Danh mục: Tin tức chung

  • Bản tin truyền hình trường Đại học Thủy Lợi tháng 4 năm 2014

    Bản tin truyền hình trường Đại học Thủy Lợi tháng 4 năm 2014

    Kính mời quý ví, các thầy cô và các bạn sinh viên theo dõi bản tin truyền hình trường Đại học Thủy Lợi số tháng 4 năm 2014
     
     
     
     
    Biên tập: Bình Dương 
  • Giờ trái đất 2014

    Giờ trái đất 2014

     
     
     Giờ Trái đất năm nay được diễn ra từ 20 giờ 30 phút đến 21 giờ 30 phút ngày 29-3 với thông điệp “Hãy hành động để trái đất thêm xanh”. Mục đích của sự kiện này nhằm đề cao việc tiết kiệm điện năng, làm giảm lượng khí thải cacbon dioxit (một loại khí gây ra hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu), giảm ô nhiễm ánh sáng và đánh động sự ý thức bảo vệ môi trường.
    Lần thứ 6 tổ chức tại Việt Nam, Giờ Trái đất năm nay dự kiến tiết kiệm tối thiểu 400.000 kWh, tương dương 603 triệu đồng.
    Bộ Công Thương vừa công bố chiến dịch Giờ Trái đất 2014, với nghi thức tắt đèn diễn ra từ 20h30 đến 21h30 ngày 29/3 tại Quảng trường cách mạng tháng Tám. Ông Dương Quang Thành, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực VN (EVN) cho hay, dự kiến năm nay, Giờ Trái đất sẽ tiết kiệm được khoảng hơn 400.000 KWh điện, tương đương 603 triệu đồng.
    tat-den-2060-1394085369.jpg
    Giờ trái đất diễn ra vào 29/3/2014. Ảnh: H.H
    Ông Thành hy vọng Giờ Trái đất là tiền đề để vận động người dân tham gia tiết kiệm điện, khi tình hình cung ứng cho miền Nam có thể gặp khó khăn trong thời gian tới. Năm 2014, sản lượng tiết kiệm điện dự kiến tại miền Bắc và Trung dự kiến đạt tối thiểu đạt 1,5% sản lượng thương phẩm (925 triệu kWh), trong khi miền Nam là 2% (1.262 triệu KWh). Tính chung cả năm nay, EVN có thể tiết kiệm khoảng 2 tỷ kWh.
    Trả lời về hiệu quả thực sự của Giờ Trái đất khi thực tế nhiều khách sạn, nhà hàng lớn vẫn không tham gia, ông Phạm Đức Tiến, Phó giám đốc Sở Công Thương Hà Nội cho hay, Giờ trái đất không phải là chương trình ép buộc mà phụ thuộc vào ý thức cộng động. Bởi vậy, năm nay thành phố sẽ tính tới phương án vận động cả khách sạn, nhà hàng tham gia.
    Theo ông Tiến, năm 2013, Giờ Trái đất đã diễn ra tại 29 quận huyện, trong một giờ, thành phố Hà Nội đã tiết kiệm được 219.000 kWh, tương dương với lượng điện thương phẩm một ngày cấp cho một huyện.
    Giờ Trái đất do Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) khởi xướng, là một sáng kiến toàn cầu nhằm nâng cao ý thức của người dân về biến đổi khí hậu. Khởi động từ năm 2007 tại thành phố Sydney (Australia), Chiến dịch Giờ Trái đất đã trở thành hành động có quy mô lớn nhất thế giới, quy tụ nhiều quốc gia và lãnh thổ trên khắp các châu lục cùng tham gia. Việt Nam tham gia Giờ Trái đất lần đầu tiên vào năm 2009.

     

     BT: Bình Dương
  • Ngày nước thế giới 2014: Nước và Năng lượng

    Ngày nước thế giới 2014: Nước và Năng lượng

     

     

     

    Logo Ngày nước thế giới

    Ngày Nước thế giới được tổ chức hàng năm nhằm kêu gọi sự quan tâm toàn cầu về vai trò quan trọng của nước và tuyên truyền, vận động về quản lý bền vững tài nguyên nước.

    Là ngày quốc tế tôn vinh tài nguyên nước, đặc biệt là tài nguyên nước ngọt. Ngày Nước thế giới đầu tiên được khởi xướng tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) năm 1992 tại Rio, Brazil. Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã lấy ngày 22 tháng 3 năm 1993 là ngày Nước thế giới đầu tiên. Và từ đó, Ngày nước thế giới được kỷ niệm hàng năm trên toàn cầu. Mỗi năm, một vấn đề cụ thể về nước sẽ được nhấn mạnh

     

    Ngày Nước thế giới 2014 nhấn mạnh mối quan hệ Nước – Năng lượng và được Trường Đại học Liên hiệp quốc (UNU) và Tổ chức phát triển công nghiệp liên hiệp quốc (UNIDO) – đại diện cho UN-Water điều phối. Chương trình chào mừng Ngày nước thế giới 2014 được bắt đầu bằng Lễ giới thiệu Báo cáo phát triển nước của các quốc gia  trên thế giới phiên bản năm 2014 với tựa đề “Nước và Năng lượng”. Báo cáo này phân tích chi tiết mối liên hệ giữa nước và năng lượng trong bối cảnh phát triển bền vững. Báo cáo phát triển nước toàn cầu năm 2014 là kết quả của các nỗ lực chung của các cơ quan Liên hiệp quốc  và các cơ quan cấu thành UN-Water, hợp tác với các Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và các bên liên quan khác. Ngày Nước thế giới 2014 cũng kết nối với chủ đề chính của Tuần lễ nước toàn cầu tại Stockholm. Sự kiện chủ chốt của Ngày Nước thế giới sẽ được tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản và cùng với hàng loạt các sự kiện cấp quốc tế và quốc gia khác trên toàn cầu.
    Bàn về vấn đề nước và năng lượng với sự phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo,bất kể giai đoạn phát triển nào, mọi vị trí, nguồn lực tài nguyên và cả xã hội đều phải đối mặt với vấn đề về tiếp cận an toàn nguồn nước và năng lượng.

    Với những khu vực nghèo nhất, nơi vẫn đang thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, tiếp cận nguồn nước an toàn và năng lượng là nền tảng cho việc xóa đói giảm nghèo và phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo và lạc hậu. Trong nền kinh tế phát triển, nước và năng lượng tạo ra dồi dào hơn và dễ dàng tiếp cận hơn là một phần của tiến bộ kinh tế nhưng đi kèm với đó là những thách thức về các nguồn cấp nước và năng lượng có giới hạn trong khi nhu cầu lại ngày một tăng cao, ngoài ra còn có thách thức trong quản lý an ninh lương thực.

     

    Do áp lực từ những vấn đề này và khan hiếm nước ngày một gia tăng, nên các quốc gia đã nhận thấy cần thiết phải chuyển dịch theo hướng tập trung quản lý các nguồn tài nguyên sẵn có để bảo tồn nguồn nước cho các hệ sinh thái và các lợi ích mà chúng cung cấp cho con người, cho nền kinh tế và cho việc bảo vệ môi trường.

    Nước và năng lượng đều rất cần thiết cho cuộc sống, những người chưa tiếp cận điều kiện cơ sở vật chất tối thiểu thì hàng ngày họ vẫn phải vượt qua nhiều khó khăn như các gánh nặng tử vong hoặc sức khỏe kém, các hoạt động tiêu tốn thời gian cho lấy gỗ hoặc nước phục vụ cho các nhu cầu rất cơ bản của mình, nền giáo dục thấp, bất bình đẳng giới và các hậu quả khác do tái nghèo, cản trở kinh tế và tiến bộ xã hội. Cả nước và năng lượng đều có tiềm năng xóa bỏ nghèo đói do giảm nghèo, cải thiện sức khỏe, tăng năng suất lao động cũng như giảm bất bình đẳng giới, các điều kiện cho trẻ em và các mục tiêu phát triển xã hội khác.

     

     

    Hài hòa giữa các mục tiêu phát triển nước và năng lượng cũng là một vấn đề quan trọng kể từ giai đoạn đầu của phát triển kinh tế. Điều này hoàn toàn đúng không những trong giai đoạn kinh tế chưa phát triển, khi mà than đá và gỗ là năng lượng phục vụ chủ yếu cho nhu cầu đun nấu mà còn trong giai đoạn kinh tế đã phát triển khi mà năng lượng và nước là đầu vào thiết yếu trong sản xuất thực phẩm và rất nhiều hàng hóa cũng như dịch vụ.

    ·       – Từ năm 1990 đến năm 2010, có hơn 2 tỷ người được tiếp cận với nguồn nước uống đảm bảo.
    ·      – Tỷ lệ người được sử dụng nước sạch tăng từ 76% năm 1990 lên 89% năm 2010.
    ·      – Hơn 40% trong tổng số người không được sử dụng nước sạch sống cận Sahara, châu Phi.
    ·      – Năm 2011, 768 triệu người vẫn chưa được tiếp cận với nguồn nước uống đảm bảo.
    ·      – Tỷ lệ số dân tại khu ổ chuột trong các đô thị đã giảm từ 39% năm 2000 xuống 33% năm 2012. Hơn 200 triệu người được tiếp cận với nguồn đảm bảo, điều kiện vệ sinh được cải thiện, nhà ở kiên cố hoặc rộng rãi hơn.

    Nguồn tin: UN Water 2014

    Tác giả bài viết: dwrm dịch

  • Bản tin video tháng 3 năm 2014

    Bản tin video tháng 3 năm 2014

    Chào mừng tháng thanh niên năm 2014, Chào mừng ngày quốc tế phụ nữ 8/3. Bản tin tổng hợp video trường Đại học Thủy Lợi ra mắt số tháng 3 năm 2014. Bản tin tổng hợp các sự kiện nổi bật đã diễn ra trong tháng 2, chương trình cũng có những thông tin của tháng thanh niên 2014 của tuổi trẻ trường Đại học Thủy Lợi.
     
    Nội dung bản tin 
     
    BT: Bình Dương
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành y tế (kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam)

    Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành y tế (kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam)

    Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mối quan tâm rất lớn đến việc "xây dựng nền y học Việt Nam", Người xem những lời giáo huấn của các bậc tiền bối về y đức là bài học quý để căn dặn các thế hệ thầy thuốc đời sau học tập và noi theo, vì vậy trong cuộc đời hoạt động cách mạng và cả hệ thống tư tưởng cách mạng của mình, việc xây dựng nền y học Việt Nam vững mạnh, trong đó việc xây dựng người thầy thuốc Việt Nam mẫu mực được Người đặc biệt quan tâm.

    Nói đến công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu phương châm "Phòng bệnh là chính" lên hàng đầu. Trong 12 điều răn cán bộ, Người căn dặn "… Phải dạy đồng bào vệ sinh thường thức". Người nói: "Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là góp phần làm cho cả nước mạnh khoẻ", "…Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công". Người kêu gọi "luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước". Người đã phát động phong trào "đời sống mới" với nội dung chủ yếu là giữ gìn vệ sinh.

    thaythuocvn

    Ảnh: internet

    Từ khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc và trong những năm chống Mỹ cứu nước, mỗi khi đi thăm một xí nghiệp, một hợp tác xã, cơ quan, đơn vị bộ đội, trường học hay bệnh viện… trước hết Người xem nơi ăn, chốn ở, nhà bếp, nguồn nước, nhà tắm, hố xí và dặn dò mọi người ăn ở trật tự vệ sinh. Người nghiêm khắc phê bình cán bộ lãnh đạo ở một số đơn vị xem thường công tác vệ sinh và đời sống quần chúng.

    Đặc biệt, trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc ngày 27 tháng 2 năm 1955, Bác Hồ đã gửi thư căn dặn ba điều như sau:

    – "Trước hết là phải thật thà đoàn kết- Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích.

    Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ bộ trưởng, thứ trưởng, bác sỹ, dược sỹ cho đến các anh chị em giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân.

    – Thương yêu người bệnh- Người bệnh phó thác tính mạng nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khoẻ cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ vẻ vang.

    Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu" câu nói ấy rất đúng.

    – Xây dựng một nền y học của ta- Trong những năm nước ta bị nô lệ thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm. Nay chúng ta đã được độc lập tự do, cán bộ cần giúp đồng bào, giúp chính phủ xây dựng một nền y học thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Y học cần phải dựa trên nguyên tắc: khoa học dân tộc và đại chúng.

    – Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc "Đông" và thuốc "Tây".

    Năm 1964 trong hội nghị chính trị đặc biệt họp tại Hà Nội, khi thấy giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên, cố Viện trưởng Viện mắt, Bác liền hỏi "Chú Nguyên, chú chữa mắt, chú có biết vì sao về các làng xóm vẫn thấy các cháu còn toét mắt"?. Và trong lúc giáo sư đang tìm câu trả lời thì Bác đã nói: "Các cô, các chú chưa chú ý tuyên truyền phòng bệnh trong nhân dân. Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng các bệnh mắt sâu rộng hơn nữa"!

    Mùa xuân năm 1946, Bác còn nhắc nhở cán bộ y tế: "Đừng có ngại khó, ngại khổ. Phải lao mình vào chỗ bẩn để làm cho sạch; phải dấn thân vào chỗ đau khổ để làm giảm bớt đau khổ. Lương y phải như từ mẫu, phải dịu dàng, khiêm tốn, thương yêu đồng bào, không được hách dịch ban ơn…"

    Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành phương châm hành động của các thế hệ thầy thuốc nước ta. Trong nhiều thập niên qua, ngành y tế Việt Nam đã không ngừng phát triển và trưởng thành về mọi mặt, từ tổ chức mạng lưới đến chất lượng trong công tác phòng và chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

    Để ghi nhận sự cống hiến to lớn và bày tỏ sự biết ơn đội ngũ thầy thuốc, từ năm 1955, Bộ y tế đã lấy ngày 27/2 làm ngày truyền thống của ngành. Ngày 6/2/1985, Hội đồng Bộ trưởng đã đưa ra quyết định ngày 27/2 hằng năm là "Ngày thầy thuốc Việt Nam" nhằm nêu cao trách nhiệm và tài trí của người cán bộ y tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Sưu tầm 

    Ngọc Lâm

  • Bản tin Video số đặc biệt mừng năm mới Giáp Ngọ 2014

    Bản tin Video số đặc biệt mừng năm mới Giáp Ngọ 2014

    Một mùa xuân mới đã về trong một tiết xuân náo nức và rộn ràng, những chồi non đâm lá và đất trời như đổi thay, sáng bừng cả một không gian.

    Trong thời khắc giao thời này, mỗi người chúng ta lại cảm thấy ấm áp, cảm thấy tâm hồn mình thanh thản biết nhường nào, chúng ta dành cho nhau những lời chúc năm mới tràn ngập tiếng cười và niềm hân hoan, bản tin trường Đại học Thủy Lợi cũng rộn rã, chúng tôi muốn mang một chút xuân một chút nắng một niềm vui nho nhỏ dành đến cho các thầy cô giáo, cán bộ Công nhân viên trong trường cùng các em sinh viên. Thay cho lời chúc mừng, Ban biên tập bản tin xin được gửi tới quý vị, các thầy cô giáo, các em sinh viên một món quà đầu năm mới chứa đựng những tình cảm trân trọng mà chúng tôi muốn gửi tới quý vị.

    Bản tin số tháng 2 năm 2014 – số đặc biệt mừng xuân Giáp Ngọ 2014

     
     

     

    Bình Dương

  • Bản tin video tháng 1 năm 2014

    Bản tin video tháng 1 năm 2014

    Xin mời các quý vị, các thầy cô, các em sinh viên theo dõi bản tin video đầu tiên, bản tin tháng 1 năm 2014
     
    Mọi ý kiến đóng góp ý kiến xin gửi về 
    Bản tin Đại học Thủy Lợi 
    Phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên – Trường Đại học Thủy Lợi
    175 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội
  • PVEP trao 60 xuất học bổng cho sinh viên xuất sắc

    (ĐCSVN)- Ngày 19/12/2013, tại Hà Nội, Báo Nhi Đồng phối hợp với Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) tổ chức trao học bổng PVEP- Người đi tìm lửa năm 2013 cho 60 sinh viên xuất sắc khối kỹ thuật.
     

     Đại diện Ban Tổ chức trao học bổng cho những sinh viên xuất sắc

    Chương trình Học bổng PVEP- Người đi tìm lửa do Báo Nhi Đồng phối hợp với Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) tổ chức bắt đầu từ năm 2011, trao cho sinh viên xuất sắc tại các trường đại học: Mỏ địa chất; Khoa học Tự nhiên Hà Nội; Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh; Bách khoa Hà Nội; Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh; Bách khoa Đà Nẵng; Giao thông vận tải, Hàng Hải; Thủy lợi và Xây dựng. Ngoài trao học bổng, chương trình còn có các hoạt động hướng nghiệp, giới thiệu cơ hội việc làm, thi tìm hiểu về ngành nhằm hỗ trợ sinh viên có thêm những hiểu biết, những kiến thức và góp phần định hướng nghề nghiệp cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

    Năm 2013, Chương trình Học bổng PVEP- Người đi tìm lửa đã trao 60 xuất học bổng, trị giá hàng trăm triệu đồng cho sinh viên xuất sắc các trường trên.

    Là năm thứ 3 tổ chức, Chương trình mong muốn góp phần tạo điều kiện đào tạo, phát triển những lớp người năng động, những cán bộ kỹ sư tài năng, những người đi tìm lửa trong thời gian tới, tiếp bước cha anh trong việc đảm bảo an ninh năng lượng đất nước, góp phần vào sự nghiệp phát triển giáo dục, kinh tế của đất nước trong tương lai.

    Trong lần thứ 3 của chương trình học bổng “PVEP- người đi tìm lửa” trường Đại học Thủy Lợi có 10 suất học bổng. Điều này chứng tỏ sự mở rộng cơ hội việc làm của các kĩ sư Thủy Lợi trong tương lai. 
    Danh sách các sinh viên Đại học Thủy Lợi được nhận học bổng
     

    STT

    Họ và Tên

    Lớp

    1

    Nguyễn Văn Thế

    52C-TL2

    2

    Nguyễn Thị Vân

    52C-TL2

    3

    Tống Hoàng Hiệp

    53C-TL1

    4

    Vũ Hồng Diệu

    53C-TL1

    5

    Vũ Ngọc Tám

    52C-TL3

    6

    Đỗ Thị Thùy Dung

    52C-TL2

    7

    Trần Thị Nhiều

    52C-TL1

    8

    Trần Đức Mạnh

    53C-TL2

    9

    Vũ Thị Thảo

    54C1

           10

    Nguyễn Trọng Khang

    54C1

     
    Tin, ảnh: K.T
    Theo dangcongsan.vn                            
  • Quân đội nhân dân Việt Nam – Quá trình hình thành và phát triển

    Quân đội nhân dân Việt Nam – Quá trình hình thành và phát triển

    Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

     

    Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập ngày 22/12/1944.

    Khi mới thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chỉ có 34 cán bộ, chiến sĩ nhưng đã sớm phát huy được truyền thống chống ngoại xâm và nghệ thuật quân sự lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn của dân tộc. Ngay từ lần đầu ra quân, đội quân chính quy đầu tiên của Việt Nam đã lập nên những chiến công vang dội, giải phóng những khu vực rộng lớn làm căn cứ cho các hoạt động đấu tranh giành độc lập, mở đầu truyền thống quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này. Ngày 15 tháng 5 năm 1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân và đổi tên thành Giải phóng quân, trở thành lực lượng quân sự chủ yếu của Mặt trận Việt Minh khi tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

     

    Lá cờ Quyết chiến Quyết thắng tung bay trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954.

    Thời gian từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ phát triển vượt bậc cả về số lượng và khả năng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chỉ một thời gian ngắn, từ khi đất nước giành được độc lập đến tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân đã phát triển từ một đội quân nhỏ trở thành Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành 40 chi đội. Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Cũng thời gian này, các đại đoàn (đơn vị tương đương sư đoàn) chủ lực quan trọng như các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 lần lượt được thành lập, đến nay vẫn là những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một đội quân chỉ vài trăm người khi tham gia Tổng khởi nghĩa, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành quân đội với các sư đoàn chủ lực mạnh, lập nên những chiến công lẫy lừng mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 07 tháng 05 năm 1954, đập tan mưu toan thiết lập lại chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

    Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Nhân dân Việt Nam đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa xây dựng chính quy, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15 tháng 02 năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam, lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng tăng viện từ miền Bắc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, lập nên những kỳ tích mà tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước.

     

    Xe tăng Quân Giải phóng miền Nam tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Sau chiến thắng lịch sử năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng với nhân dân cả nước tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

    Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam vừa mới kết thúc thì chế độ diệt chủng do Pônpốt cầm đầu ở Cămpuchia đã kích động hận thù dân tộc, tiến hành chiến tranh xâm lấn ở biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Chúng gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ với nhân dân Việt Nam sống dọc biên giới, đồng thời thực hiện chính sách diệt chủng đối với nhân dân Cămpuchia. Đứng trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, ngày 23 tháng 12 năm 1978 Quân đội nhân dân Việt Nam đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công của quân đội Pônpốt. Sau đó, đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của nhân dân và Mặt trận dân tộc cứu nước Cămpuchia, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với các lực lượng vũ trang Cămpuchia, đánh tan 21 sư đoàn quân Pônpốt, xoá bỏ chế độ diệt chủng tàn bạo.

    Quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia xây dựng cuộc sống mới (ảnh: Tư liệu)

    Bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh biên chế, tổ chức, cắt giảm gần hai phần ba quân số. Các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn kế tiếp nhau phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ”, luôn làm đúng chức năng của một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân sản xuất, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

    Thực hiện chức năng là một đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, các đơn vị quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận. Nhiều đơn vị quân đội đã đi đầu trong phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa; tham gia công tác cứu hộ và giảm nhẹ thiên tai, phòng chống lụt, bão. Quân đội cũng tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho các tầng lớp nhân dân, phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo cho 100.000 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

    Quân đội tham gia mở đường Hồ Chí Minh góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệ hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Là một đội quân sản xuất, các đơn vị trong toàn quân đã tận dụng mọi tiềm năng lao động, đất đai, kỹ thuật… để đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn sản phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp của quân đội đã sản xuất được các loại vũ khí, khí tài phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đại, đáp ứng các yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh của đất nước. Các doanh nghiệp quân đội đã tham gia nhiều dự án công trình trọng điểm của quốc gia như đường Hồ Chí Minh, đường dây 500 KV Bắc – Nam, dịch vụ dầu khí và nhiều công trình thuỷ điện lớn như Sông Đà, Drây H’ling. Hiện có 98 doanh nghiệp quân đội đang tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế như dịch vụ bay, dịch vụ cảng biển, viễn thông, công nghiệp đóng tàu… Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp này ngày một tăng.

    Thực hiện chức năng cơ bản là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài hiện đại cần thiết, thực hiện huấn luyện thường xuyên, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

    Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người. Bộ đội chủ lực là thành phần nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm lực lượng cơ động của các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực của quân khu và bộ đội chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu còn có hệ thống hoàn chỉnh các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, viện nghiên cứu, các trường đào tạo sĩ quan và trường nghiệp vụ các cấp.

    Cổng TTĐT BQP

  • Kế hoạch tiến hành công tác bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2013

    BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Số:  1213/KH-ĐHTL

    Hà Nội, ngày 25 tháng 11  năm 2013

    KẾ HOẠCH

    TIẾN HÀNH CÔNG TÁC BỔ NHIỆM CHỨC DANH GIÁO SƯ, PHÓ GIÁO SƯ

    CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI NĂM 2013

    Căn cứ Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư (ban hành theo Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg ngày 31/12/2008 của của Thủ tướng Chính phủ); Thông tư số 16/2009/TT-BGDĐT ngày 17/7/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết việc xét công nhận, hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn, bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư ; Thông tư số 30/2012/TT-BGDĐT ngày 11/9/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sử đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 16/2009/TT-BGDĐT ngày 17/7/2009 và Quyết định số 20/2012/QĐ-TTg ngày 27/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư, Trường Đại học Thủy lợi tiến hành công tác bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư của Trường năm 2013 theo kế hoạch như sau:

    TT

    Nội dung công việc

    Thời gian

    Đơn vị thực hiện

    1

    Xác định nhu cầu bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2013

    25/11 ÷ 30/11/2013

    Phòng Tổ chức cán bộ, các Khoa, Viện, TT; HĐKH và ĐT của Trường; Hiệu trưởng

    2

    Thông báo và nhận hồ sơ của các ứng viên

    02/12 ÷ 13/12/2013

    Phòng Tổ chức cán bộ

    3

    Xét duyệt bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư

    16/12 ÷ 20/12/2013

    Phòng Tổ chức cán bộ; HĐKH và ĐT của Trường; Hiệu trưởng

    4

    Giao nhiệm vụ cho các giáo sư, phó giáo sư được bổ nhiệm

    Sau khi có QĐ bổ nhiệm chức danh

    BGH; Lãnh đạo các Khoa, Viện, TT

    Hồ sơ đăng ký bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư nộp tại Phòng Tổ chức cán bộ (Phòng 213, Nhà A1). Hồ sơ gồm:

    1. Bản đăng ký xét bổ nhiệm chức danh GS, PGS (theo mẫu số 1);

    2. Lý lịch khoa học (theo mẫu số 2);

    3. Bản sao công chứng Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS.

    Nhà trường mong muốn tiếp nhận hồ sơ của các ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư ở cả trong và ngoài Trường.  

    Trường yêu cầu các đơn vị liên quan thực hiện tốt kế hoạch trên.

    Nơi nhận:

    HIỆU TRƯỞNG

    – Bộ NN&PTNT, Bộ GD&ĐT (để b/c);

     

    – ĐU, BGH, HĐT;

    (Đã ký)

    – Thông báo cho các UV (trên Web);

     

    – Lưu VT, TCCB.

     

    GS. TS Nguyễn Quang Kim