Danh mục: Tin tức chung

  • ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 110 NĂM NGÀY SINH TỔNG BÍ THƯ LÊ HỒNG PHONG (6/9/1902 – 6/ 9/2012)

    ĐỀ CƯƠNG
    TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 110 NĂM
    NGÀY SINH TỔNG BÍ THƯ LÊ HỒNG PHONG (6/9/1902 – 6/ 9/2012)

     

     Tổng bí thư Lê Hồng Phong

     

    I. TIỂU SỬ TÓM TẮT CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ HỒNG PHONG

    Đồng chí Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902[1] trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, tổng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), vùng đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng[2].

    Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ, cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ bởi ách thống trị, áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến, thực dân. Chứng kiến những cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh yêu nước của đồng bào ta bị kẻ thù đàn áp đẫm máu, Lê Hồng Phong sớm nuôi trong mình tư tưởng yêu nước và ý chí làm cách mạng cứu nước.

    Sau khi học hết bậc Sơ học yếu lược, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không thể tiếp tục đi học, Lê Hồng Phong rời quê ra thành phố Vinh, xin làm việc tại nhà máy Diêm – Bến Thuỷ. Trong thân phận người làm thuê và được tận mắt chứng kiến cuộc sống lầm than của những người lao động, Lê Hồng Phong đã vận động công nhân đứng lên đấu tranh. Sau sự kiện này, Lê Hồng Phong bị đuổi việc.

    Năm 1923, Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thỏi bí mật sang Xiờm (Thỏi Lan), rồi sang Quảng Chõu (Trung Quốc) tìm con đường làm cách mạng. Tại Quảng Châu, thỏng 4-1924, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thỏi gia nhập Tõm Tõm Xó (một tổ chức cỏch mạng do Hồ Tựng Mậu và Lờ Hồng Sơn thành lập) và hăng hái tham gia hoạt động, phát triển Tâm Tâm Xã thành một tổ chức hạt nhân cách mạng.

     Cuối năm 1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu, trên cơ sở tổ chức Tâm Tâm Xã, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng. Lê Hồng Phong được dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc phụ trách, trở thành một trong những cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam được trang bị lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Sau đó, theo sự giới thiệu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 8-1924, đồng chí Lê Hồng Phong được nhận vào học ở trường sĩ quan quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Cuối năm 1925, tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố, đồng chí vào học tại trường hàng không Quảng Châu. Tại đây, tháng 2-1926, Lê Hồng Phong được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Do có thành tích học tập xuất sắc, đồng thời được sự giới thiệu của chính quyền Quảng Châu và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 10-1926, đồng chí Lê Hồng Phong được cử sang Liờn Xụ theo học tại trường Lý luận quân sự không quân ở Lêningrát (nay là thành phố Xanh Pêtécpua). Tháng 12-1927, tốt nghiệp trường Lý luận quân sự không quân, Lê Hồng Phong tiếp tục theo học Trường đào tạo phi công quân sự ở Bôrítxgơlépxcơ. Học chưa xong khoá đào tạo phi công, tháng 10-1928, đồng chí được gọi về học tại Trường Đại học Phương Đông. Trong 3 năm (từ 1928 -1931) theo học tại Trường Đại học Phương Đông, đồng chí đã hoàn thành chương trình học tập và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô, được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh. Đang học dở thì tháng 11-1931, đồng chí được phân công trở về nước hoạt động, chỉ đạo việc tổ chức khôi phục và phát triển cỏc cơ sở Đảng. Tuy nhiên, do mạng lưới mật thám dày đặc phong toả, đồng chí không bắt được liên lạc được với cơ sở trong nước, tạm thời phải ở lại Trung Quốc.

     Đầu năm 1932, đồng chớ về Quảng Tây gần biờn giới Việt – Trung và chắp nối liên lạc với các đồng chí Hoàng Đỡnh Giong, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn, Lương Văn Chi v.v…tỡm cỏch xõy dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng; mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ, gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng; cử các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Văn Nọn đi phát triển cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng quần chúng ở Hải Phòng, Quảng Ninh v.v.

    Thỏng 6-1932, đồng chí Lờ Hồng Phong bàn bạc với các đồng chí lãnh đạo của Đảng, cho cụng bố bản Chương trỡnh hành động của Đảng, do đồng chí tham gia khởi thảo và được Quốc tế Cộng sản thông qua. Chương trỡnh hành động khẳng định đường lối đấu tranh cách mạng do Đảng đề ra là đúng đắn, đó có tác dụng củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khôi phục phong trào cách mạng: đầu năm 1933, Xứ ủy Nam kỳ được tổ chức lại; năm 1934, Xứ ủy lâm thời Bắc kỳ được thành lập; Xứ ủy Trung kỳ và một số tỉnh ủy, thành ủy cũng đó được xây dựng lại.

    Tháng 3 – 1934, Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài (cũn gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài) được chính thức thành lập tại Ma Cao (Trung Quốc). Ban Chỉ huy ở ngoài có chức năng như Ban Chấp hành Trung ương lâm thời do đồng chớ Lờ Hồng Phong làm Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập là Uỷ viên phụ trách tuyên huấn kiêm Tổng biên tập Tạp chí Bônsêvích; đồng chí Nguyễn Văn Dựt phụ trách công tác kiểm tra. Khi các tổ chức Đảng trong nước, đặc biệt là các Xứ ủy đó được khôi phục, Ban lónh đạo của Đảng, đứng đầu là Lê Hồng Phong, đó quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ trong nước tới họp ở Ma Cao (Trung Quốc), để nhận định tỡnh hỡnh, đề ra chủ trương mới nhằm củng cố Đảng, khôi phục và phát triển các tổ chức quần chúng và chuẩn bị Đại hội lần thứ I của Đảng. Trong lúc đang khẩn trương chuẩn bị Đại hội lần thứ I của Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong nhận được giấy mời tham dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Do đó, đầu năm 1935, Lê Hồng Phong dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng đi Mát-xcơ-va dự đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản. Đoàn gồm 3 đồng chí: Lê Hồng Phong, Hoàng Văn Nọn và Nguyễn Thị Minh Khai. Công việc chuẩn bị Đại hội Đảng được giao lại cho các đồng chí Hà Huy Tập, Phùng Chí Kiên.v.v…

    Tại Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản (họp từ 25-7 đến 21-8-1935), Lê Hồng Phong đó đọc bản tham luận quan trọng Về phong trào cách mạng Đông Dương. Cũng tại Đại hội này, Đảng ta được công nhận là chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong (với bí danh Hải An), được bầu làm Ủy viờn Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.

    Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản kết thúc, Lê Hồng Phong trở lại Thượng Hải (Trung Quốc). Khi đó, Đại hội toàn quốc lần thứ I của Đảng đó thành cụng, đồng chí Lê Hồng Phong (được bầu vắng mặt) làm Tổng Bí thư của Đảng.

    Với cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong cùng với Trung ương Đảng đó triệu tập và chủ trỡ Hội nghị toàn quốc của Đảng (tháng 7-1936) tại Thượng Hải. Hội nghị đó quyết định chuyển hướng mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, xác định rừ mục tiờu trực tiếp là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đũi dõn chủ, dõn sinh và hũa bỡnh. Kẻ thự chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông Dương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai. Theo đề nghị của Lê Hồng Phong, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương, đặt tiền đề cơ sở cho cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra trong cả nước thời gian sau đó.

    Tháng 11 – 1937, đồng chí Lê Hồng Phong bí mật về hoạt động tại Sài Gũn, trực tiếp cựng Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng. Người bạn đời của đồng chí là Nguyễn Thị Minh Khai cũng đã về nước, tham gia Xứ ủy Nam Kỳ kiêm Bí thư Thành ủy Sài gũn – Chợ Lớn. Lúc này, trên cương vị Uỷ viên Thường vụ Trung ương, đồng chí Lê Hồng Phong đó cựng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển Mặt trận Nhân dân phản đế, thành Mặt trận Dân chủ nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, tranh thủ mọi lực lượng tham gia vào cuộc đấu tranh đòi tự do ngôn luận, đòi dân sinh, dân chủ và chống phát xít.

    Ngày 22-6-1939, đồng chí Lờ Hồng Phong bị thực dõn Phỏp bắt tại Sài Gòn, kết án 6 tháng tù giam và 3 năm quản thúc. Sau khi hết hạn 6 tháng tù giam, chúng buộc đồng chí phải về quê nhà Nghệ An để theo dõi, giám sát. Tháng 1-1940, Lờ Hồng Phong lại bị bắt và đưa vào giam ở Khám Lớn – Sài Gũn. Biết đồng chí Lờ Hồng Phong là cỏn bộ lónh đạo cao cấp của Đảng, thực dân Pháp đã buộc tội đồng chí “chịu trách nhiệm tinh thần” của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, kết án 5 năm tù giam và 10 năm quản thúc, đày ra Côn Đảo và chỉ thị cho bọn chúa đảo phải tỡm mọi cỏch hóm hại. Những trận đũn thự tàn ỏc, dó man đó làm Lờ Hồng Phong kiệt sức dần, đồng chí đã mãi mãi ra đi vào trưa ngày 6-9-1942.

    II. NHỮNG HOẠT ĐỘNG VÀ CỐNG HIẾN CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ HỒNG PHONG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

    1. Lê Hồng Phong – Nhà lãnh đạo kiên định và tài năng của Đảng ta

    a. Chủ trỡ cụng việc của Đảng trong giai đoạn cách mạng bị địch khủng bố ác liệt sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931)

     Sau cao trào Xụ viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931) thất bại, địch khủng bố dó man, kộo dài liờn tục từ cuối năm 1930 đến năm 1935 đẩy phong trào cách mạng Việt Nam vào giai đoạn vô cùng khó khăn. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên và chiến sĩ yêu nước bị bắn giết hoặc bị tù đày. Các cơ sở Đảng từ Trung ương đến địa phương bị tan vỡ. Nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng đã bị bắt hoặc bị sát hại, như: Tổng Bí thư Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh…Thực dân Pháp ở Đông Dương cũn cõu kết với đế quốc Anh ở Hương Cảng và bọn quân phiệt ở Trung Quốc, Thái Lan, truy lùng cán bộ của Đảng ta đang hoạt động ở ngoài nước, trong đó có lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Công.

    Trong bối cảnh đó, cuối năm 1931, đồng chí Lê Hồng Phong nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản trở về nước chỉ đạo việc tổ chức khụi phục và phỏt triển cỏc cơ sở Đảng, tiếp tục đưa phong trào cách mạng tiến lên. Sau chuyến đi dài ngày, vất vả và gian khổ, vượt qua mạng lưới mật thám dày đặc phong toả, đồng chí đã về đến gần biên giới Việt – Trung và bắt liên lạc được với tổ chức Đảng tại Quảng Tây – Trung Quốc vào đầu năm 1932. Để giải quyết vấn đề thiếu hụt cán bộ, Lê Hồng Phong quyết định việc đầu tiên là mở lớp đào tạo cán bộ, như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã làm trước đây. Thực hiện chủ trương này, Lê Hồng Phong quyết định chuyển về Long Châu (một thị trấn nhỏ sát biên giới Việt – Trung). Tại đây, đồng chí liên tục mở các lớp huấn luyện cho cán bộ từ trong nước sang học tập. Tài liệu lưu tại Quốc tế Cộng sản do chính Lê Hồng Phong báo cáo, còn ghi lại: “Trong khoảng thời gian từ 10-1932 đến 3-1933, tôi… huấn luyện cho hơn 20 đồng chí từ trong nước qua, mỗi lớp học trong 2 tuần lễ”(1). Trong số những cán bộ được Lê Hồng Phong đào tạo, có các đồng chí sau đó đã trở thành lãnh đạo chủ chốt của Đảng như Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Lương Văn Chi v.v… Những cán bộ sau khi được đào tạo, ngay lập tức được đưa về nước hoạt động, nhờ thế mà các tổ chức Đảng trong nước được khôi phục, nhất là các đảng bộ của các tỉnh biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn và các đảng bộ của các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội…

    Đối với tổ chức Đảng Cộng sản Đông Dương của Việt kiều tại Xiêm và Lào, tình hình có những vấn đề phức tạp. Nhân danh phái viên của Quốc tế Cộng sản uỷ nhiệm, đồng chí Lê Hồng Phong cải tổ lại cơ cấu tổ chức của Đảng ở những nơi này. Đồng chí cho rằng tổ chức Đảng ở Xiêm (trong đó có cả các đảng viên người Hoa), tự đứng ra lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời (gồm 5 người) là một sáng kiến nhưng không đúng nguyên tắc tổ chức của Đảng. Thay mặt Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong chỉ đạo cải tổ lại thành các đảng bộ của Việt kiều trực thuộc Trung ương sẽ được thành lập lại nay mai”(2)

    b. Tham gia soạn thảo và triển khai “Chương trỡnh hành động của Đảng” tạo bước phát  triển mới cho cách mạng Việt Nam

    Trong khoảng thời gian cuối năm 1932, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Lê Hồng Phong, ngoài việc tổ chức, cơ cấu mạng lưới cơ sở Đảng trong nước, liên tục vận động cán bộ sang huấn luyện, bồi dưỡng lý luận cách mạng, đồng chí còn chỉ đạo thành lập một Ban lãnh đạo lâm thời của Đảng. Ban lãnh đạo thống nhất chủ trương tuyên truyền, học tập và hành động theo nội dung của bản kế hoạch: “Chương trình hành động của Đảng” do Lê Hồng Phong tham gia soạn thảo đã được Quốc tế Cộng sản thông qua. Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi trong lúc cách mạng Việt Nam bị khủng bố trắng, giữa lúc Đảng đang gặp thoái trào, những tư tưởng dao động, cơ hội, đang thừa cơ trỗi dậy, Chương trình hành động của Đảng như một luồng gió mới tiếp sức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng giữ được niềm tin vững chắc vào tiền đồ cách mạng, đẩy lùi tư tưởng cầu an, hoang mang dao động, tạo điều kiện cho việc khôi phục nhanh chóng hệ thống tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng. Bản Chương trình hành động của Đảng đã được Lê Hồng Phong dùng làm tài liệu giảng dạy cho các lớp cán bộ ở Quảng Tây (Trung Quốc), đồng thời còn được nhân bản đưa về nước làm tài liệu tuyên truyền giáo dục cho đông đảo cán bộ đảng viên và nhân dân trong nước, do đó nó còn có tác dụng thiết thực to lớn hơn.

    Như vậy, cho đến cuối năm 1933, bằng năng lực, trí tuệ và quyết tâm phi thường, Lê Hồng Phong đã bước đầu hoàn thành trọng trách mà Quốc tế Cộng sản giao cho, xây dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng trong cả nước, khôi phục các cơ sở cách mạng và khơi dậy niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Lê Hồng Phong, các tổ chức Đảng trong nước dần dần hoạt động trở lại và ngày càng lớn mạnh, phong trào cách mạng hồi sinh.

    c. Chủ trỡ thành lập và đứng đầu Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài

    Cùng với việc khôi phục hệ thống cơ sở, tổ chức Đảng trong nước, vấn đề khôi phục bộ chỉ huy, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng ở nước ngoài cũng được đồng chí Lê Hồng Phong hết sức chú trọng. Đồng chí Lê Hồng Phong quyết định thành lập Ban lónh đạo của Đảng ở nước ngoài (cũn gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài). Tháng 3-1934, dưới sự chủ trì của Lê Hồng Phong, Hội nghị thành lập Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng được tiến hành. Dự Hội nghị có 5 đồng chí1. Hội nghị thảo luận về tình hình Đông Dương, tình hình hoạt động của Đảng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Lào; thông tin về tình hình Đảng cộng sản Xiêm…Đặc biệt Hội nghị bàn bạc và thông qua các bản Điều lệ của Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Nông hội đỏ… Sau Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Dựt được cử về Nam Kỳ chỉ đạo thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ. Trên cơ sở hệ thống tổ chức, cơ sở Đảng được khôi phục và phát triển, Ban Chấp uỷ Trung ương lâm thời cũng được thành lập ở Nam Kỳ, Ban Chỉ huy ở ngoài gấp rút chuẩn bị cho việc tiến tới Đại hội lần thứ nhất của Đảng được triệu tập vào năm sau (1935).

    Vậy là chỉ sau một thời gian ngắn nhận nhiệm vụ trở về nước, mặc dù mạng lưới mật thám lùng sục gắt gao, đồng chí Lê Hồng Phong vẫn kiên định mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, tìm bắt liên lạc được với cơ sở  Đảng trong nước, từ đó móc nối, khôi phục tổ chức, đào tạo cán bộ, bổ sung cho đội ngũ cán bộ đã bị bắt, bị giết trong thời kỳ khủng bố trắng, dần dần khôi phục lại hệ thống cơ sở Đảng trong toàn quốc. Các tổ chức Đảng hải ngoại như đảng bộ Việt kiều ở Xiêm, ở Lào cũng được chỉnh đốn củng cố, góp phần đưa phong trào cách mạng trong nước phát triển lên một bước mới.

     Đặc biệt, với việc thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài, mà vai trò như Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, đã có tác động hết sức to lớn đối với phong trào cách mạng trong nước. Trước hết là duy trì niềm tin của quần chúng đối với Đảng, đồng thời khẳng định sức sống mãnh liệt và vị trí lãnh đạo của Đảng, không một thế lực nào có thể dập tắt được. Song trên hết, với sự hoạt động tích cực của Ban Chỉ huy ở ngoài, trong đó phải kể đến những cống hiến to lớn, hoạt động không mệt mỏi của đồng chí Lê Hồng Phong, đã góp phần quan trọng đưa Đảng ta trở lại vai trò lãnh đạo cách mạng, hệ thống tổ chức của Đảng từ cơ sở tới Trung ương đã dần dần được khôi phục, tạo tiền đề thuận lợi cho các bước phát triển của cao trào cách mạng cả nước ở giai đoạn sau.

        2. Lê Hồng Phong – Một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Sự gặp gỡ giữa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với Lê Hồng Phong đã mở ra bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người thanh niên Xứ Nghệ. Là thế hệ cán bộ đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo, Lê Hồng Phong đã được nghe những bài giảng đầu tiên về lịch sử phong trào cách mạng quốc tế và cách mạng giải phóng dân tộc, về những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin… Những bài học đó đã dẫn dắt và nâng tầm nhận thức của Lê Hồng Phong, từ một thanh niên giàu lòng yêu nước, dám xả thân vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân, trở thành người cộng sản và là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay từ khi được dự khoá huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (1925), đồng chí Lê Hồng Phong đã bộc lộ tư chất, tài năng của người cán bộ cách mạng và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phát hiện. Chính vì thế, Người đã gửi đồng chí vào những cơ sở đào tạo cán bộ cao cấp của Chính phủ Trung Hoa và trường đào tạo lãnh tụ của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô.

    Trong suốt thời gian đồng chí Lê Hồng Phong đi học tập, đào tạo ở Liên Xô, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vẫn thường xuyên liên lạc thông qua đường dây của Quốc tế Cộng sản. Trong bức thư Nguyễn Ái Quốc gửi Lê Hồng Phong ngày 2-3-1930, Người thân mật gọi là: “Gửi Hồng Phong Lão”, thông báo về sự kiện ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời khẳng định: “Trong nước bây giờ đã có đảng thống nhất vững vàng, không còn những tệ chia lìa ấu trĩ như trước nữa”[3]. Điều đó thể hiện sự theo dõi, quan tâm đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với Lê Hồng Phong. Không phụ lòng của người thầy dẫn dắt – lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Lê Hồng Phong đã từng bước trưởng thành cả về nhận thức lý luận và năng lực lãnh đạo.

    Với những đóng góp to lớn đối với việc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm 1932-1935, đồng chí được mời tham dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản và được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản; được Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

    Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), với vai trò Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Lê Hồng Phong đã có rất nhiều đóng góp vào việc hình thành chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần đưa cách mạng Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Đồng chí Lê Hồng Phong đã thể hiện một tấm gương sáng ngời của người cộng sản: sống vì Đảng, chết không rời Đảng, trọn đời hy sinh phấn đấu vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đồng chí xứng đáng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    3. Lê Hồng Phong – Tấm gương người cộng sản kiên cường

    Ngày 22-6-1939, đồng chí Lờ Hồng Phong bị thực dõn Phỏp bắt tại Sài Gòn. Biết đồng chí là cỏn bộ lónh đạo cao cấp của Đảng, bọn mật thám dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man; dụ dỗ, lừa phỉnh, nhưng chúng không thể lay chuyển được tinh thần và ý chí của người cộng sản kiên cường. Không đủ chứng cớ để buộc tội, tũa ỏn của đế quốc Pháp đành kết án đồng chí 6 tháng tù giam và 3 năm quản thúc ở Nghệ An. Mặc dầu bị quản thúc, theo dõi chặt chẽ, đồng chí vẫn dành thời gian viết báo, bí mật gửi cho các tờ báo của Đảng như tờ Dân Chúng, Đông Phương tạp chí… thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường của người cách mạng kiên trung.

    Chính vì thế, thực dân Pháp rất sợ người lãnh tụ cộng sản mà chúng gọi là: “Tên phiến loạn nguy hiểm”, cho nên, khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, dù đang trong thời gian quản thúc tại quê, nhưng mật thám Nam Kỳ đã ra Nghệ An bắt Lê Hồng Phong và áp giải vào giam giữ tại Sài Gòn. Trong thời gian gần 1 năm trời bị tra tấn, hành hạ, kẻ địch tìm mọi cách để khép đồng chí vào tội xử tử hình, nhưng không đủ chứng cứ, chúng giở đủ mọi thủ đoạn, kể cả dùng đòn tâm lý hòng lung lạc tinh thần của đồng chí. Biết đồng chí Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng, có con nhỏ (Hồng Minh) mới được mấy tháng, chỳng đưa Nguyễn Thị Minh Khai đến gặp Lê Hồng Phong, hy vọng 2 người sẽ nhận nhau, qua đó chúng có cớ khép tội đồng chí dính líu tới “âm mưu lật đổ chính phủ Nam Kỳ”. Mặc dù hai vợ chồng lâu ngày không được gặp nhau, nay gặp lại trong cảnh tù đày, sống chết chia ly không biết thế nào, lòng đầy thương cảm, nhưng đồng chí vẫn kìm nén tình cảm riêng, kiên quyết phủ nhận mọi chứng cứ của kẻ thù đưa ra, làm thất bại âm mưu của chúng. Mặc dù vậy, thực dân Pháp vẫn buộc tội đồng chí phải “chịu trách nhiệm tinh thần” cho cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, kết án 5 năm tù giam và 10 năm quản thúc, đày ra Côn Đảo.

    Trong những ngày bị biệt giam trong hầm đá, hoặc trong Banh II, nơi giam giữ tù cộng sản, kẻ thù luôn tìm cách đánh hành hạ, tra tấn, đánh đập dã man đồng chí Lê Hồng Phong, hòng làm nhụt tinh thần, ý chí của người lãnh đạo cộng sản. Có lần đồng chí vừa bưng bát cơm lên ăn, thì bọn cai ngục xông vào đánh túi bụi. Bát cơm của đồng chí bị nhuộm đỏ, do máu chảy từ đầu, từ mặt rớt vào, nhưng đồng chí vẫn thản nhiên, tiếp tục ngồi ăn “bát cơm chan máu”, với quyết tâm phải sống để: “còn sống còn chiến đấu”. Những trận đũn thự tàn ỏc, dó man, liên tục đó làm Lờ Hồng Phong dần dần kiệt sức, đồng chí đã vĩnh biệt anh em, đồng chí vào trưa ngày 6-9-1942.

    Đồng chí Lê Hồng Phong hy sinh khi mới 40 tuổi đời, trong đó có hơn 20 năm liên tục hoạt động, cống hiến cho Đảng, cho cách mạng. Trước lúc đi xa, đồng chí Lờ Hồng Phong cũn căn dặn: "Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lũng tin thắng lợi vẻ vang của cỏch mạng". Đó là lời chào của người cộng sản bất tử Lê Hồng Phong với anh em, đồng chí trước khi về cõi vĩnh hằng. Cho đến giờ phút cuối cùng, đồng chí vẫn tỏ rõ khí phách hiên ngang, ý chí kiên cường, bất khuất. Đồng chí là người chiến sĩ cộng sản tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Hình ảnh, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí mãi mãi được khắc ghi trong trái tim, tâm hồn của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.

                                                                    BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

  • Lễ công bố quyết định bổ nhiệm Giám đốc văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình, Phó trưởng khoa Kinh tế và Quản lý và Phó trưởng phòng Hợp tác Quốc tế.

    Sáng 2/7/2012, tại phòng 223, trường Đại học Thủy Lợi đã tổ chức lễ công bố quyết định bổ nhiệm Giám đốc văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình, Phó trưởng khoa Kinh tế và Quản lý và Phó trưởng phòng Hợp tác Quốc tế. Tham dự buổi lễ có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, GS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường cùng các thầy trong Ban giám hiệu, đại diện các phòng ban trong trường.

    ThS Trần Vũ Hợp – Trưởng phòng Tổ chức cán bộ đọc quyết định bổ nhiệm của Hiệu trưởng

    Mở đầu buổi lễ, ThS Trần Vũ Hợp – Trưởng phòng Tổ chức cán bộ đọc quyết định của Hiệu trưởng bổ nhiệm Giám đốc văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình, Phó trưởng khoa Kinh tế và Quản lý, Phó trưởng phòng Hợp tác Quốc tế. Theo đó, TS Nguyễn Như Oanh – Phó giám đốc phụ trách Văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình giữ chức vụ Giám đốc Văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình, kể từ ngày 1/7/2012. Ông Đỗ Văn Quang – Phó trưởng Bộ môn Quản lý xây dựng, Giám đốc trung tâm Kinh tế và Quản lý thuộc Viện Kỹ thuật Tài nguyên nước giữ chức vụ Phó trưởng khoa Kinh tế và Quản lý. TS Nguyễn Thị Lan Hương – Phó trưởng bộ môn Quản lý Tài nguyên thiên nhiên thuộc khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước giữ chức Phó trưởng phòng Hợp tác Quốc tế, kể từ ngày 1/7/2012.

    GS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường phát biểu tại buổi lễ

    GS.TS Nguyễn Quang Kim đại diện Nhà trường lên trao quyết định, giao nhiệm vụ và gửi lời chúc mừng đến TS Nguyễn Như Oanh, ông Đỗ Văn Quang và TS Nguyễn Thị Lan Hương. Hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay gặp những khó khăn nhất định, chính vì thế vai trò của người đứng đầu rất quan trọng, GS.TS Nguyễn Quang Kim hi vọng thầy Oanh cùng tập thể Văn phòng sẽ kịp thời tháo gỡ khó khăn, giữ tinh thần đoàn kết, phát huy sức mạnh tập thể vì sự lớn mạnh của Nhà trường. Đối với thầy Quang – người có đóng góp rất nhiều cho hoạt động khoa học công nghệ, với cương vị mới thầy Hiệu trưởng mong muốn thầy Quang có thể nhanh chóng hoàn thiện chương trình, tăng chất lượng đào tạo, cùng ban chủ nhiệm khoa tăng cường đội ngũ cán độ đảm bảo đủ chất và lượng. Trong quá trình hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, hợp tác quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng bởi thế thầy Hiệu trưởng gửi gắm sự tin tưởng và mong muốn TS Lan Hương có thể tận dụng các cơ hội phát triển, chủ động trong hợp tác quốc tế, hỗ trợ các chương trình đào tạo tiên tiến của Nhà trường cùng với ThS Phạm Hồng Nga – Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế hoàn thành xuất sắc các công việc Nhà trường tin tưởng giao phó.

    GS.TS Nguyễn Quang Kim lên trao quyết định và giao nhiệm vụ cho ba thầy cô mới được bổ nhiệm
     

     TS Nguyễn Như Oanh chụp ảnh kỷ niệm với các thầy cô trong Văn phòng
     

    Thầy Đỗ Văn Quang – Phó trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý chụp ảnh lưu niệm với các thầy cô trong khoa

    Sau khi lắng nghe ý kiến phát biểu của Đảng ủy, Ban giám hiệu trường, đại diện cho ba thầy cô mới được bổ nhiệm, TS Nguyễn Thị Lan Hương gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Nhà trường, đã tạo điều kiện cho cô học tập ở nước ngoài trong một thời gian dài, đã tin tưởng và giao nhiệm vụ cho cô. TS Lan Hương cũng hứa sẽ đem hết tâm sức làm tốt công việc được giao, tiếp tục giữ vững và phát huy uy tín của Nhà trường.

    Bài và ảnh Trần Mai Anh

     

  • Hồ Chí Minh và những ngày đi tìm đường cứu nước

    Ở bến Nhà Rồng – TP Hồ Chí Minh có một khu di tích quy tập những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng dễ hiểu, bởi từ nơi đây, ngày 5/6/1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam có tên là Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

     

    Nhà Rồng (nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước). Ảnh: Phạm Lợi.

     Mang tên mới: Văn Ba, anh xin được chân người phụ bếp trên một chiếc tàu biển của Pháp Latusơ Tơrêvin. Từ đây, hoà mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân.

    Cuộc hành trình 30 năm ròng, đi qua 28 quốc gia, làm nên sự nghiệp lớn, xuất phát từ một anh phụ bếp Văn Ba trên một chiếc tàu vận tải hàng hải. Tuy lao động vất vả suốt ngày, suốt tháng không có ngày nghỉ, ông chủ chỉ trả cho anh mỗi tháng không quá 50 phrăng, là thứ tiền công rẻ mạt nhất cho một lao động, nhưng anh không nản lòng, chê trách. Mà trái lại, với thái độ cởi mở, lễ phép với mọi người; từ người lao động đến những du khách thượng hạng đi trên tàu, ai cũng quý mến anh, sẵn sàng giúp đỡ mỗi lần anh muốn biết về một điều gì đó. Xong việc, anh tranh thủ học thêm hoặc đọc sách hay tự học ngoại ngữ. Tàu cập bến một số nước, anh Ba lên bờ, không phải như những người khác, bao nhiêu tiền dồn vđo việc ăn chơi phung phí; anh dành thời gian đi sâu tìm hiểu hiện trạng thực tế xã hội. Anh chợt nhận ra rằng, mỗi quốc gia mỗi vẻ khác nhau về phong cảnh và con người; nhưng về xã hội thì đâu đâu cũng có người nghèo, người giàu, đâu cũng có các tệ nạn xã hội, đâu cũng có người tốt và kẻ xấu.

    Anh tiêu tiền hợp lý, chỉ sử dụng tiền khi cần thiết, còn dành một ít tiền gửi về cho người cha ở nhà đang còn gặp nhiều khó khăn. Trên đất Pháp, anh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Đây không chỉ là trường đào tạo học sinh sau này phục vụ chính sách cai trị của Pháp mà còn đào tạo một số nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, xưởng trưởng… Anh ký tên Nguyễn Tất Thành, trong thư anh ghi: “ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức”. Song lời yêu cầu thiết tha đó không được chấp nhận. Một lần nữa, anh lại xuống tàu tiếp tục cuộc hành trình qua những châu lục khác.

    Trên chiếc tàu biển của hãng Sácgiơ Rêminy nước Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu chuyến hành trình qua các nước bên bờ biển châu Phi. Khi tàu cập bến, anh thường tranh thủ thời gian rỗi lên thăm thành phố cảng, dạo ngắm phong cảnh châu Phi và tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội của lục địa đen này. Anh đã được chứng kiến nhiều cảnh đau xót. Thân phận của nô lệ da đen thật kinh khủng. Họ là người mà không được sống cuộc sống của con người. Họ bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, họ là thứ hàng hoá trao đổi mua bán giữa các ông chủ buôn người công khai được pháp luật thừa nhận. Bọn chủ xem tính mạng những người nô lệ da đen là thứ trò chơi tiêu khiển, là những đồ dùng khi cần thì sử dụng, khi không cần thì vứt đi không tiếc. Trước những cảnh đời đau xót đó, Nguyễn Tất Thành đã có lúc xúc động và khóc. Người đau nỗi đau chung của nhân loại cho thân phận người nô lệ, cho số phận của người dân Việt Nam bị áp bức, bị mất quyền tự do của con người.

     

    Tàu Đô Đốc Latútsơ Tơrêvin, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

    Rời châu Phi, để lại nỗi buồn của những cảnh đời, những băn khoăn suy tư về một câu hỏi lớn: Làm thế nào để trên thế giới bớt đi sự bất công? Từ châu Phi, anh đến châu Mỹ, đi qua Mactinich, Urugoay, Achentina, rồi lần đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ, nơi anh thường được nghe về một tuyên ngôn độc lập nổi tiếng cả thế giới. Người muốn dừng chân trên đất Mỹ một thời gian để tìm hiểu bản chất của sự độc lập kiểu Mỹ như thế nào.

    Thời gian đầu Nguyễn Tất Thành đến nhận một công việc làm bánh tại một gian bếp của khách sạn Omni Parker House ở thành phố Boston. Tại đây, anh thường lui tới khu vực Háclem, nơi ở của người nghèo, chủ yếu là người da đen. Anh làm quen với các phong trào đấu tranh với giới chủ, từ những cuộc quyên góp tiền gửi về giúp đỡ quê hương châu Phi. Có lần khi trả lời nhà báo A.Luy Xtơrông, Bác Hồ nhớ lại thời kỳ này: “Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về chính trị, nhưng tôi cảm thấy họ đều là những người nghèo khổ đang mong muốn được tự do. Họ có bao nhiêu tiền cũng bỏ ra trong lúc quyên góp, thế là tôi dốc cả tiền túi của mình ra góp vào đấy”.

    Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh. Thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên phải tạm xin việc quét tuyết cho một trường học, rồi chuyển sang làm nghề đốt lò. Tiền thu chẳng được bao nhiêu vừa đủ tiền thuê nhà, tiền học thêm tiếng Anh, còn lại chỉ đủ những bữa ăn thanh đạm. Sau đó nhờ có người giới thiệu, anh chuyển đến làm thuê ở khách sạn Cáclơtơn. ở đây có ông vua đầu bếp nổi tiếng Excôpphiê người Pháp. Anh Thành nhận việc rửa bát đĩa, xoong nồi, lao động chăm chỉ, tính tình cởi mở, đặc biệt rất có ý thức trong công việc. Mỗi lần phục vụ bữa tiệc lớn của những người giàu có, thức ăn thừa nhiều, anh Thành không vứt những thức ăn còn có thể dùng được, mà gói lại mang ra đường cho những người nghèo.

    Việc làm đó được ông Excôpphiê rất chú ý. Là người có tư tưởng tiến bộ nên ông rất quý anh và ông đã giúp anh cách làm bánh – một bí quyết nghề nghiệp. Có công việc mới, anh Thành vừa đỡ vất vả lại có thời gian để học thêm tiếng Anh. Lúc này ở nước Anh đã hình thành một tổ chức gồm những người châu á, có tư tưởng tiến bộ, gọi là “Hội những người lao động hải ngoại”. Anh Thành trở thành hội viên của Hội vì Hội này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

    Thời kỳ ở nước Anh, ngoài điều kiện thuận lợi cho anh học tiếng, điều kiện xã hội và chính trị đương thời còn giúp anh hiểu biết nhiều về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giai cấp giữa công nhân và tư sản… Tuy điều kiện rất tốt song có điều những thông tin về quê hương quá ít, ở nước Pháp – nước đang trực tiếp đô hộ dân tộc mình – sẽ có nhiều thông tin về quê hương. Hơn nữa nhờ liên lạc được với cụ Phan Chu Trinh và một số người Việt Nam đang ở Paris, Nguyễn Tất Thành càng hiểu hơn điều kiện thuận lợi khi mình có mặt ở Paris, do đó anh quyết định trở lại nước Pháp.

    Thời kỳ này cụ Phan Chu Trinh đang ở Pháp cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn chung. Cụ phải làm nghề ảnh để có thu nhập sinh sống. Thời kỳ mới đến Paris, nhờ sự quen biết trước nên cụ Phan đã giúp anh Thành làm nghề thợ ảnh. Để giảm bớt khó khăn chung, cụ Phan cùng đến ở nhà của Phan Văn Trường tại số 6 Vila đờ Gôbơlanh, quận 13 Paris. Dần dần ngôi nhà này trở thành nơi hội tụ của người Việt Nam ở Paris. Thủ đô Paris là trung tâm chính trị xã hội không những của châu Âu mà còn của cả thế giới. Các đảng phái đại diện quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình đua nhau thi thố làm cho không khí xã hội Paris càng thêm sôi động.

    Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị xã hội ở Pháp và tích cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt anh nhận thấy trong nhiều đảng phái chính trị thì Đảng Xã hội Pháp là Đảng tiến bộ – giương cao ngọn cờ của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp – Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Do đó, Nguyễn Tất Thành tự nguyện tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919.

    Chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều tổ chức chính trị tiến bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị. Những người Việt Nam ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành đã thảo luận thống nhất Bản yêu sách tám điểm của những người yêu nước An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc và từ đó tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nhờ nhạy cảm về chính trị và được sự chuẩn bị chu đáo, bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai mạc Hội nghị Vecxay. Do đó, nó nghiễm nhiên được đặt trước các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị và nhất là công luận đã lên tiếng thì nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu, hy vọng những lời cam kết chính thức và quan trọng của các cường quốc về chế độ nhân đạo, công lý sẽ được thực hiện, những yêu sách này là những nguyện vọng chính đáng và nhu cầu tối thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được sống trong thời đại.

    Một sự kiện chính trị lớn khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn ái Quốc, đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đả “Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

    Nhờ những hoạt động tích cực đó mà Đảng Cộng sản Pháp mới có những động thái như thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vạch trần những chế độ hà khắc của chủ nghĩa thực dân đối với những người bản xứ, phải chịu hai tầng áp bức – một là người lao động, hai là người bản xứ – kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Trong cuộc đấu tranh của những người lao động bản xứ có sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp… Lời kêu gọi được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt, in truyền đơn, bí mật gửi về Việt Nam, thức tỉnh phong trào cách mạng trong nước.

     

    Nguyễn Ái Quốc (người ngồi hàng đầu bên trái) với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924).

     Cũng trong những ngày trên đất Pháp, Người còn sáng lập ra “Hội Liên hiệp thuộc địa”, nhằm tạo hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc để đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây là mặt trận liên minh các lực lượng dân tộc bị áp bức, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp do một lãnh tụ thuộc địa, đó là Nguyễn ái Quốc đứng ra tổ chức. ảnh hưởng của anh càng lớn lao trên diễn đàn quốc tế bao nhiêu thì mật thám càng ráo riết theo dõi hoạt động cách mạng của anh bấy nhiêu.

    “Hội Liên hiệp thuộc địa” được chính thức thành lập ngày 26/6/1921 tại Paris. Hội xây dựng chương trình, điều lệ và cử ra Ban Chấp hành của Hội. Hội ra bản tuyên ngôn do Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đặc biệt Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Nguyễn ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút, viết bài, sau này cả phát hành báo.

    Ngày 1/4/1922, báo ra số đầu tiên. Trang đầu đăng lời kêu gọi giống như một tuyên ngôn của báo. Tài chính của báo do sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng chí Pháp cũng như trụ sở báo, phương tiện… Nhà văn nổi tiếng Pháp H. Bácbuýt nhận đỡ đầu cho báo, các đồng chí M.Casanh, G.Lêuy… tham gia viết bài cho báo. Từ lúc ra đời cho đến lúc dừng hoạt động (4/1926), toàn bộ báo ra được 38 số là một sự cố gắng lớn, trong đó vai trò của Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng.

    Ngoài việc lo hoạt động của báo, Người còn viết nhiều bài trên các lĩnh vực: xã luận, bình luận, truyện ký, tiểu phẩm, tranh vẽ, đưa tin, dịch thuật… là một cây viết chính, là linh hồn tồn tại và phát triển của báo. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo chế độ bóc lột của thực dân trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vạch trần những thủ đoạn, mánh khoé bóc lột tư bản như đặt ra nhiều thứ thuế phi lý, sinh ra các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, rượu, bắt lính, chiếm đoạt ruộng đất… Người kêu gọi, muốn xoá những chế độ bất công đó không có gì khác hơn là đoàn kết các dân tộc, đứng lên đấu tranh giai cấp. Hoà cùng tiếng nói với Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Báo Người cùng khổ đã tạo thành một mặt trận thống nhất chung của nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Pháp chống chủ nghĩa tư bản.

    Như vậy là từ một người yêu nước nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi con đường đó. Sáu năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường trở thành người dẫn đường. Là đảng viên Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Năm 1941, sau vừa đúng 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh và giành được độc lập vào mùa thu năm 1945

    Xuân Ngọc – CAND Xuân 2011
    cand.com.vn

  • Ngày Môi trường thế giới 2012: “Gieo mầm” Kinh tế Xanh

    (VOV) – Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nền Kinh tế Xanh mà không phải quốc gia nào cũng có được.

    Năm 2012, Liên Hợp Quốc lấy chủ đề cho Ngày Môi trường Thế giới là “Kinh tế Xanh: Có vai trò của bạn”. Việc chọn chủ đề này nhằm phản ánh nhận thức sâu rộng đối với Kinh tế Xanh như là bước đi tiếp theo hướng tới thế kỷ XXI bền vững.

    Quan trọng hơn, khi mà các quốc gia trên thế giới đang vực dậy sau khủng hoảng kinh tế, chủ đề này nhấn mạnh sự cần thiết rằng, nền Kinh tế Xanh không chỉ mang ý nghĩa bao quát mà còn mang lại những kết quả tích cực cho sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội và sự tiến bộ trong quản lý môi trường.

    Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Kinh tế Xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống, tạo việc làm và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái. Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng kinh tế phải gắn với giảm phát thải carbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái.

    Thực tế, kể từ khi thuật ngữ “Kinh tế Xanh” được công nhận năm 2008 thì chỉ 1 năm sau, theo tính toán của UNEP, cộng đồng EU và Mỹ đã tạo ra 2 – 3,5 triệu việc làm khi xây dựng các tòa nhà xanh, Trung Quốc tạo nên 10 triệu việc làm trong lĩnh vực tái chế và năng lượng tái tạo với doanh thu 17 tỷ USD/năm. Và Brazil – quốc gia Nam Mỹ đi đầu trong việc xây dựng một nền Kinh tế Xanh có ngành công nghiệp tái chế với nguồn thu 2 tỷ USD/năm, đồng thời giảm 10 triệu tấn khí nhà kính thải ra môi trường.

    Đấy là tại những nước và khu vực phát triển, còn ở nhóm nước đang phát triển, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Kinh tế Xanh như xây dựng, năng lượng, vận tải có thể lên tới 563 tỷ USD vào năm 2030 cùng với 100 tỷ USD để thích nghi với biến đổi khí hậu.

    Những thống kê này cho thấy, “gieo mầm” Kinh tế Xanh, tạo nên tăng trưởng xanh là chiến lược cho phát triển bền vững ở tương lai.

    Bên cạnh đó, thực tiễn tại các nước cũng cho thấy rằng, việc thúc đẩy tăng trưởng xanh hay quá trình chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh tạo ra tiềm năng lớn để đạt được phát triển bền vững và giảm nghèo đói với tốc độ chưa từng thấy. Riêng đối với các nước đang phát triển, tăng trưởng xanh còn tạo đà cho một bước nhảy vọt để phát triển kinh tế mà không theo con đường phát triển kinh tế “Ô nhiễm trước, xử lý sau”.

    So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam hội tụ nhiều lợi thế để phát triển Kinh tế Xanh. Việt Nam có vị trí địa lý nằm trung tâm châu Á, một châu lục được đánh giá là đang và sẽ phát triển năng động nhất thế giới. Chúng ta được thiên nhiên ưu đãi, nền nông nghiệp phát triển với nhiều sản phẩm đứng trong Top 5 thế giới. Việt Nam có nền chính trị ổn định, xã hội thân thiện, thuần nhất và người dân ôn hòa. Đây là những lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được.

    Tuy nhiên, để hướng tới sự phát triển này, Việt Nam phải khắc phục những hạn chế về trình độ phát triển, công nghệ sản xuất, trình độ phát triển khoa học cũng như thể chế pháp luật… Bên cạnh đó, nhận thức và năng lực của toàn hệ thống (con người, cơ sở hạ tầng, tài chính và thể chế) cũng cần thay đổi nhằm xóa bỏ thói quen cũ trong sản xuất và quản lý.

    Theo các chuyên gia, đứng trước thời cơ mới, Việt Nam cần phát huy các lợi thế so sánh, khắc phục các yếu kém để phát triển đất nước. Phương thức tăng trưởng xanh là con đường tốt nhất để giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển trong thời gian tương đối ngắn, nhờ sử dụng hiệu quả nội lực và toàn cầu hóa.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Mục tiêu hướng tới chất lượng tăng trưởng của Việt Nam sẽ tập trung phát triển những ngành có lợi thế cạnh tranh, có sử dụng công nghệ cao để từng bước nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.

    Điều này thể hiện trong Dự thảo chiến lược Tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2020 tầm nhìn đến năm 2050 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soản thảo. Chiến lược nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực tiễn tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ vài cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”.

    Như vậy, tăng trưởng xanh là phù hợp với chiến lược dài hạn của Việt Nam và định hướng phát triển bền vững nói chung, phù hợp với những lợi thế so sánh mà Việt Nam cần phát huy trong thế giới toàn cầu hóa./.

    Việt Đức/VOV online

  • Lực lượng vũ trang Thủ đô kết hợp thực hiện tốt phong trào Thi đua Quyết thắng với phong trào thi đua yêu nước của thành phố

    Một trong những giải pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ trong mô hình tổ chức mới, lực lượng vũ trang Thủ đô (LLVT) đã chú trọng gắn việc thực hiện phong trào thi đua quyết thắng (TĐQT) với phong trào thi đua yêu nước của địa phương.

     Cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức thi đua hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 của Đảng, LLVT Thủ đô đã có nhiều hoạt động thi đua sôi nổi, có ý nghĩa thiết thực và đạt hiệu quả cao. Đáng chú ý, phong trào TĐQT của đơn vị đã kết hợp chặt chẽ với phong trào thi đua yêu nước của địa phương, nên có sức lan tỏa rộng rãi, có chiều sâu, tạo động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Để phong trào TĐQT và phong trào thi đua yêu nước của LLVT đạt mục đích, yêu cầu đề ra, Đảng ủy, Thủ trưởng BTL Thủ đô đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt việc quán triệt các chỉ thị của Đảng, của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ mới; làm rõ vị trí, vai trò của công tác thi đua đối với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn Thủ đô. Trên cơ sở đó, các đơn vị động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia; đồng thời, xác định chỉ tiêu thi đua phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị và yêu cầu xây dựng, bảo vệ Thủ đô. Đảng ủy, BTL Thủ đô cũng chỉ đạo các đơn vị phải bám sát thực tiễn, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào thi đua cho phù hợp với tính chất, đặc điểm nhiệm vụ trong từng giai đoạn. Mục tiêu thi đua phải vừa phản ánh và thực hiện thắng lợi mọi mặt hoạt động của đơn vị, vừa thể hiện được tinh thần trách nhiệm của LLVT đối với sự phát triển của Thủ đô. Bên cạnh việc tổ chức thực hiện tốt các phong trào TĐQT, như: "Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ", "Một tập trung, hai khâu đột phá", "60 ngày đêm hành động kiểu mẫu", "Sáng mãi Điện Biên" …, LLVT Thủ đô còn tích cực hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước: "Cả nước hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội", "Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh", "Xây dựng Thủ đô xanh-sạch-đẹp"… Việc thực hiện tốt phong trào TĐQT và phong trào thi đua yêu nước đã làm chuyển biến mạnh mẽ trình độ làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự và khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), sức mạnh chiến đấu của LLVT; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ"; đồng thời, bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm của người công dân Thủ đô, góp phần xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại, xứng đáng với truyền thống Đông Đô-Thăng Long-Hà Nội trong thời kỳ mới.

    Thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước, LLVT Thủ đô đã  thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng, các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn làm tốt công tác dân vận, tham gia phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh. Với tinh thần "Vì nhân dân quên mình", "Người sẵn sàng, vũ khí sẵn sàng", trong trận mưa lịch sử ở Hà Nội cuối năm 2008, BTL Thủ đô đã chủ động phối hợp với các lực lượng đóng quân trên địa bàn huy động 72.219 lượt cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ, hàng trăm lượt tàu, xuồng, thuyền, ô tô, cầu, phà… giúp địa phương sơ tán 17.450 hộ dân ra khỏi vùng ngập lụt nguy hiểm, góp phần bảo vệ an toàn 28,105 km đê sông Hồng, sông Bùi, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ, sông Mỹ Hà… Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã không ngại khó khăn, gian khổ, dầm mình trong mưa, ứng cứu, bảo vệ an toàn trạm bơm Yên Sở, bảo đảm an toàn cho Thủ đô. Cùng với đó, LLVT Thủ đô còn tích cực tham gia công tác phòng, chống cháy, nổ; phối hợp với các lực lượng dập tắt 41 vụ cháy trên địa bàn. Tiêu biểu là việc khắc phục các vụ hỏa hoạn tại phường Mai Động, nhà máy Sợi công nghiệp, công ty Tô Châu, chợ xe máy Dịch Vọng… bảo vệ an toàn tài sản và tính mạng của nhân dân. LLVT Thủ đô cũng đã chủ động tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; tham gia giải quyết các "điểm nóng", không để địch lợi dụng, kích động gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô.

    Cùng với phong trào thi đua yêu nước, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị trung tâm của mình, LLVT Thủ đô đã tổ chức thực hiện tốt phong trào TĐQT; tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng và trình độ SSCĐ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Là lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô, yêu cầu đặt ra đối với các đơn vị là phải luôn duy trì kỷ luật chặt chẽ, sức cơ động cao, trình độ và khả năng SSCĐ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Để làm được điều đó, các cấp ủy đã tập trung lãnh đạo hướng các mục tiêu thi đua vào nâng cao chất lượng huấn luyện; lấy huấn luyện kỹ thuật làm cơ sở, huấn luyện chiến thuật làm trung tâm; phù hợp với thực tiễn của đơn vị, với đối tượng tác chiến và trang bị hiện có. Thông qua các phong trào "Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, SSCĐ cao", "Tháng hành động cao điểm, chấm dứt vi phạm kỷ luật"…, các đơn vị đã tạo được không khí thi đua sôi nổi trong huấn luyện, học tập, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nếp sống chính quy. Bởi vậy, công tác huấn luyện đã đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra; riêng huấn luyện chiến sĩ mới đạt đơn vị giỏi; huấn luyện dân quân, tự vệ đạt 100% yêu cầu, 84% khá, giỏi; huấn luyện quân dự bị đạt 100% chỉ tiêu; trình độ chính quy, chấp hành kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước có nhiều chuyển biến tiến bộ. Ngoài ra, Đảng ủy và BTL Thủ đô đã tập trung lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ, phòng, chống, giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; 100% xã (phường, thị trấn) hoàn thành diễn tập chiến đấu trị an. Chế độ trực SSCĐ của các đơn vị được thực hiện nghiêm túc; khả năng cơ động thực hiện nhiệm vụ của các lực lượng, phương tiện được nâng cao; công tác kiểm soát quân sự trên địa bàn bảo đảm chặt chẽ. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, phong trào thi đua của các đơn vị đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh cho các đối tượng trên địa bàn.

    Ngành Hậu cần, Kỹ thuật của LLVT Thủ đô cũng tích cực gắn việc thực hiện Cuộc vận động "Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy", "Cuộc vận động 50" với các phong trào thi đua yêu nước của Thủ đô. Qua đó, đã động viên được cán bộ, chiến sĩ hậu cần, kỹ thuật phát huy tinh thần tự lực, tự cường, chủ động khai thác mọi tiềm năng trên địa bàn để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ. Ngoài việc tiếp nhận, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn kinh phí, vật tư, trang bị trên cấp, các đơn vị đã động viên bộ đội tích cực lao động, tăng gia, chăn nuôi cải thiện đời sống. Nếu như năm 2004, giá trị tăng gia bình quân đạt 405.000 đồng/người, thì năm 2009, giá trị đó là 650.000 đồng/người. Nhờ vậy, trước những biến động giá cả thị trường, đời sống của bộ đội vẫn được giữ vững và cải thiện; doanh trại được chỉnh trang, xây dựng thống nhất; chất lượng chăm sóc sức khỏe của bộ đội được nâng cao. Thực hiện chương trình quân-dân y kết hợp, hằng năm, ngành Quân y của đơn vị đã cử các đội công tác đến những địa phương khó khăn để khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân. Các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng chính sách; xây dựng nhà tình nghĩa… đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng nhân dân. Bên cạnh sự quan tâm bảo đảm đời sống vật chất của bộ đội, cấp ủy, cán bộ chủ trì các đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Cuộc vận động "Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú" gắn với Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Xây dựng Thủ đô xanh-sạch-đẹp" của địa phương… Nhờ đó, đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội được nâng cao, môi trường, cảnh quan sạch, đẹp; phòng ngừa có hiệu quả văn hóa xấu, độc, các tệ nạn xã hội thâm nhập vào đơn vị. Nhiều tấm gương, nhiều mô hình tiêu biểu như: "Nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt", "Đơn vị quân y 5 tốt", "Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác", "Đơn vị quản lý tài chính tốt", "Doanh trại chính quy, sáng, xanh, sạch, đẹp"… đã góp phần xây dựng ngành Hậu cần vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cùng với ngành Hậu cần, ngành Kỹ thuật đã tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm tòi các biện pháp khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm, phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, bảo vệ Thủ đô trong mọi tình huống. Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong các cơ quan, đơn vị phát triển mạnh mẽ; nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã được ứng dụng trong thực tiễn, như: cải tiến giá súng 12,7mm, thiết bị thử thời gian giữ chậm ngòi lựu đạn, ứng dụng lắp bơm xăng điện trên xe thiết giáp BTR152… Đóng quân trên địa bàn có mật độ dân số và xe cơ giới cao, đơn vị đã thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ nâng cao ý thức, trách nhiệm khi tham gia giao thông; đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng và thực hiện các biện pháp góp phần làm giảm thiểu ùn tắc giao thông trên địa bàn.

    Trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu của phong trào thi đua đã được xác định, trong từng thời gian, các đơn vị đã cụ thể hóa cho phù hợp với tính chất, đặc điểm nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng tổ chức, xây dựng con người; gắn phong trào thi đua với đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", "Xây dựng và chỉnh đốn Đảng"… Các cơ quan, đơn vị đã hướng phong trào thi đua bám sát tiêu chí xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Trong tổ chức thực hiện, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị hết sức coi trọng đến chất lượng, hiệu quả của phong trào, không phô trương, hình thức; tập trung vào khắc phục khâu yếu, mặt yếu, những vấn đề nổi cộm trong đơn vị. Nhờ đó, chất lượng các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở BTL Thủ đô không ngừng được nâng lên. Qua bình xét hằng năm, tỷ lệ tổ chức đảng đạt trong sạch, vững mạnh thường xuyên đạt từ 95% trở lên, trên 90% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, 96% các tổ chức quần chúng đạt vững mạnh, trong đó có 30% đạt vững mạnh xuất sắc, 100% hội viên phụ nữ đạt tiêu chuẩn "2 giỏi"…

    Hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 của Đảng, cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô tiếp tục thực hiện tốt phong trào TĐQT kết hợp với phong trào thi đua yêu nước của Thành phố, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Thủ đô thời kỳ mới.

    Đại tá LÊ HIỀN VÂN

    Chủ nhiệm Chính trị, Bộ Tư lệnh Thủ đô

    theo

    http://tapchiqptd.vn
  • Những thành quả mà công nghệ xanh sẽ mang đến cho Việt Nam?

    Có thể tóm tắt qua hai điểm dưới đây và cho phép chúng ta hình dung về một môi trường đô thị, tự nhiên và kinh tế hoàn toàn mới: Kinh tế xanh, Thành phố xanh.

    Khai thác sự năng động của Việt Nam
    Giàu có về nguồn tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam được thế giới biết đến hiện nay như một quốc gia đang ở trong giai đoạn phát triển kinh tế quan trọng. Sự chuyển hướng theo kinh tế thị trường trong những năm gần đây đã tạo ra một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đem đến nhiều cơ hội và thực sự hấp dẫn cho các dự án đầu tư.
    Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, do sự cạnh tranh quốc tế sẽ cho ra đời những mô hình kinh tế mới. Đặc biệt khi mà kinh tế xanh trên thế giới đang ở vào thời điểm phôi thai, thông qua mô hình này, kinh tế xanh sẽ đem đến cho Việt Nam vào thời điểm hiện tại một cơ hội định vị lại mình trong một thị trường thế giới đầy tiềm năng về cơ hội phát triển và bền vững. Cơ hội này cho phép các đô thị tại Việt Nam sẽ thay đổi, sự thay đổi này không chỉ diễn ra tại các thành phố lớn tại Việt Nam như Hà Nội, TP.HCM với một thị trường quan trọng mà còn ảnh hưởng đến các đô thị vừa và các vùng nông thôn.
    Ngoài ra, trong một thời gian ngắn, hệ thống kinh tế sẽ nhanh chóng định vị lại thông qua thị trường “kinh tế xanh”, khi đó việc khởi hành sớm trên chuyến tàu kinh tế xanh sẽ giúp Việt Nam hạn chế chi phí dành cho việc tái cấu trúc lại hệ thống công nghiệp, các thành phố và hệ thống hạ tầng đô thị, giao thông để thích ứng với những tiến hoá về môi trường.
    Đây thực sự là một tiềm năng chưa hề có trước đây nhằm giải quyết mối quan hệ về sự phát triển kinh tế, sự giàu có về tài nguyên và cảnh quan đặc biệt của Việt Nam, hạn chế sự xé nát hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học.
    Kinh tế xanh, với thuộc tính tự nhiên về sự đổi mới, sẽ thúc đẩy cùng lúc các lĩnh vực nghiên cứu. Không chỉ dừng lại một hoạt động kinh tế thông thường, kinh tế xanh còn là một khuynh hướng nhằm giải quyết triệt để các mối quan hệ giữa các lĩnh vực; từ sản xuất, nghiên cứu, giáo dục và cả các yếu tố xã hội trong một mối liên hệ tổng thể.
    Thúc đẩy sự phát triển của vùng lãnh thổ dựa trên kinh tế xanh, điều này có nghĩa là thúc đẩy và khuyến khích hơn nữa, sự hiệp đồng giữa môi trường doanh nghiệp, môi trường đại học, môi trường nghiên cứu và phát triển xã hội.
    Tất cả các hoạt động liên quan đến kinh tế xanh sẽ giúp Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trên thế giới. Phát triển mô hình kinh tế này sẽ cho phép Việt Nam tăng cường hình ảnh về một thương hiệu và góp phần củng cố, định vị lại mình như một vị trí quan trọng của “mô hình kinh tế mới” trên diễn đàn thế giới.
    Kinh tế xanh là gì?
    Kinh tế xanh quan tâm đến việc xác định lại quá trình tiến hoá của hệ thống công nghiệp trong một mối liên hệ tổng thể với vùng lãnh thổ chứ không chỉ quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề về môi trường.
    Ngoài ra, kinh tế xanh không chỉ được biết đến như với công nghiệp năng lượng tái tạo, mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau từ khâu cung cấp năng lượng cho đến quy trình tái chế, từ sản xuất nông nghiệp cho đến công nghiệp xây dựng và giao thông.
    Được xem xét bởi Liên hiệp quốc như một loại hình kinh tế mới với tốc độ phát triển nhanh và tiềm năng nhất. Sự ra đời các ngành nghề và lao động mới, được gọi tên là “lao động xanh”, mở ra một thời kỳ mới cho kinh tế xanh từ một thị trường nhỏ cho đến một thị trường lớn. Khắp nơi trên thế giới, lao động xanh lan toả và trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế và tăng trưởng.
    Các hoạt động nghiên cứu – sản xuất sinh thái ngày càng gây sự chú ý đặc biệt cho các nhà hoạch định các chiến lược kinh tế của các thành phố trên khắp thế giới. Được định nghĩa bởi cộng đồng châu Âu, những hoạt động nghiên cứu – sản xuất sinh thái là tổng hợp những doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu phát triển sản sinh ra các sản phẩm và dịch vụ có khả năng lường trước, ngăn ngừa, giảm thiểu và hạn chế những thiệt hại gây ra cho môi trường, như ô nhiễm nước, không khí, đất, cho đến cả những vấn đề liên quan đến rác thải, tiếng ồn, và ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Điều này bao gồm cả những công nghệ, những sản phẩm và dịch vụ “sạch” có tác dụng giảm thiểu những hiểm hoạ về môi sinh và hạn chế việc sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên.
    Cùng với sự phát triển của lĩnh vực này trong những năm gần đây, các nhà kinh tế học tiên đoán thị trường châu Âu về lĩnh vực này trong vòng 5 – 6 năm tới sẽ bùng nổ do sự gia tăng về nhu cầu, do áp lực của công chúng, áp lực của sức khoẻ cộng đồng, sự tăng cường các hệ thống luật định, các cam kết quốc tế, và sự đột biến về giá dầu thế giới.

    Bảng tổng hợp dưới đây cho thấy những cảnh báo đầu tiên về các hiểm họa môi trường diễn ra từ những năm 70 của thế kỷ 20:

    1971: Cảnh báo về hiểm hoạ môi trường chấm dứt tăng trưởng (Halte à la croissance) được đưa ra bởi câu lạc bộ Rome (club de Rome)

    1972: Phát triển kinh tế được nhìn nhận không tương thích với việc bảo vệ hành tinh về lâu dài tại hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường con người, tại Stockholm.

    Sự ra đời của ý tưởng phát triển sinh thái (d’éco-développement)

    1987: Ý tưởng trên được trích dẫn trở lại trong báo cáo của Gro Harlem Brundtland (thủ tướng Na Uy và là chủ tịch Cộng đồng quốc tế về môi trường và phát triển). Vì một tương lai cho tất cả mọi người, dưới thuật ngữ Phát triển bền vững (Sustainable development)

    Ý tưởng về phát triển bền vững được định nghĩa trong báo cáo của Brundtland: “Một sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không xâm phạm đến các nhu cầu của các thế hệ tương lai”

    1992: Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển

    1997: Công ước Kyoto 

     

    Cùng nhiều thành phố khác tại châu Âu, chính quyền thành phố Paris với tham vọng thiết lập một vùng sinh thái (éco-région) song hành với việc xây dựng một trung tâm nghiên cứu (pôle d’excellence) quy tụ các hoạt động nghiên cứu – sản xuất liên quan đến môi trường hướng đến một tầm ảnh hưởng với sức lan toả quốc tế cho các chiến lược xanh của mình.

    Một vài số liệu của lĩnh vực này trong cơ cấu kinh tế của vùng Paris (Ile de France) cho thấy tầm quan trọng của kinh tế xanh:

    • 50.000 việc làm, chiếm 33% tổng số lao động của nước Pháp trong lĩnh vực này
    • 21 tỉ USD doanh số hàng năm: chiếm 50% doanh số của cả nước Pháp, 8% doanh số của châu Âu
    • 15 – 20% doanh số đến từ xuất khẩu: rác thải chiếm 65%, nước thải 21%, không khí 9%
    • 300 phòng thí nghiệm chuyên sâu về môi trường
    • 170 chuyên ngành đào tạo liên quan đến môi trường. 

    Anh Nguyễn sưu tầm
    Nguồn: Website Hội quy hoạch đô thị Việt Nam
  • Hội nghị cán bộ báo chí triển khai Nghị quyết TW 4

    Ngày 29/3, tại Quảng Ninh, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam và Tỉnh ủy Quảng Ninh tổ chức Hội nghị cán bộ báo chí toàn quốc học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.” Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Thuận Hữu; Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ; Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn chủ trì Hội nghị.

    Gần 300 đại biểu là đại diện lãnh đạo các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí, các cơ quan báo chí trong cả nước đã tham dự Hội nghị.Hội nghị nhằm giúp lãnh đạo cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí và các cơ quan báo chí nắm vững, hiểu sâu sắc về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết, nắm vững các quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, từ đó tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết, chỉ đạo, định hướng tuyên truyền và tuyên truyền Nghị quyết trên báo chí một cách nghiêm túc, hiệu quả đưa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) vào cuộc sống.

     Toàn cảnh hội nghị

    Hội nghị nghe phổ biến quán triệt, triển khai nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), Chỉ thị và Kế hoạch của Bộ Chính trị, Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện Nghị quyết; nghiên cứu bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.”

    Tại hội nghị, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ đã giới thiệu những nội dung quan trọng của Nghị quyết và Chỉ thị của Bộ Chính trị, với bốn vấn đề gồm Lý do Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) bàn và ra Nghị quyết về xây dựng Đảng; Mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết; Những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 4; Những vấn đề cần lưu ý trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết và định hướng công tác thông tin tuyên truyền quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Thế Kỷ nêu rõ Hội nghị Trung ương 4 đã xác định mục tiêu phải tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng thật sự là Đảng cách mạng chân chính, ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị quyết của Đảng.

     Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò rất quan trọng đưa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đi vào cuộc sống.Để làm tốt nhiệm vụ này, các cơ quan thông tin đại chúng cần bám sát nội dung, tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, Chỉ thị và Kế hoạch của Bộ Chính trị, triển khai thực hiện nghiệm túc Nghị quyết trong cơ quan, đơn vị; đồng thời tổ chức tuyên truyền nghị quyết một cách tích cực, sáng tạo, sinh động, hiệu quả.

     Các cơ quan báo chí trong quá trình tuyên truyền công tác phổ biến, nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4, Chỉ thị và Kế hoạch của Bộ Chính trị cần chú trọng làm rõ các nội dung, quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết và Chỉ thị; nhận thức và thực hiện tốt phương châm tuyên truyền là bảo đảm chính xác, trung thực, với thái độ khách quan, xây dựng, gắn “xây” với “chống”; coi trọng nêu gương, cổ vũ, nhân rộng gương người tốt, việc tốt; tránh xu hướng phiến diện một chiều, thông tin sai lệch, bôi đen; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đoàn kết trong nhân dân, tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, sự đồng thuận trong xã hội.

     Hội nghị tập trung nghiên cứu, thảo luận những nội dung cơ bản Nghị quyết của Trung ương, Chỉ thị và Kế hoạch của Bộ Chính trị, Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương; thống nhất những giải pháp nhằm tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

     Các cơ quan báo chí theo chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ mở chuyên trang, chuyên mục giới thiệu Nghị quyết; tuyên truyền việc học tập, quán triệt và thực hiện Nghị quyết ở các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các cơ quan, đơn vị, đoàn thể, địa phương, ở cán bộ, đảng viên; kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình, nhân tố mới trong học tập và thực hiện Nghị quyết; uốn nắn, phê bình những tập thể, cá nhân thực hiện không nghiêm túc, kém hiệu quả.

     Việc tuyên truyền thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 gắn với tuyên truyền thực hiện Chỉ thị 03 – CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Đảng trong nhiệm kỳ khóa XI.

    Các cơ quan báo chí bám sát và tuyên truyền đậm nét, liên tục các nhóm giải pháp mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, Chỉ thị và Kế hoạch của Bộ Chính trị nêu ra; chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin, luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc nội dung, hạ thấp mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết Trung ương 4 cũng như những biện pháp triển khai đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

     

    Theo Hương Thủy-Văn Đức

    TTXVN/Vietnam+

     

  • Triển khai xây dựng 9 chương trình công tác toàn khóa

    Hội nghị đã nghe Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Phí Thái Bình báo cáo công tác chuẩn bị thành lập các ban chỉ đạo (BCĐ) thực hiện 5 nhiệm vụ chủ yếu, 2 khâu đột phá của TP giai đoạn 2010 – 2015.

    Căn cứ vào 5 nhiệm vụ chủ yếu, 2 khâu đột phá (đã được Nghị quyết ĐH lần thứ XV Đảng bộ TP xác định), trong buổi sáng Hội nghị bàn và quyết định xây dựng 9 chương trình công tác thuộc các lĩnh vực, xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, công tác quy hoạch, phát triển nông nghiệp, công tác quốc phòng-an ninh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công tác CCHC, đấu tranh phòng chống tham nhũng. Theo đó, Thành ủy dự kiến thành lập BCĐ 9 chương trình (mỗi chương trình thành lập 1 BCĐ). BCĐ sẽ tham mưu cho Thành ủy chỉ đạo 5 nhiệm vụ chủ yếu và 2 khâu đột phá bằng các chương trình, kế hoạch, đề án. BCĐ có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện, mặt khác, đề xuất, kiến nghị với TƯ, Thành ủy các cơ chế, chính sách và giải pháp để thực hiện.

    Hơn 10 ý kiến thảo luận tại hội trường đều nhất trí số lượng, tên gọi 9 chương trình và khẳng định quyết định của Thành ủy thành lập BCĐ 9 chương trình (thay cho ban chủ nhiệm các chương trình của khóa XIV, nhiệm kỳ 2005-2010) sẽ nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các thành viên BCĐ. Việc xây dựng 9 chương trình khóa XV có sự kế thừa khóa XIV và rất phù hợp thực tế sau khi mở rộng địa giới hành chính. Các ý kiến cho rằng, cần đề cao vai trò của cơ quan báo chí, nhằm tăng cường tuyên truyền, góp phần vào việc triển khai hiệu quả các chương trình.

    Về ý nghĩa, tầm quan trọng của các chương trình, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Công Soái nhấn mạnh, có việc rất nhỏ (như xử lý ô nhiễm môi trường, rác thải) mà chính quyền phường không điều hành được, nhưng nơi khác vẫn làm được. Điều đó cho thấy, năng lực điều hành của chính quyền còn hạn chế. Chính vì vậy, nhiệm kỳ này Đảng bộ TP rất chú trọng triển khai Chương trình số 1 "Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng và đội ngũ đảng viên, hiệu lực điều hành, quản lý của bộ máy chính quyền, chất lượng hoạt động của MTTQ, các đoàn thể nhân dân các cấp".

    Thay mặt Thường trực Thành ủy, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thế Thảo tiếp thu các ý kiến đóng góp để tổ chức xây dựng các chương trình công tác, bảo đảm yêu cầu, nội dung thiết thực, khả thi và sát với tình hình thực tiễn. Dự kiến, trong tháng 3-2011, sẽ hoàn thành dự thảo đề cương, đến tháng 5 hoàn thành nội dung chi tiết của 9 chương trình công tác.

    Tập trung triển khai thắng lợi nghị quyết

    Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Phạm Quang Nghị – UVBCT, Bí thư Thành ủy đã đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo trong năm 2010: Năm 2010, thành phố phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách, phải thực hiện đồng thời nhiều việc lớn, việc khó, nhưng với tinh thần đoàn kết, thống nhất, phát huy dân chủ, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, phong cách chỉ đạo, điều hành theo hướng năng động, sáng tạo, tập trung, kiên quyết, dứt điểm, hiệu quả; hướng tới lợi ích thiết thực của người dân…, Thành ủy đã tập trung lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và đạt được những kết quả quan trọng, tạo ra chuyển biến tích cực trên các mặt hoạt động của thành phố.

    Nhiệm vụ then chốt là công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng tâm là tiếp tục thực hiện Chương trình số 02 của Thành ủy, gắn với Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", đã được triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, phát huy dân chủ trong Đảng và cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của xã hội.

     

     

     

    Đồng chí Bí thư Thành ủy nhấn mạnh: Công tác củng cố, xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị được coi trọng. Hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở tiếp tục được củng cố, tăng cường, hiệu lực, hiệu quả và chất lượng hoạt động được nâng lên. Lãnh đạo thành phố luôn trân trọng lắng nghe ý kiến góp ý, phê bình của nhân dân, kịp thời bổ sung, điều chỉnh các chủ trương, biện pháp để nâng cao tính hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở được coi trọng, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở, đồng thuận, thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố thêm lòng tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị – xã hội các cấp của thành phố. Những kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên. Đó là yếu tố quyết định bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của thành phố năm 2010 và cả nhiệm kỳ Đại hội XIV.

    Về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố, đồng chí Bí thư Thành ủy chỉ đạ Để triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội và nhiệm vụ chính trị năm 2011, yêu cầu đặt ra cho Đảng bộ thành phố là phải tiếp tục đổi mới đồng bộ, mạnh mẽ hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, cả về nội dung và phương thức lãnh đạo.

    Năm 2011, năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015; thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Các cấp ủy đảng, các đồng chí thành ủy viên cần căn cứ vào 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thắng lợi các nhiệm vụ chủ yếu, các khâu đột phá, các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của thành phố ngay từ những tháng đầu của năm 2011, thiết thực chào mừng Đại hội XI của Đảng. Các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ và tổ chức đoàn thể cần tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; bảo đảm tốt an ninh, trật tự trong thời gian diễn ra Đại hội XI của Đảng. Tập trung quan tâm chăm lo tổ chức cho nhân dân vui xuân, đón Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc vui tươi, an toàn, tiết kiệm. Tập trung chăm lo Tết cho các đối tượng chính sách, nhất là người có công, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, bảo đảm mọi người, mọi nhà đều có Tết. Chỉ đạo bảo đảm hàng hóa phục vụ Tết, tăng cường các biện pháp quản lý, kiểm tra, kiểm soát thị trường, kiên quyết xử lý các trường hợp đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; buôn bán hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, đặc biệt là phòng, chống việc sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng các loại pháo… góp phần bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát, bảo đảm để nhân dân Thủ đô đón Tết thật sự an toàn, vui tươi, lành mạnh.

    Theo baomoi.com

  • Những câu chuyện kể về Bác Hồ

    1.CÂU HÁT VÍ DẶM

    Chiều ngày 18-5-1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để mừng thọ Bác 79 tuổi. Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta…”. Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh: “Có hay không các chú?”. “Thưa Bác hay ạ!”. Bác hỏi chị Mai Tư: “Trong ta chừ còn dệt vải nữa không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. “ Rứa cháu có biết hát phường vải không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát, Mai Tư thưa với Bác: “Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!”. Bác bảo: “Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi…”. “Dạ, thưa Bác, có phải dài lưng tốn vải ăn no lại nằm không ạ!”. “Giờ cháu tiếp câu nữa đi”. Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc: “Lưng dài có võng đòn cong; áo dài đã có lụa hồng vua ban”. Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An. Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa: “Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng “A ờ ơ… Ru em em ngủ cho muồi”, Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi”. Minh Huệ hát tiếp: “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu; Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”. Thế mới biết Bác Hồ đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên từng tên làng, ngõ xóm, từng câu hát ví dặm của quê nhà.

     

    2. CHAI MẬT ONG DO BÁC TẶNG

    Thường tối thứ bảy, Bác ra xem phim ngắn khoảng gần một tiếng tại Phủ Chủ tịch, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng xem với Bác. Buồng chiếu phim có anh em ở đơn vị bộ đội bảo vệ, anh em bảo vệ và phục vụ Bác. Thỉnh thoảng anh Vũ Kỳ lại tổ chức buổi hát hoặc ngâm thơ phục vụ Bác.

    Tối ngày 31-5-1969 tại Phủ Chủ tịch, Bác và đông đủ các lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới dự buổi ca múa nhạc nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi. Buổi tối hôm đó đã được ghi lại trên những thước phim, ảnh Bác ngồi giữa các cháu như ông tiên ngồi giữa bày cháu nhỏ. Lúc ra về, dọc đường Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ: Dưới hàng ghế có cụ nào ngồi đấy. Đồng chí Vũ Kỳ trả lời: Dạ, đó là cụ thân sinh của bác sĩ Mẫn. Bác nói:

    – Sao không giới thiệu cho mình để mình bắt tay.

    Vài ngày sau đồng bào Tây Bắc gửi về biếu Bác một chai mật ong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: Chai mật ong này để biếu ông cụ chú Mẫn.

    Tôi (Lê Văn Mẫn) đưa về và kể cho bố tôi, bố tôi cảm động chảy nước mắt và giữ gìn chai mật ong cho tới lúc chết (hai năm sau đó)…

     

    3. BÁC RẤT YÊU QUÝ CÁC CHÁU MIỀN NAM

    Nắng tháng sáu rực rỡ. Những ngày tháng sáu năm 1969, Hà Nội từng bừng đón tin vui: Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thành lập. Phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chúng tôi được nâng lên thành Đoàn đại diện đặc biệt của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trụ sở của Đoàn những ngày này tấp nập đại biểu trong nước và nước ngoài đến chúc mừng.

    Sáng 12 tháng sáu, chúng tôi vô cùng xúc động và phấn khởi được đón Bác Hồ đến chúc mừng bước trưởng thành của cách mạng Việt Nam.

    Chúng tôi quây quần bên Bác, người Cha già yêu thương vô hạn. Bác ân cần hỏi thăm sức khoẻ anh chị em trong đoàn chúng tôi, hỏi han hoàn cảnh công tác, gia đình mỗi cán bộ, nhân viên, không thiếu một ai.

    Bác nhờ Đoàn chuyển lời thăm hỏi thân ái của Người đến các vị trong Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và trong Hội đồng cố vấn Chính phủ. Bác cũng nhờ Đoàn chúng tôi chuyển lời khen ngợi đồng bào và bộ đội, các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, các cháu thanh niên và nhi đồng miền Nam đã luôn luôn đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng, thắng lợi vẻ vang.

    Bác lại đem kẹo chia cho các cháu và tất cả chúng tôi như lần đầu tiên Bác đến thăm Phái đoàn.

    Một kỷ niệm thiêng liêng, sâu sắc nữa lại đến với tôi (Nguyễn Khánh Phương). Ngày 14 tháng sáu, anh Nguyễn Phú Soại và tôi nhận được tin Bác cho biết muốn gặp chúng tôi. Tôi vừa mừng, vừa lo.

    Đúng bảy giờ, chúng tôi vào nhà Bác. Bác tiếp chúng tôi ngay tại nhà như những người thân trong gia đình. Tôi ngồi cạnh Bác và quạt cho Bác như con gái về thăm ba.

    Bác thân mật nói: Hôm nay, Bác muốn gặp cô và chú để hỏi về tình hình các cháu học sinh miền Nam, Bác được báo cáo có một số cháu tiến bộ chậm.

    Chúng tôi báo cáo với Bác về những cố gắng của Bộ Giáo dục, của thầy giáo, cô giáo các trường nhận dạy con em miền Nam và những cố gắng của Phái đoàn của chúng tôi về công tác này.

    Không những Bác biết rõ tình hình ăn học của các cháu mà còn nêu cho chúng tôi tên những cháu ngoan và một số cháu chưa ngoan.

    Bác dặn chúng tôi, đại ý: nếu để tình hình này kéo dài thì ba má và gia đình các cháu đang chiến đấu ở miền Nam sẽ kém yên tâm. Bác nhắc nhở chúng tôi là những người thay mặt cho cha mẹ các cháu phải đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục các cháu ngày càng tiến bộ. Bác động viên chúng tôi phải cố gắng và quyết tâm. Bác nêu rõ trách nhiệm phải nuôi dạy cho các cháu tiến bộ nhiều vì bản chất các cháu rất tốt, các cháu đều là mầm non của đất nước. Việc dạy dỗ, nuôi dưỡng đòi hỏi phải có lòng thật sự thương yêu các cháu…

    Được ngồi bên Bác, nghe những lời chỉ bảo của Bác, tôi càng nhớ đồng bào miền Nam da diết.

    Khi ra về, qua vườn nhà Bác, tôi nhìn thấy cây vú sữa đồng bào miền Nam gửi tặng Bác và Bác ngày ngày tự tay vun xới đã lớn lên, cao quá mái nhà đơn sơ của Bác. Tôi nhìn cây vú sữa mà nghĩ đến người Ông trồng cây cho con cháu ăn quả đời đời. Bác đã kêu gọi nhân dân miền Bắc trồng cây cho đất nước xanh tươi và Bác cũng không quên nhắc mọi người: “Chúng ta phải trồng cây cho đồng bào miền Nam nữa”. Bác nhắc: “Trồng cây nào tốt cây ấy”. Có những loại cây, Bác tự tay trồng và chăm bón cho đến khi ra hoa kết quả, rồi Bác lấy giống gửi tặng các địa phương để “nhân lên”. Bác dặn các cụ già và các tỉnh chú ý “nhân giống cho miền Nam, trồng nhiều cây miền Nam trong vườn kết nghĩa”. Bác luôn nghĩ đến việc ươm hạt giống cách mạng cho miền Nam. Miền Nam trân trọng những hạt mầm của Bác.

    Tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam sâu rộng hơn biển Đông. Tình yêu thương của Người đối với thanh niên, thiếu niên, nhi đồng Thành đồng mênh mông bát ngát. Giữa tháng 7-1969, trong buổi gặp mặt thân mật với chị phóng viên Cuba, Mácta Rôhát, Bác đã nói: “Ở miền Nam, những thanh niên dưới 25 tuổi không biết được thế nào là hai chữ “tự do”. Có thể nói rằng ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng, và nếu mỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình gộp lại thì đó là nỗi đau khổ của tôi”.

     

    4. CHIẾC RỄ ĐA TRÒN

    Một buổi sớm, như thường lệ Bác tập thể dục rồi đi dạo trong vườn. Đến một gốc đa, Bác chợt thấy một chiếc rễ đa nhỏ và dài ngoằn ngoèo trên mặt cỏ. Đêm qua trời mưa bão chắc nó bị đánh rớt xuống. Bác đứng tần ngần một lát rồi quay lại bảo đồng chí phục vụ đi theo:

    – Đừng vứt nó đi. Chú đem cuộn nó lại và giâm cho nó mọc tiếp.

    Đồng chí phục vụ vâng lời, xới đám đất nhỏ và chôn chân nó xuống, nhưng Bác bảo:

    – Không, chú nên làm thế này.

    Bác vừa nói vừa cuộn chiếc rễ thành một vòng tròn. Đồng chí phục vụ làm theo sự hướng dẫn của Bác: cuộn tròn chiếc rễ lại và buộc cho nó tựa vào hai cái cọc…

    Đồng chí phục vụ thắc mắc hỏi Bác:

    – Thưa Bác, làm thế này để làm gì ạ?

    Bác khẽ cười, gật gật đầu:

    – Rồi chú khắc biết.

    Ít lâu sau, chiếc rễ đa đã bám rễ và phát triển rất tốt. Và có một sự kỳ thú là đoàn thiếu nhi nào vào thăm vườn Bác, không ai bảo ai, bạn nào cũng thích chơi chui qua chui lại chiếc rễ đa mọc thành hình tròn xinh xẻo kia.

    Lúc bấy giờ ai nấy mới chợt nhớ đến lời của Bác: “Rồi chú khắc biết”. Thì ra Bác của chúng ta chẳng những rất yêu các cháu thiếu nhi mà cũng rất hiểu thiếu nhi.

     

    5. MIỀN NAM Ở TRONG TRÁI TIM TÔI

    Suốt đời mình, Hồ Chủ tịch kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc, thống nhất của Tổ quốc. Đối với miền Nam, tình cảm của Bác vô cùng thắm thiết. Bác nói: “Miền Nam ở trong trái tim tôi”, “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Chưa giải phóng được miền Nam, Bác tự coi là nhiệm vụ làm chưa tròn, cho nên Người đã nói với Quốc hội khi Quốc hội có ý định trao huân chương Sao Vàng cho Người: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quý đó”.

    Những năm miền Nam chiến đấu chống Mỹ ác liệt, Bác đã có ý định vào miền Nam “để thăm đồng chí, đồng bào” và yêu cầu tổ chức để Bác đi. Bác nêu vấn đề một cách rất kiên quyết. Thấy Bác tuổi đã cao, sức khoẻ không còn được như trước, các đồng chí Bộ Chính trị đề nghị xin cố gắng cùng toàn dân đánh Mỹ mau thắng rồi mời Bác vào. Bác nói: “Tôi muốn vào là vào lúc này, chứ thắng rồi mới vào thì nói làm gì?”

    Lâu lâu Bác lại nhắc lại vấn đề và hỏi việc chuẩn bị đến đâu rồi. Thấy Bác rất quyết tâm, các đồng chí phụ trách đành phải báo cáo đường đi rất khó khăn, vất vả, Bác đi không được. Bác nói : “Nếu không có đường nào khác thì tổ chức cho tôi đi bộ. Các chú đi được thì tôi đi được. Đi mỗi ngày một ít. Chưa chắc thua các chú đâu”.

    Trong những năm cuối, tuy yếu mệt nhưng Bác vẫn tập đi bộ, tập leo dốc và nhiều khi leo những dốc khá cao. Các đồng chí đều can ngăn, nhưng Bác cứ leo. Bác muốn xem sức mình hiện nay thế nào và vẫn quyết rèn luyện để thực hiện ý định “vào miền Nam với đồng bào, đồng chí”.

    Từ năm 1968 trở đi, Bác yếu nhiều hơn. Bác yêu cầu: hễ có đồng chí miền Nam nào ra thì phải cho Bác biết và đưa vào gặp Bác. Vì vậy, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Bắc đã được vào thăm Bác, đặc biệt là các chị và các cháu. Mỗi lần gặp, Bác đều hỏi tình hình rất tỉ mỉ và Bác rất vui…

     

    6. BỎ THUỐC LÁ

    Hút thuốc lá là thú vui duy nhất của Bác như Bác thường nói. Nhưng từ khi bị bệnh, theo lời khuyên của Hội đồng thầy thuốc, Bác có kế hoạch quyết tâm bỏ dần. Bác nói:

    – Bác hút thuốc từ lúc còn trẻ nay đã thành thói quen, bây giờ bỏ thì tốt nhưng không dễ, các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này.

    Rồi Bác tự đề ra chương trình bỏ thuốc dần dần. Lúc đầu là giảm số lượng điếu hút trong ngày. Khi thèm hút thuốc Bác làm một việc gì đó để thu hút sự chú ý, tập trung. Tuổi đã già phải làm như vậy thật quá vất vả. Tập một thói quen, bỏ một thói quen không dễ chút nào. Phải có một nghị lực phi thường mới làm được. Bác bảo đồng chí giúp việc để cho Bác một vỏ lọ Pênixilin ở nơi làm việc và phòng nghỉ. Hút chừng nửa điếu Bác dụi đi để vào lọ đó. Sau hút lại nửa điếu để dành. Anh em can bảo thuốc lá hút dở không có lợi, Bác bảo: “Nhưng hút để có cữ”. Với cách làm đó, Bác đã giảm từ cả bao xuống còn ba, bốn điếu một ngày. Cứ như vậy Bác hút thưa dần.

    Đầu tháng 3-1968, nhân khi bị cảm ho nhẹ, Bác tự quyết định bỏ hẳn. Mấy ngày sau, trong một tuần lễ anh em vẫn để gói thuốc trên bàn làm việc của Bác, nhưng Bác không dùng.

    Một tháng sau, khi tiếp đồng chí Vũ Quang, lúc ấy là Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Bác nói: Bác bỏ thuốc lá rồi, chú về vận động thanh niên đừng hút thuốc lá. Sau này Bác có bài thơ Vô đề:

    “Thuốc kiêng rượu cữ đã ba năm,

    Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.

    Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,

    Một năm là cả bốn mùa Xuân”

     

    7. BÀI HỌC VỀ SỰ TIẾT KIỆM

    Trước kia, Thông tấn xã Việt Nam hàng ngày đều đưa bản tin lên cho Bác xem. Khi in một mặt, Bác phê bình là lãng phí giấy. Sau đấy Thông tấn xã in hai mặt bằng rônêô, nhoè nhoẹt khó đọc hơn nhưng Bác vẫn đọc. Sang năm 1969, sức khoẻ Bác yếu và mắt giảm thị lực, Thông tấn xã lại gửi bản tin in một mặt để Bác đọc cho tiện. Khi xem xong, những tin cần thiết Bác giữ lại, còn Người chuyển bản tin cho Văn phòng Phủ Chủ tịch cắt làm phong bì tiết kiệm hoặc dùng làm giấy viết. Ngày 10-5-1969, Bác đã viết lại toàn bộ đoạn mở đầu bản Di chúc lịch sử bằng mực xanh vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Từ giữa năm 1969, sức khoẻ Bác yếu đi nhiều nên Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng, Nhà nước thì Bác mới chủ trì, còn những việc khác thì cứ bàn rồi báo cáo lại sau, Bác cũng đồng ý như vậy. Tháng 7, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày lễ lớn của năm: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Sau khi báo Nhân Dân đăng tin nghị quyết này, Bác đọc xong liền cho mời mọi người đến để góp ý kiến: “Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu thanh thiếu niên đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh nhật của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

     

    9. TRÊN GIƯỜNG BỆNH

    Đầu năm 1969, một chị cán bộ trong Nam ra thăm miền Bắc. Như bất cứ đồng bào miền Nam nào khác, khi tới thủ đô, chị mong ngày mong đêm được sớm thấy Bác Hồ. Một hôm, thật hết sức bất ngờ, chị được Trung ương gọi vào Phủ Chủ tịch gặp Bác!

    Cùng tiếp khách với Bác hôm ấy có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Gặp Bác, điều đầu tiên chị thưa với Bác là:

    – Chúng cháu ở miền Nam, vâng theo lời Bác, không nề hy sinh gian khổ đánh Mỹ đến một trăm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác trăm tuổi.

    Chị đã nói ra cái điều mà mọi người hằng nghĩ, nhưng không ai dám và muốn nhắc đến. Một cái gì thoáng qua nhanh, rất nhanh, trên vầng trán, đôi mắt, đôi môi và chòm râu bạc của Bác. Bác quay lại hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

    – Năm nay Bác bảy mươi mấy rồi, chú?

    – Thưa Bác, năm nay Bác bảy mươi chín.

    Bác mỉm cười, mắt ánh lên hóm hỉnh:

    – Thì thì còn đến hai mươi mốt năm nữa Bác mới trăm tuổi. Bác kêu gọi các cô, các chú đánh Mỹ năm, mười năm, hai mươi năm chứ có bao giờ Bác nói hai mươi mốt năm đâu. Nếu hai mươi năm nữa mà ta thắng Mỹ thì Bác cũng còn một năm để vào thăm các cụ, các cô, các chú, các cháu miền Nam…

    Thấy Bác nói vui như vậy, chị cán bộ miền Nam thấy vững lòng. Chị thầm tin rằng, rồi đây đánh Mỹ xong, thế nào Bác cũng sẽ vô thăm đồng bào miền Nam, để đồng bào miền Nam thoả lòng mong ước.

    Trước ngày mồng 2-9-1969, Nha khí tượng phát đi một thông báo khô khan như thường lệ: “Cơn bão số 3…”

    Tối hôm mồng một, không thấy Bác dự lễ mừng Quốc khánh, người dân thủ đô cảm thấy lo lắng. Chưa có thông báo chính thức thế nào về sức khỏe của Bác, nhưng nhân dân cũng biết Bác mệt nhiều.

    Không biết tin ở đâu phát ra mà ở thủ đô từng nhóm người tụ tập đều truyền cho nhau nghe tin Bác mệt, và kể lại cho nhau nghe câu chuyện sau đây:

    “Trên giường bệnh, Bác hỏi:

    – Trong Nam mấy hôm nay đánh thế nào?

    – Thưa Bác, anh em trong ấy đang đánh tốt lắm.

    – Quốc khánh năm nay có đốt pháo hoa cho đồng bào vui không?”…

     

    10.  MÓN QUÀ CỦA MAĐƠLEN RIPHÔ

    Chị Mađơlen Riphô – nhà báo Pháp đã từng sang Việt Nam nhiều lần và cũng nhiều lần may mắn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể một chuyện nhỏ về Bác Hồ như sau:

    Trước đây, có lần Bác Hồ nói với tôi rằng: “Con gái ạ, nếu con muốn làm Bác vui lòng thì hôm nào đấy hãy gửi cho Bác những đĩa hát mà ngày xưa Môrixơ Sơvaliê thường hát hồi Bác ở Pari, lúc con còn chưa ra đời ấy”.

    Tôi đã tìm kiếm được những đĩa hát ấy, khi người ta cho phát hành lại tất cả những gì Sơvaliê biểu diễn trước đây, nhân dịp ông 80 tuổi.

    Tôi lưỡng lự khi gửi món quà khác thường này… Giả sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quên rồi thì sao? Liệu Người có cho vật gửi đi này là thất lễ không?

    Tôi hỏi ý kiến một trong những đại biểu của nước Việt Nam đi dự hội nghị Pari, người ấy trả lời: “Chị cũng biết rồi đấy, Bác không bao giờ quên một điều gì cả đâu. Hãy cứ gửi cho Người những bài hát này đi. Chúng sẽ làm cho Bác nhớ lại thời thanh niên của mình và nhớ tới những người dân lao động Pari mà Bác vô cùng quý mến”.

    Thế là tuần vừa rồi, hai ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tôi nhận được một bức thư viết từ ba tuần trước của Têô Rôngcô, phóng viên báo chúng tôi tại Hà Nội. Bức thư có đoạn: “Bác Hồ đã nhận được số đĩa hát. Người nghe các đĩa ấy một cách thích thú. Người rất hài lòng”.

    Có lẽ khó mà diễn tả được nỗi xúc động của Mađơlen Riphô khi biết Bác Hồ đã vui lòng đến thế nào khi nhận được món quà nhỏ của chị gửi từ nước Pháp xa xôi.

     

    Anh Nguyễn ST theo www.lamdong.gov.vn

  • Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Hà Nội phải là ngọn cờ đầu trong Năm An toàn giao thông-2012

    Để hưởng ứng năm an toàn giao thông 2012, UBND thành phố Hà Nội đã tổ chức Lễ ra quân triển khai Kế hoạch Năm an toàn giao thông 2012.  Đến dự có các đồng chí: Phó Thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông (ATGT) quốc gia Nguyễn Xuân Phúc; Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban ATGT quốc gia Đinh La Thăng; đại diện Bộ Công an, các ban, ngành Trung ương. Về phía Hà Nội có Chủ tịch UBND Thành phố, Trưởng ban ATGT thành phố Nguyễn Thế Thảo; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, 29 quận, huyện, cùng đông đảo các lực lượng làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự an toàn giao thông thành phố.

    Phát biểu chỉ đạo tại Lễ ra quân, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao tinh thần quyết tâm, chủ động, đặc biệt là Kế hoạch hành động Năm an toàn giao thông – 2012 của Thủ đô “đầy ý chí chiến đấu”. Phó Thủ tướng cho rằng, mặc dù có rất nhiều cố gắng, nhưng tình trạng tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông ngày càng diễn biến phức tạp và trở thành vấn nạn, bức xúc của toàn xã hội. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định lấy "Năm an toàn giao thông – 2012" là năm "thiết lập kỷ cương trật tự an toàn giao thông trong phạm vi cả nước và chống ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn".

    Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các cấp, các ngành phải tăng cường giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về an toàn giao thông, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường và gia đình; đồng thời phải tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về an toan giao thông. “Trước hết, lực lượng công an cần làm tốt nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông; phải đi đầu, dành nhiều thời gian cho nhiệm vụ này”, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh. Bên cạnh đó, Hà Nội cần phải dành lòng đường, vỉa hè cho giao thông; giải tỏa, xử lý các hành vi vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy; phải quản lý tốt hơn các phương tiện giao thông để đảm bảo an toàn giao thông… Phó Thủ tướng mong muốn và tin tưởng “Thủ đô là cá cờ đầu thực hiện Năm an toàn giao thông – năm thiết lập kỷ cương trật tự an toàn giao thông trong phạm vi cả nước và chống ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn”.

    Hưởng ứng Năm an toàn giao thông – 2012, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, thành phố đặt mục tiêu trong năm ATGT sẽ giảm tối thiểu 10% số vụ tai nạn giao thông, số người chết và bị thương do tai nạn giao thông; giảm tối thiểu 20% số vụ ùn tắc giao thông; xử lý kiên quyết, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng đua xe trái phép; không để lấn chiếm hè phố, lòng đường…; tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm sử dụng vỉa hè, lòng đường để kinh doanh buôn bán…

    Với tinh thần và hành động khẩn trương, quyết liệt, dứt điểm để thực hiện hiệu quả Năm An toàn giao thông, Chủ tịch UBND Nguyễn Thế Thảo yêu cầu các cấp, các ngành từ thành phố đến cơ sở phải xác định công tác bảo đảm an toàn và chống ùn tắc giao thông là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2012 để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt. Sở Giao thông Vận tải phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực giao thông; phối hợp với Công an Thành phố tăng cường lực lượng tại các điểm thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông, các khu vực thường xảy ra vi phạm giao thông để hướng dẫn, tuyên truyền và xử lý các hành vi vi phạm. MTTQ và các đoàn thể phải triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân giữ gìn trật tự an toàn giao thông”, xây dựng “nếp sống văn hóa giao thông. Đặc biệt, Đoàn TNCSHCM cần phát huy vai trò xung kích, đi đầu, tham gia giữ gìn trật tự an toan giao thông; tuyên truyền, vận động, hướng dẫn đoàn viên, thanh niên chấp hành quy định về an toàn giao thông. Trước mắt, Công an Thành phố mở ngay đợt cao điểm tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm an toàn giao thông từ nay đến sau Tết Nguyên đán Nhâm Thìn.

    Nhân dịp này, Trưởng ban ATGT Thành phố Hà Nội kêu gọi mọi công dân Thủ đô phát huy nét đẹp “Người Hà Nội thanh lịch, văn minh”, gương mẫu đi đầu thực hiện thông điệp của Thủ tướng Chính phủ: “Giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông là trách nhiệm của mỗi người trong chúng ta. Chúng ta cùng nhau có trách nhiệm với chính mình, với gia đình, với người thân, bạn bè và với toàn xã hội. Hành động mà mỗi người trong chúng ta có thể làm ngay đó là chấp hành nghiêm pháp luật về đảm bảo trật tự và an toàn giao thông”./.

     

     Theo cpv.prg.vn