Danh mục: Tin đào tạo

  • Nghiên cứu cải tiến hình thức kết cấu hệ dàn cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn cho công trình kiểm soát nước vùng triều.

    Nghiên cứu cải tiến hình thức kết cấu hệ dàn cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn cho công trình kiểm soát nước vùng triều.

    Đề tài: Nghiên cứu cải tiến hình thức kết cấu hệ dàn cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn cho công trình kiểm soát nước vùng triều do NCS Trần Xuân Hải thực hiện thuộc Ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy; Mã số: 9580202; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Hoàng Hưng;  

    GS.TS. Hà Văn Khối 

    ​

    Một trong những loại hình cửa van đáp ứng tốt các yêu cầu KSN vùng triều là cửa van kéo đứng nhịp lớn. Đối với loại cửa van này, khi làm việc giống như cửa van phẳng kéo đứng thông thường nhưng hình thức kết cấu rất đa dạng để đáp ứng yêu cầu nhịp lớn. Lúc này cửa van không chỉ làm việc như thiết bị cơ khí thủy công mà còn làm việc như một công trình kết cấu thép không gian nhịp lớn. Vì vậy khi tính toán thiết kế cần phải có sự kết hợp hài hòa giữa các yêu cầu về cơ khí và kết cấu hoặc độ bền và độ cứng. Những năm gần đây cửa van kéo đứng nhịp lớn đã được áp dụng khá phổ biến. Tuy nhiên hình thức kết cấu hệ dàn vẫn theo hình thức kết cấu truyền thống đã được sử dụng trong công trình sông Ems của Đức. Để khẳng định sự thành công cùa loại hình kết cấu này cần phải qua thực tiễn và chứng minh bằng cơ sở khoa học về các vấn đề có liên quan đến tính toán thiết kế kết cấu cửa van như lựa chọn hình thức kết cấu, tối ưu hóa kết cấu, độ bền, độ cứng và tuổi thọ của cửa van trong điều kiện cụ thể vùng triều với tính đặc thù địa phương khác so với các cửa van tương tự trên thế giới.

    Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu cải tiến hình thức kết cấu hệ dàn cửa van kéo đứng nhịp lớn cho vùng ven biển sẽ đóng góp vào hệ thống lý luận khoa học chuyên ngành cũng như cung cấp cho các nhà thiết kế những công cụ cần thiết để có thể tính toán cho các công trình có điều kiện tương tự.

    Mục tiêu nghiên cứu

    Nghiên cứu trạng thái ứng suất – biến dạng của kết cấu cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn trong điều kiện làm việc hai chiều.

    Nghiên cứu ảnh hưởng của thay đổi hình thức kết cấu thanh bụng xiên của dàn chính đến độ bền và độ cứng của cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn khi cửa van làm việc ở trạng thái đóng.

    Nghiên cứu ứng xử của kết cấu cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn khi chịu tác dụng của tải trọng động đất có xét đến tác dụng tương hỗ của khối nước trước và sau cửa van đang ở trạng thái đóng.

    Nghiên cứu tuổi thọ mỏi của cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn khi chịu tác dụng của dao động mực nước trước và sau cửa van.

    Đối tượng và phạm vi và nội dung nghiên cứu

    Kết cấu chịu lực dạng dàn vòm ống thép không gian của cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn trong công trình kiểm soát nước vùng triều đã, đang và sẽ được xây dựng tại Việt Nam.

    Ý nghĩa khoa học

    Làm rõ ảnh hưởng của hình thức dàn đến độ cứng của cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn khi làm việc hai chiều.

    Thay đổi hình thức kết cấu dàn chịu lực của cửa van phẳng kéo đứng nhịp lớn đáp ứng yêu cầu về độ cứng khi làm việc hai chiều.

    Chi tiết luận án TẠI ĐÂY

    Một số hình ảnh khác

    ​

    Bình Dương

    Link ảnh: Tại đây

  • NCS Bùi Đình Lập bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Trường

    NCS Bùi Đình Lập bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp Trường

    Đề tài: Nghiên cứu xây dựng thuật toán tối ưu bộ thông số cho mô hình thủy văn Marine thuộc Ngành: Thủy văn học Mã số: 9440224 do NCS Bùi Đình Lập thực hiện; Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Thị Hương Lan – GS.TS. Trần Hồng Thái.

    ​

    Biến đổi khí hậu, sự biến động của nguồn nước, các loại hình thiên tai cực đoan như hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, bão, lũ, ngập úng… đã và đang có nhiều tác động tiêu cực đến công tác quản lý tài nguyên nước và phòng, chống thiên tai. Do vậy cần có sự đánh giá, nhận diện đầy đủ và dự báo được các khả năng xảy ra để chủ động ứng phó trong mọi tình huống, đây là một vấn đề rất phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố đầu vào phụ thuộc lẫn nhau, trong đó vấn đề tính toán dòng chảy trên lưu vực luôn là một thách thức lớn đối với các nhà khoa học vì tính bất định của nhiều yếu tố.

    Mô hình toán thủy văn luôn là một trong những công cụ hữu hiệu trong việc mô phỏng và dự báo nguồn nước và là một trong những yếu tố then chốt giúp nâng cao chất lượng dự báo. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam đa phần các công cụ, mô hình hỗ trợ tính toán, dự báo trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế. Các mô hình thủy văn mô tả quá trình mưa, dòng chảy được nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn tại Việt Nam đến thời điểm hiện tại là không nhiều và không đa dạng, phổ biến sử dụng hiện nay là 2 mô hình thủy văn thông số tập trung (mô hình Tank và mô hình Nam).

    Gần đây, do các điều kiện về năng lực máy tính; chất lượng dữ liệu không gian (đặc biệt là dữ liệu vệ tinh, địa hình, thảm phủ); và chất lượng số liệu mưa mặt đất ngày một tốt hơn, các mô hình thủy văn thông số phân bố đang được phát triển và ứng dụng ngày càng nhiều trong thực tế, đặc biệt là ở các nước phát triển có chất lượng dữ liệu đầu vào tốt hơn.

    Mô hình thủy văn thông số phân bố ngày càng được ứng dụng nhiều trong các bài toán có liên quan đến lĩnh vực dự báo thủy văn và tài nguyên nước do có ưu điểm lớn là có thể mô phỏng và đánh giá biến động của tài nguyên nước theo không gian và thời gian. Tuy nhiên hầu hết các mô hình thủy văn thông số phân bố đang ứng dụng ở Việt Nam hiện nay, chưa có mô hình nào được phát triển và tích hợp tính năng điều khiển tối ưu thông số, đây là một hạn chế có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dự báo và khả năng mở rộng phạm vi ứng dụng của mô hình sang các lưu vực khác, do việc dò tìm thông số phải thực hiện thủ công sẽ tiêu tốn một lượng lớn thời gian, công sức, mang nặng tính chủ quan và hiểu biết của người hiệu chỉnh.

    Với mục tiêu có được một công cụ mô hình toán thủy văn hiện đại để giải các bài toán thực tiễn trong lĩnh vực thủy văn và tài nguyên nước. Trong khuôn khổ luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu xây dựng thuật toán tối ưu bộ thông số cho mô hình thủy văn Marine”, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu các ưu, nhược điểm, cấu trúc của các giải thuật tối ưu trong lĩnh vực toán tối ưu và cấu trúc của các mô hình toán thủy văn thông số phân bố đang được đánh giá cao trên thế giới nhằm đề xuất một giải thuật tối ưu toàn cục, đa mục tiêu mới dựa trên trên nền tảng tích hợp các ưu điểm vượt trội của các giải thuật đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu.

    Luận án đề xuất được một giải thuật tối ưu toàn cục, đa mục tiêu mới dựa trên trên nền tảng tích hợp các ưu điểm vượt trội của các giải thuật đang được các nhà khoa học trên thế giới đánh giá cao; Tích hợp được thuật toán tối ưu đề xuất vào mô hình thủy văn thông số phân bố Marine; Áp dụng thử nghiệm thuật toán đề xuất mới cho lưu vực sông Nậm Mu.

    Để đạt được mục tiêu của Luận án, trên cơ sở các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu thu thập được. Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau để thực hiện các nội dung nghiên cứu của Luận án: Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; Phương pháp kế thừa; Phương pháp chuyên gia;  Phương pháp phân tích hệ thống.; Kỹ thuật GIS và kỹ thuật lập trình được Luận án sử dụng để phân tích, xử lý dữ liệu không gian, thử nghiệm giải thuật tối ưu và hiện thực hóa các kết quả nghiên cứu đạt được của Luận án.

    Mô hình phát triển sử dụng các kỹ thuật hiện đại, tích hợp năng lực khai thác hiệu quả các nguồn số liệu hiện có trên mạng lưới quan trắc KTTV của Việt Nam và kỹ thuật hiệu chỉnh thông số đa mục tiêu nên có tính ứng dụng thực tiễn cao, giúp nâng cao chất lượng giải các bài toán trong lĩnh vực thủy văn và tài nguyên nước. Mô hình sau khi phát triển thử nghiệm có thể triển khai trong nghiệp vụ tại Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia; Mô hình phát triển được thiết kế phù hợp với điều kiện về số liệu và đặc điểm địa hình trên các lưu vực sông thuộc lãnh thổ Việt Nam nên có thể dễ dàng triển khai sang các lưu vực sông khác (ngoài lưu vực thử nghiệm của luận án).

    Một số hình ảnh khác

    ​

    Chi tiết luận án TẠI ĐÂY

    Bình Dương, Tiến Đức

  • NCS Tô Xuân Quỳnh bảo vệ luận án tiến sĩ

    NCS Tô Xuân Quỳnh bảo vệ luận án tiến sĩ

    Đề tài: Nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm một số chất hữu cơ độc hại trong nước, trầm tích sông Kim Ngưu và thử nghiệm xử lý PAHS bằng vật liệu trên nền TiO2 do NCS Tô Xuân Quỳnh thực hiện thuộc Ngành: Kỹ thuật môi trường Mã số: 9 52 03 20; Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Vũ Đức Toàn và GS.TS. Nguyễn Thị Huệ.

    Tại Việt Nam, đánh giá tồn lưu của các hóa chất độc hại trong môi trường rất cần được quan tâm, trong đó có các chất phụ gia trong nhiều loại sản phẩm nhựa (Phthalat este, PAE; Polybrom Diphenyl Este, PBDE); Polyclo Biphenyls (PCB) và các chất đa vòng thơm giáp caṇ h (PAH). Trong các nhóm chất đó có nhóm PCB và PBDE thuộc các nhóm chất hữu cơ khó phân hủy được quy định trong công ước Stockholm, các nhóm còn lại tuy chưa được quy định trong công ước những những ảnh hưởng của chúng tới môi trường và sinh vật đã được nghiên cứu qua rất nhiều các công bố. Các nhóm chất trên có khả năng tồn lưu lâu trong môi trường, có khả năng gây ảnh hưởng đến các hocmon và từ đó dẫn đến các rối loan nôị tiết trong cơ thể người, làm biến đổi gen, ảnh hưởng đến sinh sản và phát triển của con người, thậm chí dẫn đến các bệnh hiểm nghèo. Các chất hữu cơ này rất dễ xâm nhập vào môi trường (đất, nước, không khí) thông qua quá trình sống của con người (sinh hoạt, giao thông, sản xuất) và quá trình trao đổi chất. Chúng dễ dàng đi vào cơ thể người thông qua quá trình sinh hoạt, qua chuỗi thức ăn, qua tiếp xúc. Khi vào đến cơ thể con người chúng rất khó bị đào thải mà cứ tích lũy dần dần gây ảnh hưởng đến sức khỏe.

    Phạm vi luận án này đối tượng xử lý là những chất hữu cơ ô nhiễm độc hại, những chất này rất bền vững yêu cầu đặt ra là nước được đưa vào xử lý phải là nước đã được qua xử lý sơ bộ.

    Lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi, PGS.TS Nguyễn Hữu Huế – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng trường dự buổi bảo vệ

    Trong phạm vi luận án thì nhóm các chất ô nhiễm được lựa chọn bao gồm 4 nhóm chất: PCB, PBDE, PAE, PAH. Trong 4 nhóm chất này thì có 3 nhóm PCB, PDBE, PAH thuộc các nhóm POP và được quy đinh trong QCVN 08:2015/BTNMT QCVN 43:2012/BTNM.

    Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với mục tiêu hướng đến là đánh giá tồn lưu và xử lý các chất ô nhiễm bằng phương pháp quang xúc tác.

    ​

    Trong các biện pháp xử lý các chất ô nhiễm độc hại thì phương pháp ô xi hóa nâng cao cho hiệu quả tốt nhất, nhất là khi có sự tham gia của các chất xúc tác và ánh sáng. Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, hiệu quả xử lý của các chất quang xúc tác đối với các chất độc hại bền vững là khá cao. Tuy chưa có nghiên cứu nào để xử lý các nhóm chất trong luận án đề cập nhưng lựa chọn quang xúc tác để xử lý là một phương án khả quan vì chi phí không quá đắt đỏ và hoàn toàn có thể tái sử dụng.

    ​

    Thông tin luận án TẠI ĐÂY

    Bình Dương

  • Tăng cường hợp tác giữa Trường Đại học Thủy lợi và Đại học Keimyung Hàn Quốc

    Tăng cường hợp tác giữa Trường Đại học Thủy lợi và Đại học Keimyung Hàn Quốc

    ​

    Tiếp đoàn, về phía Trường Đại học Thủy lợi có GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng; Đại diện các Khoa, Trung tâm, các phòng chức năng trong trường; các sinh viên đang theo học chương trình định hướng làm việc tại Hàn Quốc.

    Trong không khí thân mật và ấm cúng đối với một đối tác lâu năm của Trường Đại học Thủy lợi, GS.TS Nguyễn Trung Việt đánh giá rất cao sự hợp tác có chiều sâu đối với Đại học Keimyung, Hàn Quốc. Giáo sư tin rằng trong thời gian tới mối quan hệ cũng như sự hợp tác giữa Đại học Keimyung và Trường Đại học Thủy lợi sẽ có phát triền mạnh mẽ hơn nữa trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

    Về phía Đại học Keimyung, Phó Hiệu trưởng Kang Moon Sig cũng lấy làm vinh hạnh khi được hợp tác với Trường Đại học Thủy lợi. Theo ông Kang, hai trường có nhiều điểm tương đồng ví như số lượng sinh viên tương đồng ( Đại học Keimyung hiện tại có 20 nghìn người học); đa ngành đào tạo trong đó có nhiều ngành có tiềm năng hợp tác rất lớn. Đặc biệt, ông Kang bày tỏ quan điểm, Đại học Keimyung sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất, dành sự quan tâm và chính sách hỗ trợ tối đa cho sinh viên Đại học Thủy lợi. Theo ông Kang Moon Sig, đây không phải là lời hứa mà đây là cam kết của chúng tôi.

    Lãnh đạo hai trường đã trao đổi, thảo luận về những nội dung hợp tác trong thời gian tới:

    1.       Tăng cường hợp tác giữa các khoa của hai trường. Trong thời gian tới sẽ đưa nhiều sinh viên ĐH Thủy lợi sang học tập tại Trường ĐH Keimyung Hàn Quốc.

    2.       Kết nối mở rộng hợp tác mở ngành Ngôn ngữ Hàn và thành lập Trung tâm đào tạo tiếng Hàn trong thời gian tới tại Trường Đại học Thủy lợi.

    3.       Mở rộng chương trình du học 2+2 tại Hàn Quốc các ngành thuộc Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Công trình

    4.       Hợp tác chương trình du học 2+2 đào tạo bằng tiếng Anh.

     Trong chuyến thăm, đoàn đã đến thăm phòng học của các sinh viên; tiếp xúc với các sinh viên đang theo học chương trình định hướng làm việc tại Hàn Quốc. Theo lãnh đạo Đại học Keimyung, Hàn Quốc đánh giá khả năng tiếng Hàn của các sinh viên Trường Đại học Thủy lợi là khá tốt, lưu loát và xử lý tình huống rất thông minh.

    ​

    Bình Dương

  • NCS Phạm Thị Diệp bảo vệ luận án tiến sĩ kỹ thuật.

    NCS Phạm Thị Diệp bảo vệ luận án tiến sĩ kỹ thuật.

    NCS Phạm Thị Diệp bảo vệ luận án tiến sĩ kỹ thuật.với đề tài “Nghiên cứu sử dụng các loại vật liệu tự nhiên để nâng cao khả nãng giữ nước và dinh dưỡng của đất cát biển’, Ngành: Kỹ thuật Tài nguyên Nước Mã số: 9580212 Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. Nguyễn Thị Hằng Nga; Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TS. Trần Viết Ổn.

    Đất cát biển phân bổ rộng rãi trên thế giới, đất cát biển Việt Nam với tổng diện tích khoảng 569.300 ha, chiếm gần 10% diện tích đất nông nghiệp vùng đồng bằng của cả nước. Các nhóm đất cát tập trung chủ yếu ở các tỉnh duyên hải miền Trung.

    Đất cát biển là nhóm đất có kết cấu rời rạc, thành phần hạt cát chiếm tỷ trọng lớn, với trên 90%, độ xốp chủ yếu là lỗ rỗng phi mao quản nên khả năng giữ nước và dinh dưỡng rất kém. Đất cát biển nghèo mùn, dung tích trao đổi cation CEC rất thấp (< 10 meq/100g đất), nên đất cát biển có hàm lượng chất dinh dưỡng rất thấp, ít thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, có nhiều hạn chế cho trồng trọt và sản xuất nông nghiệp đối với nhóm đất này. Tuy vậy, đất cát biển cũng có nhiều lợi thế trong phát triển sản xuất nông nghiệp như diện tích còn nhiều lại phân bố vùng ven các khu đô thị lớn khu vực miền Trung như Vinh, Đồng Hới, Hà Tĩnh, Quảng Trị vv… Đất chủ yếu phân bố ở địa hình bằng thoải, thoáng khí, thoát nước, dễ làm đất, dễ thu hoạch, nhất là với các cây có củ ở địa bàn đông dân cư, giàu truyền thống canh tác nông nghiệp.

    ​

    Để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên vùng đất cát biển, cần thiết phải cải tạo độ phì của đất (cải thiện khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng) để nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, sử dụng ngày càng hiệu quả nguồn tài nguyên đất cát biển.

    Chi tiết luận án xem TẠI ĐÂY

    Bình Dương

  • NCS Nguyễn Mai Chi bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường

    NCS Nguyễn Mai Chi bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường

    NCS Nguyễn Mai Chi  bảo vệ uận án tiến sĩ cấp Trường với Đề tài: Nghiên cứu giải pháp neo xoắn để gia cường ổn định cho cấu kiện bảo vệ mái kênh công trình thủy lợi, Ngành: Địa kỹ thuật xây dựng, Mã số: 9580211. Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Trịnh Minh Thụ; GS.TS. Nguyễn Chiến.

    Việc kiên cố hóa kênh mương trong đó có hạng mục bảo vệ mái kênh hiện nay thường dùng bê tông đổ tại chỗ, tấm bê tông lắp ghép, hoặc đá lát. Các cấu kiện này có trọng lượng lớn, khi xây dựng ở khu vực đất mềm yếu, sau một thời gian, mái kênh thường bị lún sụt, nứt nẻ bề mặt, nứt vỡ cấu kiện, bong tróc bê tông hoặc các cấu kiện lắp ghép tách nhau tạo khe hở lớn mất mỹ quan, cây cỏ mọc tại các khe hở gây cản trở dòng chảy. Đồng thời, việc thi công bảo vệ mái kênh bằng bê tông đổ tại chỗ, tấm bê tông lắp ghép hoặc đá lát thường tốn  nhiều thời gian, hoặc thi công bảo vệ mái kênh bằng tấm bê tông lắp ghép trong điều kiện vẫn phải đảm bảo tưới thì việc đảm bảo chất lượng của kết cấu bảo vệ mái kênh rất khó khăn. Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp neo xoắn để gia cường ổn định cho cấu kiện bảo vệ mái kênh công trình thủy lợi”, nghiên cứu giải pháp mới để bảo vệ mái kênh nhằm khắc phục một phần tồn tại kỹ thuật của các giải pháp đã nêu ở trên, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật, thi công nhanh và tiện lợi, mang lại hiệu quả lâu dài là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

    Luận án tìm ra giải pháp khoa học, kinh tế, hiện đại và phù hợp với điều kiện Việt Nam để tăng cường ổn định cấu kiện bảo vệ mái kênh công trình thủy lợi. Xây dựng cơ sở khoa học ứng dụng neo xoắn gia cố cấu kiện bảo vệ mái kênh, đánh giá khả năng chịu tải kéo nhổ của neo, xây dựng biểu thức tính toán. Sử dụng neo xoắn để neo giữ cấu kiện bảo vệ mái kênh theo hướng gia cường thêm ổn định hoặc thay thế bằng vật liệu mới, có độ bền cao, khối lượng nhẹ.

    Giải pháp neo xoắn gia cường ổn định cho cấu kiện bảo vệ mái kênh công trình thủy lợi áp dụng thích hợp khi kênh qua vùng đất dính yếu bão hòa nước, loại đất phổ biến ở cả ba vùng đồng bằng lớn ở nước ta. Việc bố trí thêm neo xoắn gia cường nhằm giảm trọng lượng cấu kiện bảo vệ mái kênh hoặc thay thế vật liệu bảo vệ mái kênh bằng những loại vật liệu mới, hiện đại, có độ bền cao, trọng lượng nhẹ, thi công nhanh như HDPE Geomemberane, compozit… đưa mái kênh có gia cố bảo vệ về gần với mái kênh đất tự nhiên nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và mỹ quan.

    Chi tiết luận án xem TẠI ĐÂY

    Bình Dương, Ảnh Bích Việt

  • Thông báo triển khai tổ chức giảng dạy, học tập trực tuyến học kỳ 1 năm học 2021-2022

    Thông báo triển khai tổ chức giảng dạy, học tập trực tuyến học kỳ 1 năm học 2021-2022

    Nhằm ứng phó với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Nhà trường thông báo về triển khai tổ chức giảng dạy, học tập trực tuyến học kỳ 1 năm học 2021-2022 tại Hà Nội, cụ thể xem tại ĐÂY.

    Danh sách tài khoản phần mềm Zoom xem chi tiết tại ĐÂY

  • NCS Mai Quang Khoát bảo vệ luận án “Nghiên cứu tương tác sóng – đảo Phú Quý và đề xuất giải pháp giảm sóng quanh đảo”

    NCS Mai Quang Khoát bảo vệ luận án “Nghiên cứu tương tác sóng – đảo Phú Quý và đề xuất giải pháp giảm sóng quanh đảo”

    NCS Mai Quang Khoát trong buổi bảo vệ luận án tiến sĩ

    Luận án thuộc Ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy, với Mã số: 9580202. Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Mai Văn Công; GS.TS. Phạm Ngọc Quý.

    Hội đồng chấm bảo vệ luận án tiến sĩ

    Huyện đảo Phú Quý là một quần đảo với 10 đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quý là hòn đảo lớn nhất có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế biển của tỉnh Bình Thuận cũng như công tác đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng biển khu vực phía Nam Trung Bộ. Trong những năm vừa qua, dưới tác động của trường sóng trong các đợt gió mùa và bão hiện tượng xói lở bờ bãi quanh đảo xảy ra thường xuyên và có xu thế gia tăng; việc xây dựng các công trình dân dụng và hệ thống đê phá sóng mở rộng cảng cá phía Nam cũng có những tác động và ảnh hưởng nhất định đến phân bố lại trường sóng, dòng ven bờ quá trình bồi, xói bãi biển quanh đảo.

    Các đại biểu đến tham dự buổi bảo vệ luận án tiến sĩ; trong đó có Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ông Nguyễn Hoàng Hiệp; lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi GS.TS Nguyễn Quang Kim, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Trường; GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng; PGS.TS Nguyễn Hữu Huế, Phó Hiệu trưởng.

    Trên thế giới, những vấn đề lý thuyết cơ bản về thủy động lực vùng ven bờ, quanh bờ đảo và cửa sông đã được nghiên cứu một cách khá toàn diện theo cách tiếp cận từng quá trình cũng như toàn hệ thống. Trong các công bố hiện có, bên cạnh các kết quả thực nghiệm, nhiều chỉ dẫn và mô hình tính toán đã được phổ biến và ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên, các nghiên cứu về trường sóng tương tác với vùng ven bờ các đảo ngoài khơi, biến động hình thái đường bờ đảo còn khá hạn chế. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu của đề tài luận án là cần thiết để bổ sung cơ sở khoa học trong việc quy hoạch, định hướng các giải pháp bảo vệ vùng bờ đảo, các giải pháp phòng chống xói lở mang tính bền vững; góp phần đảm bảo an toàn phòng chống thiên tai cho các hoạt động dân sinh trên đảo, duy trì các bãi biển phục vụ phát triển du lịch, là một trong các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hết sức quan trọng của địa phương.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng là Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sĩ của NCS Mai Quang Khoát.

    Luận án đã Nghiên cứu được trường sóng và tương tác giữa sóng với bờ của đảo Phú Quý; Đề xuất các giải pháp nhằm giảm sóng tác động trực tiếp vào đường bờ đảo nhằm tăng cường ổn định bờ, khôi phục bãi ven đảo phục vụ phòng chống thiên tai và phát triển bền vững kinh tế – xã hội cho khu vực.

    Ý nghĩa khoa học: Ứng dụng phương pháp giải đoán đường bờ bằng ảnh viễn thám để phân tích biến động đường bờ phục vụ cho việc nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ bờ đảo. Xác lập cơ sở khoa học và phương pháp tính toán mô phỏng trường sóng quanh đảo, làm cơ sở để lựa chọn các điều kiện biên khi tính toán giải pháp bảo vệ bờ đảo.

    Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở tính toán và phân tích đã chỉ ra được phạm vi có khả năng bị xâm thực mạnh nhất ở bờ đảo Phú Quý và đề xuất được giải pháp công trình hợp lý để giảm tác động của sóng nhằm ổn định bờ đảo và tôn tạo bãi biển quanh đảo phục vụ dân sinh, kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng đại diện cơ quan nơi NCS Mai Quang Khoát công tác (NCS hiện đang là Viện trưởng Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung trực thuộc Trường Đại học Thủy lợi) phát biểu và chúc mừng NCS.

    Tập thể Hội đồng chấm bảo vệ luận án tiến sĩ, giáo viên hướng dẫn, lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi cùng gia đình chúc mừng NCS Mai Quang Khoát

    Chi tiết luận án xem TẠI ĐÂY

    Bình Dương