Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Quyết định: Về việc xử lý học vụ kỳ I năm học 2009 – 2010 sinh viên K51CĐ.







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

     
    Số: 255/QĐ-ĐHTL


    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


                                Hà nội, ngày 22  tháng 03 năm 2010


    QUYẾT ĐỊNH


    Về việc xử lý học vụ kỳ I năm học 2009 – 2010 sinh viên K51CĐ.


     ____________



    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


     


    Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ-ĐHTL ngày 15/08/2007 về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;


    Căn cứ Quyết định số 1000/QĐ-ĐHTL ngày 24/09/2007 về việc ban hành hướng dẫn thực hiện Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi;


    Căn cứ Quyết định số 1290/QĐ-ĐHTL ngày 20/12/2008 về việc điều chỉnh, bổ sung một số điểm trong “Hướng dẫn thực hiện quy chế đào tạo đại học và cao đăng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” ban hành kèm theo Quyết định số 1000/QĐ-ĐHTL ngày 24/09/2007 của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi;


    Theo đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng các Khoa,


     


    QUYẾT ĐỊNH:


    Điều 1: 1/ Cảnh báo học tập mức 1: 27 sinh viên K51 hệ cao đẳng chính quy có kết quả học tập yếu trong học kỳ I năm học 2009 – 2010 (Danh sách 1 kèm theo).


                             2/ Buộc thôi học từ đầu học kỳ II năm học 2009 – 2010: 16 sinh viên K51 hệ cao đẳng chính quy do có kết quả học tập kém, không đăng ký học tập, tự bỏ học không có lý do ở kỳ I năm học 2009 – 2010 (Danh sách 2 kèm theo).


    Điều 2. 1/ Những sinh viên bị cảnh báo học tập mức 1 (danh sách 1) được phép rút bớt các tín chỉ đã đăng ký trong học kỳ II năm học 2009-2010. Thời gian nộp đơn xin rút bớt các tín chỉ là trước ngày 27/03/2010.


                  2/ Những sinh viên hệ cao đẳng chính quy bị buộc thôi học (danh sách 2) được phép rút lại học phí những tín chỉ đã đăng ký học kỳ 2 năm học 2009 – 2010 và hồ sơ sinh viên.  


                Điều 3. Các ông (bà) Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Trưởng các Khoa, các đơn vị liên quan và sinh viên có tên trong danh sách tại điều 1 chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.






    Nơi nhận:


    –          Ban Giám hiệu (để b/c);


    –          Như điều 3;

         –       Lưu: VT, CTCT&QLSV.

    KT. HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


    PGS.TS. TRỊNH MINH THỤ


    Danh sách 1 (Cảnh báo 1).
    Danh sách 2 (Thôi học).

  • Đường sắt Việt Nam bán vé cho sinh viên tại trường.

    Loa loa loa….Các bạn sinh viên ơi, để tạo điều kiện tốt nhất cho chúng mình về quê ăn tết cùng gia đình, Ga Hà Nội đã tiến hành bán vé lưu động tại các trường Đại học, Cao đẳng…trong đó có Trường Đại học Thủy Lợi.
    Với quan điểm tất cả vì học sinh thân yêu, Nhà trường đã phối hợp cùng ga Hà Nội, tạo điều kiện về cơ sở vật chất và địa điểm cho ga Hà Nội bán vé tại trường.

    Địa điểm bán vé:

    Phòng 101 nhà A1 – Trường Đại học Thủy Lợi.
    Thời gian bán vé: Thứ Tư ngày 03/02/2010

    Các bạn hãy nhanh chân và mua cho mình tấm vé về quê ăn tết cùng gia đình nhé!






  • Khung xử lý kỷ luật sinh viên vi phạm Luật Giao thông.

    Các bạn sinh viên thân mến! Hãy dành chút thời gian của mình để nghiên cứu Quyết định ban hành Khung xử lý kỷ luật sinh viên Trường Đại học Thủy Lợi vi phạm hành chính Luật giao thông đường bộ, do Trường Đại học Thủy Lợi ban hành. Chúc các bạn là những công dân, sinh viên gương mẫu tuân thủ luật giao thông đường bộ.

    Chi tiết về Quyết định xem tại đây.

  • Tin về lễ TN của K47LT

    Tin về lễ TN của K47LT

     


    Hôm qua ngày 16/12/2009, Trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra lễ trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên K47 LT. Đây là khóa sinh viên thứ hai Nhà trường đào tạo theo hình thức liên thông từ Cao đẳng lên Đại học Tốt nghiệp. Đến dự buổi lễ có GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường và đại diện các phòng, ban và khoa chủ quản có sinh viên tốt nghiệp.


    Trải qua 2.5 năm học tập và rèn luyện sau khi tốt nghiệp hệ Cao đẳng và học tiếp lên Liên thông Đại học, ngày hôm nay các sinh viên của hệ liên thông đã được nhận tấm bằng kỹ sư Đại học trên tay. Với 59 sinh viên tốt nghiệp lần này có 3.38% sinh viên tốt nghiệp loại Giỏi; 33.8% sinh viên tốt nghiệp loại Khá; 61.01% sinh viên tốt nghiệp loại Trung bình Khá và có 1.69% sinh viên tốt nghiệp loại Trung bình. Đánh giá về quá trình học tập, công tác và tu dưỡng trong toàn khóa học, cũng nhân dịp này Nhà trường đã có quyết định khen thưởng cho 21 sinh viên có nhiều thành tích trong học tập và công tác.




    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy – Phó Hiệu trưởng Nhà trường
    phát biểu tại Lễ trao bằng cho SV 47LT



    Phát biểu trong buổi Lễ, GS.TS Phạm Ngọc Quý đã gửi lời chúc mừng đến các tân kỹ sư, thầy mong muốn các bạn sẽ tiếp tục phát huy kiến thức mà Nhà trường đào tạo trên con đường sự nghiệp cũng như liên tục học cao hơn nữa.


    Buổi lễ kết thúc trong niềm hân hoan của những tân kỹ sư – những người hơn một lần được cầm tấm bằng kỹ sư trên tay.




    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó CN Khoa Công trình trao bằng Tốt nghiệp cho SV 47LT




    Những SV khóa 2 hệ LT đã tốt nghiệp ra trường trong niềm phấn khởi, hân hoan.

  • Thông báo thi Olympic Cấp trường môn Cơ học đất







    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    BỘ MÔN ĐỊA KỸ THUẬT


     


    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHÙ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập-Tự do-Hạnh phúc


    Hà Nội, ngày 30  tháng 10 năm 2009


     


      


    THÔNG BÁO


    VỀ THI OLIMPIC CẤP TRƯỜNG – MÔN CƠ HỌC ĐẤT


     


     Bộ môn Địa kỹ thuật, Khoa Công trình sẽ tổ chức thi OLIMPIC cấp trường – môn CƠ HỌC ĐẤT cho sinh viên khoá 48 theo lịch cụ thể như sau:


                Thời gian thi: 8 giờ sáng thứ bảy ngày 28 tháng 11 năm 2009.


                Phòng thi: Sẽ thông báo cụ thể tại phòng nước GV nhà A3 và bảng tin trên Bộ môn Địa kỹ thuật.


                Nội dung thi: Trong phạm vi 6 chương – chương trình Cơ học đất chính khoá


                Hình thức thi: Thi viết- thời gian làm bài 180 phút- thí sinh được phép tham khảo tài liệu khi làm bài.


    Nhận được thông báo này, xin mời sinh viên các lớp khoá 48 yêu thích môn học đăng ký dự thi theo danh sách lớp và gửi về bộ môn vào các sáng thứ hai ngày 9, 16 tháng 11 năm 2009. Hoặc đăng ký với cô Ngọc số ĐT:0975272682.


    Học sinh cũng có thể đăng ký trực tiếp với các thầy đang dạy nền móng của lớp mình.


    Rất mong các em tham gia nhiệt tình-đông đủ


                                                                            KT/Trưởng Bộ môn Địa kỹ thuật.


                                                 (đã ký)


     


     Hoàng Việt Hùng                               


     


     


     


     


     


     


     


     


     


     


     

  • Quyết định về việc điều chỉnh mức thu học phí







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    Số: 1104QĐ / ĐHTL-TV


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Hà Nội, ngày  6 tháng 10 năm 2009






    QUYẾT ĐỊNH


          Về việc điều chỉnh mức thu học phí


     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI



     – Căn cứ quyết định số 351 QĐ/TL ngày 28/4/1964 của Bộ Thuỷ lợi ( nay là Bộ Nông Nghiệp & PTNT ) quy định nhiệm vụ, quyền hạn Trường Đại học Thuỷ lợi.


    –  Căn cứ vào quyết định số 1310/QĐ-TTg ngày 21/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh khung học phí đối với cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân năm học 2009-2010.


    –  Theo đề nghị của Trưởng phòng Tài vụ, Trưởng Phòng Đào tạo.


    QUYẾT ĐỊNH


    Điều 1: Nay điều chỉnh mức thu  học phí  như sau:


    –  Đào tạo theo niên chế:


          + Hệ chính quy, liên thông          : 220.000 đồng/ tháng


          + Hệ cao đẳng               : 180.000 đồng/ tháng


          + Sau đại học                : 270.000 đồng/ tháng


          + Hệ tại chức                            :


           Đối với các lớp đào tạo tại các Cơ sở của Trường : 900.000 đồng/ kỳ


                 Đối với các lớp đào tạo liên kết: Thu theo quy định ghi trong hợp đồng.


    + Lớp CTTT                               : 900.000 đồng/ tháng


    – Đào tạo theo tín chỉ:


    + Hệ chính quy, liên thông          : 70.000 đồng / tín chỉ


    + Hệ cao đẳng               : 60.000 đồng/ tín chỉ


                + Sau đại học                : 120.000 đồng/ tín chỉ


        Điều 2: Mức thu học phí này áp dụng thống nhất trong Trường Đại học Thuỷ Lợi từ năm học 2009 – 2010.


    Điều 3: Các Phòng, Ban chức năng có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.







    Nơi nhận:


    –  BGH ( để b/cáo).


    –  P3,P7.


    – Các lớp sinh viên.


    –  Lưu VT,TV


     


    HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    PGS.TS. Nguyễn Quang Kim


     


     


     


  • Những thông tin cơ bản về bệnh sốt xuất huyết

    Trung tâm Y tế dự phòng TP Hà Nội cho biết dịch sốt xuất huyết ở Hà Nội đang vào thời kỳ cao điểm nhất và có thể kéo dài đến hết tháng 9.



    1. Biểu hiện của bệnh

    –          Sốt cao đột ngột kéo dài từ 2 đến 7 ngày


    –          Đau đầu, đau mình mẩy, đau các khớp


    –          Mệt mỏi


    –          Da xung huyết, có ban, có thể có chấm xuất huyết dưới da.


    Khi có những biểu hiện trên cần đến ngay cơ sở y tế để khám và điều trị.



    1. Bệnh được lây truyền bởi loại muỗi vằn ( muỗi đốm hoặc muỗi hoa):

    –          Muỗi vằn chỉ thích sống trong nhà, thích đốt hút máu người vào ban ngày. Muỗi thích đậu ở quần áo treo bừa bãi, ở dây, mắc rèm che cửa, dây điện mắc lung tung, lọ cắm hoa lâu ngày.


    –          Muỗi vằn thích đẻ trứng ở nơi nước sạch: bể, chum, phuy, các dụng cụ có khả năng chứa nước như vại, cối giã cua, giã bèo, bốn bát kê chân trạn, cây cảnh nước.Các phế liệu, phế thải như vỏ hộp xà phòng, lốp xe, mảnh bát, vỏ hộp sữa, bể chứa nước trong nhà vệ sinh.



    1. Phòng bệnh:

    –          Diệt bọ gậy: Làm nắp bể, thả cá, thau rửa chum vại 7 ngày/lần, úp các dụng cụ chứa nước chưa dùng đến, thay nước thường xuyên cây cảnh nước, thanh toán các phế liệu có khả năng chứa nước.


    –          Nằm màn khi ngủ ban ngày.


    –          Tổng vệ sinh trong gia đình, không treo quần áo bừa bãi.


     


    Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội

  • Giáo sư, Tiến sỹ Đào Xuân Học:”Ngành Thủy lợi đã làm được nhiều việc, nhưng cũng còn nhiều việc phải làm…”

    Giáo sư, Tiến sỹ Đào Xuân Học:”Ngành Thủy lợi đã làm được nhiều việc, nhưng cũng còn nhiều việc phải làm…”

    ( Phỏng vấn Giáo sư, Tiến sỹ Đào Xuân Học – Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn,


    Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam, nhân kỷ niệm 64 năm ngày truyền thống ngành Thuỷ lợi Việt Nam)


                                                                                               HÀ QUANG thực hiện


    PV:  Thưa Giáo sư, Tiến sỹ Đào Xuân Học! Sắp tới ngày 28 tháng 8 năm 2009 –  kỷ niệm 64 năm ngày truyền thống của ngành Thuỷ lợi Việt Nam – một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Xin ông cho biết vai trò của ngành Thuỷ lợi đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là đốí với nông nghiệp, nông thôn và nông dân?


    GS.TS Đào Xuân Học: Trước hết phải nói rằng: Ngành thủy lợi có vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy, ngay từ ngày hoà bình lập lại Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đầu tư cho hệ thống công trình Thuỷ lợi, cùng với đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, tâm huyết với nghề… do vậy, trong thời gian qua công tác thủy lợi có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển bền vững trong tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và thay đổi bộ mặt nông thôn như ngày nay. Cho đến nay, các hệ thống công trình thủy lợi trực tiếp tưới cho 3,45 triệu ha; tạo nguồn cấp nước cho 1,13 triệu ha; tiêu nước, thoát nước chống úng ngập cho các đô thị, thành phố, làng mạc và cho 1,4 triệu ha canh tác; ngăn mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp. Ngoài ra còn cấp hơn 5 tỷ m3 nước /năm cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác, nâng tỉ lệ cấp nước hợp vệ sinh lên 75% tính hết năm 2008. Trong công tác phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, trong thời gian qua cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, đã đầu tư nhiều công trình hồ chứa lớn thượng nguồn tham gia chống lũ cho hạ du; nhiều hệ thống đê sông, đê biển được nâng cấp và xây mới góp phần giảm số người chết và thiệt hại kinh tế đặc biệt đối với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. Đúng như Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã chỉ đạo: Việt nam là đất nước nằm ở vùng có nhiều thiên tai thì quy hoạch thuỷ lợi cần được xem như là một quy hoạch nền cho các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội khác.









    GS.TS Đào Xuân Học trả lời phỏng vấn của PV Tạp chí Tài nguyên nước


        PV: 
    Ghi nhận ngành Thuỷ lợi Việt Nam đã có những đóng góp rất to lớn, điều đó ai cũng biết, nhưng cụ thể những thành tựu cơ bản về tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, về phòng chống giảm nhẹ thiên tai, về cấp nước sinh hoạt.v.v.như thế nào?


    GS.TS Đào Xuân Học: Vâng, đến nay cả nước đã xây dựng được: 111 hệ thống thủy lợi có diện tích tưới tiêu ³ 2.000 ha, 76 hệ thống có diện tích ³ 4.000 ha, 67 hệ thống thuỷ lợi có diện tích ³ 5.000 ha; với 1967 hồ chứa (có dung tích ³ 0,2 triệu m3); hơn 5.000 cống tưới, tiêu lớn; trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa (trong đó trên 2.000 trạm bơm lớn) với tổng công suất bơm 24,8 triệu m3/h và hàng vạn công trình vừa và nhỏ khác có năng lực thiết kế tưới 3,45 triệu ha đất canh tác, tạo nguồn 1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha (Anh biết đấy, trước năm 1945 cả nước chỉ có 13 hệ thống công trình thuỷ nông loại lớn và 600 km kênh chính, chỉ cấp và tạo nguồn nước tưới được cho 1,4 triệu ha). Bên cạnh đó đã xây dựng 5.700 km đê sông ; 3.000 km đê biển; 23.000 km bờ bao, hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè và các hồ chứa lớn ở thượng lưu tham gia chống lũ cho hạ du…Nhờ vậy, hiệu quả của các công trình là rất lớn, có thể nêu những hiệu quả nổi bật là:


    – Tăng diện tích tưới lúa, góp phần tăng năng suất và ổn định sản lượng lúa, đảm bảo an ninh lương thực và góp phần xuất khẩu . Diện tích lúa được tưới hàng năm đạt 6,85 triệu ha, rau màu và cây công nghiệp khoảng 1 triệu ha; sản lượng lúa năm 2007 là 35,85 triệu tấn, xuất khẩu một vài năm gần đây đạt 3,5-4 triệu tấn, tạo điều kiện đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi chuyên canh như: lúa ngô ở đồng bằng sông Cửu long và sông Hồng; cao su cà phê ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên; chè và đồng cỏ ở trung du miền núi Bắc bộ, Tây Nguyên, Trung bộ, nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ĐBSCL; mở rộng diện tích làm muối: 12.260ha (2007)…Giá trị sản lượng nông nghiệp trên một ha canh tác tăng từ 14,5 triệu (2000) lên đến 25 triệu, có nơi trên 100 triệu đồng.


    – Góp phần giảm nhẹ do thiên tai (lũ lụt, úng hạn, sạt lở,…) bảo vệ tính mạng, sản xuất, cơ sở hạ tầng, hạn chế dịch bệnh . Hệ thống đê sông cấp III trở lên ở Bắc bộ đảm bảo chống lũ với mực nước 13,1 m tại Hà Nội, đê biển ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ có thể ngăn mặn và triều tần suất 10% gặp bão cấp 9, hệ thống đê và bờ bao ở Trung Trung bộ và ĐBSCL có thể chống lũ sớm, lũ tiểu mãn bảo vệ sản xuất vụ Hè thu và Đông Xuân. Các hồ chứa lớn và vừa ở thượng lưu đã tham gia cắt lũ rất hiệu quả. Các công trình chống lũ nói chung đã bảo vệ cho hàng chục triệu dân và hàng triệu ha canh tác ở các vùng thường bị lũ lụt, các hoạt động kinh tế được duy trì, giảm được tổn thất do bão lũ gây ra…


    Tôi xin nói thêm là: Ngoài việc cấp hơn 5 tỷ m3  nước thô hàng năm như đã nói ở trên, các công trình cấp nước sinh hoạt khác đã đảm bảo cung cấp nước hợp vệ sinh cho 75% dân số nông thôn với 60ls/người.ngày đêm, cải thiện đời sống sinh hoạt hàng ngày của nông dân, đặc biệt ở vùng lũ sông Cửu Long, khô hạn ở miền Trung, vùng núi đá vôi ở Cao Bằng, Hà Giang… Nhờ các công trình thuỷ lợi nên nhiều vùng khi xưa ngập úng “chiêm khê, mùa thối”, chua phèn quanh năm, nay đã sản xuất được 2 vụ, cơ sở hạ tầng được cải thiện như: Bắc Nam Hà, Nam Yên Dũng, Bắc Hưng Hải, Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên; nhiều vùng khô hạn đã có nước tưới như Ninh Thuận, Bình Thuận; thậm chí nhiều hệ thống thuỷ lợi là trục tiêu thoát nước cho các thành phố và đô thị. Hệ thống thuỷ lợi và đê điều đã góp phần hình thành mạng lưới giao thông quan trọng của vùng nông thôn nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long…Trong những năm qua, ngành Thuỷ lợi đã làm được nhiều việc, nhưng cũng còn nhiều việc phải làm lắm…


    PV: Trước tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp -nông thôn, ngành Thuỷ lợi đã và sẽ làm gì để giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu?


    GS.TS Đào Xuân Học: Theo tôi, nếu nói đầy đủ thì phải đề cập đến 2 yếu tố quan trọng đòi hỏi ngành Thuỷ lợi phải có cách nhìn mới, phương pháp luận mới, đó là:


    Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá trong giai đoạn vừa qua đã làm thay đổi cơ bản yêu cầu cấp nước và tiêu nước cho các hệ thống thuỷ lợi ở ĐBSH. Về cấp nước, mặc dù diện tích canh tác ở ĐBSH giảm hơn 200.000ha nhưng nhu cầu cấp nước tăng gần gấp 2 lần, do nhu cầu cấp nước cho công nghiệp, sinh hoạt, du lịch dịch vụ và cải tạo môi trường đều tăng và đều lấy nước từ các công trình thuỷ lợi. Diện tích đô thị hoá và công nghiệp hoá tăng lên dẫn đến nhu cầu tiêu nước tăng nhanh.Theo tính toán sơ bộ, nếu diện tích đô thị hoá và công nghiệp hoá tăng khoảng 15% thì lưu lượng cần tiêu phải gia tăng gấp đôi, như vậy các công trình tưới tiêu đã xây dựng trước đây đều không đáp ứng đủ yêu cầu tưới tiêu trong tình hình mới, chưa nói đến tác động do biến đổi khí hậu.


    Biến đổi khí hậu sẽ tạo ra các trạng thái khí hậu cực đoan, thiên tai sẽ xuất hiện nhiều hơn, không tuân theo quy luật thường có, đặc biệt vấn đề nước biển dâng sẽ trở thành thách thức lớn đối với Việt Nam. Theo tính toán sơ bộ, nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm ngập khoảng từ 0,3 đến 0,5 triệu ha tại Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và những năm lũ lớn khoảng trên 90% diện tích của ĐBSCL bị ngập từ 4-5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l. Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số hơn 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân. Mưa tập trung trong thời gian ngắn, lũ lụt, hạn hán kéo dài; tần suất xuất hiện nhiều hơn, sự an toàn của các hồ chứa bị đe doạ. Hệ thống đê biển hiện tại có nguy cơ tràn và vỡ đê ngay cả khi không có các trận bão lớn. Ngoài ra, do mực nước biển dâng cao làm chế độ dòng chảy ven bờ thay đổi gây xói lở bờ. Đối với hệ thống đê sông, đê bao và bờ bao, mực nước biển dâng cao làm cho khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm, kéo theo mực nước các con sông dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn sẽ làm cho đỉnh lũ tăng thêm, uy hiếp sự an toàn của các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam.  Các công trình tiêu nước vùng ven biển hiện nay hầu hết đều là các hệ thống tiêu tự chảy; khi mực nước biển dâng lên, việc tiêu tự chảy sẽ hết sức khó khăn, diện tích và thời gian ngập úng tăng lên tại nhiều khu vực. Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu ven sông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng. Các thành phố ven biển bị ngập úng do triều như: TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Hải Phòng, Trà Vinh. Khu vực thấp ven biển bị ngập triều gây mặn nặng như: Bến tre, Cà Mau. Chế độ dòng chảy sông suối thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thuỷ lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm… Tất cả những điều đó đặt ra cho Ngành ta những nhiệm vụ hết sức nặng nề. Tôi xin nhấn mạnh rằng, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã và đang tổ chức triển khai nhiều chương trình dự án nhằm giảm thiểu và thích ứng với BĐKH, cụ thể là:


    – Bộ NN&PTNT đã thành lập Ban chỉ đạo và Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo chương trình hành động thích ứng với biến đổi khí hậu. Bộ đã xây dựng, công bố và hướng dẫn khung chương trình hành động ứng phó với biến đổi khí hậu ở các đơn vị thuộc Bộ và địa phương để thực hiện;


    – Từng bước nghiên cứu, lồng ghép vào việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với BĐKH;


    – Từng bước kiện toàn bộ máy tổ chức và tăng cường năng lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho công tác chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai và tìm kiếm cứu nạn từ Trung ương đến các địa phương;


    – Xây dựng và triển khai thực hiện  một số chương trình, dự án liên quan đến phòng, chống lụt, bão giảm nhẹ thiên tai, trong bối cảnh có sự BĐKH ứng với từng giai đoạn như:


    + Rà soát, bổ sung Chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam;


    + Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang có xem xét trong điều kiện BĐKH và nước biển dâng, trong đó trồng rừng bảo vệ phía trước đê rộng từ 500 đến 1000m, bố trí hệ thống giao thông trong đê và hệ thống cống ngăn triều, ngăn mặn, đất lưu không để nâng cao đê khi nước biển dâng;


    + Đang xây dựng Chương trình nâng cấp đê sông trong tình hình mới;


    + Đang thực hiện quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL, Đồng bằng sông Hồng, miền Trung trong điều kiện BĐKH và nước biển dâng;


    + Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chống ngập úng cho một số thành phố lớn có xem xét yếu tố BĐKH như: TP. Hồ Chí Minh, TP. Hà Nội. Đang triển khai lập quy hoạch chống ngập úng cho TP.Cần Thơ, TP.Cà Mau, TP.Hải Phòng.v.v. trong điều kiện BĐKH, nước biển dâng.


    + Đang lập Dự án chống xâm nhập mặn – nước biển dâng cho vùng Bắc Bến Tre.


    – Chính phủ đã phê duyệt đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản dựa vào cộng đồng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong phòng chống giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với BĐKH;


    – Rà soát, sửa đổi tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật xây dựng công trình thuỷ lợi thích ứng với BĐKH.


    PV: Thế còn vai trò, nhiệm vụ của Hội Thuỷ lợi Việt Nam trong tình hình hiện nay? Hội đã làm gì để thiết thực chào mừng ngày truyền thống của ngành Thuỷ lợi Việt Nam, thưa đồng chí Chủ tịch?


    GS.TS Đào Xuân Học: Trước hết, tôi xin nói rằng, Hội Thuỷ lợi Việt Nam là một tổ chức xã hội nghề nghiệp của các tập thể, các cá nhân làm công tác quản lý, tư vấn, nghiên cứu khoa học; là nơi tập hợp trí tuệ của các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực Thuỷ lợi…Hội có nhiệm vụ rất lớn và cũng rất nặng nề trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về khoa học công nghệ cho hội viên; tham gia nghiên cứu, tư vấn, phản biện, góp ý vào việc hoạch định các chủ trương, chính sách cơ chế và chiến lược về quản lý thống nhất, tổng hợp tài nguyên nước; ứng dụng vào sản xuất các tiến bộ khoa học, công nghệ về thuỷ lợi – thuỷ điện, về khai thác tài nguyên nước phục vụ các nhu cầu phát triển dân sinh, kinh tế, an ninh – quốc phòng. Ngoài ra, Hội cũng có nhiệm vụ hết sức quan trọng là thực hiện hợp tác với các cơ quan, các tổ chức trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực chuyên môn thuỷ lợi – thuỷ điện, khai thác tổng hợp tài nguyên nước, bảo vệ môi trường nước theo quy định của pháp luật.v.v. Như nhà báo đã biết, trong tình hình hiện nay, ngành Thuỷ lợi đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thách thức trước tác động của biến đổi khí hậu, Hội Thuỷ lợi Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, Ngành từng bước tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và Chính phủ…


    Hướng tới kỷ niệm 64 năm ngày truyền thống của ngành Thuỷ lợi Việt Nam, thời gian qua, Hội đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị cho Chiến lược phát triển thuỷ lợi đến năm 2020; tập trung trí tuệ tham gia tích cực vào việc rà soát xây dựng quy chuẩn và chỉnh sửa Tiêu chuẩn thiết kế của ngành; tham gia công tác tư vấn phản biện, thẩm tra nhiều dự án; đóng góp một phần quan trọng trong các dự án lớn như: Quy hoạch chống ngập úng cho TP Hồ Chí Minh, quy hoạch chỉnh trị sông Hồng đoạn qua Hà Nội.v.v. Đặc biệt, trong thời gian qua, Hội đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam thực hiện Nghị quyết “Tam nông” của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tích cực nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến một cách nghiêm túc và có hiệu quả vào các Đề án xây dựng nông thôn mới và Bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, được Ban chỉ đạo chương trình của Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá cao…Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy cần phải tăng cường nghiên cứu, tập trung trí tuệ của hội viên để tham gia đóng góp nhiều hơn nữa các ý tưởng về quy hoạch thuỷ lợi, chiến lược phát triển thuỷ lợi và các nhiệm vụ quan trọng khác của ngành trong tình hình mới. 


    PV: Xin cảm ơn Giáo sư, Tiến sỹ. Chúc sức khoẻ đồng chí và gia đình!


                                                                                                                     H.Q


     

  • Quyết định ban hành Quy định về học phí đối với sinh viên hệ chính quy của trường Đại học Thuỷ lợi







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    Số: 641 /QĐ-ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 2009


    QUYẾT ĐỊNH


    Ban hành Quy định về học phí đối với sinh viên hệ chính quy


    của trường Đại học Thuỷ lợi


     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


          Căn cứ Quyết định số 351QĐ/TL ngày 28/04/1964 của Bộ Thủy lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) quy định nhiệm vụ, quyền hạn trường Đại học Thủy lợi;


          Căn cứ Quyết định số 1249/BNN-TCCB ngày 29/4/2009 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về phê duyệt Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thuỷ lợi;


          Căn cứ Thông tư liên tịch số 54/1998/TTLT-BGD&ĐT-BTC ngày 31/8/1998 về hướng dẫn thực hiện thu, chi và quản lý học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;


          Căn cứ Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và TCCN hệ chính quy ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;


          Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Trưởng phòng Đào tạo ĐH & SĐH và Trưởng phòng Tài vụ,


     


    QUYẾT ĐỊNH:


    Điều 1: Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản “Quy định về học phí đối với sinh viên hệ chính quy của trường Đại học Thuỷ lợi”.


    Điều 2: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ.                  


    Điều 3: Các ông/bà Trưởng Phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Đào tạo ĐH & SĐH, Tài vụ, Trưởng các Khoa, Giám đốc Cơ sở 2, trung tâm ĐH2, các cá nhân và đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.


     








    Nơi nhận:


    –                – BGH (để b/c)


    –                – Như điều 3


    –                – Các lớp trong trường


    –                – Lưu VT, CTCT&QLSV


    KT.HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


     


    (Đã ký)


    TS. Trịnh Minh Thụ

    Quy định về học phí đối với sinh viên hệ chính quy Trường Đại học Thủy lợi: Xem tại đây