Danh mục: Tin tức Uncategory

  • TRUNG TÂM ĐH2( Phan Rang – Ninh Thuận) – Cơ sở đào tạo và hoạt động công nghệ của Trường Đại học Thủy Lợi

    TRUNG TÂM ĐH2( Phan Rang – Ninh Thuận) – Cơ sở đào tạo và hoạt động công nghệ của Trường Đại học Thủy Lợi

    * Tên đầy đủ: Trung tâm kết hợp đào tạo, nghiên cứu và thực hành khoa học kỹ thuật thuỷ lợi.        


    * Tên viết tắt: TRUNG TÂM ĐH2


    * Tên giao dịch quốc tế: DH2 CENTER


    Được thành lập theo Quyết định số: 1745-QĐ/TC ngày 24/11/1976 và Quyết định đổi tên số 598 QĐ/TC ngày 08/12/1986 của Bộ Thuỷ Lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).


    * Địa chỉ:


    – Trụ sở chính: Số 115 Trần Phú, TP Phan Rang-Tháp Chàm, Tỉnh Ninh Thuận                     


    Điện thoại: 068.823027, Fax: 068.823027, Email: [email protected]      


    – Khu đào tạo: Số 74 Yên Ninh, TP Phan rang-TC, tỉnh Ninh Thuận


    Điện thoại: 068.221522, 068.890224


    * Các Văn phòng đại diện:


    + Số 7 Thủ Khoa Huân, TP Đà Lạt,  Tỉnh Lâm Đồng


    Điện thoại: 063.822096


    + Số 176 Lê Hồng Phong, TP Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định   


    Điện thoại:  056.815511, Fax: 056.815511


    Trung tâm ĐH2 là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của Trường Đại học Thủy lợi ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên, tiền thân là Đoàn khảo sát, quy hoạch, thiết kế thủy lợi miền Nam – Việt Nam (2/1976- 11/1976), Đoàn ĐH2 (12/1976- 11/1986). Tháng 12/1986 Đoàn ĐH2 được đổi tên thành Trung tâm ĐH2.


    Trong quá trình hoạt động hơn 30 năm, Tại Trung tâm ĐH2 đã mở 17 lớp Đại học Tại chức thủy lợi, 10 lớp chuyên đề sau đại học; đào tạo cán bộ kỹ thuật tại chỗ cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên về các lĩnh vực: Chủ nhiệm thiết kế công trình, Chỉ huy truởng công truờng, Giám sát thi công xây dựng công trình, Ðánh giá tác động môi trường và Nâng cao năng lực quản lý hệ thống công trình Thuỷ lợi. Tổng số SV tại chức đã tốt nghiệp tại ĐH2 là 547SV; đang theo học là 320SV; đào tạo các chuyên đề sau đại học là 696HV; đã hướng dẫn trên 500 SV Đại học chính quy thực tập, làm đồ án và bảo vệ tốt nghiệp.


    Trung tâm ĐH2 đã và đang tham gia quy hoạch, khảo sát lập dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công, thi công và giám sát thi công hàng trăm công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt nông thôn, nuôi trồng thủy sản, đồng muối công nghiệp, đê, kè,… trên địa bàn các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên và Đông Nam bộ,…


    Hàng loạt đề tài nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trên các lĩnh vực thủy lợi, tưới tiêu đã được Trung tâm ĐH2 thực hiện và ứng dụng ở nhiều địa phương, mang lại  hiệu quả cao như: chuyển giao công nghệ sản xuất kênh xi măng lưới thép lắp ghép bằng công nghệ rung đúc, nghiên cứu tự động hóa tưới tiêu hệ thống thủy lợi Nha Trinh- Lâm Cấm (Ninh Thuận),.


    Khu Đào tạo của Trung tâm ĐH2 nằm trên đường Yên Ninh, sát bãi biển Ninh Chữ thơ mộng, có diện tích khuôn viên rộng, thoáng, mát, vị trí thuận tiện đi lại và giao lưu. Trong trường có các hạng mục như: khu giảng đường A1, A2, A3,…, rộng rãi, thoáng mát, trang bị ánh sáng, âm thanh hiện đại; thư viện đầy đủ giáo trình học tập và tham khảo; khu ký túc xá SV, nhà ăn giáo viên, sinh viên rộng rãi, khang trang, mát mẻ và phục vụ tận tình, chu đáo. Trong khuôn viên có sân chơi thể thao, bóng chuyền, cầu lông và vườn hoa rộng, đẹp,..,. Cơ sở vật chất hiện có đáp ứng đủ yêu cầu về học tập, ăn ở cho khoảng 500SV. Ngoài ra các khu dân cư quanh trường cũng có đủ phòng trọ cho những sinh viên có nhu cầu với giá cả hợp lý.


    Đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy là các GS, PGS và các thày giáo có kinh nghiệm của Trường Đại học Thuỷ Lợi và Trung Tâm ĐH2.


    Đến học tập tại Trung tâm ĐH2 sẽ có nhiều cơ hội tìm việc làm sau khi ra trường và  đây còn là nơi có môi trường xã hội lành mạnh, môi trường sống trong lành.


    Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, Tỉnh Ninh Thuận có bãi biển Ninh Chữ có nhiều khu du lịch nghỉ mát và bãi tắm sạch, đẹp.








    Khu Đào tạo của Trung tâm ĐH2


    (Nhìn từ bãi biển Ninh Chữ vào)



    TUYỂN SINH HỆ CAO ĐẲNG CHÍNH QUY TẠI TRUNG TÂM ĐH2


    Năm học 2007-2008, Trường Đại học Thuỷ Lợi mở hệ đào tạo Cao Đẳng chính quy ngành Công trình Thuỷ lợi – Thuỷ điện tại Trung tâm ĐH2 với chỉ tiêu 70SV. Hiện Trường và Trung tâm đang thông báo xét tuyển nguyện vọng 2 trên toàn quốc với mức điểm nộp hồ sơ xét tuyển là 12 điểm đối với các học sinh phổ thông khu vực 3.


    Hồ sơ xét tuyển gửi theo đường bưu điện về địa chỉ: Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học Trường Đại học Thuỷ lợi – 175 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội theo phương thức chuyển phát nhanh 17h00 ngày 10/9/2007 (tính theo dấu bưu điện).


    Trường Đại học Thuỷ lợi hiện đã mở hệ liên thông từ Cao đẳng lên Đại học nên đây chính là hướng đi đúng đắn cho các thí sinh có lực học trung bình hoặc điều kiện kinh tế gia đình không đáp ứng được cho nhu cầu học đại học ngay. Bên cạnh đó nhu cầu về nhân lực trong ngành Thuỷ lợi, Thuỷ điện ở khu vực miền Trung và Tây nguyên còn rất lớn nên các SV ra trường sẽ có việc làm ngay với mức thu nhập cao hơn các ngành khác. Khoảng 95% SV tốt nghiệp ở Trung tâm ĐH2 ra trường có việc làm ngay (kể cả sinh viên hệ Tại chức) với thu nhập từ 1,5 triệu đồng/ tháng trở lên.Tất cả các giảng viên, cán bộ, công nhân viên của Trung tâm ĐH2 trực tiếp tham gia vào giảng dạy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Những sinh viên có nhu cầu tiếp cận với thực tế, để phục vụ cho việc học tập và công tác khi ra trường, sẽ được tạo điều kiện để tham gia các hoạt động công nghệ.


    Một số hình ảnh về hoạt động đào tạo của Trung tâm ĐH2 – Đại học Thủy Lợi










    Lễ khai giảng khoá TH15 và trao bằng tốt nghiệp khoá TH12










    Lễ trao bằng tốt nghiệp khoá TH13










    GS.TS Vũ Trọng Hồng trao chứng nhận lớp chuyên đề Sau ĐH “Đào tạo Chỉ huy trưởng công trường”











    GS.TS Vũ Trọng Hồng trao chứng nhận lớp chuyên đề Sau ĐH “Chủ nhiệm Dự án thiết kế công trình”




  • Quy chế v/v tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị, có sử dụng ngân sách Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức

    QUYẾT ĐỊNH
    CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 64/2007/QĐ-TTg NGÀY 10 THÁNG 05 NĂM 2007 BAN HÀNH QUY CHẾ VỀ VIỆC TẶNG QUÀ, NHẬN QUÀ VÀ NỘP LẠI QUÀ TẶNG CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, ĐƠN VỊ, CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC


     


    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ


    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;


    Căn cứ Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 29 tháng 11 năm 2005;;


    Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;


    Căn cứ Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 29 tháng 11 năm 2005;


    Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,


    QUYẾT ĐỊNH:


    Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức.


    Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.


    Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.


    THỦ TƯỚNG


    Nguyễn Tấn Dũng

     


    QUY CHẾ


    về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức


    (Ban hành kèm theo Quyết định 64/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2007


    của Thủ tướng Chính phủ)

    Chương I


    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 


    Điều 1: Phạm vi điều chỉnh.


    1. Quy chế này quy định:


    a) Việc tặng quà của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước.


    b) Việc nhận quà tặng của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ , công chức, viên chức.


    c) Việc báo cáo, nộp lịa và xử lý quà tặng.


    2. Quy chế này không áp dụng đối với các trường hợp sau:


    a) Việc tặng quà theo quy định tại Quyết định số 205/2004/QĐ-TTg ngày 10/12/04 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chính sách, chế độ đối với cán bộ cao cấp.


    b) Việc tặng quà của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho đối tượng chính sách, đối tượng là người có công cách mạng.


    Điều 2: Đối tượng thực hiện


    1. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.


    2. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp của Nhà nước và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan, đơn vị)


    3. Các quy định tại Quy chế này được áp dụng với các đối tượng sau:


    a) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.


    b) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.


    c) Người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và các cơ quan, đơn vị khác có thụ hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước.


    Điều 3: Quà tặng được điều chỉnh tại Quy chế này bao gồm:


    1. Tiền Việt Nam, tiền nước ngoài, sổ tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, séc và các giấy tờ có giá.


    2. Hiện vật, hàng hóa, tài sản.


    3. Dịch vụ thăm quan, du lịch, y tế, giáo dục – đào tạo, thực tập, bồi dưỡng trong nước hoặc ngoài nước và các loại dịch vụ khác.


    4. Quyền được mua tài sản, nhà , quyền sử dụng đất, quyền sử dụng thiết bị; các ưu đãi ngoài quy định của Nhà nước; việc sử dụng tài sản, nhà, đất đai, thiết bị của người khác mà không trả hoặc trả không đầy đủ chi phí cho việc sử dụng.


    Điều 4: Nghiêm cấm việc sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để làm quà tặng không đúng quy định dưới mọi hình thức.


    Điều 5: Nghiêm cấm các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức nhận quà tặng, nhận thay người khác hoặc nhận qua các cơ quan, đơn vị, cá nhân khác trong những trường hợp sau:


    1. Cơ quan, đơn vị và cá nhân tặng quà có liên quan đến hoạt động công vụ do mình hoặc người mà mình nhận thay chịu trách nhiệm giải quyết (trước, trong và sau khi thực hiện công vụ) hoặc thuộc phạm vi quản lý.


    2. Quà tặng của các cơ quan, đơn vị và cá nhân mà việc tặng quà đó không rõ mục đích.


    3. Việc tặng quà có mục đích liên quan đến các hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng.


     


    Chương II


    NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ 


     


    Mục 1


    QUY ĐỊNH VỀ VIỆC TẶNG QUÀ 


     


    Điều 6: Các cơ quan, đơn vị và cá nhân chỉ được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước hoặc nguồn gốc từ ngân sách nhà nước để làm quà tặng trong những trường hợp mà chế độ nhà nước đã quy định cho phép.


    Điều 7: Việc tặng quà theo quy định tại Quy chế này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan phải thực hiện đúng quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng; cơ quan, đơn vị tặng quà phải hạch toán kế toán theo đúng quy định của pháp luật hiện hành và thực hiện công khai trong cơ quan, đơn vị theo chế độ quy định,


    Điều 8: Bộ Tài chính thực hiện sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các quy định về chế độ tặng quà trong công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế của các cơ quan nhà nước.


    Mục 2


    QUY ĐỊNH VỀ VIỆC NHẬN QUÀ TẶNG 


     


    Điều 9: Các cơ quan, đơn vị chỉ được nhận quà tặng theo đúng quy định của pháp luật. Quà tặng phải được công khai, quản lý và sử dụng theo đúng các quy định tại Quy chế này.


    Đối với quà tặng không đúng chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng thì đại diện cơ quan, đơn vị phải từ chối và giải thích rõ lý do với người tặng quà. Trong trường hợp không thể từ chối được, cơ quan, đơn vị phải tổ chức quản lý, xử lý quà tặng theo quy định tại Mục 3 Quy chế này.


    Điều 10: Cán bộ, công chức, viên chức chỉ được nhận quà tặng theo đúng quy định của pháp luật và phải ký xác nhận; phải kê khai thu nhập trong trường hợp pháp luật có yêu cầu.


    Đối với quà tặng không đúng chế độ, tiêu chuẩn, đối tượng thì cán bộ, công chức, viên chức phải từ chối và giải thích rõ lý do với người tặng quà. Trong trường hợp không thể từ chối được, cán bộ, công chức, viên chức phải báo cáo thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình để xử lý theo quy định tại Mục 3 Quy chế này.


    Điều 11: Đối với quà tặng từ họ hàng, người thân trong gia đình mà những người đó không có mối quan hệ về lợi ích liên quan đến hoạt động công vụ của người được tặng quà và quà tặng từ những cơ quan, đơn vị, cá nhân không liên quan đến hoạt động công vụ của người được tặng quà thì cán bộ, công chức, viên chức được tặng quà không phải báo cáo với cơ quan, đơn vị; trong trường hợp pháp luật có yêu cầu kê khai thu nhập thì cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện kê khai theo đúng quy định.


     Mục 3


    QUY ĐỊNH VỀ VIỆC BÁO CÁO, NỘP LẠI VÀ XỬ  LÝ QUÀ TẶNG 


     


    Điều 12: Việc báo cáo và nộp lại quà tặng được thực hiện như sau:


    1. Cơ quan, đơn vị khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải giao lại quà tặng cho bộ phận chịu trách nhiệm quản lý quà tặng của cơ quan, đơn vị đó để xử lý theo quy định tại Điều 13 Quy chế này.


    2. Cán bộ, công chức, viên chức khi nhận được quà tặng không đúng quy định thì phải báo cáo Thủ trưởng trực tiếp và nộp lại quà tặng cho cơ quan, đơn vị mình trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quà tặng.


    Trường hợp báo cáo và nộp lại quà tặng chậm so với thời hạn nêu trên thì người nhận quà tặng phải giải trình rõ lý do.


    3. Báo cáo phải được thể hiện bằng văn bản và có đầy đủ các nội dung sau:


    a) Loại và giá trị của quà tặng.


    b) Thời gian, địa điểm và hoàn cảnh cụ thể khi nhận quà tặng.


    c) Tên, chức vụ, cơ quan, địa chỉ của người tặng quà.


    d) Mục đích của việc tặng quà (nếu biết).


    4. Ngoài trường hợp quy định tại Điều 11 Quy chế này, cán bộ, công chức khi ốm đau, tai nạn hoặc nhân dịp hiếu, hỷ, lễ, tết truyền thống được tặng quà có trị giá dưới 500.000 đồng Việt Nam mà việc tặng quà đó không liên quan đến các mục đích, hành vi quy định tại Điều 5 Quy chế này thì người được tặng quà tự quyết định mà không phải báo cáo và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.


    Điều 13: Trình tự xử lý quà tặng.


    Khi quà tặng được nộp lại cho cơ quan, đơn vị, thủ trưởng cơ quan, đơn vị đó phải tổ chức tiếp nhận, bảo quản và phải xử lý ngay số quà tặng như sau:


    1. Quà tặng bằng tiền, sổ tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, séc và các giấy tờ có giá thì làm thủ tục nộp ngay vào ngân sách nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.


    2. Trường hợp quà tặng bằng hiện vật:


    a) Xác định giá trị của quà tặng trên cơ sở giá của quà tặng do cơ quan, đơn vị, cá nhân tặng quả cung cấp (nếu có) hoặc giá trị của quà tặng tương tự được bán trên thị trường trong nước hoặc quốc tế mà cơ quan quản lý người được tặng quà có thể so sánh và xác định giá trị. Trong trường hợp không xác định được giá trị của quà tặng bằng hiện vật thì có thể đề nghị cơ quan có chức năng thẩm định xác định;


    b) Tuỳ theo số lượng hiện vật được nộp lại, thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định việc tổ chức bán hiện vật công khai 3 tháng hoặc 6 tháng một lần;


    c) Đối với quà tặng quy định tại khoản 3 Điều 3 Quy chế này và quà tặng là động vật, thực vật, thực phẩm tươi, sống và hiện vật khác khó bảo quả thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị căn cứ tình hình cụ thể để quyết định xử lý cụ thể cho phù hợp; nếu vượt quá thẩm quyền thì báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp để xem xét, quyết định xử lý;


    d) Số tiền thu được (sau khi trừ đi chi phí liên quan đến việc xử lý hiện vật) các cơ quan, đơn vị nộp vào ngân sách nhà nước trong thời gian không quá 30 ngày, kể từ ngày bán hiện vật.


    3. Cơ quan, đơn vị phải lập báo cáo về việc thu, nộp, xử lý quà tặng theo định kỳ hàng quý, hàng năm gửi cơ quan cấp trên trực tiếp và công khai trong cơ quan, đơn vị mình.


    4. Cơ quan, đơn vị xử lý quà tặng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới cơ quan, đơn vị tặng quà hoặc cơ quan, đơn vị quản lý người tặng quà để xem xét việc tặng quà và xử lý theo quy định của pháp luật.


     Chương III


    TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN


     


    Điều 14. Cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm:


    1. Nghiêm túc thực hiện các quy địn về tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng theo đúng quy định của pháp luật và các quy định tại Quy chế này.


    2. Tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về việc nhận quà tặng để họ hàng, người thân biết và thực hiện đúng quy định.


    Điều 15. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm:


    1. Tổ chức thực hiện nghiêm các quy định tại Quy chế này và các quy định khác của pháp luật liên quan.


    2. Tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về tặng quà, nhận quà tặng, nộp lại quà tặng trong cơ quan, đơn vị mình.


    3. Theo dõi, kiểm tra, giám sát và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tặng quà và nhận quà tặng không đúng quy định; xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm Quy chế này xảy ra trong cơ quan, đơn vị mình quản lý; công khai trong cơ quan, đơn vị kết quả xử lý các trường hợp vi phạm.


    4. Định kỳ hàng năm báo cáo cấp trên trực tiếp tình hình thực hiện Quy chế này và công khai trong cơ quan, đơn vị mình.


    Điều 16. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:


    1. Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các đơn vị trực thuộc trong việc thực hiện Quy chế này.


    2. Trước ngày 15 tháng 11 hàng năm, báo cáo kết quả thực hiện việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng theo quy định tại Quy chế này, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày  tháng  hàng năm.


    Điều 17. Các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm:


    1. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phát hiện những vi phạm quy định tại Quy chế này, xử lý theo thẩm quyền hạơc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.


    2. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong việc trao đổi thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về việc chấp hành các quy định của Quy chế này.


    Điều 18. Cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm:


    1. Cơ quan tài chính các cấp tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước theo đúng các quy định hiện hành và quy định tại Quy chế này.


    2.  Kho bạc Nhà nước các cấp thực hiện chế độ kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước qua kho bạc; tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức thực hiện việc nộp các khoản tiền được tặng vào ngân sách nhà nước.


    Chương IV


    XỬ LÝ VI PHẠM


     


    Điều 19. Xử lý cơ quan, đơn vị, cá nhân vi phạm 


    1. Cơ quan, đơn vị, tặng quà không đúng quy định thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng cho công quỹ. Cá nhân tặng quà không đúng thẩm quyền, không đúng quy định, tặng quà nhằm mục đích liên quan đến các hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật Phòng, chống tham nhũng thì phải bồi hoàn giá trị quà tặng và tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.


    Các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức nhận quà không đúng quy địn nhưng không báo cáo hoặc báo cáo không trung thực thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.


    2. Người quyết định việc sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước để làm quà tặng sai quy định, qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán phát hiện thì thì phải bồi hoàn từ tiền của cá nhân cho công quỹ toàn bộ số tiền, giá trị hiện vật đã sử dụng làm quà tặng.


    3. Các trường hợp đã tặng quà, nhận quà tặng sai quy định mà chủ động báo cáo, bồi hoàn, nộp lại trước khi bị phát hiện thì được xem xét miễn, giảm hình thức kỷ luật theo quy định của pháp luật.


    4. Không xét thi đua, khen thưởng đối với các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm các quy định tại Quy chế này.


    THỦ TƯỚNG


    Nguyễn Tấn Dũng


  • Triển khai thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho K45 đại học và K47 cao đẳng hệ chính quy

    Triển khai thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho K45 đại học và K47 cao đẳng hệ chính quy








    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    ——————–


    Số: 299 TB-ĐHTL/CTCT&QLSV


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    ————–


    Hà Nội, ngày 02 tháng 4 năm 2007


     


    THÔNG BÁO


    (V/v: Triển khai thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho K45 đại học và K47 cao đẳng hệ chính quy)


     


    Kính gửi:          Các lớp K45 & 47CĐ


     


    Căn cứ Quy chế Đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy ban hành kèm theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.


    Căn cứ thông báo số 201 TB-ĐHTL/CTCT&QLSV ngày 07/3/2007 về việc triển khai thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho K45 đại học và K47 cao đẳng hệ chính quy.


    Phòng CTCT & Quản lý sinh viên thông báo như sau:


    I. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA KỲ THI:


    Đối tượng dự thi:


    – Toàn bộ sinh viên các lớp K45 hệ đại học chính quy và lớp 47CĐ


    – Những sinh viên khoá trước chưa thi hoặc chưa được xếp loại đạt tốt nghiệp các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.


    Nội dung thi: Sinh viên lựa chọn một trong 3 học phần sau:


    – HP1: Môn Triết học + Phần vận dụng tổng hợp


    – HP2: Môn Kinh tế chính trị + Phần vận dụng tổng hợp


    – HP3: Môn Chủ nghĩa xã hội khoa học + Phần vận dụng tổng hợp


    Hình thức & thời gian thi:


    – Hình thức: Thi viết. Đề thi mang tính tổng hợp, sinh viên được phép sử dụng tài liệu.


    – Thời gian thi (Dự kiến): 180’ đối với hệ đại học, 150’ đối với hệ cao đẳng.


    II. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:


    – Từ 07/5/2007 đến 11/5/2007: Phát hành mẫu đăng ký dự thi tốt nghiệp các môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đến các lớp.


    – Từ 21/5/2007 đến 22/6/2007: Lớp trưởng lập và nộp danh sách sinh viên đăng ký dự thi theo từng học phần tại Bộ phận tư vấn sinh viên – Phòng CTCT & Quản lý sinh viên


    – Từ 06/8/2007 đến 10/8/2007: Tổ chức ôn tập cho sinh viên


    – Từ 10/8/2007 đến 15/8/2007: Sinh viên xem danh sách phòng thi tại Bảng thông báo. Nếu có sai sót về danh sách báo về Phòng CTCT & Quản lý sinh viên (Bộ phận tư vấn sinh viên)


    – Ngày 18/8/2007: Tổ chức thi cho sinh viên


    – Ngày 24/11/2007: Tổ chức thi lại cho sinh viên thi chưa đạt.


    Ghi chú: Những sinh viên đang trong diện dừng học sẽ vào học, làm Đồ án tốt nghiệp năm học 2007 – 2008 đăng ký trực tiếp theo mẫu tại phòng CTCT & Quản lý sinh viên (Bộ phận tư vấn sinh viên) đối với sinh viên học tại Hà Nội; tại Ban Đào tạo Cơ sở 2 ĐH Thuỷ lợi đối với sinh viên học tại Cơ sở 2.


     








    Nơi nhận:


    – ĐU, BGH, CĐ, ĐTN, HSV


    – TTrGD, P, K,B, TT


    – SV các lớp K45, 47CĐ


    – Lưu VT, P7


    TL. HIỆU TRƯỞNG


    TRƯỞNG PHÒNG CTCT & QLSV


     


    (Đã ký)


     


    ThS. Dương Văn Bá

  • Các ngành tuyển sinh Đại học, Cao đăng hệ chính quy năm 2007

    Các ngành tuyển sinh Đại học, Cao đăng hệ chính quy năm 2007

    CÁC NGÀNH TUYỂN SINH ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HỆ CHÍNH QUY NĂM 2007


     


    A – TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG


    NGÀNH CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI – THUỶ ĐIỆN


    Học tại Hà Nội, mã số: TLA .C65


    Học tại trung tâm ĐH2 Phan Rang – Ninh Thuận, mã số: TLS .C65


    * Đào tạo Cử nhân ngành công trình thuỷ lợi – Thuỷ điện (công trình xây dựng dân dụng, công trình thủy, công trình giao thông , thuỷ điện). Cử nhân ngành công trình thuỷ lợi – thuỷ điện được trang bị kiến thức cơ bản rộng, thành thạo về kỹ thuật công trình, tăng cường sự hiểu biết về lập kế hoạch, thiết kế xây dựng, vận hành các dự án xây dựng công trình.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng cử nhân Cao đẳng ngành Công trình thuỷ lợi – Thuỷ điện.


    * Sinh viên sau khi trở thành cử nhân có thể tiếp tục học để được cấp bằng đại học.


     


    B – TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC


    1.       NGÀNH KỸ THUẬT CÔNG TRÌNH (Thuộc Khoa Công trình)


    Mã số: TLA 101 (Cơ sở II :TLS 101)


    * Đào tạo kỹ sư thuộc lĩnh vực Kỹ thuật công trình (công trình xây dựng dân dụng, công trình thủy, công trình giao thông…)


    Kỹ sư công trình được trang bị kiến thức cơ bản rộng, thành thạo về kỹ thuật công trình, hiểu biết về lập kế hoạch, thiết kế, thi công, xây dựng, vận hành các dự án xây dựng công trình.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học một trong các chuyên ngành sau:


    – Chuyên ngành xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp


    – Chuyên ngành xây dựng công trình thuỷ


    – Chuyên ngành xây dựng giao thông


    – Chuyên ngành kỹ thuật đường thuỷ


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Kỹ thuật công trình.


    2.       NGÀNH KỸ THUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC (Thuộc Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước)


    Mã số: TLA 102 (Cơ sở II: TLS 102)


    * Đào tạo kỹ sư thuộc lĩnh vực kỹ thuật tài nguyên nước và đất (trong đó có tưới tiêu). Kỹ sư kỹ thuật tài nguyên nước được trang bị các vấn đề về nước và tài nguyên thiên nhiên, kiến thức chuyên môn để thực hiện các công việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng, quản lý và khai thác các hệ thống thuỷ lợi.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học các tín chỉ khác nhau thuộc chuyên ngành: Kỹ thuật tài nguyên nước.


    *  Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Kỹ thuật tài nguyên nước.


     


    3. NGÀNH THUỶ VĂN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC (Thuộc Khoa Thuỷ văn và Tài nguyên nước)


    Mã số: TLA 103


    * Đào tạo kỹ sư thuộc lĩnh vực Thuỷ văn, Tài nguyên nước. Kỹ sư Thuỷ văn, Tài nguyên nước ngoài kiến thức cơ bản còn được trang bị: Sự phân bố nước theo không gian và thời gian; Số lượng và chất lượng nước; Giải pháp kỹ thuật quản lý và khai thác tài nguyên nước; Cảnh báo và dự báo rủi ro do nước gây ra. Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học các tín chỉ khác nhau thuộc chuyên ngành: Thuỷ văn và Tài nguyên nước.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Thuỷ văn và Tài nguyên nước.


     


    4.       NGÀNH KỸ THUẬT THỦY ĐIỆN VÀ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO (Thuộc Khoa Năng lượng)


    Mã số: TLA 104


    * Đào tạo kỹ sư thuộc lĩnh vực xây dựng công trình thủy điện và năng lượng tái tạo. Kỹ sư Thuỷ điện và Năng lượng tái tạo được trang bị các kiến thức cơ bản, cơ sở rộng trong lĩnh vực công trình dân dụng, kiến thức chuyên môn để có khả năng thiết kế, thi công, quản lý….các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, các công trình năng lượng tái tạo và các công trình dân dụng khác.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học một trong các chuyên ngành sau:


    – Chuyên ngành Công trình Thuỷ điện


    – Chuyên ngành Năng lượng tái tạo


    – Chuyên ngành Quản lý vận hành công trình năng lượng


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Kỹ thuật Thuỷ điện và năng lượng tái tạo.


     


    5.       NGÀNH KỸ THUẬT CƠ KHÍ (Thuộc Khoa Cơ khí)


    Mã số: TLA 105


    * Đào tạo kỹ sư trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí. Kỹ sư Kỹ thuật cơ khí được trang bị những kiến thức về xã hội, kỹ năng giao tiếp, các kiến thức khoa học cơ bản, tin học, ngoại ngữ, máy xây dựng, máy thủy lực, thiết bị thủy lợi, thủy điện, thiết kế chế tạo, kỹ thuật điện, điều khiển tự động.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học một trong các chuyên ngành sau:


    – Chuyên ngành Máy xây dựng


    – Chuyên ngành Máy thuỷ lực


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Cơ khí.


     


    6.       NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN (Thuộc Khoa Công nghệ thông tin)


    Mã số: TLA 106 (Cơ sở 2: TLS 106)


    * Đào tạo kỹ sư trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Kỹ sư công nghệ thông tin được trang bị các kiến thức nền tảng về các nguyên lí, phương pháp của khoa học và kỹ thuật máy tính theo diện rộng, được cung cấp các kỹ năng cần thiết trong thiết kế và thực hiện các hệ thống máy tính, các ứng dụng; tiến tới giải quyết được các bài toán mở và biết cách tư duy sáng tạo. 


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học các tín chỉ khác nhau thuộc chuyên ngành: Công nghệ thông tin.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Công nghệ thông tin.


    7.       NGÀNH CẤP THOÁT NƯỚC (Thuộc Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước)


    Mã số: TLA 107 (Cơ sở 2: TLS 107)


    * Đào tạo kỹ sư trong lĩnh vực Cấp thoát nước. Kỹ sư Cấp thoát nước được trang bị các kiến thức liên quan đến sử dụng và bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường, nâng cao điều kiện sống của người dân; được trang bị những kiến thức để có thể nghiên cứu, quy hoạch, thiết kế, xây dựng, tổ chức, quản lý và khai thác hệ thống và công trình Cấp thoát nước cho công nghiệp, dân sinh.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học các tín chỉ khác nhau thuộc chuyên ngành: Cấp thoát nước.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Cấp thoát nước


     


    8.       NGÀNH KỸ THUẬT BỜ BIỂN (Thuộc Khoa Kỹ thuật biển)


    Mã số: TLA 108


    * Đào tạo kỹ sư trong lĩnh vực kỹ thuật bờ biển. Kỹ sư kỹ thuật bờ biển được trang bị những kiến thức cần thiết cho sinh viên về khoa học cơ bản, kỹ thuật dân dụng và công nghệ hiện đại để giải quyết các vấn đề đa dạng bao gồm các quá trình vật lý, sinh học, hóa học biển; tư vấn, thiết kế, xây dựng; phát triển các hệ thống công nghệ phù hợp giải quyết các bài toán trong kỹ thuật cũng như quản lý tài nguyên, môi trường biển.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học một trong các chuyên ngành sau:


    – Chuyên ngành Kỹ thuật bờ biển


    – Chuyên ngành Quản lý biển và đới bờ.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Kỹ thuật bờ biển.


     


    9.       NGÀNH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (Thuộc Khoa Môi trường)


    Mã số: TLA 109


    * Đào tạo kỹ sư trong lĩnh vực Kỹ thuật môi trường. Kỹ sư Kỹ thuật môi trường được trang bị kiến thức về các thành phần tài nguyên và môi trường (không khí, đất, nước, sinh vật), các biện pháp để đánh giá, quản lý và bảo vệ môi trường, các nguyên lý quản lý và khai thác các tài nguyên để phục vụ cho quá trình phát triển bền vững.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học các tín chỉ khác nhau thuộc chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Kỹ thuật môi trường.


    10.    NGÀNH KỸ THUẬT HẠ TẦNG & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (Thuộc Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước)


    Mã số: TLA 110


    * Đào tạo kỹ sư trong lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng và phát triển nông thôn. Kỹ sư kỹ thuật hạ tầng và phát triển nông thôn được trang bị kiến thức về cơ công trình dân dụng, thủy lợi và giao thông nông thôn, công trình điện dân dụng và công nghiệp, kiến thức chuyên môn để quy hoạch, thiết kế, xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở hạ tầng và phát triển nông thôn.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học các tín chỉ khác nhau thuộc chuyên ngành: Kỹ thuật hạ tầng và Phát triển nông thôn.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Kỹ thuật hạ tầng và Phát triển nông thôn.


     


    11. NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT XÂY DỰNG (Thuộc Khoa Công trình)


    Mã số: TLA 111


    * Đào tạo kỹ sư thuộc lĩnh vực Công nghệ kỹ thuật xây dựng (công trình thủy, công trình giao thông, công trình dân dụng và công nghiệp, xây dựng công trình ngầm, tổ chức và quản lý xây dựng công trình). Kỹ sư công nghệ kỹ thuật xây dựng được trang bị kiến thức cơ bản, cơ sở rộng và thành thạo về công nghệ kỹ thuật xây dựng, về tổ chức và quản lý dự án xây dựng, luật xây dựng và hợp đồng xây dựng.


     * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học một trong các chuyên ngành sau:


    – Chuyên ngành công nghệ kỹ thuật xây dựng công trình thủy


    – Chuyên ngành công nghệ kỹ thuật xây dựng công trình giao thông


    – Chuyên ngành công nghệ kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp


    – Chuyên ngành công nghệ kỹ thuật xây dựng công trình ngầm


    – Chuyên ngành tổ chức và quản lý xây dựng công trình.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Công nghệ kỹ thuật xây dựng.


    12. NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN (Thuộc Khoa Kinh tế và Quản lý)


    Mã số: TLA 401


    * Đào tạo kỹ sư trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên. Kỹ sư kinh tế, tài nguyên thiên nhiên được trang bị những kiến thức chuyên sâu về kinh tế và quản lý trong lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên; có kỹ năng áp dụng những nguyên tắc kinh tế và kinh doanh vào việc sử dụng, bảo tồn và nâng cấp tài nguyên thiên nhiên.


    * Sau năm thứ 3, sinh viên được quyền lựa chọn học các tín chỉ khác nhau thuộc chuyên ngành: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên.


    * Sinh viên ra trường được cấp bằng Kỹ sư Kinh tế tài nguyên thiên nhiên.


     >> Những điều cần biết tuyển sinh ĐH, CĐ 2007 của Trường Đại học Thủy Lợi


     

  • Quyết định Khen thưởng sinh viên tham dự diễn đàn hưởng ứng Hội nghị Kỹ thuật xây dựng châu Á lần thứ 4 – 2007 (CECAR 4) cấp trường










     Bộ Nông nghiệp và PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


    Số:  27       ĐHTL-CTCT&QLSV/QĐ


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


    Hà Nội ngày 09 tháng 01 năm 2007


     


     


     


    QUYẾT ĐỊNH CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    (V/v: Khen thưởng sinh viên tham dự diễn đàn


    hưởng ứng Hội nghị Kỹ thuật xây dựng châu Á lần thứ 4 – 2007 (CECAR 4) cấp trường)


     


     


     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


     


                – Căn cứ Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo ban hành quyết định số 1584/QĐ – ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quyết định số 39/2000 QĐ-BGD&ĐT ngày 30/8/2000 của Bộ Giáo dục và đào tạo


    – Căn cứ kết quả xét chọn báo cáo tiểu luận sinh viên của Hội đồng Nhà trường.


                – Theo đề nghị của ông Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng phòng Khoa học công nghệ


     


    QUYẾT ĐỊNH


     


    Điều 1 : Tặng thưởng sinh viên tham dự diễn đàn hưởng ứng Hội nghị Kỹ thuật xây dựng châu Á lần thứ 4 – 2007 (CECAR 4) cấp trường (có danh sách kèm theo) với mức như sau:


                + Giải Nhất:      150.000 đồng


    + Giải Nhì:        100.000 đồng


    + Giải Ba:            70.000 đồng


    Điều 2 :    Các ông (bà) Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Khoa học công nghệ, Tài vụ, các đơn vị có liên quan và những sinh viên có tên trong danh sách chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.


     


     







    Nơi nhận :


    – Như điều 2


    – Lưu VT, P7


    KT. HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


     


     


    (Đã ký)


     


    PGS.TS Lê Đình Thành










    DANH SÁCH KHEN THƯỞNG SINH VIÊN


    THAM DỰ DIỄN ĐÀN HƯỞNG ỨNG HỘI NGHỊ CECAR 4 – 2007 CẤP TRƯỜNG


    ( Kèm theo Quyết định số 27.ĐHTL/CTCT&QLSV-QĐ ngày 09 Tháng 01 năm 2007)





























    TT


    Họ tên sinh viên


    Lớp


    Tên tiểu luận


    Giải


    1


    Phạm Lan Anh


    44C1


    Environmental protection in Vietnamese rural areas – Challenges and some proposed solutions


    Nhất


    2


    Nguyễn Quốc Cường


    47B


    Solution to mitigate Hanoi water environment pollution


    Nhì


    3


    Vũ Minh Đức


    47B


    Minimization and restoration after disaster


    Ba


  • Quyết định Ban hành Quy chế kết hợp giữa các Trường ĐH và Viện nghiên cứu thuộc Bộ NN và PTNT trong đào tạo và NCKH

          Ngày 30/10/2006, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát đã ký quyết định số 98/2006/QĐ-BNN về việc Ban hành Quy chế kết hợp giữa các Trường đại học và Viện nghiên cứu thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong đào tạo và nghiên cứu khoa học.


    Quy chế quy định nội dung, hình thức kết hợp; trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân khi thực hiện kết hợp. Chi tiết quyết định xem tại liên kết sau:


     


     Quyết định số 98/2006/QĐ-BNN

  • CẢM XÚC THÁNG 5

    CẢM XÚC THÁNG 5

    Một buổi chiều tháng 5 năm 2006 em đến Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên gặp tôi, nhìn vóc người nhỏ bé với dáng đi không bình thường bởi cái bướu lớn trên vai, xem giấy tờ em đưa tôi mới biết em là nạn nhân của chất độc mầu da cam do chiến tranh chống Mỹ để lại. Bản giám định sức khoẻ ghi em sinh năm 1983 nhưng em chỉ cao có 1m48 cân năng 40 kg, em bị gù với một khối u trên vai và bị vẹo cột sống bẩm sinh, lồng ngực phát triển không bình thường.
     
    Học gần hết năm thứ tư nhưng quả thật đến nay tôi mới gặp em lần đầu, tôi không có một thông tin nào về em và em cũng chưa một lần đến nơi tôi làm việc. Bởi vì em hiền lành chăm chỉ, không đòi hỏi sự ưu ái cho riêng mình, vì vậy đến nay Nhà nước có văn bản về chế độ chính sách cho con em có cha mẹ bị nhiễm chất độc mầu da cam ảnh hưởng đến con cái, em mới được Nhà trường cho miễn học phí và trợ cấp xã hội diện sinh viên tàn tật.

    Ngay lần gặp đầu tiên, với giọng nói nhỏ nhẹ em đã để lại trong tôi và những cán bộ trong phòng một ấn tượng khó quên, tôi quý mến và khâm phục nghị lực vươn lên trong cuộc sống của em. Em là con út trong một gia đình công nhân ở xã Lý Thường Kiệt, huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng yên. Cha em đi bộ đội từ những năm 1965, trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ khốc liệt đến năm 1974 cha em mới được phục viên về địa phương, cha em đã mang trong người thứ chất độc da cam khủng khiếp mà có lẽ ông cũng không biết, về địa phương ông vào làm công nhân ở nhà máy chế tạo biến thế Hà nội nay đã nghỉ hưu. Mẹ em là công nhân ở Công ty Tầu Quốc nay cũng đã nghỉ hưu. Tôi chỉ biết về em qua những bản hồ sơ em nộp về trường. Bản thân em không may là nạn nhân của chất độc mầu da cam. Dù cơ thể em phát triển không bình thường nhưng ý chí và nghị lực vươn lên của em đáng được trân trọng.

    Những năm học ở Phổ thông trung học, em luôn được giáo viên chủ nhiệm nhận xét là một học sinh ngoan, có rất nhiều cố gắng trong học tập, nhiệt tình với bạn bè và công việc của lớp.Sự cố gắng học tập của em được thể hiện em đã thi vào trường Đại học Thuỷ lợi với số điểm : Toán : 7.0; Vật lý : 7.5 ; Hoá học; 7.0 tổng số 21. 5 điểm.

    Trong quá trình học tập ở trường em đã cố gắng rất nhiều để đạt được kết quả học tập như hiện nay. 

           Năm thứ nhất điểm bình quân học tập cả năm : 6, 25 
           Năm thứ hai điểm bình quân học tập cả năm : 5,75
           Năm thứ ba điểm bình quân học tập cả năm : 6, 95
           Kỳ I năm thứ tư điểm bình quân học tập : 6, 16
                                              ( Chưa kể điểm rèn luyện )

    Với những sinh viên khoẻ mạnh bình thường thì kết quả học tập ấy không có gì phải là khó, nhưng với em là niềm vui lớn lao của gia đình, bè bạn. Em đã không phụ công cha mẹ đã dành những đồng lương hưu ít ỏi cho em ăn học.

    Trong những năm làm công việc quản lý sinh viên ở trường tôi đã gặp rất nhiều em sinh viên không may mắn như Nguyễn Minh Đức K42, em bị cụt gần hết bàn tay phải, như Bảo Trung K46 luôn trong tình trạng thiếu ôxy vì qua nhiều lần phẫu thuật do tai nạn, rồi còn một số sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mồ côi cả cha lẫn mẹ nhưng các em vẫn chăm chỉ học tập. Tuy nhiên vẫn còn một số ít sinh viên may mắn được sinh ra trong những gia đình khá giả, với hình thể khoẻ mạnh nhưng rất lười biếng học tập, có những sinh viên cha mẹ phải đến tận trường để nộp tiền học lại hoặc đóng học phí thay, vì nếu cha mẹ đưa tiền thì sợ con mình sẽ sử dụng vào mục đích ăn chơi khác. Một số sinh viên sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo ở nhà thì chăm chỉ học hành, nhưng khi thi đỗ vào trường đã không cố gắng học tập lại còn đua đòi lối sống buông thả, họ chơi lô đề với những đồng tiền đẫm mồ hôi nước mắt của cha mẹ, họ không nghĩ đến cha mẹ ở quê, mùa hạ nước ruộng bỏng chân, mùa đông mưa phùn gió bấc, cái lạnh thấu xương nhưng vẫn phải lội ngoài đồng chắt chiu hạt thóc, củ khoai mà họ cứ lao vào những ván bài đen đỏ.

    Vậy mà em có mang trong mình chất độc da cam, dù em không có sức khoẻ như các bạn cùng trang lứa nhưng em mãi là niềm tự hào của gia đình, của các thầy cô giáo và bè ban. Với những kết quả mà em đã dành được. Chúc cho em đạt kết quả tốt trong năm học cuối cùng xứng đáng là sinh viên trường Đại học Thuỷ lợi một đơn vị anh hùng. 

         NTĐ. QLSV

  • Gặp gỡ nữ PGS đầu tiên ở trường ĐH Thuỷ Lợi

    Gặp gỡ nữ PGS đầu tiên ở trường ĐH Thuỷ Lợi







    PGS.TS Lê Thị Nguyên

      




    C

      


    húng tôi đến thăm cô vào một chiều đầu mùa hạ, những ánh nắng vàng nhạt cuối ngày càng làm cho cảnh vật thêm đẹp và ẩn trong đó là sự hạnh phúc, mãn nguyện về cuộc sống gia đình, tự hào về cuộc đời làm khoa học của mình.


            


            Bước vào căn phòng là sự niềm nở, chân tình, chứa chan niềm yêu thương của chủ nhân, sự bày đặt ấm cúng trong căn phòng đã làm chúng tôi hình dung đến người phụ nữ đảm đang, hết lòng vì gia đình. Bức ảnh gia đình 4 người với khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc, chồng cô – Phó Giám đốc công ty tư vấn xây dựng Hà Nội, cô con gái cả là giảng viên trường Đại học Kiến Trúc hiện đang làm tiến sĩ tại Pháp, cô con gái út hiện đang học thạc sĩ tại Thái Lan. Một cuộc sống hạnh phúc đang hiện hữu trong cô được dựng xây bằng ý chí, nghị lực, niềm say mê khoa học. Gặp chúng tôi cô rất vui và xúc động vì lâu lắm cô mới lại được sống trong những giây phút đầy ắp kỷ niệm thế này.


            
            Ngày ấy, tạm biệt cầu Hàm Rồng lịch sử, tạm biệt Sông Mã anh hùng cô học trò Lê Thị Nguyên mang theo mình bao hoài bão sang đất nước Rumani xa xôi. Khác với những người bạn nô nức lên đường bảo vệ tổ quốc cô Nguyên với quyết tâm lớn lao học về để xây dựng đất nước. Tốt nghiệp loại giỏi tại Rumani cô Nguyên về nhận công tác tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.



            Đến năm 1980 cô chuyển về trường ĐH Thủy Lợi, là giáo viên bộ môn Cải tạo đất. Hơn hai muơi năm gắn bó với mái trường thuỷ lợi, những kết quả và đóng góp của cô cho sinh viên và mái trường này thật đáng trân trọng. Khi về giảng dạy tại trường mặc dù đã gặp phải một khó khăn không nhỏ đó là làm trái với chuyên môn của mình nhưng người nữ giảng viên ấy vẫn không ngại khó khăn vất vả, miệt mài, say mê nghiên cứu để trau dồi cho mình một kiến thức chuyên môn vững vàng đồng thời truyền lại cho sinh viên những kiến thức mà mình đã học tập và tích luỹ được.










    Quá trình nghiên cứu tưới nước cho cây cà phê vùng Tây Nguyên 


            Năm 1983 cô làm nghiên cứu sinh trong nước với đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng & việc sử dụng nước ở đồng bằng Sông Hồng”. Năm 1987 khi đang mang thai con gái thứ hai, cô Nguyên đã không ngại khó khăn của người phụ nữ để vào Tây Nguyên tham gia nghiên cứu dự án tưới cho cây cà phê –  đây là một trong những đề tài cấp bộ được đánh giá là có vai trò khá quan trọng trong việc phát triển kinh tế các tỉnh vùng Tây Nam Bộ. Với những kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu cô đã vinh dự được nhận bằng phát minh sáng chế chứng nhận quyền tác giả “Sơ đồ tưới tiêu cho cà phê Tây Nguyên” vào tháng 9/1987 của Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước. Đến năm 1994 cô bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ nhưng không dừng lại ở đó, cô còn tham gia nhiều khoá học ngắn hạn ở trong nước và nước ngoài và cũng trong năm 2004 với những cống hiến xuất sắc cho khoa học cô được nhà nước phong tặng danh hiệu Phó Giáo sư.


     


            Trong suốt 30 năm làm khoa học của mình cô đã viết và tham gia biên soạn nhiều cuốn sách phục vụ giảng dạy cũng như sách tham khảo, cô là chủ nhiệm và tham gia mười công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ và cấp nhà nước, trong đó có năm đề tài đạt loại xuất sắc. Cô được tặng rất nhiều bằng khen, huy chương của ngành giáo dục, ngành Thuỷ Lợi. Điển hình là công trình “Sơ đồ tưới tiêu cây cà phê Tây Nguyên”, hay đề tài “Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và xây dựng các giải pháp phòng chống”-Đề tài nhà nước (2003-2005). Bên cạnh đó cô có 15 bài báo đăng trên các nhiều tạp chí như Tập san của Bộ Thuỷ Lợi, KHKT Thuỷ Lợi & Môi trường – Trường Đại học Thuỷ Lợi, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hiện nay tuy sắp nghỉ công tác, nhưng niềm đam mê khoa học trong cô không mệt mỏi, cô vẫn tiếp tục nghiên cứu và cống hiến cho nền khoa học nước nhà.


     


            Đi rất nhiều nơi và đến rất nhiều nước, đôi khi là những chuyến đi để học hỏi kinh nghiệm của các nước bạn, có lúc với tư cách là một cán bộ đến phổ biến khoa học kĩ thuật cho bà con nông dân việt Nam ở các tỉnh. Ít ai nghĩ rằng cô Nguyên lại là một tiến sĩ, một PGS nữ đầu tiên trong ngành Thủy lợi, với phong cách giản dị, lòng nhiệt tình của cô thể hiện qua từng chuyến công tác. Cô đã từng đến Israen cùng với đoàn cán bộ khoa học Đông Nam Á để trao đổi các kinh nghiệm về tưới tiêu cho nông nghiệp, đến Hà Lan để học tập kinh nghiệm khai thác và quản lý nước hay đến Ấn Độ, trực tiếp gặp gỡ những người nông dân trên đất nước bạn để tích luỹ những kinh nghiệm của người nông dân mà người xưa thường nói “Trăm hay không bằng tay quen”.










    Tại Hà Lan


    Tại Nam Tư










    Cùng những người bạn tại Isaren


            Những chuyến đi nghiên cứu tại Cộng Hoà Liên Bang Đức về chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp lòng nhiệt thành và đôn hậu của cô được đón nhận như tình cảm gia đình. Có khi là phiên dịch cho những chuyên gia Rumani hay chuyên gia Hà Lan tại Việt Nam, để truyền đạt lại những trăn trở, khó khăn của nông nghiệp Việt Nam nói chung trong công tác thuỷ nông-cải tạo đất cũng là một khó khăn rất lớn. Cô cũng cho chúng tôi biết cái khó khăn nhất của người làm khoa học là làm sao đưa khoa học vào cuộc sống, làm sao biến những kiến thức mình đã học, đã tích luỹ để người dân bớt khổ hơn, đất nước ngày một phát triển hơn. Có lẽ vì thế mà vị PGS ấy đã không quản ngại đến đất nước Hà Lan xa xôi để học tập cách tưới tiêu cho hoa, đến Ấn Độ để xem cách trồng trọt của người dân nước bạn, đến Nam Tư để tham khảo cách chăm sóc cây trồng, đến những nước phát triển như Đức, Pháp.. để ghi chép tích luỹ lại những phương pháp cấy trồng, tưới tiêu, các phương pháp cải tạo đất trồng để rồi về nước đem những kiến thức đó đến với người nông dân Việt Nam “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”.












    Tại Đức


    Với nông dân Ấn Độ


            Không chỉ nghiên cứu, viết sách, hàng ngày cô vẫn gắn liền với những giờ lên lớp, với cô việc giảng dạy cho sinh viên là một niềm vui lớn trong cái nghề mà cô đã cả đời gắn bó. Cô Nguyên tích cực tham gia hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu khoa học và đã có hai đề tài NCKH đạt giải nhì (năm học 2000-2001) và hai giải ba năm học 2002-2003, 2004-2005. Cô liên tục trong 14 năm liền đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi. Năm 1999, được bộ Nông nghiệp và PTNT tặng bằng khen đã có thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo từ năm 1994 đến 1999. Năm 2002, cô được Bộ trưởng bộ GD và ĐT tặng huy chương Vì sự nghiệp giáo dục. Năm học 2002 – 2003, được Bộ Nông Nghiệp & PTNT công nhận là giáo viên giỏi cấp Bộ. Năm 2005, cô vinh dự được Thủ tướng chính phủ cấp bằng khen. Cô đã trực tiếp hướng dẫn và tham gia các hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ , kỹ sư của trường.













    Phát biểu tại Hội thảo Bãi Cháy năm 1994


    Hướng dẫn sinh viên thực tập












    Làm phiên dịch cho những người bạn nước ngoài trong chuyến thăm quê Bác


    Phát biểu tại cuộc họp hội phụ nữ


            Cuộc sống và công việc hàng ngày của cô Nguyên bình dị như bao người vợ phụ nữ Việt Nam khác, với cô Nguyên một ngày bắt đầu vào lúc 5h sáng, cô dành một chút thời gian để tập thể dục, sau đó chuẩn bị bữa sáng cho cả gia đình. Đến cơ quan và bắt đầu công việc từ lúc 7h. Dù bận rộn đến đâu nhưng cô vẫn cố gắng thu xếp để chuẩn bị bữa cơm ngon vào buổi tối, vì buổi tối mọi người trong gia đình mới tụ họp đông đủ. Nhiều ông bố bà mẹ vì quá mải mê làm kinh tế hay nghiên cứu thường không quan tâm đến con cái mình, bỏ bê công việc nhà hoặc nếu quan tâm thì lại là biện pháp mạnh nhưng với cô thì lại khác. Cô luôn luôn biết cân bằng giữa công việc xã hội và gia đình. Tự cô đã dạy dỗ bài bản và khoa học con cái từ những ngày đầu, bận bịu nhưng vẫn dành thời gian bảo ban, nhắc nhở. Mẹ con thường đối thoại trao đổi, qua đó cô cũng biết con đang làm gì, nghĩ gì. Ân cần và khéo léo cô vừa là người mẹ vừa là người bạn với các con, chia sẻ cùng con dù là chuyện riêng tư hay học hành, công việc. Dạy tốt chị cả, nhắc chị phải giúp đỡ em như lúc mẹ dạy. Có lẽ chính phương pháp dạy dỗ “đặc biệt” ấy của cô Nguyên mà các con cô đều đã trưởng thành và tương lai cũng là những nữ Tiến sĩ giống như mẹ.



            Quan tâm đến gia đình mà vẫn bố trí thời gian dành cho nghiên cứu một cách rất hợp lí. Vì chuyên ngành là Nông Nghiệp, sang Thủy Lợi công tác, cô đã phải tìm hiểu nhiều về Thủy lợi để có thể nâng cao trình độ chuyên môn. Nhìn những thành quả mình đạt được hạnh phúc đó thật lớn lao. Khi thấy chúng tôi thắc mắc : “ Ở thời cô, phụ nữ học cao rất hiểm, vẫn còn quan niệm là đàn bà lo việc nhà, đàn ông lo việc nước. Cô có gặp khó khăn gì nhiều không ạ, chồng cô tạo điệu kiện để cô học tập và nghiên cứu như thế nào?”


           
            Cô đã vui vẻ kể cho chúng tôi nghe : cũng là do niềm đam mê, từ nhỏ cô đã là người rất “mê” học, và chính từ sự say mê ấy mà cô không để ý nhiều đến quan niệm xã hội. Cô nghĩ là người phải có ích cho xã hội, thế thôi. Nếu ai cũng nghĩ đến quan niệm xưa cũ thì làm gì có phụ nữ làm khoa học và tham gia công tác xã hội. Hiện nay Việt
    Nam cũng đã tiến gần với bình đẳng giới. Chồng cô là một người tuyệt vời, luôn tạo điều kiện cho cô nghiên cứu, công việc nhà cả hai cùng chia sẻ, vì ai cũng bận việc cơ quan nên mọi người trong gia đình phải cùng giúp đỡ nhau. Với cô là người phụ nữ phải coi việc gia đình và xã hội là như nhau. Nếu chỉ làm tốt một nhiệm vụ thì là chưa đủ và chưa phải là người phụ nữ hiện đại. Khi kể về gia đình và người bạn đời của mình, về những đứa con ngoan đã thành danh ngay trên đất nước bạn, khuôn mặt cô ánh lên một niềm hạnh phúc của người phụ nữ sau bao cố gắng vun trồng giờ đây được hái những trái cây chín mọng của niềm hạnh phúc. Cô Nguyên cũng đã vui vẻ chia sẻ cho mọi người về bí quyết giữ gìn hạnh phúc của gia đình: là phải luôn quan tâm đến mọi thành viên trong gia đình, mỗi người mỗi việc, nhưng gia đình hãy luôn cố gắng dành thời gian để sum họp thường xuyên. Với ai cũng vậy sau một ngày làm việc vất vả trở về thấy không khí gia đình đầm ấm là thấy phấn chấn lên ngay. Việc vất vả của cơ quan đem về nhà là để chia sẻ, chứ không phải chút bực dọc.


     










    Cô Nguyên hạnh phúc bên gia đình


            Nói chuyện với cô Nguyên chúng tôi có cảm giác như mình đang tâm sự với chính mẹ của mình. Ở cô, tôi thấy có thể học hỏi được biết bao nhiêu là điều thú vị từ kiến thức chuyên môn cho đến việc chia sẻ những tâm sự kín đáo và những kinh nghiệm quí báu để sau này có thể vun đắp lên một tổ ấm hạnh phúc. Và cũng chính ở cô cho tôi thêm sức mạnh để đi theo con đường học tập mà mình đã lựa chọn.



            Chia tay cô khi mặt trời đã xế bóng. Ngoài kia thành phố đã lên đèn, gia đình cô trò chuyện vui vẻ và quây quần bên mâm cơm tối kết thúc một ngày làm việc- một ngày rất đời thường của PGS Lê Thị Nguyên. Chia tay cô ấn tượng để lại trong tôi là người phụ nữ hiện đại hết lòng cho khoa học nhưng cũng không quên những giá trị truyền thống- giá trị sự thành đạt của các con và hạnh phúc của cả gia đình thể hiện ngay trong những điều bình dị nhất.



    Vân Khánh và Phạm Thơm thực hiện
    Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ [email protected]