bắt tình hình, phát hiện các hiện tượng tiêu cực.


    – Đưa trên diễn đàn một luồng chuyên về các vấn đề tiêu cực để Nhà trường nắm bắt thông tin và giải quyết kịp thời các hiện tượng.


    – Đưa các quyết định, văn bản, các quy chế và chương trình cuộc vận động của Bộ, của Trường lên trang Web.


    – Triển khai rộng rãi trong cán bộ giảng viên và sinh viên về việc thực hiện quy chế 25 của Bộ GD và ĐT.


    – Tổ chức đối thoại giữa Ban giám hiệu với toàn thể sinh viên để triển khai, quán triệt những hoạt động của Trường tới sinh viên, cũng như trả lời và giải quyết triệt để, dân chủ những ý kiến đề xuất kiến nghị của sinh viên.


    – Kiện toàn bộ phận khảo thí, đã thành lập Phòng khảo thí và kiểm định chất lượng để trực tiếp tổ chức thực hiện, quản lý công tác thi kết thúc học phần các môn học của sinh viên một cách công bằng, minh bạch và tiến hành công tác kiểm định chất lượng trường.


    – Kiện toàn bộ máy thanh tra giáo dục đi vào hoạt động nền nếp và hiệu quả. Thanh tra giáo dục đã thường xuyên kiểm tra việc lên lớp, giảng dạy của giáo viên, việc thực hiện quy chế của sinh viên và kiểm tra công tác tổ chức thi cho sinh viên.


    – Nhà trường đã tiến hành thí điểm làm ngân hàng đề thi ở một số môn học do Phòng khảo thí và kiểm định chất lượng quản lý và khuyến khích các Bộ môn ra đề thi theo hình thức thi trắc nghiệm hoặc thi tự luận nhưng cho sử dụng tài liệu để giảm bớt gian lận trong thi cử.


    Tuy nhiên, Ban chỉ đạo nhận thấy việc triển khai thực hiện chương trình hành động 1118/CTr-ĐHTL về việc hưởng ứng cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” chưa được đồng bộ và triệt để, còn nhiều việc chưa triển khai và triển khai chậm như: việc ký cam kết thực hiện giữa sinh viên với Nhà trường, cam kết giữa các hiệu Photocopy và kiểm tra nhắc nhở về việc in sao tài liệu cho sinh viên, tổ chức thi tìm hiểu và sân khấu hoá các hoạt động v.v.


    II. Kế hoạch triển khai tiếp trong quý 2/2007


    Tiếp tục thực hiện chương trình hành động của Trường, đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nội dung đã đưa ra và thống nhất giao cho các đơn vị thực hiện trong quý 2/2007 như sau:


     




























































































































    Số TT


    Công việc


    Người phụ trách


    Đơn vị tiển khai thực hiện


    Đơn vị phối hợp


    Thời gian thực hiện


     


    1


    Tiếp tục triển khai các hình thức tuyên truyền tới cán bộ, giảng viên và sinh viên về chương trình hành động dưới mọi hình thức.


     


    Ô. Nhung


     


    P7


    ĐTN, HSV, KTX


    Liên tục trong quý 2/2007


     


     


    2


    Triển khai phát thanh về việc thực hiện chương trình hành động, nêu các gương người tốt, việc tốt, cũng như thông báo nhắc nhở những hiện tượng vi phạm quy chế, vi phạm kỷ luật trong sinh viên.


     


     


    Ô. Vũ


     


     


    KTX


     


     


    P7, ĐTN, HSV


     


    Liên tục trong quý 2/2007


     


     


    3


    Tiếp tục triển khai mạnh mẽ các bài viết tuyên truyền, nêu gương người tốt việc tốt, phê phán những biểu hiện tiêu cực, vi phạm nội quy, quy chế trên trang Web của trường.


     


     


    Ô. Hưng


     


    Nhóm PR, HCTH


     


    P7, ĐTN, HSV


     


    Liên tục trong quý 2/2007


     


     


     


    4


    Tiếp tục kiện toàn bộ máy thanh tra, bộ phận thanh tra giáo dục và tiến hành kiện toàn ngay tổ kiểm tra nền nếp học tập, thi cử của Nhà trường và triển khai kế hoạch công tác để hỗ trợ cho các đơn vị trong việc kiểm soát mùa thi học kỳ 2 sắp tới.


     


     


    Ô. Thịnh (TH)


     


     


    HCTH


     


     


    P2


     


     


    Trước 15/5/2007


     


     


     


    5


    Rà soát quy trình tổ chức thi, chấm thi của tất cả các hệ, các bậc đào tạo và các địa điểm đào tạo của Trường. Lên phương án phối hợp và giám sát chặt chẽ các kỳ thi, nhằm tăng cường tính trật tự, kỷ cương trong thi học kỳ và kết thúc học phần của sinh viên.


     


     


     


    Ô. Nghĩa


     


     


    Khảo thí và KĐCL


     


     


    ĐT ĐH&SĐH


     


     


    Trước 31/5/2007


     


     


     


    6


    Sửa chữa kịp thời các thiết bị phục vụ học tập và giảng dạy tại các giảng đường phục vụ cho mùa hè và đặc biệt là mùa thi học kỳ 2 năm học 2006-2007. Có kế hoạch và triển khai bảo dưỡng, bổ sung  quạt cho khu giảng đường và khu Ký túc xá sinh viên.


     


     


     


    Ô. Thịnh (P1)


     


     


     


    P1


     


     


    ĐT ĐH&SĐH KTX


     


     


    Trước 15/5/2007


     


    7


    Rà soát lại quy trình, tiêu chí thi đua để bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện phù hợp với tình hình mới, đảm bảo tránh bệnh thành tích trong giáo dục.


     


    Ô. Thịnh (TH)


     


    HCTH


     


    Ban CM Công đoàn


     


    Trước 30/6/2007


     


    8


    Tổ chức Hội thảo về đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá sinh viên.


    Ô. Thành (CĐ)


    Công đoàn


    KT&KĐCL ĐH&SĐH


    Trước 30/6/2007


     


     


     


    9


    Thông báo nhắc nhở các ki ốt Photocopy và các hộ trong khu tập thể có cửa hàng Photocopy về việc không in, sao các tài liệu ở dạng phao thi cho sinh viên. Lên kế hoạch kiểm tra, đưa ra các hình thức cam kết cho các hộ kinh doanh và xử lý với những trường hợp vi phạm.


     


     


     


    Ô. Thịnh (TH)


     


     


     


    Công đoàn


     


     


     


    Bảo vệ


     


     


    Trước 31/5/2007


     


     


    10


    Triển khai cho Đoàn viên, sinh viên ký cam kết với Nhà trường về việc thực hiện chương trình hành động thực hiện cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.


     


     


    Ô. Bách


     


     


    ĐTN


     


     


    HSV, P7


     


    Trước 30/6/2007


     


     


    11


    Tổ chức lồng ghép cuộc thi tìm hiểu, sân khấu hoá về thực hiện chương trình này với các hoạt động của chương trình phòng chống tệ nạn xã hội.


     


     


    Ô. Bách


     


     


    ĐTN


     


     


    HSV, P7


     


    Từ nay đến hết năm 2007


     


     


    12


    Tổ chức cuộc thi vẽ tranh, tìm hiểu, sưu tầm tranh cổ động và các khẩu hiệu phù hợp với chương trình hành động để tuyên truyền ở khu giảng đường và Ký túc xá.


     


     


    Ô. Bách


     


     


    ĐTN


     


     


    HSV, P7


     


    Từ nay đến hết năm 2007


     


    13


    Tiếp tục triển khai việc thành lập ngân hàng đề thi và tổ chức ra đề thi theo hình thức thi trắc nghiệm.


     


    Ô. Nghĩa


     


    Các Bộ môn


     


    ĐH&SĐH


     


    Cả năm


     


     


    14


    Có kế hoạch chi tiết và triển khai việc giám sát, kiểm tra chặt chẽ công tác tổ chức thi học kỳ và thi kết thúc các học phần cho sinh viên.


     


    Ô. Thịnh (TH)


     


    HCTH


     


    KT&KĐCL


     


    Trước 15/5/2007


     


     


     


    15


    Nghiên cứu chủ đề, lên chương trình thi đua, phát động và tổ chức thực hiện trong toàn trường về mùa thi hưởng ứng cuộc vận động nói không với tiêu cực trong thi cử cho kỳ thi học kỳ 2 năm học 2006-2007. Có phát động, tổng kết và khen thưởng.


     


     


     


    Ô. Bách


     


     


     


    ĐTN


     


     


     


    HSV


     


     


    Trước 15/5/2007


     


     


    16


    Sơ kết 1 năm thực hiện chương trình hành động hưởng ứng cuộc vận động của Bộ trưởng, khen thưởng những cá nhân, tập thể có nhiều thành tích. Kiểm điểm công tác và xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm học mới.


     


     


    Ô. Bá


     


     


    P7


     


    HCTH, các đơn vị, các  thành viên BCĐ


     


    Trong đợt tổng kết năm học 2006-2007 các khối


     


    – Cơ sở 2, ĐH2 dựa vào điều kiện thực tế, căn cứ vào những nội dung của kế hoạch hoạt động trong quý 2/2007 của Ban chỉ đạo Trường, để đề ra nội dung cụ thể triển khai thực hiện có hiệu quả tại Cơ sở 2 và ĐH2.


    Các đơn vị triển khai các nội dung trong kế hoạch và báo cáo kết quả thực hiện cho Ban chỉ đạo trường trước ngày 30/6/2007 qua Phòng CTCT và QLSV để giao ban hết Quý 2/2007  và chuẩn bị sơ kết vào dịp tổng kết năm học 2006-2007.


     


    KT.HIỆU TRƯỞNG
    Phó hiệu trưởng
    Trưởng ban chỉ đạo



    Đã ký


     GS.TS Phạm Ngọc Quý

  • Đổi mới giáo dục và người lãnh đạo: Phần 2: Xu hướng học tập và vai trò hiệu trưởng


    >> Phần 1: Thế giới thay đổi – Giáo dục thay đổi


    >> Phần 3: Những việc cần triển khai

    >> Phần 2: Xu hướng học tập và vai trò hiệu trưởng

    5. Các xu hướng học tập
    John Bransford, trong tác phẩm Cách người ta học, nhận diện ra 3 vấn đề chủ chốt trong cách thức mọi người học tập, nhất là các học sinh nhỏ.


    1. Người học tới lớp học với định kiến về cách thế giới vận hành. Nếu ở lớp mà giáo viên không tính tới hiểu biết ban đầu đó thì học sinh có thể không nắm được khái niệm và thông tin mới được dạy, hay học sinh có thể học chỉ để cho qua kì kiểm tra nhưng vẫn giữ lại định kiến cũ bên ngoài lớp học.


    2. Để phát triển năng lực trong lĩnh vực cần truy tìm, người học phải:


    a) có nền tảng sâu sắc về tri thức sự kiện,
    b) hiểu biết các sự kiện và ý tưởng trong hoàn cảnh của khuôn khổ khái niệm,
    c) tổ chức tri thức theo cách làm thuận tiện cho việc truy lục và áp dụng.


    3. Cách tiếp cận siêu nhận thức tới việc học có thể giúp cho người học nắm quyền điều khiển việc học riêng của mình bằng cách xác định mục đích học tập và điều phối tiến bộ để đạt tới mục đích này.


    Hệ quả của ba phát hiện này về việc dạy là gì? Thứ nhất, giáo viên phải tiến hành giảng dạy dựa trên hiểu biết đầy đủ về vốn tri thức hiện có của người học. Điều này đòi hỏi phải thường xuyên có sự đánh giá chính xác về việc học của học sinh, cũng là điều phù hợp hoàn toàn với các nguyên tắc đánh giá của chương trình đào tạo. Những đánh giá chính thức thường xuyên cung cấp những phản hồi giúp cho người học sửa đổi và hiệu chỉnh cách nghĩ của mình.
    Hệ quả thứ hai đối với việc dạy là ở chỗ giáo viên cần phải dạy các chủ đề theo chiều sâu, cung cấp nhiều ví dụ về khái niệm trong vận hành. Chúng ta để ý thấy điều này trong các chương trình đào tạo khi có nhiều chủ điểm được tái xuất hiện qua nhiều năm. Cần phải đảm bảo rằng chúng ta sử dụng sự lặp lại này để xây dựng hiểu biết sâu sắc hơn về các khái niệm chủ chốt. Điều này cũng có nghĩa là giáo viên phải là chuyên gia về lĩnh vực chủ đề. Tri thức chủ đề là hòn đá tảng cho việc dạy hiệu quả. Việc đánh giá nên kiểm tra sự hiểu sâu hơn.
    Hệ quả thứ ba cho việc dạy là ở chỗ cần phát triển việc dạy về những kĩ năng siêu nhận thức, đưa yếu tố cách học tập tích hợp vào trong chương trình ở nhiều lĩnh vực tri thức. Siêu nhận thức thường là đối thoại bên trong về cách thức học tập , nhưng giáo viên phải mô hình hóa việc tư duy này. Đây là điều cần làm khi nói rằng chúng ta cần phát triển khả năng cho người học tự tìm hiểu cách học tập của mình.


    Tuy nhiên thực tế một số môn học hiện nay không đi sát được ba xu hướng này. Xem xét một số thực tế môn học cụ thể sẽ cho thấy rõ hơn những bất cập hiện nay.


    6. Thực tế một số môn học
    6.1 Môn lịch sử


    TS Sam Wineburg, giáo sư lịch sử Đại học Stanford nêu ra một nhận xét được đa số mọi người thừa nhận, “môn lịch sử gây chán cho học sinh với việc giáo viên chỉ giới thiệu các tên người và địa danh cùng ngày tháng”. Peter Lee, giáo sư lịch sử tại Đại học London có ý kiến, “mọi người có định kiến rằng lịch sử chỉ gồm các tên tuổi và ngày tháng”. Rosalyn Ashby, giáo sư lịch sử, Đại học London nhấn mạnh, “mọi người chóng quên đi sự kiện, họ không mang theo hiểu biết, họ đã không học cách đặt mối liên hệ các sự kiện với nhau, không hiểu trạng thái các sự kiện và các trạng thái khác biệt khi chúng được đặt vào các mối quan hệ khác nhau.” Vì vậy người ta thường hiểu một cách đơn giản


    Lịch sử = Tên & Ngày tháng


    Ngày nay đã xuất hiện những quan điểm khác về học lịch sử. Học lịch sử là học về các luận cứ được suy diễn và học các tài liệu lịch sử chứ không phải là học chỉ về các sự kiện lịch sử. Như vậy cái hiểu trong việc học lịch sử phải được nâng lên mức khái niệm cấp hai: hiểu về bằng chứng, nguyên nhân, và những điều gây ra thay đổi, không chỉ là những dấu ấn cụ thể theo thời gian và sự việc. Việc học lịch sử cần được chuyển sang một kiểu mới. Cần bắc cầu qua những quan niệm ngây thơ của học sinh về các khái niệm lịch sử để cho học sinh có thể tham gia đầy đủ hơn vào quá trình suy diễn lịch sử.


    Giáo sư Peter Lee nói: “Định kiến ảnh hưởng tới cách diễn giải các biến cố lịch sử. Học sinh mang định kiến gì khi chúng ta giảng giải cặn kẽ về các biến cố lịch sử? Nếu lịch sử được dạy theo định kiến về cách con người nên hành xử trong những hoàn cảnh đặc biệt thì chúng ta bị mắc vấn đề”.


    Trong quan hệ với hoàn cảnh xã hội và chính trị lớn, cách diễn giải của học sinh dựa vào kinh nghiệm cá nhân. Vì vậy việc giảng dạy lịch sử cần cho học sinh thấy được hoàn cảnh lịch sử và các xu hướng tạo ra những cách nghĩ và cách hành động của thời đại đó, chứ không dựa vào những diễn giải cá nhân.


    6.2 Môn khoa học


    TS Jim Minstrell nhận xét về việc dạy môn khoa học, “Thách thức mà giáo viên phải đối diện khi họ chấp nhận cách dạy dựa trên truy tìm là phải thường xuyên đề cập tới quan niệm và quan niệm sai của học sinh ngay trong soạn giáo trình và việc dạy của mình.” Việc dạy các môn khoa học không chỉ đơn thuần là đưa ra những tổng kết, những qui luật đã được khoa học đúc rút mà học sinh phải học thuộc. Cần phải làm sao qua việc dạy về khoa học, rèn luyện được cho học sinh thói quen và cách làm việc khách quan, khoa học. Muốn vậy giáo viên cũng phải là người tham gia vào quá trình sáng tạo tri thức, người khai triển và đưa ra các nhận xét về chính quá trình học tập khoa học của mình. Kinh nghiệm của Minstrell đã giúp ông ấy phát triển tri thức siêu nhận thức tích cực về bản thân mình như một người học và điều đó cũng là cần thiết cho mọi người học khác.


    Việc dạy về khoa học không phải chỉ dạy về các nguyên lí và qui luật đã được đúc kết thành lời văn, công thức; cần phải dạy cho học sinh trở thành người tự học, tự truy tìm tri thức cả đời. Môn khoa học do vậy không chỉ dạy cho học sinh yếu tố khách quan, quan sát và phát hiện vấn đề mà còn phải dạy cho học sinh cách điều chỉnh lại quan niệm và đi theo những ý tưởng sáng tạo mới trước đây chưa có.


    Có những cách tiếp cận hay để phát triển chương trình đào tạo hỗ trợ cho việc học với hiểu biết và động viên việc làm ra ý nghĩa. Một cách tiếp cận là “hình thức hóa dần,” bắt đầu từ những ý tưởng không hình thức mà học sinh đem tới trường và giúp đỡ dần cho các em thấy cách các ý tưởng đó có thể được biến đổi và hình thức hóa. Các giáo viên động viên học sinh xây dựng các ý tưởng không hình thức theo cách thức dần dần nhưng có cấu trúc để cho họ thu được khái niệm và thủ tục của một bộ môn.


    6.3 Môn công nghệ


    Đặc điểm của môn công nghệ là giáo viên thông thường không bắt kịp với công nghệ mới, do tiến bộ công nghệ thì nhanh, mà giáo viên lại được biết tới tiến bộ đó khá chậm, nhiều khi còn chậm hơn cả học sinh. Vậy phải làm sao giúp cho học sinh có học vấn về công nghệ mới?
    Dạy kĩ năng công nghệ thách thức các giáo viên về vấn đề rất lớn là làm sao để học sinh có được sự quen thuộc thích ứng với nền công nghệ chứ không chỉ là kĩ năng dùng công cụ. Vậy thì dạy công nghệ có phải là dạy kĩ năng gõ máy, như sử dụng chương trình soạn thảo văn bản, tính toán trên bảng tính, làm website…? Chắc chắn các kĩ năng đó giúp ích rất nhiều cho học sinh học công nghệ, nhưng đó không phải là tất cả những gì công nghệ đòi hỏi mà còn cần dạy thêm nhiều điều khác nữa.


    Học sinh cần được học cách tham gia vào công nghệ để làm ra sản phẩm. Việc học kĩ năng công nghệ như vậy cần có mục đích rõ ràng và tạo sự lí thú. Rõ ràng học trong hoàn cảnh học sinh tạo ra cái gì đó sẽ gây hứng thú với họ và có tiềm năng có giá trị cho người khác.
    Sự khác biệt chính trong dạy công nghệ so với dạy các môn khác là dạy cách thực hiện một công việc “tại chỗ”, làm ra sản phẩm với nhiệm vụ xác định, có sử dụng công nghệ và phối hợp nhiều người.


    7. Tiến hành thay đổi trong hệ thống giáo dục
    7.1 Vai trò của hiệu trưởng








    Sự thay đổi trong yêu cầu của xã hội đối với giáo dục đòi hỏi việc chuyển biến cả về nhận thức của con người và tổ chức đối với giáo dục. Việc đổi mới giáo dục là nhu cầu tất yếu của mọi nước trên thế giới và vai trò lãnh đạo sự thay đổi này trong các nhà trường thuộc về các hiệu trưởng cũng như các cấp lãnh đạo giáo dục. Đổi mới thành công đòi hỏi tất cả những người tham gia trong hệ thống giáo dục sẵn lòng và có khả năng phối hợp các nỗ lực. Tuy nhiên trong nhà trường, hiệu trưởng chính là người đứng ra tổ chức đưa những thay đổi vào trường học một cách có kế hoạch và bài bản.


    Hiệu trưởng phải là người tạo ra hành lang thích ứng tối ưu cho sự thay đổi. Hiệu trưởng nhà trường cần phát huy quyền lãnh đạo của mình thế nào trong quá trình đưa những yếu tố mới vào công việc giảng dạy? TS Michael Fullan quan niệm cần xét tới 2 khía cạnh của đổi mới: Đổi mới bao gồm thực hiện “điều” mọi người cùng muốn thay đổi và chiến lược đổi mới sẽ ảnh hưởng tới bản thân quá trình đổi mới.


    Điều này có nghĩa là trước hết toàn bộ các giáo viên trong nhà trường cần phải được thống nhất về quan niệm đổi mới giáo dục và cùng đồng lòng tiến hành công việc đổi mới. Trước khi tiến hành những thay đổi về tổ chức và phương pháp làm việc, mọi người cần được thông tin, trao đổi và bàn bạc để nhận thức rõ vấn đề mà toàn trường cần đạt tới. Sự thay đổi cần trở thành mong muốn của mọi người trong trường.


    Những sự thay đổi chính bao giờ cũng bắt nguồn từ từng con người, từ việc bản thân họ thay đổi cách thức làm việc cũ để đưa yếu tố mới vào. Sự thay đổi cục bộ đó được phối hợp nhịp nhàng trong cả trường, trong tổ chức sẽ làm biến chuyển tác phong cũng như lề lối làm việc của cả trường. Và khi mà nhiều trường cùng đưa vào những cách giảng dạy, giáo dục mới phù hợp với yêu cầu của thời đại thì sẽ tạo ra phong trào thay đổi căn bản trong nền giáo dục.
    Trên cơ sở đó hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch thay đổi, đổi mới dần các khía cạnh giáo dục cho sát hợp với thực tế và với các yêu cầu của các cấp lãnh đạo giáo dục. Chiến lược thực hiện đổi mới của hiệu trưởng do vậy sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới chính quá trình đổi mới và quyết định sự thành công hay thất bại của công việc này.


    Đổi mới là chuyển sang cách thức làm việc mới. Thay đổi những thói quen đã quen thuộc ban đầu thường dẫn tới sụt giảm tạm thời về hiệu năng và có thể có sự hỗn loạn trong tổ chức. Điều đó là không tốt cho ngắn hạn nhưng lại hữu ích cho phát triển lâu dài.


    7.2 Thay đổi trong hoàn cảnh Việt Nam


    Đã từ lâu có xu hướng ngày càng tăng việc hành chính hoá các cơ quan tổ chức của nhà nước ở Việt Nam và trường học không phải là ngoại lệ. Nhưng hiệu trưởng trong nhà trường thực sự không phải là quan chức hành chính chỉ làm theo các mệnh lệnh từ trên đưa xuống. Hiệu trưởng phải là người lãnh đạo sáng tạo và năng động, biết nhìn nhận tình huống xã hội xung quanh trường để đưa ra những quyết định chính xác thúc đẩy việc đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu thực tế.









    Hoàn cảnh chung của xã hội và của nhà trường đang có những thay đổi lớn khi mà công nghệ đi dần vào cuộc sống và trở thành công cụ chính cho mọi người trao đổi và làm việc. Tuy nhiên môi trường pháp lí cho hoạt động giáo dục và công nghệ thì chuyển biến chậm hơn các tiến triển thực tế. Do đó hiệu trưởng cần thấy rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong việc tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động giảng dạy và công nghệ. Sự năng động của nhà trường sẽ giúp các cấp lãnh đạo quản lí giáo dục nhanh chóng hơn trong việc tạo hành lang pháp lí chính thức cho những vấn đề mới. Đòi hỏi của xã hội đặt ra các mục tiêu mới mà hiệu trưởng cần nhận biết và làm cho nhà trường đáp ứng được.


    Để tạo được nền tảng công nghệ trong nhà trường, cần có đầu tư tối thiểu vào việc trang bị máy móc và huấn luyện người sử dụng. Nếu chờ đợi vào những đầu tư của nhà nước thì việc tiến lên tầm mức giáo dục mới trên nền công nghệ sẽ rất chậm chạp và không đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện tại. Vì vậy hiệu trưởng cần nhạy bén và linh hoạt trong việc huy động nhiều nguồn tài lực khác để xây dựng nền tảng công nghệ trong nhà trường. Không chờ đợi và ỷ lại cấp trên chính là xuất phát điểm để hiệu trưởng đi vào việc tổ chức các hoạt động giảng dạy mới. Sự hỗ trợ về tri thức công nghệ từ các công ty công nghệ thông tin là giúp đỡ rất quí báu mà các hiệu trưởng cần cố gắng tận dụng tối đa để làm cho đội ngũ giáo viên có sự phát triển mạnh về tri thức công nghệ mới. Sự hỗ trợ còn tới từ các trường khác và những thông tin được phổ biến trên mạng, đó là những nguồn tri thức mới bổ sung cho sự sáng tạo tri thức tại chính nhà trường.
    Đầu tư vào phần cứng máy móc chỉ có hiệu quả chừng nào nó đi song song với việc trang bị đầy đủ tri thức sử dụng máy móc cho các giáo viên. Và hơn thế nữa, các giáo viên cần phải biết tận dụng sáng tạo công cụ mới vào việc giảng dạy của mình. Do vậy vai trò của hiệu trưởng trở thành rất quan trọng trong việc lập kế hoạch chiến lược để sử dụng các nguồn lực huy động được, hình thành ra môi trường làm việc mới cho giáo viên và học sinh trên nền công nghệ. Môi trường này là rất thiết yếu vì nó cho phép chuyển tải tri thức mới cho các giáo viên và học sinh, và do đó thiết lập ra những vấn đề giáo dục đào tạo mới.


    Trên cơ sở có kế hoạch chiến lược thiết lập nền công nghệ và môi trường giảng dạy mới, hiệu trưởng còn là người trung tâm tổ chức và động viên các giáo viên trong trường hăng hái cải tiến và đưa những phương pháp giảng dạy mới có dùng công nghệ vào thực tế. Điều này sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đưa giáo dục đi sát với yêu cầu của thời đại.
    Với việc quản lí chặt chẽ các tiến bộ công nghệ trong giáo dục, hiệu trưởng thực tế là người tổng chỉ huy cho những phát triển mới của giáo dục trong phạm vi trường của mình. Những tiến bộ mới bao giờ cũng bắt nguồn từ các hoạt động thực tế phong phú của những giáo viên và hiệu trưởng năng động nhất. Sự tổng kết và nhân rộng các điển hình thành công của công nghệ hỗ trợ cho giáo dục sẽ làm thúc đẩy giáo dục có những bước phát triển mới trong thời đại ngày nay.


    7.3 Thay đổi môi trường học tập


    Jane Mercer, nhà nghiên cứu xã hội học cổ điển cho rằng: môi trường trường học điển hình thường làm cho chúng ta đánh giá thấp khả năng của học sinh. Môi trường học tập cổ điển thường được quan niệm như một băng chuyền nạp tri thức và kĩ năng vào cho học sinh: từ mẫu giáo – phổ thông 12 năm – đại học. Và nhà trường phổ thông hoàn thành trách nhiệm khi cho ra lò các thế hệ học sinh trung học với những hiểu biết và tri thức được ấn định sẵn.
    Môi trường học tập mới hiện nay đã phát sinh và vượt ra ngoài khuôn khổ giáo dục truyền thống của các nhà trường phổ thông và đại học. Môi trường học tập mới nảy sinh theo các chủ đề mới trong kinh tế và xã hội và yêu cầu con người phải thường xuyên học tập để theo sát tiến bộ mới. Như vậy việc học tập của mọi người nay không dừng lại sau băng chuyền học tập từ mẫu giáo-phổ thông-đại học mà tiếp tục không ngừng trong cả đời người để theo sát tiến bộ công nghệ.
    Môi trường học tập mới đòi hỏi con người phải có kĩ năng tự học, tự tìm kiếm tri thức trên mạng tri thức toàn cầu, qua Internet, qua truyền hình… Việc tự trang bị tri thức mới cho mình để đáp ứng với các yêu cầu luôn biến động của thực tế trở thành đòi hỏi của xã hội hiện nay. Giáo dục ở các bậc phổ thông và đại học nay còn phải trang bị thêm cho học sinh khả năng tự học tập cả đời như vậy, bên cạnh những tri thức cốt yếu và đã được tích luỹ.


    7.4 Liên kết các viễn cảnh của môi trường học tập


    Bốn viễn cảnh chính về môi trường học tập, đặt trọng tâm vào người học, trọng tâm vào tri thức, trọng tâm vào đánh giá và trọng tâm vào cộng đồng, thực tế là sự bổ trợ lẫn cho nhau để tạo ra hoàn cảnh học tập thuận lợi nhất cho người học. Việc liên kết các viễn cảnh này là quan trọng cho các trường cũng như cho các tổ chức nói chung. Ý tưởng chính ở đây là liên kết các mục đích học tập với điều được dạy, cách dạy nó, và cách đánh giá nó. Thiếu sự liên kết này thì khó mà biết được điều gì đã được học. Học sinh có thể học thông tin có giá trị, nhưng người ta chẳng thể biết được chừng nào chưa có liên kết giữa điều họ học và các đánh giá về việc học đó. Tương tự, học sinh có thể học những điều mà người khác cho là vô giá trị chừng nào chương trình đào tạo và việc đánh giá còn chưa được liên kết với mục tiêu học tập nghĩa rộng của cộng đồng.
    Cách tiếp cận hệ thống để thúc đẩy sự phối hợp giữa các hoạt động là cần thiết để thiết kế ra môi trường học tập hiệu quả từ trong lớp tới nhà trường. Các hoạt động bên trong lớp học có thể được liên kết nhưng phải khớp với hoạt động của nhà trường. Và nhà trường như một toàn thể cần có sự liên kết nhất quán các lớp học. Điều này có nghĩa là các đổi mới và canh tân giáo dục được đưa vào trong nhà trường phải được tiến hành đồng bộ. Một số trường thiết lập chính sách nhất quán về các chuẩn và những mong đợi để tiến hành công việc và đạt tới kết quả. Khi hiệu trưởng và các giáo viên cùng làm việc để xác định tầm nhìn chung cho toàn thể trường học, thì việc học có thể được cải thiện rất nhiều.


    Các hoạt động bên trong nhà trường cũng phải được liên kết với các mục đích và thực hành đánh giá của cộng đồng. Lý tưởng nhất là mục đích của giáo viên về học tập phải khớp với chương trình họ dạy và mục đích của trường đến lượt nó lại khớp với mục đích trong các kì thi vẫn có trong hệ thống nhà trường. Những nhân tố này không được liên kết với nhau sẽ gây ra trục trặc. Sự thay đổi hiệu quả đòi hỏi xem xét đồng thời tới tất cả các nhân tố này. 


     Theo Tiasang

  • Phương pháp thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn


            NGHIÊN CỨU VÀ LUẬN BÀN VỀ
    PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ CẤP PHỐI BÊ TÔNG ĐẦM LĂN

                                     ThS. Nguyễn Như  Oanh


                                     NCS. Đại học Vũ Hán – Trung Quốc


                Đập bê tông đầm lăn là loại bê tông có sự khác biệt so với bê tông dẻo thông thường. Nó có lượng dùng cát lớn, lượng dùng xi măng nhỏ, thường dùng  lượng vật liệu hỗn hợp với tỷ lệ lớn. Hỗn hợp BTĐL không có tính dẻo, hiện rõ trạng thái phân tán, rời rạc, nhưng hỗn hợp BTĐL vẫn có những đặc điểm giống như bê tông thông thường là sau khi đầm lèn chặt, nó cũng ngưng kết và cứng hoá. Đặc biệt là vật liệu kết dính qua quá trình thuỷ hoá sinh ra các sản phẩm dính kết các hạt cốt liệu thành một thể hoàn chỉnh, cường độ cũng tăng liên tục theo tuổi của bê tông. Do hàm lượng vữa vật liệu kết dính trong bê tông đầm lăn tương đối ít nên tính kết dính của hỗn hợp tương đối kém, BTĐL có phương pháp thi công giống như thi công đắp vật liệu cát, đất đá, cho nên có thể xem hỗn hợp bê tông đầm lăn như là loại vật liệu hỗn hợp cát, đất, đá. Đó là tổng hợp các hệ rắn, thể lỏng, và thể khí. Sự đầm lèn của hỗn hợp BTĐL để tăng độ chặt khác so với bê tông thông thường, đó là dùng đầm rung lèn chặt từng tầng bê tông. Hỗn hợp BTĐL được máy đầm rung, chấn động và tác dụng của lực nén làm chặt lại, có thể tích rắn chắc, làm vị trí các hạt   khi rắn chắc sẽ đạt tới vị trí mới, sinh ra sự thay đổi vị trí tương đối giữa các hạt tiếp xúc lẫn nhau. Các hạt nhỏ bị dồn lèn lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt lớn, không khí trong lỗ rỗng bị dồn đẩy ra ngoài. Hỗn hợp bê tông dần dần bị lèn chặt. Ngoài ra vữa vật liệu kết dính trong hỗn hợp BT có tính thay đổi khi tiếp xúc, trong khi đầm lèn do sự thay đổi  sự keo kết mà dung dịch keo gọi là “hoá lỏng” nên có tính lưu động nhất định, dần dần lấp đầy lỗ rỗng, làm không khí bị đẩy ra ngoài. Do vậy, độ đầm lèn chặt của bê tông đầm lăn ngoài có đặc điểm cơ bản giống bê tông thông thường còn có một số đặc tính giống như thi công như đầm lèn vật liệu đất.


                Chính vì hỗn hợp bê tông đầm lăn và BTĐL sau khi cứng hoá có một số đặc tính giống như bê tông và vật liệu hỗn hợp cát, đất, đá, nên tỷ lệ phối hợp bê tông đầm lăn có thể tiến hành thiết kế cơ bản theo nguyên lý của bê tông thông thường, cũng có thể tiến hành thiết kế gần như vật liệu đất đắp. Các nguyên lý, phương pháp thiết kế bê tông đầm lăn được xem hỗn hợp BTĐL như là bê tông thông thường, cường độ  bê tông và các tính năng khác có thể tuân theo mối quan hệ với tỷ lệ N/CKD được Abrams thành lập từ năm 1918.


    Trong hỗn hợp bê tông  cần yêu cầu có lượng vữa đầy đủ để nhét đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu lớn, thì hỗn hợp bê tông mới được lèn chặt hoàn toàn, bê tông mới không có lỗ rỗng. Nguyên lý, phương pháp thiết kế đầm đất sẽ xem hỗn hợp bê tông đầm lăn như là loại đất giầu xi măng. Thiết kế tỷ lệ phối hợp của nó dựa vào quan hệ giữa độ chặt, hàm lượng nước và căn cứ vào máy móc ở hiện trường có thể xác định được khả năng đầm chặt của hỗn hợp ứng với hàm lượng nước tối ưu.


    Nhưng hỗn hợp bê tông sau khi lèn chặt, lượng bột vữa thông thường không thể lấp đầy được lỗ rỗng, giữa các hạt cốt liệu.


     


     I. PHÂN LOẠI CẤP PHỐI CHỦ YẾU BTĐL


                Bê tông đầm lăn từ thí nghiệm trong phòng đến thí nghiệm hiện trường sau đó ứng dụng vào thi công công trình từ góc độ vật liệu xem xét, chúng ta có thể phân thành 3 loại hình cấp phối chủ yếu như sau:


    1. Vữa vật liệu kết dính cố kết cát, đá trong BTĐL :


                “Vữa vật liệu kết dính cố kết cát, đá” trong BTĐL cũng có thể gọi là bê tông đầm lăn “nghèo”. Trong loại hình bê tông này, tổng liệu vật liệu kết dính không lớn hơn 110kg/m3; trong đó  bột tro bay hoặc là vật liệu hỗn hợp khác có lượng dùng không vượt  quá 30% tổng lượng vật liệu kết dính (CKD), một số ít loại bê tông có thể đạt 50%; Do lượng dùng vật liệu kết dính trong loại bê tông này ít, để đầm lèn đạt yêu cầu phải tăng lượng nước cho đến khi thực hiện được. Do vậy, tỷ lệ N/CKD tương đối lớn, thông thường đạt đến 0.95 ¸ 1.50. Điều này làm cho cường độ bê tông sẽ giảm thấp, tính bền và tính chống thấm sẽ kém. Trong loại bê tông này vữa vật liệu kết dính không đủ để nhét đầy lỗ rỗng của cát nên độ rỗng bê tông sẽ lớn.


    Khi thiết kế công trình sử dụng loại bê tông này, chỉ mục đích lợi dụng vữa vật liệu kết dính để kết dính vật liệu cát, đá thành một thể hoàn chỉnh, như là một bộ phận thân đập, sự ổn định  đập do trọng lượng bản thân của bê tông còn để chịu lực và phòng thấm cho thân đập thì dùng loại bê tông khác hoặc là vật liệu chống thấm. Nên tiến độ xây dựng công trình đạt tốc độ nhanh và đạt được mục đích kinh tế. Ví dụ Đập Willow Creek ở Mỹ, đập Galesville, đập Elk Creek, … vv đã sử dụng một phần bê tông đầm lăn thuộc loại hình cấp phối này cho bê tông đầm lăn. Ở tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc, trong thân đập của Nhà máy thuỷ điện Bách Long Nam đã dùng loại cấp phối này cho bê tông đầm lăn.


    Vì loại bê tông này do lượng dùng vật liệu kết dính ít, tính dính kết của hỗn hợp kém, cốt liệu dễ phát sinh hiện tượng phân tầng, nhưng độ tăng nhiệt độ của bê tông thấp, khi thi công có thể  dễ dàng khống chế nhiệt độ của bê tông. Thiết bị thi công loại bê tông này không những có thể dựa vào kết cấu chống thấm ở thượng lưu  mà còn phảI dựa vào cường độ yêu cầu của bê tông không quá lớn nên dễ chọn và sử dụng, đối với  các đập loại vừa và nhỏ rất thích hợp với vật liệu  loại hình bê tông này.


    2. Loại bê tông đầm lăn khô, nghèo :


    Loại bê tông này cũng gọi được là bê tông đầm lăn có tỷ lệ phối hợp “nghèo”. Lượng dùng vật liệu kết dính trong loại bê tông này từ 120 ¸ 130 kg/m3, trong đó vật liệu hỗn hợp chỉ chiếm 25 – 30% tổng lượng vật liệu kết dính. Với loại bê tông này, do lượng dùng vật liệu kết dính không nhiều, với lượng nước dùng tăng, để xác định được khả năng thoả mãn yêu cầu của hỗn hợp bê tông, tỷ lệ N/CKD thường từ 0.70 ¸ 0.90. Do tỷ lệ vật liệu độn hỗn hợp tương đối thấp, nên gia tăng nhiệt của bê tông khá cao, khi tỷ lệ N/CKD của loại bê tông này tương đối lớn, thì tính chống thấm giảm, thường không dùng cho tầng chống thấm của thân đập mà chỉ làm bê tông bên trong thân đập. Trong quá trình thi công các tầng và độ nghỉ giữa các lớp từ 2 – 5 ngày có thể lợi dụng lượng nhiệt phát tán ở bề mặt đỉnh các lớp bê tông để tránh sinh khe lạnh giữa các tầng, nên sử dụng phương pháp bàn chải sắt rải cát đánh sạch  bề mặt  các lớp sẽ làm cải thiện được chất lượng dính kết bề mặt các tầng. Ở Nhật Bản khi xây dựng đập BTĐL đều sử dụng loại tỷ lệ phối hợp BTĐL này làm bê tông bên trong thân đập  còn mặt ngoài đập thì sử dụng loại bê tông dẻo thông thường.


    3. Bê tông đầm lăn có hàm lượng bột tro bay cao :


    Lượng vật liệu kết dính trong loại BTĐL này từ 140 – 250 kg/m3, trong đó bột tro bay chiếm từ 50% đến 75% so với tổng lượng vật liệu kết dính. Loại bê tông này phân thành 2 loại: 1) Loại 1: lượng dùng vật liệu kết dính từ 140 ¸ 170 kg/m3, trong đó bột tro bay chiếm từ 50% ¸ 60%, gọi là bê tông đầm lăn có lượng dùng vật liệu kết dính trung bình; 2) Loại 2: Có lượng dùng vật liệu kết dính 180 – 250 kg/m3, trong đó tro bay chiếm  từ 60% đến 70%, được gọi là bê tông đầm lăn có lượng dùng vật liệu kết dính cao. Trước đây Bê tông có lượng dùng vật liệu kết dính thấp, lượng dùng XM khá thấp, sự phát nhiệt trong bê tông nhỏ, nhưng chất lượng dính kết bề mặt giữa các tầng thi công rất khó khống chế. Và thường dùng bê tông này làm bê tông bên trong thân đập, mặt thượng lưu đập xây dựng tầng chống thấm bằng Bê tông khác. Sau này dùng Bê tông có lượng dùng vật liệu kết dính tăng cao hơn (nhiều bằng hai lần cấp phối bê tông trước đây), nhiệt thuỷ hoá tăng cao hơn, chất lượng dính kết bề mặt của các tầng thi công so với trước dễ khống chế hơn, bê tông có tính năng chống thấm tốt hơn (đặc biệt là tính năng chống thấm của bề mặt các tầng thi công) so với trước đây. Nó không chỉ làm bê tông bên trong thân đập, mà cũng có thể dùng làm tầng chống thấm mặt thượng lưu của đập.


     Ở Trung Quốc, từ năm 1985 bê tông đầm lăn đã sử dụng, đa số là bê tông đầm lăn có lượng dùng vật liệu kết dính từ 140 ¸ 170 kg/m3, lượng tro bay dùng có xu thế dần càng tăng lên. Ví dụ như năm 1985, nhà máy thuỷ điện Sa Khê Khẩu ở tỉnh Phúc Kiến, bê tông đầm lăn tường chắn cửa dẫn nước, có lượng trộn bột tro bay là 57%. Sau đó khi xây dựng tường vây của Nhà máy thuỷ điện Nham – Nan và bê tông đập Thiên Sinh Cầu II ở tỉnh Quảng Tây, lượng trộn bột tro bay được dùng là 61% và 70%. Những năm gần đây Trung Quốc đã triển khai nghiên cứu những ảnh hưởng của lượng dùng xi măng và lượng trộn bột tro bay đối với bê tông đầm lăn, kết quả là lượng dùng xi măng thấp, hàm lượng bột tro bay cao thì bê tông sẽ có những tính năng ưu việt. Do vậy, BTĐL có loại tỷ lệ cấp phối  này đang được dùng rộng rãi. Ở Trung Quốc, tại các mặt thượng lưu của đập vòm Phổ Định – tỉnh Quý Châu, mặt thượng lưu đập của kho nước 2 – Phân Hà – tỉnh Sơn Đông, mặt thượng lưu đập Nhà máy thuỷ điện Miên Hoa Nan – tỉnh Phúc Kiến đều sử dụng BTĐL loại 2 này.  Tại một đập ở Mỹ đã sử dụng loại BTĐL lượng dùng vật liệu kết dính cao, hàm lượng bột tro bay cao. Vật liệu kết dính của nó là 254kg/m3, lượng dùng xi măng chỉ 80 kg/m3 hàm lượng bột tro bay tới 69%; Tư tưởng chỉ đạo để chế tạo BTĐL cho đập đó là phải khắc phục hiện tượng phân tầng cốt liệu thô, cải thiện chất lượng dính kết bề mặt các tầng, không bị gián đoạn trong thi công, do đó đã sử dụng bê tông đầm lăn có cấp phối loại 2 này, lượng dùng vật liệu kết dính tăng lên nhiều và nâng cao tỷ lệ trộn bột tro bay. Thực tiễn thi công thấy rõ, về cơ bản đạt được các yêu cầu đề ra, nhưng lượng nhiệt toả ra trong Bê tông tăng lên cao làm cho việc khống chế nhiệt độ có khó khăn nhất định.


     


    II. NGUYÊN LÝ CƠ BẢN THIẾT KẾ CẤP PHỐI BTĐL


    BTĐL là một loại bê tông rất khô, không có tính lưu động. Sau khi đầm lèn rất khó thu  được bê tông có độ đặc chắc cao. Phương pháp rải đổ liên tục với các lớp mỏng để xây dựng lên đập bê tông đầm lăn nên khi thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn tự nó đã có đặc điểm là bê tông phải rất khô, nguyên tắc xác định các tham số tỷ lệ phối hợp và nguyên lý thiết kế cấp phối  bê tông có sự khác biệt với bê tông thông thường.


    1. Đặc điểm của thiết kế cấp phối.


    1.     Để không gây trở ngại đến thi công đầm lèn bê tông, thông thường dưới điều kiện nhất định, trong thân đập không nên thiết kế đặt ống nước lạnh, do phải đổ rải liên tục, lượng nhiệt phát tán thông qua bề mặt các lớp bê tông sẽ giảm  khi thi công đổ rải các tầng, do nguyên nhân nhiệt độ tăng dần trong bê tông…vv. Khi thiết kế phải cân nhắc khi chế tạo bê tông, vừa phải thoả mãn các yêu cầu về, cường độ, tính bền  vừa phải hạn chế sự tăng nhiệt trong bê tông. Dù rằng lượng dùng xi măng tương đối thấp, nhưng tỷ lệ vật liệu hỗn hợp thì lại lớn.


    2.     Do đặc tính hỗn hợp bê tông rất khô cứng, phân tán  và dễ phân tầng, nên trong thiết kế cấp phối  bê tông phải khống chế đường kính lớn nhất của cốt liệu thô, và tỷ lệ hợp lý giữa các cấp hạt cốt liệu, lượng dùng cát thoả đáng, để trong quá trình thi công tránh xuất hiện sự phân tầng nghiêm trọng và hiện tượng không có khả năng đầm chặt được.


    3.     Trong thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn thường phải cân nhắc xen nên pha loại phụ gia gì vào bê tông.


    4.     Coi hỗn hợp bê tông đầm lăn tương tự như  vật liệu đất để đầm lèn hoặc xác định phương pháp  thi công công trình, xác định lượng dùng nước đơn vị tối ưu, còn phải cân nhắc các tính năng của bê tông sau khi cứng hoá và mối tương quan trực tiếp giữa tỷ lệ N/CKD.


    5.     Cấp phối để được đưa ra thi công – thường phải thông qua thí nghiệm bê tông tại hiện trường để quyết định.


    2. Nguyên tắc thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn :


    Để tiến hành thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn tốt, chúng ta cần phải hiểu biết và nắm vững, tuân thủ những nguyên tắc thiết kế cấp phối bê tông như sau:


    a) Thiết kế cấp phố bê tông đầm lăn phải tuân theo nguyên tắc của bê tông  thông thường:


    Theo kết quả thí nghiệm vật liệu đều thấy rõ, bê tông đầm lăn sau khi cứng hoá, sau khi đã lèn chặt thì cường độ của nó và tỷ lệ N/CKD có mối quan hệ mật thiết, nếu tỷ lệ N/CKD của hỗn hợp bê tông càng lớn, cường độ bê tông đầm lăn sau khi cứng hoá có quy luật càng  giảm thấp. Cũng có thể nói rằng, cường độ BTĐL sau khi cứng hoá phù hợp với “tỷ lệ N/CKD xác định”. Định trước tỷ lệ N/CKD, để thiết kế cấp phối sơ bộ và sau đó điều chỉnh cấp phối đã tính được.


    Các thí nghiệm khác cũng thấy rõ rằng, với các điều kiện khác không đổi, giá trị VC của hỗn hợp BTĐL phụ thuộc vào lượng nước dùng cho 1 đơn vị thể tích bê tông và tỷ lệ giữa lượng Nước so với lượng dùng vật liệu kết dính (trong một phạm vi nhất định) quan hệ này thay đổi không lớn. Cũng giống như bê tông thông thường, nó phụ thuộc vào” Lượng nước yêu cầu xác định”. Trong các phương pháp thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn, đều trực tiếp hoặc gián tiếp ứng dụng nguyên tắc cơ bản này. Để điều chỉnh giá trị VC của hỗn hợp bê tông và duy trì cường độ bê tông không thay đổi, cần giữ nguyên tỷ lệ N/CKD và giảm lượng nước dùng và lượng cát. Để giữ cho giá trị VC không đổi, có thể điều chỉnh tỷ lệ N/CKD thì sẽ điều chỉnh được cường độ bê tông; Nếu giữ nguyên lượng nước dùng, giảm lượng dùng vật liệu kết dính và lượng cát. Lượng vật liệu kết dính và lượng cát thay đổi thì thể tích bê tông có thể thay đổi, tỷ lệ N/CKD thay đổi  có thể điều chỉnh được cường độ bê tông mà không ảnh hưởng đến lượng nước dùng và giá trị VC của bê tông.


    b)  Tuân theo nguyên tắc xác định những tham số cấp phối bê tông :


                Tham số tỷ lệ phối hợp BTĐL bao gồm:


                + Nước và mối quan hệ giữa lượng dùng vật liệu kết dính  so với nước; đó là tỷ lệ  W/(C+F).


                + Quan hệ giữa tỷ lệ lượng vật liệu hỗn hợp so với lượng dùng vật liệu kết dính – F/(C+F) hoặc là F/C.


                + Mối quan hệ  giữa lượng dùng cát  so với tổng lượng cốt liệu cát, đá trong bê tông ® S/(S+G)


    + Mối quan hệ giữa lượng vữa vật liệu kết dính so với lượng cát: ® (C+F+W)/S hoặc hệ số a biểu thị lượng vữa đủ và dư thừa để nhét đầy lỗ rỗng các hạt cát. Để thiết kế ra loại bê tông thoả mãn đầy đủ yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật, khi xác định các tham số cấp phối phải tham khảo những nguyên tắc dưới đây:


    1.     Nguyên tắc xác định tỷ lệ F/(C+F) hoặc F/C trong BTĐL:


    Tỷ lệ này càng lớn, không chỉ  tiết kiệm xi măng, cải thiện một số tính năng của bê tông mà còn có thể giảm giá thành mà còn sử dụng được phế thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Do vậy, nguyên tắc xác định tỷ lệ F/(C+F) là từ yêu cầu tính năng kỹ thuật của bê tông, để lựa chọn được giá trị tham số tương đối thoả mãn với yêu cầu.


    2.     Nguyên tắc xác định W/(C+F):


    Tỷ lệ W/(C+F) trong BTĐL lớn hay nhỏ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tính năng thi công của hỗn hợp bê tông và các tính chất kỹ thuật của bê tông sau khi cứng hoá. Với lượng dùng vật liệu kết dính nhất định, tỷ lệ N/CKD càng lớn thì giá trị VC của hỗn hợp sẽ giảm (nhỏ) cường độ bê tông tăng và tính bền giảm thấp. Ngược lại với giá trị VC tăng, cường độ bê tông sau cứng hoá và tính bền được cải thiện. Nếu như với lượng dùng xi măng không đổi, tỷ lệ F/(C+F) tăng lớn lên, thì tỷ lệ W/(C+F) giảm thấp, điều đó có lợi cho việc phát huy hoạt tính của vật liệu hỗn hợp trong bê tông, cường độ và tính bền của bê tông tăng cao. Trong điều kiện về cường độ yêu cầu và tính bền của bê tông như nhau, có thể đạt được hiẹu quả về kinh tế cao; do đó nguyên tắc xác định tỷ lệ W/(C+F) càng lớn thì lượng dùng xi măng sẽ càng nhỏ.


    3.     Nguyên tắc xác định tỷ lệ: (C+F+W)/S:


            Tỷ lệ vữa cát lớn hay nhỏ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị VC của hỗn hợp bê tông; cũng là nhân tố ảnh hưởng đến cường độ của bê tông.


            Khi lượng dùng cát tăng, thì giá trị VC giảm nhỏ, dưới điều kiện năng lượng đầm chấn động nhất định, độ đầm chặt của bê tông sẽ nâng cao, nếu tỷ lệ vữa cát tăng lên quá lớn, không chỉ tạo nên giá trị VC giảm quá nhỏ, không thể thi công đầm lèn được, mà còn làm cho lượng dùng vật liệu kết dính gia tăng. Do vậy, nguyên tắc xác định tỷ lệ lượng vữa cát là: với năng lượng đầm chấn động nhất định đối với hỗn hợp bê tông để thoả mãn được yêu cầu thi công với giá trị VC định trước,  thường giá trị VC nhỏ.


    4.     Nguyên tắc xác định lượng cát:


    Lượng cát lớn hay nhỏ trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng thi công của hỗn hợp bê tông, đến cường độ và tính bền của bê tông sau khi cứng hoá. Lượng cát quá lớn, hỗn hợp bê tông khô cứng, rời rạc, giá trị VC lớn, khó đầm lèn chặt, cường độ bê tông thấp, tính bền kém. Lượng cát quá nhỏ, vữa cát không đủ để nhét đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu thô và bao bọc mặt ngoài các hạt cốt liệu, giá trị VC của hỗn hợp cũng lớn, cốt liệu thô dễ bị phân tầng, độ đặc của bê tông giảm thấp, cường độ và tính bền giảm. Do vậy, khi xác định tỷ lệ phối hợp bê tông, cần phải chọn lượng dùng cát tối ưu. Gọi là lượng cát tối ưu, để  duy trì hỗn hợp bê tông có tính chống phân tầng tốt và đạt được giá trị VC theo yêu cầu thi công, lượng dùng vật liệu kết dính ít nhất.


    3. Nguyên lý thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn :


                Cho đến nay có 2 nguyên lý cơ bản để tiến hành thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn, đó  là nguyên lý “phối chế vật liệu đất”và nguyên lý “phối chế bê tông”. Nhưng cho dù là nguyên lý cơ bản nào, thì xuất phát điểm cơ bản của nguyên lý thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn là: lượng vữa vật liệu kết dính phải đủ bao bọc các hạt cốt liệu thô mà còn đủ để có thể lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu nhỏ, vữa cát bao bọc các hạt cốt liệu thô, hình thành lên bê tông có độ đặc đồng đều, đạt được các yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật. Khi tiến hành thiết kế cấp phối bê tông, còn cần phải hiểu rằng  lượng vữa vật liệu kết dính  có thể không thể lấp đầy lỗ rỗng các hạt cốt liệu nhỏ và lượng vữa cát không đủ để lấp đầy lỗ rỗng các hạt cốt liệu thô; nhưng về cơ bản, phải xem xét đến điều kiện hiện trường thi công và điều kiện trong phòng thí nghiệm có sự  khác nhau, nên phải gia tăng thêm một lượng vữa chất kết dính thích đáng và cần có dư  thêm một lượng vữa cát. Cuối cùng là cần phải thông qua thí nghiệm đầm lèn ở hiện trường để kiểm nghiệm  lại cấp phối thiết kế của bê tông xem có thoả mãn với với khả năng thi công ở ngoài hiện trường không.


    a). Nguyên lý vật liệu đất .


     Nguyên lý vật liệu đất coi hỗn hợp bê tông đầm lăn như là loại vật liệu đất hay như xi măng đất. Thiết kế cấp phối của nó là dựa trên quan hệ giữa hàm lượng nước trong đất và độ đầm chặt. Như là đối với một lượng cốt liệu nhất định và vật liệu kết dính,  Làm thí nghiệm trong phòng dùng phương pháp đầm chấn động, ở hiện trường dùng phương pháp đầm lèn ép để xác định lượng nước dùng đơn vị tối ưu của nó. Từ lực đầm động trong phòng và độ đầm chặt có thể đưa ra độ lèn và lực lèn ép tương ứng của máy đầm lèn  ở hiện trường. Phương pháp nguyên lý vật liệu đất với nguyên tắc là đối với một lực đầm lèn nhất định tìm được một “hàm lượng nước tối ưu”. Dựa vào hàm lượng nước tối ưu này, hỗn hợp bê tông đầm lăn sau khi đầm lăn có thể đạt được tỷ trọng khô lớn nhất. Lực đầm lèn càng lớn, tỷ trọng khô lớn nhất có thể tăng lên khi, hàm lượng nước tối ưu  giảm xuống. Với phương pháp nguyên lý đất, tỷ trọng khô lớn nhất được dùng làm chỉ tiêu thiết kế.


    b). Nguyên lý bê tông .


                Phương pháp phối chế bê tông coi hỗn hợp bê tông đầm lăn như là bê tông dẻo thông thường. Cường độ nén và các tính năng khác của nó tuân theo quan hệ giữa tỷ lệ N/CKD được Abrams thành lập từ năm 1918 của, đó là giả sử cốt liệu sạch và rắn chắc thì độ đặc, cường độ nén và tỷ lệ N/CKD tồn tại mối quan hệ với nhau, tỷ lệ N/CKD tăng lên thì cường độ bê tông sẽ giảm, nên khi  thiết kế cấp phối bê tông cần dựa vào mối quan hệ giữa cường độ nén và tỷ lệ N/CKD, đối với một lượng cốt liệu và vật liệu kết dính nhất định, nếu duy trì  độ đầm lèn của hỗn hợp BTĐL, thì khi tỷ lệ N/CKD của hỗn hợp càng lớn, cường độ BTĐL sau khi cứng hoá có quy luật càng giảm. Vì vậy, tỷ lệ N/CKD được dùng làm chỉ tiêu thiết kế quan trọng.


                Phương pháp nguyên lý phối chế bê tông được xem sự lấp đầy, lên chặt lẫn nhau giữa các loại vật liệu trong bê tông là cơ sở để tính toán.


    Trong hỗn hợp BTĐL phải có đủ nhiều lượng vữa vật liệu kết đính để bao bọc và nhét đầy lỗ rỗng các hạt cốt liệu nhỏ, và lượng vữa cát đủ nhiều để bao bọc và nhét đầy lỗ rỗng có hạt cốt liệu thô, hình thành lên loại bê tông siêu khô cứng và đồng nhất.


              c). Liên hệ giữa hai nguyên lý:


    Quan hệ giữa hai nguyên lý có thể dùng tỷ lệ N/CKD của bê tông và cường độ nén của bê tông có quan hệ đường cong, biểu đồ 2.3 biểu thị ” bê tông đầm chặt không hoàn toàn có hai đường cong chấm chấm biểu thị quan hệ giữa dung trọng và hàm lượng nước tối ưu, và trang thái thông thường là đường cong liền. Trong đó đường cong a là ứng với lực đầm nén tương đối nhỏ, đường b đối với lực đầm lén tương đối lớn, và có hàm lượng nước  tương đối nhỏ, xem xét trong hỗn hợp BTĐL còn có một lượng không khí nhất định, nên mối quan hệ giữa cường độ nén và tỷ lệ N/CKD thực tế của bê tông đầm lăn khi đầm chặt hoàn toàn với lý thuyết thì vẫn tồn tại một lượng không khí nhất định. Dù sao thì BTĐL có thể dùng hai loại nguyên lý trên để tiến hành thiết kế cấp phối, nhưng thông thường thì nên dựa vào nguyên lý của bê tông để tiến hành thiết kế sơ bộ. Do cường độ bê tông ngoài sự liên quan đến đầm lèn, mà còn liên quan đến sự dính kết. Khi mức độ đầm lén và mức độ dính kết càng cao, thì cường độ nén của bê tông thì càng lớn, nói một cách khác cường độ của bê tông phương pháp đất chủ yếu là do mức độ đầm chặt. Hỗn hợp bê tông theo nguyên lý đất  mà nói, bề mặt bê tông sau khi đầm lèn chấn động nhẹ, vẫn xuất hiện chưa đầy đủ lượng vữa trên bề mặt, trong bê tông vẫn không đủ lượng vữa để lấp đầy lỗ rỗng cốt liệu, do vậy hỗn hợp bê tông không thể có khả năng kết dinh hoàn toàn. Bảo đảm bề mặt bê tông sau khi đầm lèn nhẹ đã xuất hiện đủ lượng vữa không chỉ có khả năng nâng cao được năng lực kết dính giữa bề mặt các lớp, đồng thời cũng nói lên rằng hỗn hợp bê tông này có khả năng  chống sự phân tầng của cốt liệu rất tốt.


    Tạp chí KHKT Thủy lợi và môi trường

  • Công bố QĐ của Hiệu trưởng bổ nhiệm: Phó Trưởng Khoa Q, Phó Trưởng Phòng KHCN

         Ngày 9/1/2007, Nhà trường tổ chức lễ công bố Quyết định bổ nhiệm phó Trưởng Khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình, bổ nhiệm Trưởng Phòng Khoa học công nghệ. Đến dự buổi lễ có GS.TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng, PGS.TS Vũ Thanh Te, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường; PGS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường cùng đại diện lãnh đạo Khoa Q, lãnh đạo phòng Khoa học Công nghệ, phòng Tổ chức cán bộ, phòng Công tác chính trị và QLSV…









    Từ trái qua phải: GS. TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng Nhà trường; KS. Ngô Đăng Hải – Phó Trưởng phòng KHCN; TS. Nguyễn Thu Hiền – Phó trưởng khoa Quy hoạch và QLHT công trình

         Buổi lễ đã công bố Quyết định của Hiệu trưởng về việc bổ nhiệm TS.Nguyễn Thu Hiền (BM Thuỷ lực) giữ chức vụ Phó Trưởng khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình. Đây là nữ Phó Trưởng Khoa đầu tiên tại Trường Đại học Thuỷ lợi, thể hiện sự tín nhiệm đặc biệt của tập thể Khoa và lãnh đạo Nhà trường. Trong thời gian tới đây, Khoa Quy hoạch và Quản lý hệ thống công trình đảm nhận những nhiệm vụ hết sức vinh dự và nặng nề, giữ vị trí tiên phong đi đầu trong việc thực hiện kế hoạch giảng dạy ngành nhập khẩu. Do vậy, với bước tiến trên trong công tác kiện toàn cán bộ, lãnh đạo Khoa Q có điều kiện phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm trong xây dựng Khoa, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong chiến lược phát triển Nhà trường.


         Sau Quyết định tách phòng và bổ nhiệm Trưởng các phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế đã được công bố vào ngày 4/1 vừa qua, cũng trong khuôn khổ buổi lễ, Quyết định bổ nhiệm phó Trưởng phòng Khoa học công nghệ cũng được công bố. Chức vụ Phó Trưởng phòng Khoa học công nghệ được trao cho KS.Ngô Đăng Hải, phòng Khoa học công nghệ

    Linh Ngọc


    ( Ảnh HMT)

  • Hướng dẫn Quy trình mua, thanh toán, quản lý và sử dụng máy tính xách tay






    BỘ NN & PTNT
    Trường Đại học Thủy Lợi


    ——————


    Số:  730  HD/ĐHTL-TH


    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—


    Hà nội, ngày 25 tháng 07 năm 2006

     

    HƯỚNG DẪN


    QUY TRÌNH MUA, THANH TOÁN, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG


    MÁY TÍNH XÁCH TAY  TỪ NGUỒN QUỸ PHÁT TRIỂN


    HOẠT ĐỘNG SỰ NGHIỆP CỦA TRƯỜNG


           
          – Căn cứ Công văn số 1568/ BNN-TC ngày 26/06/2006 của Bộ NN và PTNT về việc đồng ý cho Trường Đại học Thuỷ lợi hỗ trợ kinh phí cho giảng viên mua máy tính xách tay;


    –  Căn cứ Quy định tạm thời về quản lý sử dụng máy tính xách tay mua từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của Trường ban hành theo Quyết định số 805 QĐ/ĐHTL-TBĐT ngày 15/6/2006 của Hiệu trưởng trường Đại học Thuỷ lợi.


    – Căn cứ các quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý tài sản và quản lý tài chính.


    Nhà trường  hướng dẫn quy trình mua, thanh toán, quản lý và sử dụng  máy tính xách tay trong năm 2006 như sau:


     


    1.        Mục tiêu :


    Hỗ trợ, tạo điều kiện làm việc và nâng cao năng lực cho giảng viên của Trường trong hoạt động  đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ theo kế hoạch và nhiệm vụ của Trường giao.


    2.   Đối tượng:


                2-1. Đối tượng thuộc diện được xét hỗ trợ:


         + Các giảng viên thuộc biên chế chính thức của Nhà trường (kể cả giảng viên kiêm nhiệm) hiện đang công tác tại Trường và tự nguyện đăng ký mua máy tính xách tay theo quy định của Trường để phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Trường.


           + Các giảng viên còn thời gian công tác  từ 05 năm trở lên. Những giảng viên còn thời gian công tác từ 3 năm trở lên nhưng có xác nhận của Bộ môn là sẽ tiếp tục làm cộng tác viên của Bộ môn từ 2 năm trở lên.


    2-2. Đối tượng thuộc diện không được xét hỗ trợ:


          + Những giảng viên đã được cấp máy tính xách tay từ các dự án hoặc đã mua máy tính xách tay từ nguồn kinh phí các đề tài NCKH các cấp tính đến thời điểm xét duyệt vẫn chưa hết thời gian khấu hao máy.


           + Những giảng viên không đăng ký mua máy, đăng ký không đúng hạn.            


     


    3.  Phương thức mua và thanh toán:


         3-1. Mỗi Khoa, Ban giảng dạy thống nhất ý kiến tập thể đơn vị đề xuất với Nhà trường 01 cửa hàng hoặc công ty cung cấp máy tính xách tay,  gửi về Phòng Tổng hợp qua E-mail  (địa chỉ: [email protected]) trước ngày 15/8/2006.


        3-2. Phòng Tổng hợp tập hợp và thông báo toàn trường các địa điểm cung cấp hàng do các Khoa đề xuất.


             3-3. Các giảng viên được duyệt hỗ trợ kinh phí tự liên hệ đến một trong các Công ty cung cấp nói trên và lựa chọn loại máy cần mua, lấy giấy báo giá và các thông số kỹ thuật của máy. Tự làm hợp đồng kinh tế với Công ty (theo mẫu hợp đồng được đăng tải trên mạng của Trường), nộp hợp đồng và giấy báo giá về Phòng Thiết bị-Đầu tư. Thời hạn hoàn thành các thủ tục này không quá 02 tuần kể từ ngày công bố danh sách giảng viên được Trường duyệt hỗ trợ kinh phí.        


    Lưu ý:  Máy được mua phải là máy mới 100%, có bộ vi xử lý >=1.3Ghz, Bộ nhớ trong >=256MB, Ổ cứng>=40GB.


    Các Thầy, Cô nên sử dụng máy có bộ vi xử lý Intel Pentium, có thiết bị kết nối Internet không dây. Máy được sản xuất tại các hãng thông dụng như: IBM, Sony, HP-Compaq, Toshiba, Nec.


     


            3-4.  Sau khi thu nhận, tập hợp các hợp đồng đã được ký giữa cá nhân và Công ty cung cấp máy, Nhà trường ký kết hợp đồng kinh tế giữa Trường với các Công ty  vào tuần thứ 3 kể từ ngày công bố danh sách giảng viên được duyệt hỗ trợ mua máy.. Giảng viên được hỗ trợ kinh phí mua máy tính là một thành viên tham gia ký hợp đồng kinh tế mua máy tính, biên bản nghiệm thu và bàn giao máy tính.


           3-5.  Sau khi Nhà trường ký hợp đồng, giảng viên (người mua và sử dụng máy tính) có trách nhiệm:


    –          Tự trả tiền chênh lệch ngoài mức kinh phí được Trường hỗ trợ với Công ty cung cấp máy, nhận hoá đơn VAT (giá toàn bộ) về nộp cho Phòng Thiết bị-Đầu tư của Trường.


    –          Nhận biên bản nghiệm thu, thanh lý hợp đồng ở Phòng Thiết bị-Đầu tư để nộp trả cho công ty và trực tiếp nhận, kiểm tra chất lượng máy, phiếu bảo hành và các giấy tờ liên quan đến máy từ Công ty.


    –          Nộp cho Phòng Thiết bị-Đầu tư nhà trường bản sao phiếu bảo hành và các giấy tờ khác có liên quan đến máy tính được mua theo hợp đồng.


           3-6.  Sau khi hoàn tất các thủ tục cá nhân trên, Nhà trường sẽ thanh toán toàn bộ kinh phí hỗ trợ (10 triệu đồng) theo hình thức chuyển khoản cho các Công ty cung cấp máy.


      3-7   Năm 2006 Nhà trường xét hỗ trợ cho toàn bộ số giảng viên đã đăng ký đúng hạn, đúng tiêu chuẩn. Số giảng viên còn lại sẽ được xem xét hỗ trợ trong các năm tiếp theo.


           4.   Phương thức quản lý:


           4-1.  Trường mở thẻ tài sản để theo dõi, quản lý và tính hao mòn tài sản cố định theo quy định hiện hành của Nhà nước.


           4-2.  Trách nhiệm của người được hỗ trợ kinh phí mua máy: 


            + Thực hiện nghiêm chỉnh  quy định tạm thời về quản lý sử dụng máy tính xách tay mua từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp được ban hành kèm theo Quyết định số 805 QĐ/ĐHTL-TBĐT.


           + Hoàn trả Nhà trường phần kinh phí hỗ trợ (sau khi trừ khấu hao máy) trong các trường hợp sau:


                   –  Không đúng đối tượng được hỗ trợ.


                   –  Không sử dụng hoặc sử dụng máy sai mục đích, không đáp ứng mục tiêu hỗ trợ của Trường.


                   –  Làm mất máy.


     – Tự động chuyển nhượng, trao đổi  máy tính được hỗ trợ kinh phí mua.         


            +  Được phép tự đầu tư kinh phí để nâng cấp máy nếu có nhu cầu nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác.


           4-3.  Trường hợp vì lý do nào đó phải trả lại máy cho Trường, Nhà trường không trả lại phần tiền cá nhân đã bỏ ra mua máy. (Những trường hợp đặc biệt sẽ được xét riêng)


    4-4.       Hết thời gian khấu hao, Nhà trường thanh lý máy theo quy định của Nhà nước.









    Nơi nhận:





    – ĐU, BGH, CĐ


    – Các Khoa, Ban giảng dạy, Bộ môn
    – Trang web


    – T.bị-Đtư, T.vụ, P2, TH, CS2
    – Lưu VT, P3.


     HIỆU TRƯỞNG

    đã ký



     


          GS.TS Đào Xuân Học












    Thông Báo:

    Các CBGV đã đăng ký mua máy tính xách tay nay không có nhu cầu mua nữa đề nghị gửi Email báo lại Phòng HCTH theo địa chỉ:
    [email protected] trước thứ năm, ngày 10/8/2006.






    Hợp đồng kinh tế mua máy tính xách tay