Danh mục: Tin đào tạo

  • Hôm nay, thí sinh bắt đầu nộp hồ sơ đăng ký dự thi THPT quốc gia 2018

    Hôm nay, thí sinh bắt đầu nộp hồ sơ đăng ký dự thi THPT quốc gia 2018

    Theo đó, các đơn vị thu hồ sơ đăng ký dự thi sẽ thu 02 Phiếu ĐKDT, bản photocopy 2 mặt Chứng minh nhân dân trên 1 mặt giấy A4, 02 ảnh 4×6 cm (riêng thí sinh tự do phải nộp thêm 01 phong bì thư đã dán tem ghi rõ họ tên địa chỉ nhận của thí sinh). Phiếu ĐKDT số 1 lưu tại đơn vị ĐKDT, Phiếu ĐKDT số 2 giao lại cho thí sinh.

    (Ảnh minh họa từ Internet)

    Cán bộ thu nhận hồ sơ sẽ nhập dữ liệu của thí sinh vào phần mềm quản lý thi. Sau khi đã nhập xong dữ liệu, cán bộ máy tính in thông tin ĐKDT của thí sinh từ phần mềm QLT, giao cho giáo viên chủ nhiệm hoặc cán bộ được phân công để tổ chức cho học sinh rà soát, ký xác nhận. Thí sinh tự do có thể nộp hồ sơ xét công nhận tốt nghiệp THPT cùng hồ sơ ĐKDT.

    Sau khi nộp Phiếu ĐKDT, thí sinh sẽ được đơn vị ĐKDT cấp một tài khoản và mật khẩu để đăng nhập vào phần mềm QLT qua internet tại địa chỉ http://thisinh.thithptquocgia.edu.vn . Tài khoản này được thí sinh dùng để đăng nhập vào phần mềm QLT từ khi ĐKDT đến khi xem kết quả thi, xét công nhận tốt nghiệp THPT, xét tuyển sinh ĐH, CĐ, TC.

    Để bảo mật thông tin, khi nhận được tài khoản và mật khẩu thí sinh nên thay đổi ngay mật khẩu. Thí sinh cần phải bảo mật tài khoản và mật khẩu của mình.

    Trong trường hợp thí sinh quên tài khoản và mật khẩu thì có thể liên hệ với đơn vị ĐKDT để xin cấp lại.

    Sau ngày 20/4/2018, thí sinh không được thay đổi điểm thi và các thông tin về bài thi/môn thi đã đăng ký. Chậm nhất 25/4/2018 các đơn vị ĐKDT phải hoàn thành việc nhập Hồ sơ đăng ký dự thi cho thí sinh.

    Bộ GD&ĐT yêu cầu, chậm nhất đến ngày 25/5/2018, các đơn vị ĐKDT hoàn thành việc: thu Phiếu đăng ký xét công nhận tốt nghiệp THPT và hồ sơ xét công nhận tốt nghiệp THPT kèm theo; nhập dữ liệu của thí sinh vào phần mềm QLT.

    Đơn vị ĐKDT kiểm tra hồ sơ ĐKDT và các hồ sơ có liên quan đến kỳ thi, xem xét điều kiện dự thi của từng thí sinh, xác nhận tư cách thí sinh, quyết định không cho thí sinh dự thi nếu không đủ điều kiện và hồ sơ hợp lệ; đồng thời, thông báo trực tiếp cho thí sinh.

    Thí sinh lưu ý, thí sinh được đăng ký chọn dự thi cả 2 bài thi tổ hợp, điểm bài thi tổ hợp nào cao hơn sẽ được chọn để tính điểm xét công nhận tốt nghiệp THPT. Đặc biệt, thí sinh đã đăng ký dự thi cả 2 bài thi tổ hợp thì bắt buộc phải thi cả 2 bài thi này; nếu thí sinh bỏ 1 trong 2 bài thi sẽ bị coi là dự thi không đủ số bài thi và không được xét công nhận tốt nghiệp THPT.

    Thí sinh GDTX có thể chọn dự thi cả bài thi Ngoại ngữ, điểm bài thi này để xét tuyển sinh ĐH, CĐ, TC; không dùng để tính điểm xét công nhận tốt nghiệp THPT.

    Để xét tuyển sinh ĐH, CĐ, TC thí sinh đã tốt nghiệp THPT phải dự thi các bài thi độc lập, bài thi tổ hợp hoặc các môn thi thành phần của bài thi tổ hợp, phù hợp với tổ hợp bài thi, môn thi xét tuyển vào ngành, nhóm ngành theo quy định của trường ĐH, CĐ, TC.

    Theo Báo Dân trí

  • NCS Lê Thị Hải Yến bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường

    NCS Lê Thị Hải Yến bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường

    Sáng ngày 10/2, tại Room5/K1, Trường Đại học Thủy lợi tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Trường cho NCS Lê Thị Hải Yến với đề tài: "Nghiên cứu tính toán mưa, lũ thiết kế có xét đến biến đổi khí hậu khu vực Nam Trung Bộ".

    Chuyên ngành: Thủy văn học

    Mã số: 62 44 02 24

    Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Ngô Lê Long

                                                       PGS.TS. Trần Thanh Tùng

    NCS Lê Thị Hải Yến bảo vệ

    Tóm tắt những kết luận mới của Luận án:

    1. Xác định được các tác động của biến đổi khí hậu đến định lượng lượng mưa một ngày lớn nhất cho khu vực Nam Trung Bộ có xét đến sự khác biệt giữa các mô hình khí hậu.

    2. Xây dựng được bản đồ phân vùng nguy cơ gia tăng lưu lượng đỉnh lũ thiết kế cho khu vực Nam Trung Bộ, làm cơ sở cho việc tính toán lũ thiết kế có xét đến biến đổi khí hậu.

    Hội đồng đánh giá LATS của NCS

    Luận án bao gồm:

    1. Toàn văn luận án

    2. Thông tin đóng góp mới (Tiếng Anh, Tiếng Việt)

    3. Tóm tắt luận án (Tiếng Anh, Tiếng Việt)

    Chi tiết xem tai đây

    Bích Việt

  • NCS Phạm Thị Hương bảo vệ LATS cấp trường

    NCS Phạm Thị Hương bảo vệ LATS cấp trường

    Đập đất ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các con đập đã được xây dựng (khoảng 90% số hồ chứa thủy lợi là đập đất). Phần lớn các đập đất ở nước ta có tuổi thọ từ 30 đến 40 năm nên yêu cầu về thiết kế thấp (lũ nhỏ). Ngày nay, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố làm cho thời tiết cực đoan, mưa lớn, lũ lớn dẫn đến dễ gây ra nước tràn đỉnh đập. Hầu hết các đập nhỏ không đáp ứng được tiêu chuẩn lũ hiện nay, khả năng nước tràn qua đỉnh đập khi có lũ là rất lớn. Sự phát triển của xói trên bề mặt đập dưới tác dụng của dòng chảy là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến vỡ đập. Hiểu được cơ chế xói là chìa khóa để giải thích hiện tượng xói lở và có thể dự báo sự cố vỡ đập đất khi nước tràn đỉnh. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu cơ chế xói mặt của đập đất khi nước tràn đỉnh” là rất cần thiết góp phần đánh giá an toàn và cảnh báo khả năng vỡ của đập đất cũng như dự đoán khả năng tự vỡ của các đập tràn sự cố kiểu đập đất tự vỡ trong mùa mưa lũ.

     NCS Phạm Thị Hương bảo vệ LATS cấp trường

    Đề tài có ý nghĩa khoa học là lần đầu tiên ở Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu xói mẫu đất trên máng thủy lực kiểu Fujisawa. Từ đó đưa ra kết quả xác định tốc độ xói mái đập đất. Từ kết quả nghiên cứu giúp xác định quá trình vỡ đập để quản lý an toàn đập, cảnh báo ngập lụt hạ du và tính toán thiết kế tràn sự cố kiểu đập đất tự vỡ trên ngưỡng tràn.

    Thông tin luận án bao gồm: 

    1. Toàn văn luận án

    2. Tóm tắt luận án (tiếng Anh, tiếng Việt)

    3. Thông tin đóng góp mới (tiếng Anh, tiếng Việt)

    Hội đồng bảo vệ LATS

    Tóm tắt những kết luận mới của Luận án:

    1. Thiết lập công thức thực nghiệm tính tốc độ xói của ba loại đất đắp đập thuộc ba nhóm đặc trưng ở Việt Nam trên cơ sở công thức thực nghiệm của phòng thí nghiệm nghiên cứu nông nghiệp Hoa Kỳ (ARL).

    2. Mô phỏng quá trình xói mái đập chính và vỡ đập phụ Đầm Hà Động theo mô hình EMBANK và kết quả thí nghiệm xói của đất đắp đập.

    Chi tiết luận án tiến sĩ cấp Trường của NCS Phạm Thị Hương: tại đây

    Bích Việt

  • NCS Quyền Thị Dung bảo vệ LATS cấp trường

    NCS Quyền Thị Dung bảo vệ LATS cấp trường

    NCS Quyền Thị Dung bảo vệ LATS với đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới tiết kiệm nước đến hàm lượng dễ tiêu của các nguyên tố nitơ và phốt pho trong đất trồng lúa vùng đồng bằng sông Hồng".

    NCS Quyền Thị Dung bảo vệ LATS

    Chuyên ngành: Môi trường đất và nước

    Mã số: 62 44 03 03

    Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH. Nguyễn Xuân Hải

                                                       TS. Nguyễn Việt Anh

    TS. Nguyễn Việt Anh – Người hướng dẫn khoa học

    Luận án có ý nghĩa khoa học là làm rõ sự thay đổi hàm lượng Nitơ và Phốt pho dễ tiêu ở đất ngập nước trồng lúa có phản ứng trung tính dưới hai chế độ tưới (tưới ngập thường xuyên và tưới tiết kiệm nước). Ý nghĩa thực tiễn của luận án: khẳng định được tác động của biện pháp tưới đối với năng suất lúa cũng như khả năng cung cấp dinh dưỡng Nitơ và Phốt pho của đất cho lúa, trên cơ sở đó mở ra khả năng ứng dụng trong thực tiễn.

    Hội đồng phản biện LATS của NCS

    Những đóng góp mới của luận án, đó là:

    1) Đã đưa ra dẫn liệu chi tiết diễn biến của hàm lượng N, P dễ tiêu khi đất phù sa trung tính ít chua vùng đồng bằng sông Hồng được cho ngập nước trong điều kiện có và không có cây lúa.

    2) Đánh giá và luận giải khoa học được sự thay đổi hàm lượng của N, P dễ tiêu trong đất phù sa trung tính ít chua vùng đồng bằng sông Hồng do ảnh hưởng của chế độ tưới ngập khô xen kẽ/tưới tiết kiệm/ tưới nông lộ phơi so với kiểu tưới ngập thường xuyên của địa phương.

    3) Cung cấp cơ sở khoa học về việc tưới tiết kiệm trong đất phù sa trung tính ít chua vùng đồng bằng sông Hồng không ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây lúa trong cả vụ xuân và vụ mùa.

    Gia đình đến chúc mừng NCS bảo vệ

    Thông tin LATS bao gồm: 

    1. Toàn văn luận án

    2. Tóm tắt luận án (Tiếng Anh, Tiếng Việt)

    3.Thông tin đóng góp mới (Tiếng Anh, Tiếng Việt)

    Nội dung LATS: tại đây

    Bích Việt – Minh Nhật

  • Tổng cục trưởng Tổng cục phòng, chống thiên tai bảo vệ luận án tiến sĩ

    Tổng cục trưởng Tổng cục phòng, chống thiên tai bảo vệ luận án tiến sĩ

    Toàn cảnh buổi lễ bảo vệ luận án của NCS Trần Quang Hoài

    Vinh dự cho Tổng cục trưởng Tổng cục phòng, chống thiên tai NCS Trần Quang Hoài được đón tiếp Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Ông Lê Quốc Doanh và Ông Hoàng Văn Thắng; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Ông Nguyễn Trọng Thừa, Nguyên thứ trưởng Bộ NN&PTNT Ông Đào Xuân Học; Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi Ông Nguyễn Quang Kim, các cán bộ viên chức Tổng cục phòng, chống thiên tai, Ban giám hiệu Trường Đại học Thủy lợi, các nhà khoa học, đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã đến theo dõi buổi lễ bảo vệ.

    NCS Trần Quang Hoài – Tổng cục trưởng Cục phòng, chống thiên tai

    Tại đây, NCS Trần Quang Hoài đã trình bày đề  tài: "Nghiên cứu phương pháp xác định chỉ số an toàn và độ tin cậy yêu cầu cho hệ thống đê vùng đồng bằng sông Hồng theo lý thuyết độ tin cậy và phân tích rủi ro" thuộc chuyên ngành: Xây dựng công trình thủy; Mã số: 62 58 40 01.

    Lãnh đạo Bộ NN & PTNT đến dự và chia sẻ những kinh nghiệm khoa học

    Hệ thống đê vùng đồng bằng sông Hồng là công trình xây dựng của nhiều thế hệ người Việt, nó gắn bó với lịch sử tồn tại và phát triển của đất nước, với cuộc sống của cộng đồng dân cư trong khu vực. Do quá trình xây dựng và phát triển lâu dài, nền đê không được xử lý khi đắp, vật liệu đắp đê không đồng đều, trải qua thời gian đã xuất hiện nhiều ẩn họa trong thân và nền đê. Hàng năm sự cố về đê điều vẫn xẩy ra, gây thiệt hại vật chất và đe dọa tính mạng của người dân, ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Trong khi đó các phương pháp tính toán và đánh giá an toàn của hệ thống đê theo phương pháp truyền thống còn có hạn chế, chưa đánh giá được sát đúng mức độ an toàn của hệ thống đê, chưa hỗ trợ được một cách tin cậy cho việc ra quyết định về đầu tư cải tạo nâng cấp đê. Vì vậy đề tài nghiên cứu của luận án là có tính cấp thiết.

    Chủ tịch Hội đồng bảo vệ luận án nhận xét về luận án của NCS Trần Quang Hoài

    Mục đích nghiên cứu của luận án này là xây dựng được phương pháp đánh giá, xác định chỉ số an toàn và độ tin cậy yêu cầu của hệ thống đê vùng đồng bằng sông Hồng cho điều kiện hiện tại và tương lai khi xét đến BĐKH và phát triển kinh tế xã hội.

    Lãnh đạo và các nhà khoa học chúc mừng NCS Trần Quang Hoài

    Ý nghĩa khoa học của luận văn là phát triển ứng dụng của phương pháp phân tích rủi ro và lý thuyết độ tin cậy để xác định mức đảm bảo an toàn cho hệ thống đê hiện tại và ĐTCYC của đê được nâng cấp trong tương lai nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn quy mô đầu tư và giải pháp nâng cấp đê. Với ý nghĩa thực tiễn là xác định được chỉ số an toàn hiện tại và ĐTCYC đến năm 2050 cho hai hệ thống đê điển hình khu vực đồng bằng sông Hồng (đê Hữu Hồng bảo vệ khu vực trung tâm Hà Nội, đê biển bảo vệ khu vực Giao Thủy, Nam Định). Các kết quả tính toán và phân tích được kiến nghị để lựa chọn quy mô và giải pháp đầu tư nâng cấp đê.

    Câc đồng nghiệp chúc mừng NCS

    Sau 3 tiếng làm việc nghiêm túc, có chất lượng, với những luận cứ khoa học được trình bày tại buổi lễ. NCS Trần Quang Hoài đã thành công trong việc bảo vệ luận án khoa học của mình và được hội đồng đánh giá cao.

    Thứ trưởng Lê Quốc Doanh phát biểu tại buổi bảo vệ luận án

    Phát biểu tại buổi bảo vệ Thứ trưởng Lê Quốc Doanh nhấn mạnh, với việc bảo vệ thành công luận án trong ngày hôm nay, NCS Trần Quang Hoài sẽ là Tiến sĩ thứ 127 của Trường Đại học Thủy lợi. Thứ trưởng đánh giá cao công tác đào tạo của Trường Đại học Thủy lợi trong nhiều năm qua đã góp phần đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng. Những minh chứng rõ nét này sẽ là động lực để Nhà trường không ngừng đổi mới và phát triển trong thời gian tới.

    Bạn bè đến chúc mừng NCS Trần Quang Hoài

    Chi tiết luận án xem tại đây

    Thực hiện: Bình Dương

  • NCS Đặng Quốc Tuấn bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    NCS Đặng Quốc Tuấn bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    Hệ thống công trình phòng chống lũ bảo vệ cho ĐBSH gồm các hồ chứa thượng lưu và hệ thống đê điều hạ lưu với tổng chiều dài khoảng 3.000 km. Các hồ chứa thượng lưu đã được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh, hệ thống đề điều hạ lưu cũng nhận được sự quan tâm của Nhà nước nên được bố trí nhiều nguồn vốn khác nhau để củng cố, nâng cấp nhằm bảo đảm an toàn chống lũ thiết kế và phấn đầu chống được lũ cao hơn. Tuy nhiên, do hệ thống đê của ĐBSH có lịch sử hình thành lâu đời, thân đê được đắp tôn cao mở rộng qua nhiều thời kỳ khác nhau để trống lũ tràn, nền đê thường không được xử lý trước khi đắp nên mỗi khi có lũ lớn, những đoạn đê có nền xấu thường xuất hiện các sự cố, nhiều nơi lặp đi lặp lại. Mặt khác, biến đổi khí hậu (BĐKH) đang tạo ra nhiều hình thái thời tiết cực đoan với bão, lũ cường độ lớn, trái mùa liên tiếp xảy ra có thể gây nên các tác động bất lợi cho hệ thống công trình phòng lũ. Sự phát triển về kinh tế, xã hội và tầm quan trọng của vùng được bảo vệ ngày càng tăng do đó đòi hỏi phải nâng cao mức đảm bảo an toàn của hệ thống công trình phòng chống lũ. Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và làm căn cứ đề xuất các giải pháp tăng cường ổn định đê sông Hồng trong bối cảnh BĐKH là cần thiết và cấp bách.

                Chính vì vậy Luận án cần đánh giá được mức độ an toàn của hệ thống đê Hữu sông đoạn từ Sơn Tây về Phú Xuyên (Hà Nội) trong điều kiện BĐKH trong đó trọng tâm vào xác định điều kiện biên thủy lực, nghiên cứu quá trình xói ngầm dưới nền đê cùng một số giải pháp giảm thiểu ngập lụt theo lý thuyết độ tin cậy và phân tích rủi ro.

                Những lý do đó NCS Đặng Quốc Tuấn đã chọn Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là hệ thống đê hữu sông Hồng trên địa bàn thành phố Hà Nội với điều kiện địa chất và điều kiện biên thủy lực có xét đến tác động của BĐKH. Với phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung đánh giá an toàn hệ thống công trình phòng lũ qua các cơ chế mất ổn định dưới nền theo các kịch bản BĐKH và NBD cập nhật đến năm 2016.

    NCS Đặng Quốc Tuấn bảo vệ trước hội đồng

                Dựa trên mục tiêu đã nêu, các câu hỏi nghiên cứu sau được đặt ra: (i) Ảnh hưởng của BĐKH theo các kịch bản khí hậu tác động như thế nào đến chế độ thủy văn trên sông Hồng trong phạm vi nghiên cứu?; (ii) Cơ chế sự cố nào có nguy cơ gây mất ổn định hệ thống đê sông Hồng?; (iii) Đánh giá ảnh hưởng của quá trình xói ngầm dưới nền đê sông Hồng thông qua mô hình vật lý trong phòng và phân tích thống kê hiện trường?; (iv) Đánh giá an toàn hệ thống đê sông Hồng hiện tại trong điều kiện BĐKH và NBD bằng lý thuyết độ tin cậy và phân tích rủi ro?. Ý nghĩa khoa học: bằng nghiên cứu phân tích hệ thống và nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự cố đê sông Hồng.Ý nghĩa thực tiễn: xác định được xác suất sự cố của hệ thống đê Hữu Hồng làm cơ sở lựa chọn giải pháp phòng sự cố.

    Hội đồng bảo vệ luận án tiến sỹ cho NCS Đặng Quốc Tuấn

                Trên đây là những nội dung tóm tắt được NCS Đặng QuốcTuấn trình bày tại lễ bảo vệ luận án tiến sĩ diễn ra vào sáng ngày 28/1/2018 tại Trường Đại học Thủy lợi. Tại đây, NCS Đặng Quốc Tuấn đã bảo vệ luận án tên đề tài "Nghiên cứu đánh giá an toàn đê Hữu Hồng đoạn qua Hà Nội trong điều kiện biến đổi khí hậu" thuộc Chuyên ngành: Địa kỹ thuật xây dựng; Mã số: 62 58 02 11; Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Quang Tú; GS.TS. Trịnh Minh Thụ.

    Chi tiết luận án xem tại đây

    Thực hiện: Bình Dương

  • NCS Nguyễn Hồng Trường bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    NCS Nguyễn Hồng Trường bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    Trong tương lai nhu cầu phải giải quyết đa dạng các bài toán xử lý nền đất yếu luôn tăng lên do quỹ đất dành cho xây dựng ngày càng hạn hẹp.Với nền đất yếu của các vùng có chiều dày lớn, diện xử lý rộng, yêu cầu rút ngắn thời gian cố kết lún, phương pháp xử lý nền bằng thiết bị thoát nước thẳng đứng được xem là một phương pháp xử lý hiệu quả.

    NCS Nguyễn Hồng Trường bảo vệ trước hội đồng

    Về lý thuyết, dùng bấc thấm là nhằm tăng nhanh độ cố kết (ĐCK) của đất dưới tác dụng của tải trọng đắp, do đó tăng nhanh được cường độ chống cắt của nền khiến cho tốc độ đắp có thể tăng nhanh. Nhưng thực tế các sự cố công trình cho thấy mặc dù được xử lý bằng bấc thấm, nếu không khống chế tốc độ đắp hoặc không dự báo đúng tốc độ tăng cường độ chống cắt của đất yếu thì sự mất cân bằng giữa tải trọng đắp với cường độ chống cắt trong đất yếu vẫn sẽ xảy ra. Trong trường hợp đó có sử dụng bấc thấm (và cả lưới địa kỹ thuật trên nền đắp) thì cũng không có tác dụng và việc lạm dụng các biện pháp đó trở nên lãng phí vô ích.

    Qua các báo cáo sự cố công trình, nhận thấy các vấn đề tồn tại cần phải nghiên cứu để hoàn chỉnh phương pháp luận cho các bài toán thực tế về cố kết như sau:

    Thứ nhất, ĐCK của nền đất yếu cần phải có đánh giá chính xác để tránh các sự cố do gia tải trước không thích đáng, hay đắp tăng tải nhanh vượt quá tốc độ cố kết cần thiết, và đặc biệt phải có giải pháp bố trí thiết bị quan trắc sao cho vẫn đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật trong điều kiện hạn chế về số lượng thiết bị quan trắc.

    Thứ hai, trong quá trình thi công đắp đất cần đánh giá được đầy đủ các đặc trưng cơ học của đất. Biết được chính xác sự gia tăng các đặc trưng về cường độ, sức kháng cắt không thoát nước,…tại mọi thời điểm cố kết là yếu tố quan trọng để đưa ra những ứng xử phù hợp với thực tế về gia tải trước.

    Thứ ba, về phương pháp tính toán cố kết. Phương pháp số được sử dụng phổ biến, tuy nhiên mức độ chính xác của các phần mềm phụ thuộc nhiều vào người dùng, phải lựa chọn phù hợp các mô hình đất và xác định đúng đắn các đặc trưng tính toán của đất dùng cho mô hình.

    Hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ NCS Nguyễn Hồng Trường

    Mục đích nghiên cứu của NCS Nguyễn Hồng Trường với tên đề tài: Nghiên cứu đặc tính cơ học của đất yếu được xử lý bằng gia tải trước kết hợp thoát nước thẳng đứng. Chuyên ngành: Địa kỹ thuật xây dựng: Khuyến nghị về áp dụng phương pháp xác định ĐCK phù hợp cho các giai đoạn cố kết và đề nghị bố trí quan trắc hợp lý để nâng cao hiệu quả quan trắc; Lựa chọn các hàm dự báo các chỉ tiêu cơ học của đất (chỉ số nén Cc, chỉ số nở Cs) áp dụng phù hợp cho địa chất các vùng đồng bằng của Việt Nam trong trường hợp không có điều kiện thí nghiệm xác định trực tiếp. Làm rõ phạm vi áp dụng của công thức (V.6) trong 22TCN 262-2000 về dự tính sức chống cắt không thoát nước của đất (Su) được gia tải trước và đề nghị công thức dự tính Su có thể áp dụng tại thời điểm cố kết bất kỳ. Lựa chọn mô hình đất phù hợp cho bài toán cố kết nền sét yếu trong tính toán bằng phương pháp phần tử hữu hạn (phần mềm Plaxis).

    NCS Nguyễn Hồng Trường đã làm rõ ý nghĩa khoa học là tổng hợp được bộ dữ liệu tương đối đầy đủ phản ánh các đặc trưng cơ học của đất sét yếu vùng đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, qua đó đã lựa chọn được các hàm dự báo chỉ số nén Cc, chỉ số nở Cs có độ tin cậy cao; Đã làm rõ phạm vi áp dụng của công thức (V.6) trong 22TCN 262-2000 về dự tính sức chống cắt không thoát nước của nền đất được gia tải trước và phát triển công thức có thể áp dụng tại thời điểm cố kết bất kỳ; Kết hợp phương pháp số, phương pháp thực nghiệm, luận án đã lựa chọn được mô hình đất phù hợp cho bài toán cố kết nền sét yếu. Về ý nghĩa thực tiễn, NCS khẳng định kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho các công trình sư trong thi công xử lý nền đất yếu bằng biện pháp gia tải trước. Có cơ sở để tính toán, đánh giá chính xác về ĐCK và cường độ chống cắt không thoát nước của nền; Đề nghị điểm bố trí quan trắc có thể phản ánh được ĐCK trung bình của nền, tăng cao độ tin cậy của số liệu quan trắc và từ đó có thể đưa ra  các biện pháp ứng xử thích đáng; Nâng cao độ chính xác trong tính toán thiết kế khi lựa chọn được các hàm dự báo chỉ số nén Cc, chỉ số nở Cs làm thông số đầu vào cho mô hình Cam – Clay cải tiến để mô phỏng bài toán cố kết nền đất yếu ở Việt Nam.

    NCS Nguyễn Hồng Trường đã bảo vệ trước hội đồng do Trường Đại học Thủy lợi tổ chức vào sáng ngày 26/01/2018. Lễ bảo vệ luận án được tổ chức tại Room 5 nhà K1. Được biết NCS Nguyễn Hồng Trường bảo vệ luận án với tên đề tài: Nghiên cứu đặc tính cơ học của đất yếu được xử lý bằng gia tải trước kết hợp thoát nước thẳng đứng. Đề tài thuộc chuyên ngành: Địa kỹ thuật xây dựng; Mã số: 62 58 60 01; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Thái và  TS. Nguyễn Tiếp Tân.

    Chi tiết luận án xem tại đây

    Thực hiện: Bình Dương, Ảnh: Văn Quyết

  • NCS Đào Văn Khiêm bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    NCS Đào Văn Khiêm bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    Ở tầm thế giới điều này đã được phản ánh trong tuyên bố Dublin (1992) và hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de janeiro (1992). Ở nước ta, luật Thủy lợi được ban hành tháng 6 năm 2017 cũng cho thấy khuynh hướng kêt hợp các biện pháp kinh tế vào quản lý ngành nước.

    Xây dựng mô hình tối ưu hóa phục vụ quy hoạch và quản lý nước có tính   đến một cách hệ thống các cấu phần kinh tế. Cụ thể lề (i) Áp dụng khung đo lường giá trị và chi phí kinh tế để xây dựng hàm mục tiêu của bài toán phân  bổ hiệu quả; (ii) Phát triển các mô hình tối ưu hóa động ngẫu nhiên cho một số hệ thống hồ chứa ở hai tiểu lưu vực thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình; (iii) Sử dụng phần mềm Lingo để tìm lời giải tối ưu và kiểm tra tính ổn định nghiệm; (iv) Dựa trên các kết quả để nghiên cứu một số cấu trúc kinh tế của  các hệ thống được xét nói trên.

    Đối tượng chính của nghiên cứu là các hoạt động cung cấp dịch vụ tưới và phát điện cùng một số sử dụng nước khác như nước sinh hoạt, nước công   nghiệp trong khoảng thời gian 21 năm cho Núi Cốc và 25 năm cho Sơn La-Hòa Bình.

    NCS Đào Văn Khiêm bảo vệ trước hội đồng

    Ý nghĩa khoa học: Phát triển có kế thừa công cụ toán học tối ưu hóa động ngẫu nhiên cho quy hoạch và quản lý nước tại LVSHTB: Xây dựng mô hình phân bổ nước  một cách hiệu quả về mặt kinh tế, tích hợp các cấu phần giá trị và chi phí  vào hàm mục tiêu, áp dụng các kỹ thuật tính toán hiện đại để tìm lời giải tối ưu; Xây dựng mô hình động cho một số cấu phần của bài toán tối ưu như mô  hình cầu động, mô hình dòng chảy đến để phục vụ bài toán động học. Áp dụng các lời giải tối ưu hóa động ngẫu nhiên để phân tích cấu trúc “độc quyền tự nhiên” trong quy hoạch và quản lý tài  nguyên nước cấp lưu vực sông

    Ý nghĩa thực tiễn: Tăng cường cơ sở lý luận và năng lực tính toán thực hành nhằm đáp ứng yêu cầu mới của Đảng và Nhà nước trong công cuộc phát triển ngành nước. Cụ thể là xây dựng mô hình cho việc điều tiết và tính toán giá cả của các dịch vụ nước; Phục vụ các công cụ phân tích và nghiên cứu tài nguyên môi trường nói chung như thể chế thị trường trong quản lý tài nguyên, kinh tế xanh, kế toán tài nguyên môi trường; Tiếp cận và ứng dụng các công cụ tính toán hiện đại cho các bài toán phức tạp tại Việt Nam.

    Trên đây là tóm tắt nội dung đề tài:  Áp dụng lý thuyết tối ưu hóa cho bài toán phân bổ hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực sông Hồng – Thái Bình của NCS Đào Văn Khiêm bảo vệ chiều ngày 16/01/2018 tại Trường Đại học Thủy lợi.

    Lãnh đạo Nhà trường, bạn bè, đồng nghiệp chúc mừng NCS Đào Văn Khiêm

    Luận án thuộc chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước Mã số: 62 62 30 01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Quang Kim

    Chi tiết luận án xem tại đây

    Thực hiện: Bình Dương, Ảnh: Đình Cường

  • Khai giảng khóa học GDQP-AN cho sinh viên Trường Đại học Thủy lợi

    Khai giảng khóa học GDQP-AN cho sinh viên Trường Đại học Thủy lợi

    Tham dự lễ khai giảng có Đại tá Đào Quang Kiền – UV Ban thường vụ Đảng ủy quân sự tỉnh – Phó chỉ huy trưởng, tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên. Đại tá Vũ Trường Sơn – Phó tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên. Đại tá Vũ Xuân Tăng – Hiệu trưởng kiêm Giám đốc Trung tâm GDQP-AN, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên. Đại tá Nguyễn Tất Quân – Chính ủy Trường quân sự, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên.

    Về phía Trường Đại học Thủy lợi có GS. TS Trịnh Minh Thụ – Phó bí thư Đảng ủy – Phó hiệu trưởng. TS Nguyễn Đình Trinh – Phó giám đốc Trung tâm GDQP-AN trường; đại diện các Phòng, Khoa chức năng cùng gần 500 sinh viên tham gia khóa học đợt 1 năm 2018.

    Lễ khai giảng GDQP-AN đợt 1, khóa 1 năm 2018

    GDQP-AN là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; là môn học chính khóa trong chương trình giáo dục và đào tạo từ trung học phổ thông đến đại học và các trường chính trị, hành chính, đoàn thể… Với mục tiêu giáo dục toàn diện về mọi mặt cho sinh viên, Trường Đại học Thủy lợi đã thành lập Trung tâm GDQP-AN tại cơ sở mở rộng khu Đại học Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên, hướng tới đào tạo cho sinh viên trong và ngoài trường.

    Nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình di chuyển sinh viên về Trung tâm tham gia khóa học, trong ngày 14/01, Nhà trường đã bố trí xe đưa gần 500 sinh viên Khoa Công nghệ thông tin, Chương trình tiên tiến đến địa điểm học tập. Tại đây, các em sinh viên được sắp xếp sinh hoạt trong ký túc xá (6 người/ phòng khép kín) với điều kiện cơ sở vật chất tốt nhất. Mỗi sinh viên cũng được mượn 2 bộ quần áo, 1 áo bông, 1 chăn và 1 màn. Nhà ăn cũng đảm bảo phục vụ vệ sinh an toàn thực phẩm và cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn. Tính chung, chi phí ăn ở, sinh hoạt được Trường Đại học Thủy lợi và Trung tâm GDQP-AN trường giữ ở mức giá tối thiểu nhất, tạo điều kiện cho sinh viên yên tâm học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa học. Ngoài ra, giảng đường, sân bãi, dụng cụ học tập cũng được trang bị đầy đủ. Nhà trường phối hợp cùng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên sắp xếp giảng viên là các sĩ quan quân đội sẽ trực tiếp giảng dạy, huấn luyện cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu môn học.

    Ký túc xá dành cho sinh viên

    Nhà ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

    Tại lễ khai giảng khóa học đợt 1, GS. TS Trịnh Minh Thụ – Phó bí thư Đảng ủy – Phó hiệu trưởng mong muốn tập thể cán bộ, giảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy, nhiệt huyết để hướng dẫn, giảng dạy và giúp đỡ sinh viên. Đề nghị các em sinh viên nghiêm túc thực hiện quy chế đào tạo và các quy định của Trung tâm, của Nhà trường; không ngừng học tập, phát huy tính năng động sáng tạo của tuổi trẻ, luôn cố gắng học tập, rèn luyện và tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học. Giáo sư tin tưởng rằng, các em sẽ vượt qua mọi khó khăn và khác biệt của môn học đặc thù nhưng đầy ý nghĩa này để đạt kết quả tốt nhất.

    GS. TS Trịnh Minh Thụ – Phó bí thư Đảng ủy – Phó hiệu trưởng

    Đại úy Đào Văn Quang – đại diện giảng viên sẽ trực tiếp tham gia giảng dạy khóa học cũng quán triệt ý thức tổ chức kỉ luật, nề nếp, tác phong sinh hoạt, học tập của sinh viên. Đồng chí nhấn mạnh, môn học Giáo dục phòng và an ninh ngoài việc trang bị những kiến thức cơ bản về quốc phòng và an ninh, còn rèn luyện cho sinh viên trưởng thành hơn trong môi trường quân sự, các em làm việc có nguyên tắc, tác phong sống, học tập, sinh hoạt với các chế độ quy định và kỉ luật của quân đội. Các em sẽ được sinh hoạt, học tập trong môi trường lành mạnh, gắn bó và đoàn kết, có nhiều cơ hội tăng khả năng làm việc nhóm, tự lập, thích nghi và chủ động sáng tạo giải quyết vấn đề trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau với tính độc lập và tính cộng đồng cao.

    Cũng nhân dịp này, TS. Nguyễn Đình Trinh – Phó Giám đốc Trung tâm đã phát động phong trào thi đua trong năm 2018 với chủ đề: “Dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt, chấp hành kỷ luật nghiêm, an toàn tuyệt đối”.

    Qua đó, các em sinh viên phải xác định tư tưởng, nhận thức rõ trách nhiệm của mình, có thái độ nghiêm túc trong học tập, tổ chức ổn định lớp; rèn luyện và chấp hành kỷ luật cũng như mọi nội quy, quy định của Trung tâm. Ngoài việc học tập trên giảng đường, rèn luyện ở thao trường, các em phải tích cực tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, văn nghệ tạo không khí vui tươi, phấn khởi và giao lưu đoàn kết của tuổi trẻ sinh viên.

    Như vậy, trong thời gian từ ngày 15/1, tại Trung tâm GDQP-AN cơ sở Phố Hiến, sinh viên Trường Đại học Thủy lợi sẽ tham gia khóa học ANQP khóa 1, đợt 1 năm 2018. Sinh viên sẽ được đào tạo theo lớp, quản lý theo đại đội. Sinh viên ăn ở, sinh hoạt tập trung 24/24 giờ trong  thời gian học tập môn học tại Trung tâm. Theo kế hoạch, khóa học sẽ kết thúc vào ngày 11/2. Hy vọng, khoảng thời gian này sẽ giúp các em K59 trưởng thành hơn, rèn luyện thêm được nhiều kỹ năng cần thiết để phát triển bản thân.

    Bích Việt

  • NCS Đặng Công Hưởng bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    NCS Đặng Công Hưởng bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường

    Hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ của NCS Đặng Công Hưởng

                Lễ bảo vệ luận án tiến sĩ cấp trường của NCS Đặng Công Hưởng được diễn ra tại Room 5 nhà K1. Tại đây NCS đã bảo vệ đề tài: "Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất kết cấu mặt đê đảm bảo chống lũ và kết hợp giao thông" thuộc Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy; Mã số: 62 58 02 02

    Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Huế

                                                       GS.TS. Lê Kim Truyền

    Rất đông các nhà khoa học, đồng nghiệp, bạn bè đã đến tham dự buổi bảo vệ

    Nội dung của luận án được tóm tắt như sau:

          Hệ thống đê sông Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời qua các thời kỳ, đặc điểm của các tuyến đê sông là: thân đê được đắp bằng nhiều loại đất khác nhau, không đảm bảo tính đồng nhất; nền đê không được xử lý theo quy định trước khi đắp. Ngày nay, trước nhu cầu phát triển của kinh tế, xã hội đã có nhiều tuyến đê sông được quy hoạch sử dụng làm đường giao thông, đây là xu thế tất yếu. Trước thực tế đó, cần có những nghiên cứu tìm ra giải pháp tăng cường khả năng chịu lực của thân đê hiện hữu nhằm vừa đảm bảo an toàn chống lũ đồng thời đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của một tuyến đường giao thông là thực sự cần thiết. Mặt khác, tro bay tuy là phế thải của ngành điện nhưng sử dụng được trong nhiều lĩnh vực sản xuất vật liệu khác nhau. Trước đây, đã có những nghiên cứu sử dụng tro bay để sản xuất vật liệu xây dựng, chủ yếu trong xi măng đã góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đem lại hiệu quả kinh tế nhất định. Ở Việt Nam và trên thế giới chưa có nghiên cứu cụ thể nào về việc sử dụng lại lớp đất thân đê yếu để xử lý đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của lớp nền thượng khi kết hợp giao thông. Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu giải pháp tăng cường độ ổn định của đất thân đê đóng vai trò là lớp nền thượng trong phạm vi chịu tác dụng của tải trọng giao thông trên đỉnh đê và nghiên cứu giải pháp gia cố lớp móng trong kết cấu áo mặt đường đê khi kết hợp giao thông. Từ đó đề xuất kết cấu mặt đường đê thích hợp đảm bảo chống lũ và kết hợp giao thông.

    • Ý nghĩa khoa học: Luận án đã đóng góp mới về cơ sở khoa học để xây dựng kết cấu mặt đê bảo đảm yêu cầu kết hợp giao thông, bổ sung phát triển khoa học trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng.
    • Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài đã đề xuất được kết cấu mặt đê vừa đảm bảo chống lũ, vừa đáp ứng tiêu chuẩn đường giao thông cấp III.
    • NCS Đặng Công Hưởng

    Những điểm mới của Luận án

    • Xác định được cấp phối vật liệu hợp lý (đất thân đê hiện có + xi măng + tro bay) cho lớp nền thượng và lớp (CPĐD + XM + TB) thuộc kết cấu mặt đê;
    • Đề xuất được kết cấu mặt đê đảm bảo yêu cầu chống lũ và kết hợp giao thông theo tiêu chuẩn đường cấp III;
    • Xây dựng trình tự, công nghệ thi công gia cố trong phạm vi lớp nền thượng của kết cấu mặt đường;

    Chi tiết luận án xem tại đây

    Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp chúc mừng NCS Đặng Công Hưởng

    Thực hiện: Bình Dương, Ảnh: Hoàng Công