Danh mục: Tin tức chung

  • • 30/4/1975 • NGÀY GIẢI PHÓNG SÀI GÒN THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

    Mùa Xuân năm 1975, nhân dân Việt Nam ta đã ghi một chiến công vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử anh hùng của dân tộc: sau 55 ngày đêm tiến công thần tốc đã quét sạch toàn bộ chế độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng miền Nam thân yêu, giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước.

    Tháng Giêng năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Mặc dầu đã bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn ngoan cố theo đuổi âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới lên toàn bộ miền Nam nước ta. Chúng đã trắng trợn chà đạp hầu hết các điều khoản chủ yếu của Hiệp định, tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới trên quy môn lớn bằng các kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" và những cuộc hành quân "bình định" lấn chiếm vùng giải phóng, chồng chất muôn vàn tội ác đối với đồng bào ta.

    Đánh giá đúng âm mưu của kẻ thù, Đảng ta nhận định rằng, bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng miền Nam cũng phải là con đường bạo lực, kiên quyết dùng chiến tranh cách mạng đánh bại cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của Mỹ – ngụy.

    Sau hai năm 1973, 1974 và nhất là từ chiến thắng giải phòng toàn tỉnh Phước Long, cục diện chiến trường miền Nam đã thay đổi một cách căn bản, có lợi cho ta. Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng, tháng 10-1974 và đầu năm 1975, đã kịp thời đánh giá đúng lực lượng so sánh giữa ta và địch, vạch rõ sự xuất hiện của thời cơ lịch sử và hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mỹ bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt mùa Xuân năm 1975.

    Ngày 10-3-1975 cuộc Tổng tiến công chiến lược và nổi dậy vĩ đại được mở đầu bằng trận đánh hết sức táo bạo, bất ngờ của quân ta vào thị xã Buôn Mê Thuột – một vị trí then chốt, hiểm yếu trong hệ thống phòng ngự của quân địch ở Tây Nguyên. Trận đánh trúng huyệt đó đã làm rung chuẩn toàn bộ Tây Nguyên và bắt đầu quá trình sụp đổ không thể cứu vãn nổi của ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn. Sau thất bại nặng nề và choáng váng đó, quân ngụy phải rút khỏi Kon Tum và Plây Cu ngày 24-3, cả vùng Tây Nguyên rộng lớn đã được hoàn toàn giải phóng.

    Một cao trào tiến công và nổi dậy đã dâng lên mạnh mẽ ở các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ. Các tỉnh thành được giải phóng với một nhịp độ dồn dập.

    Ngày 24-3, tỉnh Quảng Ngãi với thị xã Quảng Ngãi.

    Ngày 28-3, tỉnh Quảng Nam với thị xã Tam kỳ.

    Ngày 1-4, tỉnh Bình Định với thị xã Quy Nhơn

    Cùng ngày, tỉnh Phú Yên với thị xã Tuy Hòa.

    Ngày 2-4, tỉnh Lâm Đồng với thị xã Bảo Lộc

    Ngày 3-4, tỉnh Khánh Hòa với thành phố Nha Trang.

    Ngày 4-4, tỉnh Tuyên Đức với thành phố Đà Lạt.

    Trong khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, ngay từ trung tuần tháng 3, chiến dịch tiến công lớn thứ hai của quân ta vào tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế và căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng đã được quyết định. Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng là những khu vực phóng ngự mạnh nhất của quân ngụy ở quân khu I.

    Sau 4 ngày chiến đấu và nổi dậy phối hợp của quần chúng, trưa ngày 26-3-1975 quân ta đã tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế, giải phóng cố đô huế. Trận thắng vẻ vang này đã khẳng định quân ta và dân ta không những có khả năng tiêu diệt những tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở chiến trường rừng núi mà cũng hoàn toàn có khả năng đập tan những tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở thành phố và đồng bằng ven biển.

    Ngày 24-3, thị xã Tam Kỳ được giải phóng. Đà Nẵng trở nên hoàn toàn cô lập.

    Sau khi mất Huế, Nguyễn Văn Thiệu hò hét quyết "tử thủ" Đà Nẵng bằng bất cứ giá nào. Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp hải, lục không quân hiện đại, mạnh vào bậc nhất ở miền Nam với 10 vạn tên lính. Tàu chiến Mỹ kéo đến rập rình ven biển Đà Nẵng làm lực lượng "ngăn đe".

    Sáng ngày 28-3, từ nhiều hướng khác nhau quân ta tiến công dồn dập và mạnh mẽ vào Đà Nẵng. Đông đảo quần chúng và các lực lượng tự vệ, biệt động trong và ngoài thành phố đã nổi dậy mạnh mẽ và phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực. Đúng 15 giờ ngày 29-3, từ các hướng tiến quân các binh đoàn thần tốc của ta đã gặp nhau ở trung tâm Đà Nẵng.

    Như vậy, chỉ trong 32 giờ, quân và dân ta đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ quân sự liên hợp mạnh vào bậc nhất của địch. Hệ thống phòng ngự chiến lược mới của địch ở miền Trung bị quét sạch. Quân khu I của ngụy bị xóa sổ. Sau trận đại bại ở Đà Nẵng, quân ngụy lâm vào tình trạng tuyệt vọng. Mỹ và tay sai hết sức kinh hoàng. Tướng Uây-en, cựu tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, được lệnh vội vã sang miền Nam bày mưu, đốc thúc bọn tay sai xây dựng hệ thống phòng thủ mới từ Phan Rang đến Cần Thơ nhằm bảo vệ cho Sài Gòn – sào huyệt cuối cùng của chúng.

    Phối hợp với các chiến dịch Tây Nguyên và Huế – Đà Nẫng, quân và dân ta đã tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, kịp thời chiếm thị xã An Lộc và giải phóng toàn tỉnh Bình Long, mở rộng vùng giải phóng ở Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Long An, Long Khánh, Bình Tuy và nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long.

    Với những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ to lớn của chiến dịch Tây Ninh và Huế – Đà Nẵng, cục diện chiến tranh đã có bước phát triển nhảy vọt, thời cơ lớn để tiêu diệt toàn bộ ngụy quân và ngụy quyền đã tới. Từ giữa hạ tuần tháng 3, trong khi chiến dịch Thừa Thiên – Huế sắp kết thúc thắng lợi, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quyết định nhằm đập tan toàn bộ lực lượng ngụy quân, ngụy quyền còn lại, giải phòng hoàn toàn miền Nam. Chiến dịch lịch sử này được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

    Tháng 4, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng bắt đầu. Ngày 19-4, quân ta đã hoạt động mạnh trên hướng đông, đánh vào Xuân Lộc (thuộc tỉnh Long Khánh). Ngày 16-4, quân ta giải phóng Phan Rang (Ninh Thuận), tiếp đó lần lượt giải phóng tỉnh bình Thuận với thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Tân với thị xã Hàm Tân. Ngày 21-4, sau những trận chiến đấu ác liệt, quân địch ở Xuân Lộc buộc phải rút chạy. Cùng ngày, Nguyễn Văn Thiệu, tên tay sai đắc lực của Mỹ, buộc phải từ chức và chạy trốn ra nước ngoài.

    Ngày 26-4, từ 17 giờ quân ta mở cuộc tiến công lớn trên hướng đông và nam Sài Gòn, xiết chặt vòng vây chung quanh Sài Gòn. Ngày 28-4, không quân ta tiến công sân bay Tân Sơn Nhất.

    Đến 28-4, tất cả các cánh quân lớn của ta đã bao vây chặt Sài Gòn. Giờ tận số của chế độ Mỹ – ngụy đã điểm! Hoảng loạn, vội vã, hàng vạn nhân viên quân sự, dân sự và bọn tay sai đầu sỏ tháo chạy khỏi miền Nam. Mỹ đã cố xoay sở cứu vãn tình thế, nhưng chúng đã phải bó tay và cuối cùng phải bỏ cuộc.

    Đúng 0 giờ ngày 29-4-1975, các binh đoàn chủ lực hùng mạnh của ta từ nhiều hướng đồng loạt tổng công kích vào Sài Gòn – sào huyệt cuối cùng của kẻ thù. Với ưu thế áp đảo, quân ta ào ạt tiến công, vừa bao vây tiêu diệt địch ở vòng ngoài, vừa thần tốc, táo bạo thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng ở bên trong. Lực lượng tại chỗ và quần chúng trong và ngoài thành phố đã nổi dậy, phối hợp với các binh đoàn chủ lực.

    Sáng ngày 30-4, một mũi thọc sâu của quân ta đánh thẳng vào trung tâm thành phố, nhanh chóng chiếm phủ tổng thống ngụy. Ngụy quyền trung ương ở Sài Gòn đã phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Lá cờ cách mạng phấp phới tung bay trên nóc "dinh Độc Lập" – phủ tổng thống ngụy. Lúc đó đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 lịch sử.

    Thừa thắng xông lên, từ ngày 30-4, đồng bào và chiến sĩ các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đồng loạt tiến công và nổi dậy. Toàn bộ lực lượng quân ngụy còn lại đã phải hạ vũ khí đầu hàng. Ngày 1 tháng 5, toàn bộ lãnh thổ trên đất liền miền Nam nước ta đã được hoàn toàn giải phóng. Ngày 2 tháng 5, các đảo Côn Sơn, Phú Quốc được giải phóng. Trước đó, trong tháng 4 quân ta đã giải phóng các hòn đảo dọc bờ biển Trung và Nam Trung Bộ, và những đảo thuộc quần đảo Trường Sa do quân ngụy chiếm giữ.

    Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã toàn thắng. Miền Nam nước ta đã hoàn toàn giải phóng. Trong 55 ngày đêm chiến đấu dồn dập và thần tốc, anh dũng và táo bạo, quân và dân ta đã đập tan hoàn toàn bộ máy chiến tranh khổng lồ và hiện đại của quân ngụy đông tới 1.351.000 tên, được xếp vào loại mạnh nhất ở Đông Nam á, đã xóa bỏ hoàn toàn bộ máy ngụy quyền từ trung ương tới cơ sở mà Mỹ đã dày công gây dựng và nuôi dưỡng từ hơn hai chục năm nay. Chế độ thực dân mới đã hoàn toàn bị sụp đổ. Tổng tiến công và nỗi dậy mùa Xuân 1975 đã đập tan toàn bộ lực lượng quân sự địch:

    1 – Số quân:

    – Chủ lực: 690.000 tên

    – Địa phương: 353.500 tên

    – Cảnh sát: 111.700 tên

    – Phòng vệ dân sự: 1.400.000 tên (số có vũ trang 380.000 tên).

    2 – Về đơn vị chiến đấu:

    – Chủ lực: 13 sư đoàn, 15 trung đoàn, 68 tiểu đoàn, 15 liên đoàn quân biệt động.

    – Bảo an: 367 tiểu đoàn và 84 đại đội.

    – Dân vệ: 5.200 trung đội.

    – Cảnh sát dã chiến: 75 đại đội.

    – Quân cảnh: 12 tiểu đoàn và II đại đội.

    3 – Lực lượng yểm trợ:

    – Pháo binh: 66 tiểu đoàn và 164 trung đội gồm 1.492 khẩu pháo các loại.

    – Pháo phòng không: 7 tiểu đoàn gồm 168 khẩu.

    – Thiết lập: 22 tiểu đoàn và 51 chi đoàn gồm 2.074 xe tăng, xe bọc thép.

    – Không quân: 66 chi đoàn, gần 1.850 máy bay các loại (có 30 chiếc F5E).

    + Máy bay chiến đấu: 22 phi đoàn với 510 chiếc.

    + Máy bay lên thẳng: 25 phi đoàn với 900 chiếc

    + Máy bay vận tải: 5 phi đoàn với 80 chiếc

    – Hải quân: 22 trung đoàn với 1.611 tàu các loại.

    Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài nhất, gian khổ nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài 117 năm của đế quốc xâm lược trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta vĩnh viễn độc lập, thống nhất và đưa cả nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Dân tộc ta bước vào kỷ nguyên phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử 4.000 năm của mình – kỷ nguyên Độc lập, Tự do và Chủ nghĩa xã hội.

    Đối với đế quốc Mỹ, đây là một thất bại nặng nề nhất, nghiêm trọng nhất trong toàn bộ lịch sử 200 năm của nước Mỹ. Thất bại đó đã đánh dấu một thời kỳ suy sụp mới, toàn diện của chủ nghĩa đế quốc Mỹ – "Thời kỳ sau Việt Nam" và khẳng định sự phá sản không tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

    Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta là một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính chất thời đại sâu sắc. Thắng lợi đó đã mở ra một thời kỳ mới vô cùng thuận lợi cho phong trào cách mạng thế giới, càng thúc đẩy mạnh mẽ thế tiến công chiến lược của ba dòng thác cách mạng.

    Thắng lợi của Việt Nam một lần nữa làm sáng tỏ chân lý vĩ đại: "Trong thời đại ngày nay, khi các lực lượng cách mạng thế giới ở thế tiến công, một dân tộc nước không rộng, người không đông, song đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một đảng Mác-Lê-nincó đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới, thì hoàn toàn có thể đánh thắng mọi thế lực đế quốc xâm lược, dù đó là tên đế quốc đầu sỏ" (nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam).

    (Anh Nguyễn ST theo Website Lịch sử Việt Nam.)
  • Giờ Trái Đất 2012 thu hút nhiều cam kết hành động vì môi trường

    Tối 31/03/2012 tại Hà Nội, sự kiện chính hưởng ứng Giờ Trái đất 2012 do Bộ Công Thương chủ trì đã diễn ra thành công tốt đẹp tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám. Chương trình đã nhận được nhiều cam kết hành động mạnh mẽ để bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng từ toàn thể cộng đồng.

    Tham dự buổi lễ có sự hiện diện của lãnh đạo Bộ Công Thương, Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội, Bộ Tài nguyên Môi trường, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như WWF, UNIDO, JICA, hai nhà tài trợ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Tân Á Đại Thành, doanh nghiệp, hàng nghìn các bạn học sinh, sinh viên và đông đảo quần chúng nhân dân.

    Với khẩu hiệu "Tôi và Bạn hãy cùng hành động", chương trình Giờ Trái Đất năm nay, với sự hỗ trợ kỹ thuật từ WWF-Việt Nam, nhấn mạnh việc tìm kiếm các cam kết cụ thể từ Chính phủ, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, học sinh, và mọi cá nhân.

    Phát biểu phát động tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng kêu gọi từng cá nhân trong cộng đồng, biến những cam kết tốt đẹp, lớn lao thành những hành động cụ thể, có thể thực hiện ngay và thực hiện hàng ngày.

    "Chúng ta hãy cùng khẳng định với thế giới, người dân Việt Nam có trách nhiệm và cam kết bảo vệ môi trường toàn cầu, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng cho hiện tại và tương lai," ông Vượng nhấn mạnh.

    Ông Nguyễn Văn Sửu, Phó Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội cũng mang đến sự kiện một cam kết mạnh mẽ rằng chính quyền và nhân dân thành phố sẽ thực hiện nhiều hành động thiết thực khác trong suốt cả năm như: tắt thiết bị điện không cần thiết; tham gia giao thông một cách văn minh; giảm thiểu ùn tắc; tăng cường sử dụng các phương tiện di chuyển xanh (như tăng thời gian đi bộ, xe đạp và sử dụng xe buýt công cộng); tăng diện tích trồng cây xanh; sử dụng hiệu quả nguồn nước…

    Theo thống kê của Bộ Công Thương, sự kiện Giờ Trái đất năm nay đã nhận được sự hưởng ứng của 48 tỉnh và thành phố trên khắp cả nước. Chương trình cũng nhận được nhiều cam kết từ khối doanh nghiệp.

    Tập đoàn Tân Á Đại Thành, đơn vị  đồng hành cùng chương trình Giờ Trái đất năm nay, đưa ra cam kết: tặng 1 giàn nước nóng năng lượng mặt trời dung tích 2000 lít cho một trại trẻ mồ côi, khuyết tật tại Hà Nội  khi có 5000 hộ gia đình sử dụng máy nước nóng năng lượng mặt trời của công ty.

    Cũng tại đêm sự kiện, Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc, một đơn vị thành viên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, cam kết sẽ hỗ trợ thắp sáng hiệu quả và tiết kiệm cho 250 phòng học tại 5 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai, mỗi tỉnh 50 phòng học.

    Bên cạnh đó, hai đơn vị cho biết cũng luôn đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức sử dụng năng lượng điện một cách tiết kiệm và hiệu quả rộng rãi ở tất cả các địa phương trên cả nước thông qua hệ thống chi nhánh rộng khắp của mình.

    Để chương trình Giờ Trái đất được quảng bá sâu rộng hơn không chỉ thủ đô Hà Nội mà đến toàn bộ người dân trong cả nước, Tập Đoàn Tân Á Đại Thành đã hỗ trợ in ấn và vận chuyển miễn phí số lượng hơn 1000 banner ngang (kích thước 1m x8m ) đến 48 tỉnh thành trên toàn quốc, tập đoàn cũng hưởng ứng Giờ Trái đất bằng việc in và treo hơn 1000 banner dọc trên đường phố thủ đô.

    Một tháng trước đêm sự kiện chính, Bộ Công Thương đã tổ chức họp báo phát động Chiến dịch Giờ Trái đất 2012 và kích hoạt một loạt hoạt động bên lề nhằm thu hút sự hưởng ứng tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.

    Các đại sứ thiện chí Giờ Trái đất bao gồm Hoa hậu thân thiện Dương Thùy Linh, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam John Nielsen, ca sỹ Thanh Lam và ca sỹ Tùng Dương, đã tham gia phát động hưởng ứng tại 9 trường đại học ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; đạp xe cổ động cùng hàng trăm tình nguyện viên trên đường phố Hà Nội; làm vệ sinh quanh Hồ Hoàn Kiếm.

    Thông tin về các hoạt động chiến dịch Giờ Trái đất tại Việt Nam luôn được cập nhật và kết nối thông qua mạng xã hội Facebook, Youtube, trang thông tin điện tử tiết kiệm năng lượng của Bộ Công Thương tại địa chỉ www.tietkiemnangluong.com.vn …

    Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển tăng 1 mét ở Việt Nam sẽ sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội GDP.

    Trong giai đoạn 2006 – 2010, Chương trình MTQG về Sử dụng Năng lượng Tiết kiệm và Hiệu quả do Bộ Công Thương điều phối đã đồng loạt triển khai thực hiện 11 đề án thuộc 6 nhóm nội dung với trên 150 nhiệm vụ về hoạt động TKNL trên phạm vi toàn quốc. Tổng mức năng lượng tiết kiệm được giai đoạn 2006 – 2010 là 4.900 KTOE tương ứng 3,4% tổng năng lượng tiêu thụ (tương đương khoảng 56,9 tỷ kWh điện, bằng tiết kiệm khoảng 65.000 tỷ đồng).

    Theo tính toán của các chuyên gia, ngành điện sẽ tiết kiệm được 50 triệu USD tiền đầu tư xây dựng nguồn cung mới nếu mỗi năm tiết kiệm được 3% – 5% lượng điện tiêu dùng. Dự kiến giai đoạn 2011 – 2015 Chương trình MTQG phấn đấu  tiết kiệm từ 5% đến 8% tổng mức tiêu thụ năng lượng.

    Theo http://www.earthhour.org.vn

    Trần Mai Anh st

  • Văn bản tuyên truyền thực hiện “Năm an toàn giao thông 2012” trên địa bàn Hà Nội

    “Giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông là trách nhiệm của mỗi người trong chúng ta”, đó là thông điệp mà Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng gửi tới đồng chí, đồng bào, những người tham gia giao thông nhân dịp đầu năm mới 2012. Trong năm này, cả nước sẽ đồng loạt tổ chức ra quân thực hiện Kế hoạch hành động "Năm An toàn giao thông 2012", “Thiết lập kỷ cương, trật tự an toàn giao thông trong phạm vi cả nước và chống ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn". Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu và đưa ra thông điệp nêu trên. Thủ tướng đã nêu rõ, tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông đang là một vấn đề bức xúc của xã hội. Từ nhiều năm nay, chúng ta đã triển khai nhiều giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, giảm thiểu ùn tắc giao thông và cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, tình hình tai nạn giao thông vẫn còn nghiêm trọng, trung bình mỗi ngày cướp đi sinh mạng của hơn 30 người và làm bị thương hàng chục người khác. Tổn thất này đã trở thành gánh nặng cho nhiều gia đình, người thân và xã hội Việt Nam. Chính vì vậy, Chính phủ đã lấy năm 2012 là "Năm An toàn giao thông", đề ra đồng bộ các biện pháp để tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt nhằm thiết lập kỷ cương, trật tự an toàn giao thông trong phạm vi cả nước và giảm thiểu ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn, đặc biệt là thành phố Hà Nội. Công tác tuyên truyền đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi ý thức của người dân về việc chấp hành luật lệ giao thông nhằm giảm tải và chống ùn tắc giao thông.

    Một số văn bản tuyên truyền 
    Theo http://vbqppl.mt.gov.vn  (website Bộ Giao thông vận tải)
    Tran Mai Anh st
     

     

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DÙNG CHO THI TUYỂN VIÊN CHỨC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI NĂM 2012

      DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DÙNG CHO THI TUYỂN VIÊN CHỨC 
     
    CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI NĂM 2012

     (Nhấn vào tên tài liệu để tải về)

     

    TT

    Tên tài liệu

     

    Phần I: Hiểu biết chung về giáo dục đại học và cán bộ viên chức ngành giáo dục

    1

    Luật viên chức năm 2010

    2

    Điều lệ trường đại học (Ban hành kèm theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ)

    3

    Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020

    4

    Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi (Ban hành kèm theo Quyết định số 1249/BNN-TCCB ngày 29/4/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

    5

    Trích Chiến lược phát triển Trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 2006 – 2020 (Được phê duyệt theo Quyết định số 1745/BNN-TCCB ngày 15/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

    6

    Trích Tiêu chuẩn, nhiệm vụ một số ngạch viên chức

    7

    Quy định Chế độ làm việc đối với giảng viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) 

    8

    Quy định về tuyển dụng, đào tạo và sử dụng giảng viên của Trường Đại học Thủy lợi (Ban hành kèm theo Quyết định số 953/QĐ-ĐHTL-TCCB ngày 11/8/2006 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi)

     

    Phần II: Hiểu biết cơ bản về giảng dạy đại học (Link tải 3 tài liệu)

    9

    Người học ở đại học và những đặc điểm tâm lý sinh viên

    10

    Người dạy ở đại học và giao tiếp sư phạm

    11

    Phương pháp dạy học ở đại học

     

    Phần III: Quy chế đào tạo

    12

    Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007)

    13

    Hướng dẫn thực hiện Quy chế 43/2007/QĐ-BGD và ĐT (Ban hành kèm theo Quyết định số 997/QĐ-ĐHTL ngày 16/8/2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi).

    14

    Quy chế học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành theo Quyết định số 42/2007QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007)

  • Xây dựng nông thôn mới: Huy động nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp

    KTĐT – Đến thời điểm này, chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) trên địa bàn TP Hà Nội đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

    Và có được sự thành công ấy là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ thành phố tới cơ sở. Đặc biệt mới đây, sự ra đời của Chương trình 02-CTr/TU của Thành ủy (ngày 29/8/2011) về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2011 – 2015 (gọi tắt là Chương trình 02) càng khiến công cuộc xây dựng nông thôn mới như được tiếp thêm sức mạnh.

     

    Sơ chế rau an toàn tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm.

    Tín hiệu vui từ đồng ruộng

    Cuối năm 2011, sản phẩm rau an toàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm đã được Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội gắn nhãn nhận diện nguồn gốc xuất xứ. Đây là một sự kiện có ý nghĩa rất to lớn, khơi thông đầu ra cho sản phẩm, vốn là khâu yếu trong sản xuất rau an toàn trên địa bàn thành phố. Để rồi từ khâu gắn nhãn mác này, ngày 3/1/2012, Chi cục BVTV Hà Nội phối hợp với Công ty CP Xuất nhập khẩu sản phẩm Xanh Việt Nam đã khai trương Sàn giao dịch bán buôn sản phẩm nông sản an toàn. Đây là sàn giao dịch đầu tiên ở khu vực phía Bắc với 28 đơn vị sản xuất, chế biến rau, củ, quả tham gia. Những hoạt động trên là một trong những nội dung của Đề án sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trong Chương trình 02. Cùng với đề án này, trong năm qua, nhiều đề án cũng đã được phê duyệt và triển khai như: Xây dựng vùng sản xuất lúa chất lượng cao; phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm và chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân cư giai đoạn 2011 – 2015; Chương trình cung cấp nước sạch nông thôn…

    Để triển khai các đề án trên, Ban Chỉ đạo Chương trình 02 TP đã chỉ đạo Sở NN&PTNT tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nông dân, cán bộ HTX về kỹ thuật sản xuất và kiểm soát chất lượng giống cây trồng, vật nuôi cũng như quy trình sản xuất nông sản hàng hóa. Đến nay, toàn thành phố đã xây dựng được 16 vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao với quy mô trên 5.000ha tại 9 huyện. Đồng thời, xây dựng được 20 mô hình trình diễn với khoảng 1.000 ha áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng.

    Sẽ thay đổi toàn diện

    Cùng với phát triển sản xuất, việc nâng cao đời sống cho người nông dân là mục tiêu quan trọng của chương trình xây dựng NTM. Vì vậy, Ban Chỉ đạo Chương trình 02 TP đang tích cực triển khai dự án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội nhằm giảm nghèo ở 7 xã còn nhiều hộ nghèo ở huyện Sóc Sơn; Hỗ trợ xây dựng 40.000 công trình xử lý nước quy mô hộ gia đình và xây dựng thí điểm mô hình xử lý nước thải làng nghề tại xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai. Đặc biệt, thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng 6 công trình cấp nước sạch liên xã tại các huyện: Phú Xuyên, Mỹ Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Mê Linh để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt cho nhân dân nông thôn, phấn đấu đến năm 2015 có 100% dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn Bộ Y tế.

    Mục tiêu đặt ra trong năm 2012 của Chương trình 02 là  tăng trưởng sản xuất nông nghiệp từ 1,5 – 2%, giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản đạt 188,6 triệu đồng/ha; 19 xã đạt chuẩn NTM; trạm y tế được được kiên cố hóa đạt 95%; tỷ lệ thôn xóm, cụm dân có nhà văn hóa đạt 85%; thu nhập bình quân dân cư nông thôn đạt 15 triệu/người/năm… Để đạt được kết quả trên, Ban Chỉ đạo Chương trình 02 đã yêu cầu các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân tự giác, hăng hái tham gia xây dựng NTM. Các sở, ban, ngành liên quan kiểm tra, rà soát, bổ sung sửa đổi các thủ tục hành chính liên quan đến xây dựng NTM theo hướng đơn giản, dễ thực hiện, tăng cường phân cấp thực hiện cho cấp huyện và xã.

    Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Xuân Việt, Phó Trưởng ban Thường trực Chương trình 02 lưu ý các địa phương cần tập trung huy động nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM, từng bước nâng cao đời sống cho người nông dân. Trong đó, uu tiên đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách cho công tác lập đề án, quy hoạch, các dự án phát triển sản xuất và các công trình hạ tầng đã và đang thực hiện để sớm đưa vào khai thác sử dụng.

    Thiện Quang (www.ktdt.com.vn)

     Mai Anh St

  • Bế mạc Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI

    (VOV) – Đại hội mở ra bước phát triển mới của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển bền vững và thịnh vượng của đất nước.

    Sáng 14/3, Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI chính thức bế mạc. Tham dự đại hội có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm cùng lãnh đạo các Bộ, ban ngành Trung ương, gần 1000 đại biểu và các bà mẹ Việt Nam anh hùng.

    Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong việc phá huy vai trò, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của xã hội đối với phụ nữ và tổ chức Hội.

    Với chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, hội nhập, phát triển”, Đại hội đã đánh giá cao phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2007 – 2012; quyết định mục tiêu, nhiệm vụ của Hội nhiệm kỳ 2012 – 2017; kiểm điểm công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong nhiệm kỳ 2007 – 2012; Bầu ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2012 – 2017; Quyết định thông qua Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (bổ sung, sửa đổi).

    Đại hội tập trung đánh giá phong trào phụ nữ và kết quả hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2007 – 2012, nghe tham luận của đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và đại biểu dự Đại hội; thảo luận mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2012 – 2017, bầu cử Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XI; thảo luận và biểu quyết thông qu Điều lệ Đại hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

     

     

    Theo đó, tại Đại hội đã có 6 tham luận của các Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh, thành; 10 tham luận của các Bộ, ngành; 3 tham luận của các cá nhân tiêu biểu. Các tham luận đều ghi nhận, đánh giá của các cấp Hội, các Bộ, ngành về phong trào phụ nữ trên các lĩnh vực, về vai trò của Hội trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới… cũng như đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần đưa phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội ngày càng phát triển trong giai đoạn mới.

    Bên cạnh đó, Hội cũng đặt mục tiêu, nhiệm vụ trong 5 năm tới với 8 chỉ tiêu, 3 khâu đột phá, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 5 giải pháp lớn.

    Cũng tại lễ bế mạc, Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XI với 163 thành viên chính thức ra mắt. Đại hội cũng tiếp tục tin tưởng bà Nguyễn Thị Thanh Hòa giữ vị trí Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XI. Bên cạnh đó còn có 7 Phó Chủ tịch gồm các bà: Trần Thanh Bình, Nguyễn Thị Kim Thúy, Hoàng Thị Ái Nhiên, Nguyễn Thị Tuyết, Bùi Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Hà và Trần Thị Hương.

     

     

    Trong 3 ngày chính thức diễn ra (từ 12-14/3), Đại hội vinh dự đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng các Bộ, trưởng các ban ngành Đảng, các mẹ Việt Nam anh hùng…

    Phát biểu tại lễ bế mạc, bà Nguyễn Thị Thanh Hòa cảm ơn các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể trong nước, bạn bè quốc tế đã có những đóng góp, làm nên thành công của Đại hội. Đại hội sẽ mở ra bước phát triển mới của phong trào phụ nữ, quyết định được những vấn đề lớn ảnh hưởng tới sự phát triển của phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển bền vững và thịnh vượng của đất nước.

    Chúc mừng thành công của Đại hội, GS – Anh hùng Lao động Vũ Khiêu đã tặng đôi câu đối mang dòng chữ: “Buổi canh tân đã lắm gian nan. Gánh nửa giang sơn trên đất Việt. Thời hội nhập càng nhiều thử thách/Nhân đôi tài đức dưới trời Nam”./.

    V. Đức/VOV Online

    Mai Anh sưu tầm
  • Ngày thương binh liệt sĩ có từ bao giờ?

    Chiến tranh đã qua đi, đất nước hòa bình, nhưng những đau thương mất mát mà chiến tranh để lại thì không gì bù lấp được. Chúng ta chỉ biết tưởng nhớ những người đã khuất, đã bị thương trong cuộc chiến bằng lòng biết ơn, sự kính trọng lớn lao. Hàng năm, cứ đến ngày 27/7, đồng bào cả nước, lại nhớ về những người lính đã quên mình vì hạnh phúc của nhân dân, vì tương lai của đất nước …

    Sau khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Khi chính quyền cách mạng đang còn non trẻ thì thực dân Pháp âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, giữ gìn độc lập tự do, quân và dân ta ở những nơi thực dân Pháp gây hấn đã chiến đấu anh dũng, chặn lại bàn tay đẫm máu của thực dân xâm lược. Trong cuộc chiến đấu này, nhiều chiến sĩ đồng bào ta đã bị thương, có người đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Nhiều gia đình cùng một lúc phải mất đi cả chồng và các con ngoài mặt trận. Nhiều người vợ trẻ chỉ được hưởng hạnh phúc vợ chồng chưa trọn một ngày, rồi góa bụa cả đời. Khỏi phải nói những thiệt thòi mất mát, nỗi buồn tủi của những người còn sống khi người thân mất đi. Nhưng cũng chính bằng lòng tiếc thương vô hạn ấy, người sống tự nói với lòng mình rằng: "Hãy sống sao cho xứng với người đã khuất". Và rồi đã như thành truyền thống, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã dành tình thương yêu của mình chăm sóc các gia đình liệt sĩ, anh chị em thương binh, bệnh binh một cách tận tình chu đáo.

    Chiều ngày 28/5/1946, Hội "Giúp binh sĩ bị nạn" tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát thành phố Hà Nội và Hồ Chủ Tịch đã tới dự. Chiều ngày 11/7/1946, tại Nhà hát này đã có một buổi quyên góp quần áo, giầy mũ cho chiến sĩ ngoài mặt trận, mở đầu cuộc vận động " mùa đông chiến sĩ". Tại đây, Bác Hồ đã cởi chiếc áo rét đang mặc để tặng binh sĩ. Ngày 19/12/1946, kháng chiến Toàn quốc bùng nổ, chiến tranh lan ra nhiều vùng, số người bị thương, bị hy sinh tăng lên. Đời sống của chiến sĩ gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Trong tình hình ấy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quan trọng về công tác thương binh liệt sĩ, góp phần đảm bảo đời sống vật chất tinh thần cho các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Tổng Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ – Thái Nguyên. Nội dung cuộc họp là thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn ngày kỷ niệm Thương binh Liệt sĩ và bảo vệ công tác thương binh liệt sĩ. Sau khi xem xét, Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc, là dịp để đồng bào "tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh". Ngày 27/7/1947, một cuộc mít tinh quan trọng đã được diễn ra tại Thái Nguyên (có 2000 người tham gia). Tại đây Ban tổ chức đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ Tịch. Người đã gửi tặng một chiếc áo lụa, một tháng lương và một bữa ăn của nhân viên trong Phủ Chủ tịch. Từ năm 1947, ngày Thương binh được tổ chức thường kỳ hàng năm. Năm nào vào dịp này, Hồ Chủ Tịch cũng có thư và quà gửi anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ. Tháng 7/1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề chiến sĩ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Và từ năm 1955, ngày 27/7 – ngày Thương binh được đổi thành ngày Thương binh Liệt sĩ.

    Trong thư gửi Ban thường trực của Ban tổ chức ngày Thương binh toàn quốc (ngày 27/7/1947), Bác Hồ viết: "Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ, của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh". Tư tưởng, tình cảm đó của Người lại được thể hiện trong lời kêu gọi, nhân ngày 27/7/1948: "Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con của nhân dân ta. Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết tâm đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào. Họ quyết hy sinh tính mệnh để giữ tính mệnh đồng bào. Họ quyết hy sinh gia đình và tài sản họ để bảo vệ gia đình và tài sản đồng bào. Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Họ là những chiến sĩ anh dũng của chúng ta. Trong đó có người đã bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận, có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ…" Trải qua hàng chục năm ròng chiến đấu cho lý tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" mà Đảng và Bác Hồ đã chỉ ra, hàng triệu đồng bào, đồng chí đã hy sinh cả cuộc đời mình, hàng chục vạn người đã cống hiến một phần thân thể của mình, những mất mát ấy không thể bù đắp được.

    Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Người viết: "Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do". Cho nên đối với "những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng", và Người giải thích: "Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại".

    Bác Hồ còn thường xuyên viết thư thăm hỏi thương binh, gia đình liệt sĩ, nhắc nhở trách nhiệm và động viên, biểu dương các địa phương, các đơn vị và cá nhân đã hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Tháng 11/1946, trong thư gửi các địa phương, Người viết: "Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cám ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho các gia đình liệt sĩ đó và tôi nhận các con liệt sĩ làm con nuôi của tôi…". Tháng 2/1948, Người gửi thư dặn dò các cháu nhi đồng phát động công tác Trần Quốc Toản, với những tình cảm thiết tha: "… Bác không phải mong các cháu tổ chức những "Đội Trần Quốc Toản" để đi đánh giặc và lập nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến, bằng cách giúp đỡ đồng bào. Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành. Khi học rảnh, mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào. Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, các thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy". Tháng 7 /1951, Người phát động phong trào "Đón thương binh về làng" với nội dung cụ thể: "Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể nhân dân trong mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương binh. Giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp một thời gian".

    Và trong dịp Đảng, Chính phủ về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến, Người đã dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ tới đặt vòng hoa ở Đài liệt sĩ. Trong diễn từ tại buổi lễ, Người viết: "Hỡi các liệt sĩ. Ngày mai là năm mới, là ngày đồng bào và bộ đội mừng Chính phủ về Thủ đô. Trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Tôi thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ. … Một nén hương thanh. Vài lời an ủi". Cảm động biết bao khi một vị Chủ tịch nước, hàng năm cứ đến Ngày Thương binh liệt sĩ lại gửi thư cùng một tháng lương của mình, kèm đó, khi thì một bữa ăn, khi thì một món quà (do đồng bào gửi biếu) để tặng anh em thương binh. Với quan điểm khoa học và đầy tinh thần lạc quan "tàn nhưng không phế", Bác khuyên anh em thương binh: "Khi đã khôi phục sức khoẻ phải hăng hái tham gia công tác sản xuất để trở nên người công dân kiểu mẫu. Bác chúc các gia đinh liệt sĩ trở thành những "gia đình cách mạng gương mẫu".

    Đã 61 năm trôi qua kể từ Ngày Thương binh liệt sĩ đầu tiên ấy. Mỗi năm, cứ đến ngày 27/7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại nhớ đến Bác – Người cha già của dân tộc và thêm tự hào về bước phát triển của công tác thương binh, liệt sĩ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người.

    Hàng năm, ngày thương binh, liệt sĩ 27/7 đã trở thành một ngày toàn dân tưởng nhớ, tri ân những người có công với nước. Đảng và Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi về cả vật chất lẫn tinh thần đối với người có công cũng như gia đình và con em của họ. Nhưng tưởng nhớ, tri ân với người có công với nước không chỉ một ngày, một đợt, một lễ kỷ niệm mà cần hơn là những việc làm thiết thực, thường xuyên để giúp gia đình con em những người đã hi sinh, mang thương tật vơi bớt khó khăn trong cuộc sống. Phải coi ngày 27/7 hàng năm là ngày lễ tri ân những người có công với nước, ngày mà những người còn sống mãi mãi không được quên. Mặt khác, phải thể hiện lòng tri ân một cách thiết thực, hiệu quả trong suốt năm, coi việc mình làm cho thân nhân liệt sĩ, thương binh là làm thay những người con ưu tú đã hi sinh vì Tổ quốc, vì mình, vì cả dân tộc Việt Nam.

    Đ.P.T. -Theo Web Thành Đoàn HCM

     

  • Tác hại của ma tuý?

     

    Tác hại đối với cơ thể :

    – Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột.

    Chẳng hạn một thanh niên đang cai nghiện đột ngột ngưng thở tử vong không rõ nguyên nhân, khi giải phẫu tử thi thì phát hiện nạn nhân có bao heroin bởi một màng mỏng rồi cấy dưới da để thuốc phóng thích từ từ, nhưng bao thuốc đột nhiên vỡ và phóng thích quá nhiều gây ngộ độc.

    Ngoài ra, sau khi dùng ma túy (nhất là cocaine) có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản…

    Theo thông tin trên tạp chí Medical Progress tháng 1 năm 1999, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ đã cho thấy có mối liên quan giữa hút ma túy (nhất là cocaine) và ung thư phổi.

    – Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy. Ngoài ra còn gây nên tình trạng co mạch làm tăng huyết áp.

    – Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quị…

    – Đối với hệ sinh dục: Không như người ta thường lầm tưởng, dùng ma túy sẽ làm tăng khả năng tình dục. Ở người nghiện ma túy, khả năng tình dục suy giảm một cách rõ rệt, và hậu quả này vẫn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu. Ở những nam giới dùng ma túy trong thời gian dài sẽ bị chứng vú to (gynecomastia) và bất lực. Còn ở phụ nữ sẽ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh.

    Ngoài ra, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: hoại tử tế bào gan, ảo thính, ảo thị…

    Ảnh hưởng đến bản thân :

    – Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại. Dùng ma tuý quá liều có thể dẫn đến cái chết.

    – Gây nghiện mạnh, sức khoẻ giảm sút. Tiêm chích ma tuý dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rut B, C, đặc biệt là  HIV (dẫn đến cái chết).  Tiêm chích ma tuý là một trong những con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất tại Việt Nam. Người nghiện ma tuý có thể mang vi rut HIV và lây truyền cho vợ/bạn tình của con cái họ.

    – Thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật.

    – Mâu thuẫn và bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình.

    – Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm.

    – Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống.

    Ảnh hưởng đến gia đình :

    – Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình. Nhu cầu cần tiền để mua ma tuý của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.000-100.000,đ thậm chí 1.000.000 – 2.000.000đ/ ngày, vì vậy khi lên cơn nghiện người nghiện ma tuý có thể  tiêu tốn hết tiền của, tài sản, đồ đạc của gia đình vào việc mua ma tuý để thoả mãn cơn nghiện của mình, hoặc để có tiền sử dụng ma tuý, nhiều người đã trộm cắp, hành nghề mại dâm, hoặc thậm chí giết người, cướp của.

    – Sức khoẻ các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặc cảm,  ăn không ngon, ngủ không yên…vì trong gia đình có người nghiện)

    – Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc…)

    – Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra.

    Ảnh hưởng đến xã hội :

    – Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm…

    – Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội. Tăng chi phí ngân sách  xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại. Ma tuý còn là nguồn gốc, là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu chưa có thuốc chữa…Hiện nay nước ta có trên 130.000 người nhiễm HIV/AIDS thì có 75% là do tiêm chích ma tuý

    – Ảnh hưởng đến giống nòi, huỷ diệt giống nòi: do các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống./-

    Sinh viên chúng ta làm gì để ngăn chặn và phòng ma túy ?

     

    – Không tham gia sử dụng, vận chuyển, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.
    · Không xúi giục người khác tham gia vào tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác.
    · Khi phát hiện những cá nhân, tổ chức có liên quan đến ma túy cần báo ngay cho Cơ Quan Công An nơi gần nhất để kịp thời xử lí.
    · Quan tâm, động viên, chia sẻ, giúp đỡ những người cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Không kì thị, xa lánh người cai nghiện.
    · Tích cực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt ứng phó kịp thời với những tình huống có thể xảy ra. Tìm hiểu về tác hại của ma túy thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, cộng đồng để có nhận thức đúng đắn về tác hại của ma túy. Từ đó, trong từng trường hợp cụ thể có thể tuyên truyền, vận động cho mọi người cùng phòng tránh ma túy.

     

    (Nguồn : Tổng hợp từ Internet)

  • Nghị quyết hướng dẫn tổ chức cuộc bầu cử quốc hội Khoa XIII

    Uỷ ban Thường vụ Quốc hội                          Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam          
                                                                             Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    Nghị quyết số: 1020/2011/UBTVQH12
                        

                                                               NGHỊ QUYẾT

    HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỂM VỀ VIỆC TỔ CHỨC CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII
    VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2011 – 2016

                                              ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
                                 NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10;

    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11;

    – Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12,

                                                             QUYẾT NGHỊ

    Điều 1. Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử

    Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định tại Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) và Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) được thực hiện như sau:

    1. Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi là ngày bầu cử) đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định (ngày 22/5/2011). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau.

    2. Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Điều 2. Lập danh sách cử tri và niêm yết danh sách cử tri

    Việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, các điều 23, 24 và 28 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    1. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri quy định tại khoản 8 của điều này thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó;

    2. Trong thời gian lập danh sách cử tri, những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử, cụ thể như sau: thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội.

    3. Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    4. Cử tri là người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, các doanh nghiệp có đăng ký tạm trú, lưu trú thì được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    5. Kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu, cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình với Uỷ ban nhân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi mới đến Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận "Đi bỏ phiếu nơi khác" do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri, tham gia bỏ phiếu ở nơi đó và được tính vào tổng số cử tri ở nơi mới đến. Nếu họ chưa có Thẻ cử tri, Giấy chứng nhận "Đi bỏ phiếu nơi khác" thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mới đến yêu cầu những người này liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc chỉ huy đơn vị nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận "Đi bỏ phiếu nơi khác" để được bầu cử ở nơi mới đến. Nếu thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được bầu đại biểu Quốc hội.

    6. Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến Uỷ ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú); được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

    7. Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri và cấp giấy chứng nhận "Đi bỏ phiếu nơi khác".

    8. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 25 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 3. Về việc ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp.

    Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 4. Về việc kê khai tài sản, thu nhập khi ứng cử

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại mục 4 chương II của Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ.

    Bản kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử là tài liệu trong Hồ sơ ứng cử.

    Điều 5. Căn cứ tính số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi đơn vị hành chính được tính trên cơ sở dân số theo quy định tại Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Số liệu dân số do Cục Thống kê cung cấp tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.

    2. Đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên bốn mươi đại biểu; số lượng cụ thể do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

    Điều 6. Đơn vị bầu cử

    Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) được xác định là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), liên huyện hoặc liên xã; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), liên xã hoặc liên thôn; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã được xác định là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khối phố (gọi chung là thôn, tổ dân phố), hoặc liên thôn, liên tổ dân phố.

    Trường hợp thành lập hai đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị hành chính huyện, xã hoặc ở một thôn, tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử có trách nhiệm xác định ranh giới rõ ràng, hợp lý giữa các đơn vị bầu cử để tổ chức thực hiện bầu cử thuận lợi.

    Điều 7. Số người ứng cử ở đơn vị bầu cử

    1. Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử, chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban bầu cử báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư nhiều nhất trong cùng tỉnh, thành phố đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong danh sách đã Hiệp thương lần thứ ba và không thể chuyển người ứng cử từ đơn vị bầu cử khác đến thì Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

    2. Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Trường hợp Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cho số người trong danh sách ứng cử ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn hai người so với số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Uỷ ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết người ứng cử, trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.

    Điều 8. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    1. Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.

    2. Trường hợp người ứng cử đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng trong thời gian Hội đồng bầu cử chưa công bố danh sách này mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý như sau:

    a) Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu;

    b) Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi trao đổi ý kiến với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giới thiệu.

    Điều 9. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử thì có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 43 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử. Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Uỷ ban bầu cử. Quyết định của Uỷ ban bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    Điều 11. Vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm.

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thì thực hiện quyền vận động bầu cử ở địa phương đó.

    Điều 12. Mục đích, yêu cầu vận động bầu cử

    1. Việc tổ chức vận động bầu cử có mục đích sau đây:

    a) Tạo điều kiện cho người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu;

    b) Tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    2. Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) Công khai, dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;

    b) Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

    c) Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

    d) Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử;

    đ) Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình;

    e) Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;

    g) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.

    Điều 13. Hình thức, nội dung vận động bầu cử

    1. Việc vận động bầu cử của người ứng cử được tiến hành thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức; trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng; gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người ứng cử công tác.

    2. Nội dung vận động bầu cử của người ứng cử bao gồm:

    a) Người ứng cử trình bày dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    b) Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    c) Người ứng cử và cử tri trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm;

    d) Người ứng cử trả lời các câu hỏi của cử tri.

    Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử

    1. Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác vận động bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.

    2. Các cơ quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử.

    3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; bảo đảm cho việc tổ chức vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật.

    5. Các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về Hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình vận động bầu cử ở địa phương.

    Điều 15. Tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử

    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu những nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương để người ứng cử đại biểu Quốc hội xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.

    Người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình;

    2. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì phối hợp với Uỷ ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã phối hợp với Uỷ ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.

    3. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:

    a) Tuyên bố lý do;

    b) Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;

    c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;

    đ) Người chủ trì Hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc Hội nghị.

    4. Sau Hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ; Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.

    Điều 16. Vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng

    1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Uỷ ban bầu cử (nếu có) để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử;

    2. Trên cơ sở chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.

    Điều 17. Kinh phí vận động bầu cử

    Kinh phí vận động bầu cử do ngân sách nhà nước cấp từ kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan, tổ chức và kinh phí phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

    Điều 18. Thời gian tiến hành vận động bầu cử

    Việc tổ chức để những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện quyền vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách những người ứng cử và kết thúc hai mươi bốn giờ trước giờ bỏ phiếu.

    Điều 19. Thẻ cử tri

    Người đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được phát thẻ cử tri

    Thẻ cử tri của công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú ký tên và đóng dấu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên và đóng dấu.

    Thẻ cử tri của công dân ở đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị ký tên và đóng dấu.

    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu "Đã bỏ phiếu" vào thẻ cử tri.

    Điều 20. Về biểu mẫu và dấu bầu cử

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, mẫu Giấy chứng nhận "Đi bỏ phiếu nơi khác" và các biểu mẫu khác phục vụ bầu cử.

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử và giao cho Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc khắc dấu bầu cử trong địa phương mình.

    Điều 21. Địa điểm bỏ phiếu

    Địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải được trang trí trang nghiêm, tiết kiệm, thuận tiện cho cử tri đến bầu cử, có đầy đủ bàn, ghế, bút, mực và các vật dụng khác phục vụ cho việc bầu cử.

    Điều 22. Xác định phiếu hợp lệ và phiếu không hợp lệ

    1. Những phiếu sau đây là phiếu hợp lệ:

    a) Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;

    b) Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    c) Phiếu bầu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.

    2. Những phiếu sau đây là phiếu không hợp lệ:

    a) Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;

    b) Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

    c) Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    d) Phiếu gạch, xoá hết họ, tên những người ứng cử;

    đ) Phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.

    Điều 23. Báo cáo tình hình trong ngày bầu cử

    1. Trong ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo với Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ; Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp về các nội dung sau:

    a) Các điều kiện phục vụ cho ngày bầu cử;

    b) Những thuận lợi, khó khăn về giao thông, thời tiết ảnh hưởng đến việc bầu cử;

    c) Số cử tri đi bầu và tiến độ cử tri đi bầu;

    d) Dư luận trong nhân dân về cuộc bầu cử và những người ứng cử;

    đ) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    e) Những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo trực tiếp bằng điện thoại, thư điện tử hoặc fax đến Hội đồng bầu cử theo tiến độ hai giờ một lần. Kết thúc ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo đầy đủ với Hội đồng bầu cử các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này bằng fax; ở những nơi có sự cố đột xuất xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bầu cử thì phải báo cáo ngay với Hội đồng bầu cử để xin ý kiến chỉ đạo.

    3. Uỷ ban bầu cử có bộ phận thường trực để tiếp nhận thông tin từ các Ban bầu cử, Tổ bầu cử gửi đến.

    Điều 24. Biên bản xác định kết quả bầu cử

    1. Sau khi kết thúc cuộc bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Ban bầu cử gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Uỷ ban bầu cử.

    3. Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có bộ phận tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử.

    Hội đồng bầu cử tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội tại những điểm sau:

    a) Văn phòng Quốc hội, số 37 đường Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội;

    b) Vụ Công tác miền Trung và Tây nguyên, số 4 đường Trần Quý Cáp, thành phố Đà Nẵng;

    c) Nhà khách Văn phòng Quốc hội – 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

    Điều 25. Công bố kết quả bầu cử

    1. Sau khi nhận và kiểm tra Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương mình.

    2. Căn cứ vào Biên bản tổng kết cuộc bầu cử, Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử ở địa phương mình.

    Điều 26. Tổng kết cuộc bầu cử

    Hội đồng bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử trong phạm vi cả nước; Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương.

    Nội dung tổng kết cuộc bầu cử bao gồm:

    1. Đánh giá quá trình chuẩn bị cuộc bầu cử:

    a) Các bước chuẩn bị bầu cử theo quy định của pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    b) Việc tổ chức tiếp xúc cử tri nơi công tác, nơi cư trú, nơi bầu cử, vận động bầu cử của những người ứng cử;

    c) Việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác bầu cử của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử ở địa phương;

    d) Việc tổ chức các Hội nghị hiệp thương;

    đ) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về bầu cử và các văn bản hướng dẫn bầu cử của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    e) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương trong thời gian chuẩn bị bầu cử và trong ngày bầu cử;

    g) Việc xem xét, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    h) Sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức hữu quan;

    i) Việc sử dụng kinh phí bầu cử.

    2. Những kinh nghiệm từ việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016:

    a) Việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc bầu cử;

    b) Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đại biểu;

    c) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    d) Đánh giá về công tác lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử ở địa phương.

    3. Kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức cuộc bầu cử.

    Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Báo cáo tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp.

    Điều 27. Không tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân theo Điều 1 của Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 của cấp đó, không thành lập Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.

    Điều 28. Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Việc thành lập Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo các quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Danh sách Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn phải được báo cáo lên Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện.

    Điều 29. Thành lập Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Uỷ ban nhân dân phường sau khi thống nhất với Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 1 và khoản 6 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Điều 30. Gửi biên bản Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Sau khi kết thúc các Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn, biên bản hiệp thương phải được gửi ngay đến Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban bầu cử cùng cấp.

    Điều 31. Tổ chức hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức theo đơn vị tổ dân phố nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.

    Điều 32. Gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình đến Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn và Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận.

    Điều 33. Hiệu lực thi hành

    Các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.

    Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ký.

    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 1078/2007/NQ/UBTVQH11 ngày 29/01/2007.

                                                            Hà Nội, ngày 14 tháng 2 năm 2011

                                                          TM. UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

                                                                                CHỦ TỊCH
     

     

                                                                                 (đã ký)

                                                                        Nguyễn Phú Trọng

  • “Mỗi người cần học cách tự bảo vệ mình khi động đất”

    “Mỗi người cần học cách tự bảo vệ mình khi động đất”

    (Dân trí) – “Hệ thống cảnh báo động đất, sóng thần của Việt Nam đã kết nối với quốc tế, nhưng việc cảnh báo trước chính xác động đất xảy ra ở khu vực nào là điều khoa học chưa thể đạt được. Người dân phải học cách tự bảo vệ mình khi có động đất xảy ra”.

    Trao đổi với Dân trí sau khi trận động đất mạnh 7 độ richter xảy ra lúc 20h55 ngày 24/3 tại khu vực biên giới Myanmar – Lào – Thái Lan, gây chấn động cấp 5 tại Hà Nội (theo thang MSK-64), TS Lê Huy Minh – Phó Viện trưởng Viện Vật lý địa cầu, Giám đốc Trung tâm Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần – cho biết, sau khi trận động đất xảy ra, Myanmar còn diễn ra những dư chấn 4-5 độ richter nữa. Tuy nhiên, ở mức như vậy Hà Nội không còn cảm nhận rung chấn như trước đó.

    Trước hiện tượng khi Hà Nội xảy ra chấn động, có khu vực cảm nhận rất rõ ràng, có nơi lại hầu như không cảm nhận được, ông Minh lý giải: “Cảm nhận về cơn chấn động của động đất còn phụ thuộc vào sự cộng hưởng nhiều hay ít từ nền đất ở mỗi khu vực. Ở những nơi nền đất ít cộng hưởng rung chấn thì hầu như người dân chỉ thấy choáng nhẹ rất nhanh. Tuy nhiên, với chấn động diễn ra ở Hà Nội tối qua, rất nhiều gia đình sống ở chung cư cao tầng sẽ cảm nhận rõ. Bởi theo nguyên tắc, càng ở tầng cao cảm nhận về sự rung lắc càng rõ ràng hơn”.

     

     

    Các vùng nguồn động đất gây sóng thần có thể ảnh hưởng tới vùng bờ biển và hải đảo Việt Nam. (Nguồn: TTCBĐ &ST)

    Ông Minh cũng cho biết hiện Việt Nam đã có hệ thống ghi và cảnh báo động đất kết nối với thế giới nhưng trên thực tế, việc cảnh báo trước là điều rất khó, không chỉ ở nước ta mà tại những quốc gia có nền khoa học tiến tiến bậc nhất trên thế giới cũng chưa thể thực hiện được. “Cho tới nay, tất cả các trận động đất xảy ra tại các quốc gia đều không được cảnh báo chính xác trước. Hệ thống máy móc của Trung tâm đã được kết nối với thế giới sẽ chuyển thông tin về sau 3-5 phút về độ mạnh, thời gian, khu vực… diễn một trận động đất ở bất cứ nơi đâu. Ngay khi nhận tin, các chuyên gia sẽ tính toán về độ ảnh hưởng đến Việt Nam, nếu thấy độ lớn hơn 3,5 độ richter lập tức sẽ báo cho 3 đơn vị quan trọng nhất là: Uỷ ban tìm kiếm cứu nạn quốc gia, Ủy ban phòng chống lụt bão và Truyền hình. Điều quan trọng các cơ quan được báo phản ứng nhanh hay chậm khi có biến cố xảy ra” – ông Minh cho biết.

    Trước những cảnh báo về nguy cơ động đất mạnh có thể xảy ra tại Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Hồng Phương – Phó Giám đốc Trung tâm Báo Tin động đất và sóng thần – cho biết: Chính phủ đang nỗ lực đầu tư cho công tác cảnh báo thiên tai, thảm họa. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại mới có 1/3 số trạm của mạng lưới hệ thống đài trạm địa chấn Việt Nam được xây dựng theo dự kiến.

    Ông Phương đưa ra lời khuyên, người dân phải học cách tự bảo vệ mình khi có động đất xảy ra. Khi có hiện tượng đất rung, những người ở nhà thấp tầng nên chạy ra ngoài tránh việc nhà cửa (các công trình do con người xây dựng nên) bị đổ.

    Tuy nhiên, với hiện thực các khu nhà chung cư, văn phòng đang mọc ở thành phố ngày càng dày đặc thì người dân cũng cần thực hiện biện pháp bảo vệ khả thi hơn là phản xạ hốt hoảng chạy nhào từ tầng cao xuống mặt đất. Bởi trên thực tế, khi thực sự có động đất mạnh xảy ra thì thời gian để người dân chạy từ tầng 10 xuống tầng 1 là quá dài và nguy hiểm, hơn cả phương án trú ẩn tại chỗ.

    Tại các nước xảy ra nhiều động đất mạnh như Nhật Bản, Đài Loan, người dân đều được khuyến cáo, khi động đất xảy ra, việc đầu tiên là nên chui xuống gầm bàn (nếu có), dùng hai tay ôm đầu. Ở khu vực không có bàn thì chọn vị trí tương đối chắc chắn, gần nhất trong khu nhà mình ở (tuỳ thuộc vào thiết kế nhà và tuỳ thuộc vào đánh giá của mỗi cá nhân). Ví dụ nơi cửa toa-lét (WC) của các căn hộ thường là những nơi chắc chắn vì có các cột, dầm có khẩu độ ngắn, tính chịu lực cao (không nên đi hẳn vào trong WC).

     

    Động đất là sự giải thoát đột ngột một lượng năng lượng lớn, tích tụ trong một thể tích nào đó bên trong trái đất. Nó thường thoát ra tại những vùng đất bị nứt, gãy hoặc có nền địa chất yếu, mỏng. Dư chấn là các động đất xảy ra sau động đất chính, nhằm cân bằng lại trạng thái ứng suất sau khi động đất chính đã xảy ra. Dư chấn thường xảy ra ở lân cận cả về không gian lẫn thời gian với động đất chính.

    Thang MSK-64 được áp dụng gồm 12 cấp

     

    Cấp 1: Động đất không cảm thấy, chỉ có máy mới ghi nhận được.

    Cấp 2: Động đất ít cảm thấy (rất nhẹ). Trong những trường hợp riêng lẻ, chỉ có người nào đang ở trạng thái yên tĩnh mới cảm thấy được.

    Cấp 3: Động đất yếu. Ít người nhận biết được động đất. Chấn động y như tạo ra bởi một ôtô vận tải nhẹ chạy qua.

    Cấp 4: Động đất nhận thấy rõ. Nhiều người nhận biết động đất, cửa kính có thể kêu lạch cạch.

    Cấp 5: Thức tỉnh. Nhiều người ngủ bị tỉnh giấc, đồ vật treo đu đưa.

    Cấp 6: Đa số người cảm thấy động đất, nhà cửa bị rung nhẹ, lớp vữa bị rạn.

    Cấp 7: Hư hại nhà cửa. Đa số người sợ hãi, nhiều người khó đứng vững, nứt lớp vữa, tường bị rạn nứt.

    Cấp 8: Phá hoại nhà cửa; Tường nhà bị nứt lớn, mái hiên và ống khói bị rơi.

    Cấp 9: Hư hại hoàn toàn nhà cửa; nền đất có thể bị nứt rộng 10 cm.

    Cấp 10: Phá hoại hoàn toàn nhà cửa. Nhiều nhà bị sụp đổ, nền đất có thể bị nứt rộng đến 1 mét.

    Cấp 11: Động đất gây thảm họa. Nhà, cầu, đập nước và đường sắt bị hư hại nặng, mặt đất bị biến dạng, vết nứt rộng, sụp đổ lớn ở núi.

    Cấp 12: Thay đổi địa hình. Phá huỷ mọi công trình ở trên và dưới mặt đất.

     Theo Dantri.com