Danh mục: Hoạt động chung

  • Thông báo về buổi giảng bài của GS.Charles T.Driscoll, Khoa Kỹ thuật môi trường, Đại học Syracuse, Mỹ










    BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT


    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


     


    Số: 633/TB – ĐHTL


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


                                                 


               Hà Nội, ngày 28  tháng 07 năm 2011


     


    THÔNG BÁO


    Về Buổi giảng bài của GS.Charles T.Driscoll, Khoa Kỹ thuật môi trường,


    Đại học Syracuse, Mỹ


                                       


    Trường Đại học Thủy Lợi phối hợp Tổ chức Giáo dục Việt Nam của Mỹ (VEF) phối hợp tổ chức buổi giảng bài của GS.TS Driscoll, khoa Kỹ thuật Môi trường thuộc ĐH Syracuse, Mỹ.


    GS. Driscoll đã nhận bằng Cử nhân kỹ thuật xây dựng tại đại học Maine (1974), Thạc sỹ khoa học (1976), và Tiến sỹ kỹ thuật môi trường Đại học Cornell (1980). Lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu yêu thích của GS thuộc về hóa học môi trường, hóa sinh và mô hình hóa chất lượng môi trường.


    Nghiên cứu chính của GS tập trung vào việc phản ứng rối loạn của rừng và hệ sinh thái thủy sản, ven biển bao gồm ô nhiễm không khí (mưa axit), thay đổi sử dụng đất, nâng cao đầu vào của chất dinh dưỡng và thủy ngân.


    GS là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 350 bài báo và đã được Viện thông tin khoa học (ISI) công nhận là một trong số những nhà nghiên cứu hàng đầu trong hai lĩnh vực: khoa học và kỹ thuật môi trường. GS đã được tài trợ hơn 90 dự án nghiên cứu, hầu hết trong số này được lấy từ chương trình nghiên cứu cạnh tranh như Quỹ khoa học quốc gia và Cơ quan bảo vệ môi trường. Hiện nay, GS là điều tra viên chính của dự án dài hạn của Quỹ khoa học quốc gia nghiên cứu sinh thái rừng thực nghiệm Hubbard Brook, New Hampshire từ năm 1987. Năm 1984, GS được chỉ định làm Điều tra viên Tổng thống trẻ của Quỹ khoa học quốc gia. Năm 2007, GS được bầu vào Viện Hàn lâm kỹ thuật quốc gia.  GS. Driscoll đã phục vụ trong các ủy ban địa phương, quốc gia và quốc tế, bao gồm cả các Ban Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia về quản lý chất lượng không khí và phục hồi Everglades. Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ về không khí sạch, Ủy ban cố vấn khoa học về tiêu chuẩn thứ cấp kết hợp cho các oxit nitơ và sulfur dioxide, Quỹ khoa học quốc gia Ủy ban cố vấn cho chương trình quan sát khu vực quan trọng và Học viện quốc gia Ủy ban khoa học quốc gia của Mỹ cho khoa học đất.


    Tham gia đoàn giáo sư Mỹ sang Việt Nam lần này, GS. sẽ có bài giảng tại ĐHTL về:


    — The remediation of Onondaga Lake NY (a lake that was contaminated by domestic and industrial waste in central New York)


    — Restoration of Everglates


    tạm dịch:


    (— Khắc phục hậu quả của hồ Onondaga NY (một hồ nước bị ô nhiễm bởi rác thải sinh hoạt và công nghiệp ở trung tâm New York)


    — Khôi phục Everglades )


    Thời gian: từ 09h00 đến 11h30,  Thứ sáu, ngày 05/08/2011.


    Địa điểm: Phòng 223 – Nhà A1.


    Đây là một buổi giảng bài và trao đổi khoa học giữa giảng viên Nhà trường và chuyên gia quốc tế; đồng thời giúp tăng cường quan hệ hợp tác của Nhà trường với ĐH Syracuse- Mỹ. Vì vậy, rất mong nhận được sự quan tâm và tham dự đầy đủ của các quý thầy cô và sinh viên bậc đại học các chuyên ngành liên quan.


    Đề nghị các giảng viên ở các lĩnh vực liên quan tham dự đầy đủ.


     










     Nơi nhận:


    – BGH


    – Các đơn vị trong trường.


    – Lưu VT, HTQT.


             HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


     


    GS.TS. Nguyễn Quang Kim


     


                           


     

  • Tác hại của ma tuý?

     

    Tác hại đối với cơ thể :

    – Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột.

    Chẳng hạn một thanh niên đang cai nghiện đột ngột ngưng thở tử vong không rõ nguyên nhân, khi giải phẫu tử thi thì phát hiện nạn nhân có bao heroin bởi một màng mỏng rồi cấy dưới da để thuốc phóng thích từ từ, nhưng bao thuốc đột nhiên vỡ và phóng thích quá nhiều gây ngộ độc.

    Ngoài ra, sau khi dùng ma túy (nhất là cocaine) có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản…

    Theo thông tin trên tạp chí Medical Progress tháng 1 năm 1999, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ đã cho thấy có mối liên quan giữa hút ma túy (nhất là cocaine) và ung thư phổi.

    – Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy. Ngoài ra còn gây nên tình trạng co mạch làm tăng huyết áp.

    – Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quị…

    – Đối với hệ sinh dục: Không như người ta thường lầm tưởng, dùng ma túy sẽ làm tăng khả năng tình dục. Ở người nghiện ma túy, khả năng tình dục suy giảm một cách rõ rệt, và hậu quả này vẫn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu. Ở những nam giới dùng ma túy trong thời gian dài sẽ bị chứng vú to (gynecomastia) và bất lực. Còn ở phụ nữ sẽ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh.

    Ngoài ra, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: hoại tử tế bào gan, ảo thính, ảo thị…

    Ảnh hưởng đến bản thân :

    – Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại. Dùng ma tuý quá liều có thể dẫn đến cái chết.

    – Gây nghiện mạnh, sức khoẻ giảm sút. Tiêm chích ma tuý dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rut B, C, đặc biệt là  HIV (dẫn đến cái chết).  Tiêm chích ma tuý là một trong những con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất tại Việt Nam. Người nghiện ma tuý có thể mang vi rut HIV và lây truyền cho vợ/bạn tình của con cái họ.

    – Thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật.

    – Mâu thuẫn và bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình.

    – Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm.

    – Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống.

    Ảnh hưởng đến gia đình :

    – Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình. Nhu cầu cần tiền để mua ma tuý của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.000-100.000,đ thậm chí 1.000.000 – 2.000.000đ/ ngày, vì vậy khi lên cơn nghiện người nghiện ma tuý có thể  tiêu tốn hết tiền của, tài sản, đồ đạc của gia đình vào việc mua ma tuý để thoả mãn cơn nghiện của mình, hoặc để có tiền sử dụng ma tuý, nhiều người đã trộm cắp, hành nghề mại dâm, hoặc thậm chí giết người, cướp của.

    – Sức khoẻ các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặc cảm,  ăn không ngon, ngủ không yên…vì trong gia đình có người nghiện)

    – Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc…)

    – Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra.

    Ảnh hưởng đến xã hội :

    – Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm…

    – Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội. Tăng chi phí ngân sách  xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại. Ma tuý còn là nguồn gốc, là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu chưa có thuốc chữa…Hiện nay nước ta có trên 130.000 người nhiễm HIV/AIDS thì có 75% là do tiêm chích ma tuý

    – Ảnh hưởng đến giống nòi, huỷ diệt giống nòi: do các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống./-

    Sinh viên chúng ta làm gì để ngăn chặn và phòng ma túy ?

     

    – Không tham gia sử dụng, vận chuyển, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.
    · Không xúi giục người khác tham gia vào tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác.
    · Khi phát hiện những cá nhân, tổ chức có liên quan đến ma túy cần báo ngay cho Cơ Quan Công An nơi gần nhất để kịp thời xử lí.
    · Quan tâm, động viên, chia sẻ, giúp đỡ những người cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Không kì thị, xa lánh người cai nghiện.
    · Tích cực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt ứng phó kịp thời với những tình huống có thể xảy ra. Tìm hiểu về tác hại của ma túy thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, cộng đồng để có nhận thức đúng đắn về tác hại của ma túy. Từ đó, trong từng trường hợp cụ thể có thể tuyên truyền, vận động cho mọi người cùng phòng tránh ma túy.

     

    (Nguồn : Tổng hợp từ Internet)

  • Hội nghị Tiếp xúc cử tri – Khu vực bỏ phiếu số 2.

    Hội nghị Tiếp xúc cử tri – Khu vực bỏ phiếu số 2.

    Toàn cảnh Hội nghị Tiếp xúc cử tri.

    Hôm qua ngày 11/5/2011, tại Hội trường T45 Trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra Hội nghị Tiếp xúc cử tri khu vực bỏ phiếu số 2. Tham dự Hội nghị có bà Ngô Thị Doãn Thanh – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội; ông Nguyễn Huy Tưởng – Ủy viên thường vụ Thành ủy Hà Nội; bà Nguyễn Thị Hường – Bí thư Đảng ủy khối các Trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội, lãnh đạo các Sở, Ban, Ngành thành phố Hà Nội, quận Đống Đa, và gần 500 cử tri đến từ các trường Đại học, Cao đẳng trực thuộc quận Đống Đa, đặc biệt không thể không kể đến sự có mặt của 5 ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XIII: bà Bùi Thị An; ông Phạm Quang Nghị; ông Nguyễn Toàn Phong; bà Ngô Thị Lan Phương; ông Đỗ Kim Tuyến.


    5 ứng cử viên đại biểu Quốc hội tại Hội nghị Tiếp xúc cử tri 11/5/2011

    Tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, các ứng cử viên đại biểu Quốc hội lần lượt trình bày chương trình hành động của mình nếu trúng cử vào đại biểu Quốc hội.

    Bà Bùi Thị An

    Theo đó, bà Bùi Thị An – hiện là Chủ tịch Hội hóa học Hà Nội, Viện trưởng Viện tài nguyên, môi trường và phát triển cộng đồng, đã nêu rõ ba chương trình hành động chính, đó là: luôn gần gũi, lắng nghe tiếp nhận ý kiến của nhân dân, của cử tri và phản ánh tâm tư nguyện vọng của họ đến với Quốc hội, bên cạnh đó có thể tác động đến các cơ quan chức năng trong phạm vi cho phép để giải quyết các vấn đề của nhân dân; Đề đạt những chính sách đầu tư thỏa đáng cho khoa học công nghệ, giáo dục, đảm bảo cho cán bộ mức sống và làm giàu bằng chính nghề của mình, nghiên cứu để nâng cao chính sách tiền lương cho cán bộ, giáo viên, tạo sự bình đẳng cho phụ nữ về vấn đề việc làm như nam giới; Bản thân sẽ không ngững phấn đấu nâng cao toàn diện trình độ của mình, tham gia tích cực các hoạt động của đoàn đại biểu Quốc hội, là cầu nối giữa nhân dân và đại biểu Quốc hội, nghiêm chỉnh thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước mọi lúc, mọi nơi.

    Ông Phạm Quang Nghị

    Ông Phạm Quang Nghị – hiện là Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội cũng nhấn mạnh vào những nhiệm vụ trọng tâm: Luôn lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của nhân dân, đẩy mạnh cải cách hành chính, bài trừ tham ô, tham nhũng; Cùng đoàn đại biểu Quốc hội hoàn thành nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, thực hiện tốt chức năng giám sát, cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc thù; bên cạnh đó ông Phạm Quang Nghị cũng mong muốn mọi người hãy cùng đóng góp sức mình, cùng xây dựng thủ đô Hà Nội ngày càng văn minh – hiện đại.

    Ông Nguyễn Toàn Phong

    Ông Nguyễn Toàn Phong, hiện là  Phó Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội, Phó Bí thư chi bộ cơ sở. Ông Phong nhấn mạnh vào 4 vấn đề chính sẽ làm nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội: Sẽ quan tâm đến việc làm, thu nhập của sinh viên, của người dân trên cơ sở nghiên cứu những đặc thù chính của 2 quận Đống Đa và quân Hai Bà Trưng đó là dân số đông, số lượng sinh viên lớn. Do có nhiều kinh nghiệm cũng như hiện công tác tại Trung tâm giới thiệu việc làm, ông sẽ phối hợp cùng với các trường Đại học, Cao đẳng để giới thiệu việc làm và tuyển dụng sinh viên; Tăng cường đối thoại với bà con, thôn xóm, đối thoại trực tiếp với người dân để hiểu vấn đề của nhân dân, giải đáp các vấn đề của người dân trong thẩm quyền không né tránh, đồng thời kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyền để giải quyết thắc mắc cho nhân dân; Tiến hành khảo sát tình hình đời sống của người dân tại 2 quận, chú ý đến những khó khăn của người dân ở đây cũng như vấn đề việc làm của sinh viên hiện nay; Tiếp tục xây dựng và phát triển Trung tâm giới thiệu việc làm tại Hà Nội thành Trung tâm giới thiệu việc làm phía Bắc, xây dựng Trung tâm là một tập thể đoàn kết và thống nhất.

    Bà Ngô Thị Lan Phương

    Bà Ngô Thị Lan Phương – hiện là Phó Hiệu trưởng trường THPT Kim Anh – Thị trấn Sóc Sơn. Trong chương trình hành động của mình, bà Phương cho rằng: sẽ quan tâm đến các vấn đề của Quốc hội; quan tâm đến sự nghiệp phát triển của giáo dục; có nhiều biện pháp để phát triển toàn diện cả về trí tuệ và nhân cách cho học sinh; tăng cường đầu tư cho giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất cho các trường, đặc biệt là các trường Đại học; cải cách chính sách tiền lương cho giáo viên và tiếp tục đổi mới giáo dục ở tất cả các bậc học.

    Ông Đỗ Kim Tuyến

    Ông Đỗ Kim Tuyến – hiện là Thiếu tướng, Tổng Cục phó Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an. Với đặc thù nghề nghiệp của mình, ông Tuyến nhấn mạnh đến các vấn đề về tập trung sửa đổi các bộ luật, hoàn thành các văn bản pháp luật; kiến nghị, giải pháp những vấn đề liên quan đến trật tự trị an, tình hình giao thông trên địa bàn thành phố cũng như của 2 quận Đống Đa và Hai Bà Trưng.

    Sau khi nghe chương trình hành động của các ứng cử viên, các cử tri có mặt tại Hội nghị đã đặt rất nhiều câu hỏi liên quan đến các vấn đề mà ứng cử viên đưa ra. Rất nhiều câu hỏi đã được đặt ra, trong thời lượng của chương trình, nhiều câu hỏi đã được giải đáp, bên cạnh đó còn nhiều câu hỏi các ứng viên cho rằng cần phải được nghiên cứu cụ thể và đưa ra bàn luận tại Quốc hội (nếu được bầu làm đại biểu) để có giải pháp thực tế, rõ ràng.

    Hội nghị tiếp xúc cử tri ngày 11/5/2011 của khu vực bỏ phiếu số 2 diễn ra tại Trường Đại học Thủy Lợi được đánh giá là khá thành công về thời gian, địa điểm, số lượng cử tri tham gia hội nghị, cách đón tiếp và tình hình an ninh được đảm bảo.

    Anh Nguyễn

  • Nghị quyết hướng dẫn một số điểm về tổ chức cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

    UỶ BAN THƯỜNG VỤ
    QUỐC HỘI

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Nghị quyết số: 1020/2011/UBTVQH12

    Hà Nội, ngày 14 tháng 02 năm 2011

     

    NGHỊ QUYẾT

    HƯỚNG DẪN MỘT SỐ ĐIỂM VỀ VIỆC TỔ CHỨC CUỘC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2011 – 2016

    ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10;
    – Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11;
    – Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12,

    QUYẾT NGHỊ:

    Điều 1. Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử

    Cách tính tuổi để thực hiện quyền bầu cử, ứng cử theo quy định tại Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) và Điều 2 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) được thực hiện như sau:

    1. Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi là ngày bầu cử) đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định (ngày 22/5/2011). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau.

    2. Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Điều 2. Lập danh sách cử tri và niêm yết danh sách cử tri

    Việc lập danh sách cử tri, niêm yết danh sách cử tri theo quy định tại các điều 22, 24 và 27 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, các điều 23, 24 và 28 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    1. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri quy định tại khoản 8 của điều này thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký thường trú và thực hiện quyền bầu cử tại nơi đó;

    2. Trong thời gian lập danh sách cử tri, những người có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan có thẩm quyền ở nơi cư trú cũ thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi cư trú mới để tham gia bầu cử, cụ thể như sau: thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội.

    3. Sinh viên, học sinh, học viên có sổ tạm trú ở các trường chuyên nghiệp, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi học tập, công tác hoặc nơi đóng quân để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    4. Cử tri là người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, các doanh nghiệp có đăng ký tạm trú, lưu trú thì được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

    5. Kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu, cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ thuộc đơn vị vũ trang nhân dân đang đi công tác và những người di cư tự do, đi lao động, làm việc, đi thăm người thân, đi du lịch ở nơi nào thì xuất trình với Uỷ ban nhân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi mới đến Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” do Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc do chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân cấp để được ghi tên bổ sung vào danh sách cử tri, tham gia bỏ phiếu ở nơi đó và được tính vào tổng số cử tri ở nơi mới đến. Nếu họ chưa có Thẻ cử tri, Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mới đến yêu cầu những người này liên hệ với Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc chỉ huy đơn vị nơi lập danh sách cử tri trước ngày niêm yết danh sách cử tri để nhận Thẻ cử tri hoặc Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” để được bầu cử ở nơi mới đến. Nếu thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp huyện thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp tỉnh thì được bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đại biểu Quốc hội; thay đổi nơi cư trú đến đơn vị hành chính cấp tỉnh khác thì được bầu đại biểu Quốc hội.

    6. Công dân Việt Nam công tác, lao động, học tập, du lịch, thăm người thân hoặc định cư ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ, thì đến Uỷ ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để ghi tên vào danh sách cử tri và nhận Thẻ cử tri để được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú); được bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

    7. Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri và cấp giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác”.

    8. Những trường hợp không được ghi tên, xóa tên hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 25 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 3. Về việc ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Công dân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Điều 2, Điều 3 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân không quá hai cấp; nếu đã ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp.

    Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 4. Về việc kê khai tài sản, thu nhập khi ứng cử

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định tại mục 4 chương II của Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ.

    Bản kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử là tài liệu trong Hồ sơ ứng cử.

    Điều 5. Căn cứ tính số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi đơn vị hành chính được tính trên cơ sở dân số theo quy định tại Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Số liệu dân số do Cục Thống kê cung cấp tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010.

    2. Đối với các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 9 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có từ ba mươi đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên bốn mươi đại biểu; số lượng cụ thể do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

    Điều 6. Đơn vị bầu cử

    Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) được xác định là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), liên huyện hoặc liên xã; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), liên xã hoặc liên thôn; đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã được xác định là thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khối phố (gọi chung là thôn, tổ dân phố), hoặc liên thôn, liên tổ dân phố.

    Trường hợp thành lập hai đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở một đơn vị hành chính huyện, xã hoặc ở một thôn, tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử có trách nhiệm xác định ranh giới rõ ràng, hợp lý giữa các đơn vị bầu cử để tổ chức thực hiện bầu cử thuận lợi.

    Điều 7. Số người ứng cử ở đơn vị bầu cử

    1. Số người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Trường hợp Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội làm cho số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi thống nhất với Uỷ ban bầu cử, chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội và báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định; nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban bầu cử báo cáo Hội đồng bầu cử xem xét quyết định việc chuyển người ứng cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử có số dư nhiều nhất trong cùng tỉnh, thành phố đến đơn vị bầu cử không có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu Quốc hội được bầu. Trong trường hợp không chọn được người có tín nhiệm cao nhất trong danh sách đã Hiệp thương lần thứ ba và không thể chuyển người ứng cử từ đơn vị bầu cử khác đến thì Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

    2. Số người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Trường hợp Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân làm cho số người trong danh sách ứng cử ở đơn vị bầu cử không nhiều hơn hai người so với số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, thì Uỷ ban bầu cử sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp chọn người có tín nhiệm cao nhất và đạt trên năm mươi phần trăm số phiếu tín nhiệm trong số người còn lại ở danh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Nếu trong danh sách hiệp thương lần thứ ba không có người đạt yêu cầu trên thì Uỷ ban nhân dân cấp bầu cử quyết định việc giảm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử khuyết người ứng cử, trình Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; đối với đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Chính phủ phê chuẩn.

    Điều 8. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 29 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    1. Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội.

    2. Trường hợp người ứng cử đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, nhưng trong thời gian Hội đồng bầu cử chưa công bố danh sách này mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý như sau:

    a) Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu;

    b) Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sau khi trao đổi ý kiến với Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định việc xoá tên người ứng cử đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật đã được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giới thiệu.

    Điều 9. Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    Việc xoá tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    Người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang, bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị chết, thì Uỷ ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Điều 10. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân

    1. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 49 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử. Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theoquy định của pháp luật.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với Hội đồng bầu cử. Quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội thì Hội đồng bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Hội đồng bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    2. Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại Điều 43 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    a) Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử. Ban bầu cử phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo thẩm quyền.

    Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại với Uỷ ban bầu cử. Quyết định của Uỷ ban bầu cử là quyết định cuối cùng.

    b) Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử ngưng việc tiếp nhận khiếu nại, tố cáo mới về người ứng cử và khiếu nại, kiến nghị về sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử.

    Những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được tiếp nhận trước thời điểm này vẫn tiếp tục được xem xét, giải quyết. Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đủ tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân thì Uỷ ban bầu cử quyết định xoá tên người đó trong danh sách những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    c) Không xem xét, giải quyết đối với đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo, đơn tố cáo mạo tên người tố cáo hoặc không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, đơn tố cáo đã được cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhưng không có bằng chứng mới.

    d) Uỷ ban bầu cử chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chưa được giải quyết và những khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đã được giải quyết nhưng đương sự vẫn không đồng ý đến Thường trực Hội đồng nhân dân khoá mới để giải quyết theo thẩm quyền.

    Điều 11. Vận động bầu cử của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

    Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm.

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thì thực hiện quyền vận động bầu cử ở địa phương đó.

    Điều 12. Mục đích, yêu cầu vận động bầu cử

    1. Việc tổ chức vận động bầu cử có mục đích sau đây:

    a) Tạo điều kiện cho người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu;

    b) Tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    2. Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) Công khai, dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri;

    b) Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

    c) Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

    d) Không được lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử;

    đ) Không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình;

    e) Không được sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri;

    g) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình vận động bầu cử.

    Điều 13. Hình thức, nội dung vận động bầu cử

    1. Việc vận động bầu cử của người ứng cử được tiến hành thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương nơi mình ứng cử tổ chức; trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng; gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người ứng cử công tác.

    2. Nội dung vận động bầu cử của người ứng cử bao gồm:

    a) Người ứng cử trình bày dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    b) Người ứng cử trình bày ý kiến của mình về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    c) Người ứng cử và cử tri trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm;

    d) Người ứng cử trả lời các câu hỏi của cử tri.

    Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong vận động bầu cử

    1. Uỷ ban bầu cử chỉ đạo công tác vận động bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.

    2. Các cơ quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước, đưa tin về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình tổ chức bầu cử.

    3. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; bảo đảm cho việc tổ chức vận động bầu cử được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật.

    5. Các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương có trách nhiệm đưa tin về Hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và tình hình vận động bầu cử ở địa phương.

    Điều 15. Tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử

    1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp giới thiệu những nội dung cơ bản về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương để người ứng cử đại biểu Quốc hội xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình.

    Người được trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội ở địa phương nào cần kết hợp nghiên cứu tình hình địa phương đó và tình hình chung của cả nước để xây dựng dự kiến chương trình hành động của mình;

    2. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, thành phần gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Uỷ ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.

    3. Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:

    a) Tuyên bố lý do;

    b) Đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;

    c) Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    d) Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;

    đ) Người chủ trì Hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc Hội nghị.

    4. Sau Hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử, Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ; Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.

    Điều 16. Vận động bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng

    1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc, trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử (nếu có) để trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Hội đồng bầu cử, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử;

    2. Trên cơ sở chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Thông tin và Truyền thông cùng cấp tổ chức việc đăng tải nội dung phỏng vấn người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, bảo đảm bình đẳng, đúng pháp luật, công bằng giữa những người ứng cử, tuân thủ các quy định về vận động bầu cử.

    Điều 17. Kinh phí vận động bầu cử

    Kinh phí vận động bầu cử do ngân sách nhà nước cấp từ kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan, tổ chức và kinh phí phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

    Điều 18. Thời gian tiến hành vận động bầu cử

    Việc tổ chức để những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện quyền vận động bầu cử được bắt đầu từ ngày công bố danh sách những người ứng cử và kết thúc hai mươi bốn giờ trước giờ bỏ phiếu.

    Điều 19. Thẻ cử tri

    Người đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được phát thẻ cử tri

    Thẻ cử tri của công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú ký tên và đóng dấu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh ký tên và đóng dấu.

    Thẻ cử tri của công dân ở đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị ký tên và đóng dấu.

    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.

    Điều 20. Về biểu mẫu và dấu bầu cử

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, mẫu phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, mẫu Giấy chứng nhận “Đi bỏ phiếu nơi khác” và các biểu mẫu khác phục vụ bầu cử.

    Hội đồng bầu cử quy định mẫu dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử và giao cho Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc khắc dấu bầu cử trong địa phương mình.

    Điều 21. Địa điểm bỏ phiếu

    Địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) phải được trang trí trang nghiêm, tiết kiệm, thuận tiện cho cử tri đến bầu cử, có đầy đủ bàn, ghế, bút, mực và các vật dụng khác phục vụ cho việc bầu cử.

    Điều 22. Xác định phiếu hợp lệ và phiếu không hợp lệ

    1. Những phiếu sau đây là phiếu hợp lệ:

    a) Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu của Tổ bầu cử;

    b) Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    c) Phiếu bầu gạch tên ứng cử viên không được tín nhiệm bằng cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết họ và tên.

    2. Những phiếu sau đây là phiếu không hợp lệ:

    a) Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;

    b) Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

    c) Phiếu để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu;

    d) Phiếu gạch, xoá hết họ, tên những người ứng cử;

    đ) Phiếu ghi tên người ngoài danh sách những người ứng cử; phiếu có viết thêm; phiếu gạch vào khoảng cách giữa họ và tên hai ứng cử viên; phiếu khoanh tròn họ và tên ứng cử viên.

    Điều 23. Báo cáo tình hình trong ngày bầu cử

    1. Trong ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo với Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ; Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và cấp trên trực tiếp về các nội dung sau:

    a) Các điều kiện phục vụ cho ngày bầu cử;

    b) Những thuận lợi, khó khăn về giao thông, thời tiết ảnh hưởng đến việc bầu cử;

    c) Số cử tri đi bầu và tiến độ cử tri đi bầu;

    d) Dư luận trong nhân dân về cuộc bầu cử và những người ứng cử;

    đ) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    e) Những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo trực tiếp bằng điện thoại, thư điện tử hoặc fax đến Hội đồng bầu cử theo tiến độ hai giờ một lần. Kết thúc ngày bầu cử, Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo đầy đủ với Hội đồng bầu cử các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này bằng fax; ở những nơi có sự cố đột xuất xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc bầu cử thì phải báo cáo ngay với Hội đồng bầu cử để xin ý kiến chỉ đạo.

    3. Uỷ ban bầu cử có bộ phận thường trực để tiếp nhận thông tin từ các Ban bầu cử, Tổ bầu cử gửi đến.

    Điều 24. Biên bản xác định kết quả bầu cử

    1. Sau khi kết thúc cuộc bầu cử, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương theo mẫu do Hội đồng bầu cử ban hành.

    2. Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ và Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Ban bầu cử gửi Biên bản xác định kết quả bầu cử đến Uỷ ban bầu cử.

    3. Hội đồng bầu cử, Uỷ ban bầu cử có bộ phận tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử.

    Hội đồng bầu cử tiếp nhận Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội tại những điểm sau:

    a) Văn phòng Quốc hội, số 37 đường Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội;

    b) Vụ Công tác miền Trung và Tây nguyên, số 4 đường Trần Quý Cáp, thành phố Đà Nẵng;

    c) Nhà khách Văn phòng Quốc hội – 165 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

    Điều 25. Công bố kết quả bầu cử

    1. Sau khi nhận và kiểm tra Biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử lập Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ở địa phương mình.

    2. Căn cứ vào Biên bản tổng kết cuộc bầu cử, Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước, Uỷ ban bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử ở địa phương mình.

    Điều 26. Tổng kết cuộc bầu cử

    Hội đồng bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử trong phạm vi cả nước; Uỷ ban bầu cử có trách nhiệm tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương.

    Nội dung tổng kết cuộc bầu cử bao gồm:

    1. Đánh giá quá trình chuẩn bị cuộc bầu cử:

    a) Các bước chuẩn bị bầu cử theo quy định của pháp luật, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    b) Việc tổ chức tiếp xúc cử tri nơi công tác, nơi cư trú, nơi bầu cử, vận động bầu cử của những người ứng cử;

    c) Việc hướng dẫn, chỉ đạo công tác bầu cử của Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử ở địa phương;

    d) Việc tổ chức các Hội nghị hiệp thương;

    đ) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các quy định của pháp luật về bầu cử và các văn bản hướng dẫn bầu cử của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

    e) Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương trong thời gian chuẩn bị bầu cử và trong ngày bầu cử;

    g) Việc xem xét, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    h) Sự phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức hữu quan;

    i) Việc sử dụng kinh phí bầu cử.

    2. Những kinh nghiệm từ việc tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016:

    a) Việc chuẩn bị các điều kiện cho cuộc bầu cử;

    b) Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đại biểu;

    c) Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến cuộc bầu cử;

    d) Đánh giá về công tác lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử ở địa phương.

    3. Kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tổ chức cuộc bầu cử.

    Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Báo cáo tổng kết bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Uỷ ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã gửi Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử tại địa phương đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp.

    Điều 27. Không tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Các huyện, quận, phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân theo Điều 1 của Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016 của cấp đó, không thành lập Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.

    Điều 28. Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Việc thành lập Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Tổ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo các quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Danh sách Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn phải được báo cáo lên Ủy ban nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện.

    Điều 29. Thành lập Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tại phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Ủy ban nhân dân phường sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt người gồm Tổ trưởng, Tổ phó, Thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tập thể cử tri ở địa phương.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 1 và khoản 6 Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12.

    Điều 30. Gửi biên bản Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Sau khi kết thúc các Hội nghị hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn, biên bản hiệp thương phải được gửi ngay đến Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Điều 31. Tổ chức hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Hội nghị cử tri ở phường đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân để lấy ý kiến nhận xét những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức theo đơn vị tổ dân phố nơi cư trú thường xuyên của người ứng cử do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.

    Điều 32. Gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện, quận đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

    Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn thuộc các huyện đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân gửi biên bản xác định kết quả bầu cử, biên bản tổng kết và báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, thị trấn và Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận.

    Điều 33. Hiệu lực thi hành

    Các tổ chức phụ trách bầu cử và các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.

    Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày ký.

    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 1078/2007/NQ/UBTVQH11 ngày 29/01/2007.

     

     

    TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
    CHỦ TỊCH

    Nguyễn Phú Trọng

     

  • Lễ tốt nghiệp và trao bằng kỹ sư cho K48 Hệ đại học chính quy, Hệ Liên thông cao đẳng lên đại học, trao bằng cử nhân cho K50 Hệ cao đẳng

    Lễ tốt nghiệp và trao bằng kỹ sư cho K48 Hệ đại học chính quy, Hệ Liên thông cao đẳng lên đại học, trao bằng cử nhân cho K50 Hệ cao đẳng

    Hơn nửa thế kỷ qua, lớp lớp  sinh viên Thủy lợi đã tốt nghiệp, rời mái trường đi công tác trên khắp mọi miền Tổ quốc. Những kỹ sư Thủy lợi rất say mê với công việc và luôn hướng về trường, cống hiến cho đất nước những công trình mang tầm vóc mới, là niềm tự hào của mái trường gần 52 năm tuổi. Ngày 25/3/2011, Đại học Thủy lợi tổ chức Lễ tốt nghiệp và trao bằng kỹ sư Thủy lợi lần thứ 48 cho hơn 1.000 tân Kỹ sư và gần 100 tân Cử nhân cao đẳng. Buổi lễ diễn ra trong bầu không khí ấm cúng nhưng không kém phần trang trọng có sự hiện diện của: Ông Khămko Syvongdao – Bí thư Đại sứ quán CHDCND lào tại Việt Nam; PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng Nhà trường; PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường, PGS.TS Nguyễn Trọng Tư – Bí thư Đoàn TNCS HCM, các thầy cô trong Ban chủ nhiệm các Khoa, lãnh đạo các Phòng Ban và hơn 1000 tân kỹ sư và cử nhân CĐ.










    Quang cảnh buổi lễ

    Mở đầu buổi lễ, ThS Đặng Hương Giang – Trưởng Phòng Công tác chính trị và quản lý sinh viên đọc báo cáo tổng kết thành tích học tập, công tác của SV K48 và  50CĐ; công bố Quyết định Sinh viên tốt nghiệp và Quyết định khen thưởng của K48 và 50CĐ  Nhìn lại chặng đường phấn đấu học tập và rèn luyện của sinh viên Khoá 48 và 50CĐ, Nhà trường luôn luôn ghi nhận những đóng góp tích cực của sinh viên trong mọi hoạt động phong trào, trong đó có phong trào sinh viên tình nguyện, phong trào sinh viên tham gia thi Olympíc, phong trào NCKH sinh viên, phong trào sinh viên học tập – rèn luyện phấn đấu trở thành Đảng viên, đã có nhiều sinh viên phấn đấu tốt, đạt nhiều thành tích cao trong học tập và rèn luyện, kết quả cụ thể như sau:     













































































































    TT


    Ngành


    Tổng


    Giỏi


    Khá


    TB Khá


    T.bình

    1

    Công trình Thuỷ lợi


    290


    13


    72


    180


    25

    2

    Kỹ thuật tài nguyên n­uớc


    190


    3


    72


    101


    14

    3

    Thuỷ văn – Môi tr­uờng


    99


    5


    38


    52


    4

    4

    Công trình Thuỷ điện


    112


    2


    25


     


    24

    5

    Kỹ thuật Cơ khí


    75


    0


    14


    56


    5

    6

    Công nghệ thông tin


    42


    1


    7


     


    6

    7

    Kỹ thuật cơ sở hạ tầng (Cấp thoát nước)


    111


    0


    33


    67


    11

    8

    Kỹ thuật bờ biển


    53


    0


    9


    41


    3

    9

    Kinh tế xây dựng


    64


    10


    33


    19


    2

    10

    Kỹ thuật công trình (hệ cao đẳng)


    68


    1


    19


     


    48


    11            


    Kỹ thuật công trình (hệ LT)


    94


    9


    35


    43


    7


     


    Tổng cộng


    1198


    44


    357


    648


    149


    Khóa 48 là khóa cuối cùng học theo hình thức niên chế, và khóa 50 hệ cao đẳng là khóa thứ hai đào  tạo theo tín chỉ nhìn chung số lượng sinh viên tốt nghiệp Khá, Giỏi có tăng lên so với năm trước, 44 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi chiếm 3,67%, 357 sinh viên tốt nghiệp loại Khá đạt 29.79%, 3 lưu học sinh nước CHDCND Lào..


    Phát biểu tại buổi lễ, PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng Nhà trường nhiệt liệt chúc mừng các tân kỹ sư và cử nhân, bằng sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hỗ trợ của thầy cô, gia đình, bè bạn đã hoàn thành các yêu cầu của Khóa học nay đã được nhà trường công nhận danh hiệu. Thày nhấn mạnh rằng, lễ tốt nghiệp là một ngày trọng đại, đáng nhớ đối với mỗi tân kỹ sư, cử nhân, nó đánh dấu một thành công quan trọng trên con đường học tập đầy gian khó.Thày cũng bày tỏ mong muốn với những kiến thức, kỹ năng được trang bị ở trường sẽ là nền tảng quý báu ban đầu của mỗi người trên con đường lập nghiệp trong nền kinh tế thị trường, gửi gắm niềm hy vọng rằng các anh chị dù ở bất cứ nơi đâu, trên cương vị nào cũng sẽ luôn phấn đấu để xứng đáng là cựu sinh viên Trường Đại học Thủy lợi anh hùng, Nhà trường sẽ luôn chào đón các kỹ sư về học tập ở các bậc học cao hơn.









    Tân kỹ sư Hoàng Thị Lụa tặng PGS.TS Trịnh Minh Thụ bó hoa tươi thắm tri ân công lao của các thày cô giáo trong sự nghiệp trồng người

    Thay mặt các tân kỹ sư và cử nhân, tân kỹ sư Hoàng Thị Lụa – lớp 48C1, thủ khoa tuyển sinh năm 2006 và cũng là thủ khoa tốt nghiệp của Nhà trường năm 2011 (điểm trung bình học tập 8,71) đã phát biểu cảm tưởng của mình trong lễ tốt nghiệp với những hồi ức từ ngày mới vào trường, những tiết học đầu tiên, những kỷ niệm với thầy cô và bạn bè trong nỗ lực học tập, nghiên cứu và tham gia hoạt động dưới mái trường, đồng thời tặng các thầy cô bó hoa tươi thắm thay lời cảm ơn chân thành nhất đến công lao dạy dỗ không quản ngại khó khăn vất vả  để có những tân kỹ sư rang ngời niềm vui trong ngày hôm nay.









    Trao bằng cho các tân kỹ sư K48 Đại học chính quy , hệ Liên thông và K50 Cao đẳng

    Buổi lễ khép lại trong niềm vui mừng và cảm xúc lưu luyến của các thầy cô giáo và những “cựu sinh viên” K48. Buổi lễ tốt nghiệp là sự kết thúc của năm năm đại học nhưng cũng là mở ra một sự khởi đầu mới, mong rằng dù có gian nan, vất vả, những tân kỹ sư sẽ luôn nỗ lực hết sức mình trên chặng đường mới, mang hoài bão và sức trẻ xây dựng Nhà trường phát triển, và đất nước ta giàu mạnh.

    Hà Linh Ngọc

  • Nhật Bản và nỗi đau thảm họa động đất, sóng thần.

    Nhật Bản và nỗi đau thảm họa động đất, sóng thần.

    Nhật Bản niềm tự hào của người Châu Á:

    Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Nước Nhật có 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaido (北海道 Bắc Hải Đạo), Honshu (本州 Bản Châu), Shikoku (四国 Tứ Quốc) và Kyushu (九州 Cửu Châu) cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh. Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và núi lửa, tiêu biểu như núi Phú Sĩ, cao nhất ở Nhật Bản. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người. Vùng thủ đô Tōkyō, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài tỉnh xung quanh là vùng đô thị lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống.

    Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ. Nhật Bản cũng là nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu tính theo tổng sản phẩm nội địa chỉ sau Hoa Kỳ và thứ ba theo sức mua tương đương; và là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng; xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới về nhập khẩu. Quốc gia này là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc, G8, G4 và APEC

    (E-info) Hàng năm Nhật Bản phải chịu 7500 trận động đất nhẹ, riêng Tokyo có đến 150 trận. Do đó, công việc chuẩn bị cho các tình huống động đất lớn xãy ra được giáo dục và tập dượt thường xuyên để tránh thương vong.

    Ngày 11.3 là ngày không thể nào quên trong lịch sử của nước Nhật, một trận động đất mạnh 9.0 độ richte kèm sóng thần cao 10m đã tàn phá miền Đông Bắc của Nhật Bản. Siêu động đất gây chấn động thế giới, thiên tai đã vượt lên trên mức kiểm soát và khả năng phòng vệ của nhân loại. Những cảnh tượng kinh hoàng và những tổn thất nặng nề mà trận động đất này mang lại thật sự là nỗi đau không thể nguôi được trong ngày một ngày hai của người dân Nhật Bản và hậu quả mà nó để lại có thể phải khắc phục trong vài năm tới.

    Sự biến động ngoài sức tưởng tượng:

    Những hình ảnh này được chụp trước và sau khi động đất xảy ra, không cần bình luận và không cần nói nhiều bởi hình ảnh đó đã nói lên tất cả.
    Hình ảnh lấy từ Vn.express.

    Ishinomaki, Miyagy trước… (ảnh: theo Vn.express)

    và Ishinomaki, Miyagy sau thảm họa 11/3. ( Ảnh: Theo vn.express)

    Natori trước …  (Ảnh: Theo vn.express)

    …và sau thảm họa 11/3. (ảnh: Theo vn.express)

    Ba thành phố của Nhật bị xóa sổ sau động đất ngày 11/3?

    Trong lúc giới chức Nhật Bản đang đánh giá mức độ thiệt hại của trận động đất và sóng thần hôm 11/3 thì lực lượng cứu hộ nhận thấy ba thành phố bị phá hủy gần như hoàn toàn bởi động đất và sóng thần. Khi giới chức kiểm tra tình hình tại Minamisanriku, thành phố có 17.000 nghìn dân thuộc tỉnh Miyagi và nằm sát tâm chấn động đất, họ phát hiện một thực tế kinh hoàng. 9.500 dân – tức là hơn một nửa dân số thành phố – đã mất tích. Người ta lo ngại những người mất tích đã chết do bị đè dưới các tòa nhà đổ hoặc trôi ra biển bởi sóng thần. Chính quyền sơ tán khoảng 7.500 người tới các lều tạm.

    Nhật báo Yomiuri dùng từ “cảnh tượng địa ngục” để mô tả về hậu quả động đất tại thành phố Kesennuma thuộc tỉnh Miyagi. Các đám cháy bùng phát khắp thành phố từ lúc động đất xảy ra tới nay. Tờ Guardian công bố một đoạn video cho thấy hầu như cả thành phố chìm trong lửa trong ngày 11/3.

    Con số thương vong tại Kesennuma chưa được công bố song Telegraph đưa tin khoảng 9.500 dân tại đây mất tích và 10.000 người đang sống trong lều tạm. Kesennuma có 75.700 dân

    “Bị tàn phá hầu như toàn bộ” là cụm từ mà hãng thông tấn Kyodo dùng khi mô tả thành phố Rikuzentakata thuộc tỉnh Iwate. Tại đây, sau khi trận động đất xảy ra hôm 11/3, người dân chưa kịp sơ tán thì sóng thần cao 10 m tràn tới. Trận động đất biến những ngôi nhà thành đống đổ nát trong tích tắc. Những thứ không gục ngã bởi động đất lại bị sóng thần khuất phục. Từng là một thành phố cảng sầm uất, Rikuzentakata chỉ còn là đống đổ nát sau thảm họa kép.

    Con số mất tích và thương vong – nỗi đau tận cùng nỗi đau!

    Sáng ngày 14/3, lực lượng cứu hộ tìm thấy khoảng 2.000 thi thể trên hai bờ biển thuộc tỉnh Miyagi sau trận động đất và sóng thần ngày 11/3, trong khi cả Nhật Bản đang gồng mình vật lộn với thảm hoạ lịch sử. Phát hiện số xác chết khổng lồ nói trên sẽ làm tăng đáng kể con số người thiệt mạng trong trận sóng thần mạnh 9,0 độ Richter gây ra sóng thần vừa qua, so với con số chính thức của cảnh sát Nhật công bố hôm nay là 1.597 người chết và 1.481 người mất tích tại vùng đông bắc. Trong khi đó, tại thủ phủ tỉnh Miyagi là thành phố Sendai, cảnh sát hôm nay cũng xác định vị trí từ 200 đến 300 thi thể mới.

    Đến tận giờ phút này con số thương vong vẫn chưa dừng lại, lực lượng cứu hộ vẫn đang tiếp tục tìm kiếm và không ngừng hy vọng sự sống sót của những người mất tích.

    Các vụ nổ trong nhà máy hạt nhân của Nhật đe dọa đến môi trường sống của người dân Nhật Bản trong nhiều năm tới

    Chiều 12/3: Vụ nổ thứ nhất xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima I

    Sáng 14/3: Vụ nổ thứ hai xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima I. Gần 200 nghìn người dân được lệnh sơ tán để tránh nguy cơ phóng xạ

    Sáng 15/3: Vụ nổ thứ ba, cũng tại nhà máy này

    Sáng 15/3: Cháy xảy ra tại lò phản ứng số 4 của nhà máy Fukushima I.

    Sự cố này đang đem đến một nỗi nguy hại mà thế giới lo ngại có thể xảy ra một thảm họa như thảm họa Chernobyl của Liên Xô năm 1986. Như vậy, người dân Nhật Bản không những đứng trước nỗi đau mất mát người thân, nhà cửa, cơ sở vật chất, mà họ còn đứng trước những khó khăn khôn lường khi khắc phục hậu quả nặng nề của thiên tai gây ra cho họ hôm 11/3.

    Người dân Nhật Bản – tấm gương đáng học tập và ngưỡng mộ!

    Bạn biết không, một ví dụ dễ thấy: trong khi hàng ngày chúng ta đến công sở để làm việc, đi học….cùng tham gia giao thông, cảnh tượng kẹt xe không phải là điều gì quá mới mẻ, bởi ai cũng muốn đi nhanh, chen lấn, đi sai làn đường, không nhường nhau…Và lúc này chúng ta hãy nhìn người Nhật, họ đang đứng trước những khó khăn, hàng nghìn con người đang phải sống trong tình trạng không nhà cửa và chờ viện trợ, họ vẫn xếp hàng để có thể nhận viện trợ hoặc đi mua hàng tại các cửa hàng bán thực phẩm.

    Những người sống sót trong một ngôi trường ở thành phố Sendai, tỉnh Miyagy, lần lượt đi tới một trung tâm cứu hộ an toàn. Ảnh: AP
    (Theo vn.express)

    Người sống sót ở thành phố Sendai xếp hàng mua thực phẩm, ba ngày sau thảm họa. Tại Tokyo, các mặt hàng thực phẩm khô trở nên hiếm hơn do người dân mua dự phòng, nhưng không hề có chuyện tăng giá đột biến. Ảnh: AFP. (Theo vn.express)

    Người sống sót ở thành phố Sendai xếp hàng mua thực phẩm, ba ngày sau thảm họa. Tại Tokyo, các mặt hàng thực phẩm khô trở nên hiếm hơn do người dân mua dự phòng, nhưng không hề có chuyện tăng giá đột biến. Ảnh: AFP. (Theo vn.express)

    Truyền hình và báo chí khắp thế giới ngày ngày đưa hình ảnh những con sóng khổng lồ cuốn phăng nhà cửa và ô tô tàu thủy như những món đồ chơi nhỏ, hình ảnh những người sống sót thất thần trước cảnh hoang tàn.

    Loạt tin và phóng sự cũng cho thấy một nước Nhật Bản khác – người Nhật bình tĩnh và kiên trì đi tìm những người thân hay trật tự chờ đợi đến lượt được nhận nhu yếu phẩm. Không hề có dấu hiệu cướp bóc hay bạo lực.

    Vô số blog tiếng Anh trên thế giới mô tả những người Nhật là “khắc kỷ”, và tự đặt câu hỏi nếu thảm họa như vậy xảy ra ở các nước phương Tây thì không hiểu mức độ thảm cảnh sẽ lên đến đâu.

    Giáo sư đại học Havard Joseph Nye nhận xét rằng thảm họa này có thể khiến “quyền lực mềm” của nước Nhật tăng lên. Quyền lực mềm là thuật ngữ ông dùng để mô tả cách mà các quốc gia đạt được mục tiêu của mình bằng cách khiến nước khác ngưỡng mộ.

    “Cho dù thảm họa này là to lớn, nó cho thấy một số nét tính cánh tuyệt vời của người Nhật, và sẽ giúp cho quyền lực mềm của họ”, Nye viết.

    “Họ cho thấy một xã hội ổn định, kỷ luật tốt và được chuẩn bị sẵn sàng cho những thảm họa, một quốc gia hiện đại. Họ đối phó với thảm họa một cách bình tĩnh và trật tự”, ông bình luận.

    Tờ The Wall Street Journal trong phần xã luận viết: “Sau trận động đất kinh hoàng 300 năm mới có một lần, người Nhật đã giữ được bình tĩnh giữa tình trạng loạn lạc, thực hiện nhiệm vụ cứu hộ cứu nạn khổng lồ, và nhận được sự ngưỡng mộ của cả thế giới”.

    Chúng ta làm gì lúc này?

    Là người dân Việt Nam – nhưng tôi không thể không rơi nước mắt khi chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng mà người dân Nhật Bản gánh chịu từ thiên tai trong đợt động đất và sóng thần hôm 11/3 vừa qua. Có lẽ không có gì khủng khiếp hơn điều đó khi chúng ta đang sống trong xã hội yên bình và cùng nỗ lực để xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp hơn. Có nhiều cách để bạn có thể chia sẻ với người dân Nhật Bản giúp họ được tiếp thêm nghị lực vượt qua giai đoạn khó khăn trong lịch sử nước Nhật, đơn giản chỉ là bạn hướng lòng mình về nước Nhật, cùng theo dõi thông tin và ước nguyện cho người dân Nhật Bản nhanh chóng vượt qua thảm họa, và cũng có thể bạn và tôi, tất cả chúng ta – hãy lấy tấm gương của người dân Nhật để học tập cách mà họ vượt qua khó khăn kiên cường biết nhường nào….

    Hãy cùng cầu nguyện những điều tốt đẹp nhất cho người dân Nhật Bản lúc này các bạn nhé!

    THảm họa Nhật qua những con số

    (Nguồn: Đình Nguyễn – vn.express)

    Mức
    độ động đất

    9,0 – Cường độ trận động đất ngày 11/3, mạnh nhất từng được ghi lại trong
    lịch sử Nhật Bản

    10 mét – Độ cao của cơn sóng thần quất vào các vùng bờ biển đông
    bắc Nhật Bản

    4 mét – Độ xa mà nhiều khu vực bờ biển Nhật Bản bị xê dịch khỏi
    vị trí ban đầu sau trận động đất

    16,5 cm – Độ xa mà trục trái đất bị dịch chuyển sau trận động đất
    Nhật Bản, khiến trái đất quay nhanh hơn và ngày ngắn hơn 1,8 phần triệu giây so
    với trước

    1.000 lần – Mức độ mạnh hơn của trận động đất tại Nhật Bản so với
    trận động đất mới đây ở thành phố Christchurch, New Zealand

    Tổn
    thất về người và của

    2.414 – Số người được xác nhận thiệt mạng tính đến ngày 15/3

    10.000 – Số người chết cuối cùng vì thảm hoạ tại Nhật được dự doán
    sẽ vượt qua cột mốc này

    15.000 – Số người mất tích hoặc chưa thể xác định tung tích

    550.000 – Số người được sơ tán khỏi nhà kể từ trận động đất hôm 11/3

    215.000 – Số người đang tập trung tại các trung tâm trú ẩn rải rác
    ở khu vực xảy ra động đất phía đông bắc Nhật

    2.050 – Số trung tâm sơ tán được lập tại vùng đông bắc Nhật

    621 tỷ USD – Số tiền tương đương mức sụt giảm của chỉ số chức khoán
    Nikkei 225 trong hai ngày sau động đất

    160 tỷ USD – Tổng chi phí ước tính cho tái thiết sau thảm hoạ

    100.000 – Số binh sĩ lực lượng phòng vệ Nhật Bản được huy động tới
    khu vực động đất sóng thần để tham gia chiến dịch nhân đạo

    76.000 – Số nhà bị hư hại trong động đất và sóng thần

    6.300 – Số nhà bị phá huỷ hoàn toàn trong thảm hoạ

    5 triệu – Số hộ dân bị cắt điện sau động đất

    1,5 triệu – Số người không được tiếp cận với nước sạch sau thảm hoạ

    102 – Số quốc gia trên thế giới đề nghị hỗ trợ Nhật khắc phục hậu quả thảm
    họa

    Khủng
    hoảng hạt nhân

    8,2 – Cường độ động đất mà nhà máy Fukushima I được thiết kế có thể đứng
    vững, trong khi trận động đất ngày 11/3 mạnh 9,0 độ Richter

    4 – Số lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân Fukushia I gặp sự cố nổ hoặc
    cháy sau động đất. Nhà máy này có tổng cộng 6 lò phản ứng.

    20 km – Bán kính vùng sơ tán khẩn cấp xung quanh nhà máy điện hạt
    nhân Fukushima I

    200.000 – Số người phải sơ tán khỏi vùng nguy hiểm quanh nhà máy
    Fukushima I đang gặp sự cố

    140.000 – Số người sống ngoài vùng sơ tán quanh nhà máy Fukushima I
    nhưng được cảnh báo ở yên trong nhà đề phòng phơi nhiễm phóng xạ

    750 – Số công nhân được sơ tán khỏi các nhà máy điện hạt nhân
    sau động đất

    1.650 – Số người được xét nghiệm nồng độ ô nhiễm phóng xạ

    30 km – Bán kính khu vực cấm bay được thiết lập xung quanh các lò
    phản ứng đang gặp sự cố

    250 km – Độ xa tính từ nhà máy Fukushima mà mức độ phóng xạ được
    phát hiện ở Tokyo

    10 lần – Mức độ phóng xạ tại Tokyo vượt quá mức bình thường sau sự
    cố Fukushima I


    Anh Nguyễn

    (Biên soạn và tổng hợp thông tin từ nguồn: e-info; vn.express)

  • Tin về công tác khuyến học Cụm dân cư 11, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, Hà Nội

    Tin về công tác khuyến học Cụm dân cư 11, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, Hà Nội

    Năm nay, Chi hội khuyến học kết hợp với Tiểu ban Dân số và Gia đình – Trẻ em tổ chức buổi họp mặt để tuyên dương các cháu học sinh giỏi năm học 2009 – 2010 của cụm dân cư 11. Các kết quả đạt được về công tác khuyến học  như sau:


    – Tỷ lệ học sinh giỏi 155/198 = 78,20%: cao hơn năm trước (53%)                         


    – 10 gia đình hiếu học tiêu biểu Tổ: xem Bảng


    – Gia đình hiếu học tiêu biểu Cụm: Nguyễn Văn Nhuận


    Chi hội kết hợp với Tiểu ban Dân số và Gia đình – Trẻ em tổ chức đón học sinh về hè và tổ chức buổi họp để tuyên dương phát phần thưởng cho HS giỏi và trợ cấp các cháu HS nghèo có hoàn cảnh khó khăn. Tại buổi lễ, Chi hội đã  tổ chức khen thưởng 10 tổ đạt tổ hiếu học tiêu biểu tổ  10 gia đình đạt gia đình hiếu học Cụm , 11 cháu học sinh giỏi cấp 3, 2 cháu đề nghị Quận khen,   mua sách vở cho 12 cháu có hoàn cảnh khó khăn, trợ cấp 5 cháu gia đình nghèo.   Chi hội cũng đã đóng góp đầy đủ cho quỹ phương hàng năm và gây quỹ.                                              


    Chi hội khuyến học Cụm dân cư 11, gồm các gia đình hiện cư trú trong khu tập thể trường Đại học Thủy lợi và tại các nhà từ số 05 đến 81 phố Khương Thượng, Phường Trung Liệt, Q Đống đa – Hà Nội, chủ yếu là các thày giáo và CB CNV nhà trường đã nghỉ hưu, Ban chấp hành Chi hội gồm 5 người, được bầu từ nhiệm kỳ 2007 – 2012…


    BÁO CÁO CÁC TỔ ĐẠT DANH HIỆU HIẾU HỌC NĂM 2010 CỤM DÂN CƯ 11


    [Bản này được lập theo các BC của các tổ đưa lên và đã được trao đổi thống nhất trong cuộc họp Ban Mặt trận cụm ngày 27/10/2010]

































































































    Thứ tự


    (1)


    Tên Tổ


    (2)


    Số % gia đình đề nghị xét danh hiệu hiếu học trên tổng số gia đình


    (3)


    Xếp loại


    (4)


    Số % đạt HS giỏi trên số HS


    (5)


    Xếp loại


    (6)


    Tổng xếp loại


    (7)


    Gia đình đạt hiếu học xuất sắc


    (8)


    1


    37


    (35 :5 0) x 100 = 70


    6


    (15:16) x100 = 93,75


    1


    3,5 – (4)


    Nguyễn Văn Nhuận


    2


    38


    (62 : 63) x 100 = 98.4


    2


    (19 : 26) x100 = 73


    8


    5 – (5)


    Nguyễn Thế Hòa


    3


    39


    (47 : 49) x 100 = 95,91


    3


    (17 : 20) x100 = 85


    3


    3 – (3)


    Lê Thị Thuộc


    4


    4


    (43 : 51) x 100 = 84,31


    5


    (12 : 15) x100 = 80


    5


    5 – (5)


    Nguyễn Hùng Sơn


    5


    41


    (36 : 40) x 100 = 90


    4


    (14 : 19) x100 = 73,68


    7


    5,5 – (6)


    Lê Hồng Tiến


    6


    42A


    (30 : 53) x 100 = 56,60


    7


    (18 : 34) x10 = 52,94


    10


    8,5 – (7)


    Trần Trọng Thành


    7


    42B


    (59 : 59) x 100 = 100


    1


    (17:21) x100 = 80,95


    4


    2,5 – (2)


    Trịnh Thanh Hà


    8


    42C


    (44 : 44) x 100 = 100


    1


    (22 : 25) x100 = 88


    2


    1,5 – (1)


    Nguyễn Công Mẫn


    9


    43


    (40 : 40) x 100 = 100


    1


    (8 : 12) x100 = 66,66


    9


    5 – (5)


    Lê Thị Bích Thủy



     

    Chú thích:  1. Cách tính để xếp loại như sau:


    [(4) + (6)] : 2 = thứ tự xếp loại. Số nhỏ nhất xếp trên.


                         2. Căn cứ cách xếp loại chọn GĐ hiếu học tiêu biểu


                         3. Tỷ lệ đạt chung: (155 : 198) x 100 = 78,20%- Tỷ lệ cao hơn năm ngoái


                          4. Gia đình hiếu học tiêu biểu Cụm: Ông Nguyễn Văn Huân 







    Ngày 11 tháng 11 năm 2010 
    Chi hội trưởng


    GS. Nguyễn Công Mẫn





     


     


    *Một số hình ảnh lễ trao phần thưởng học sinh giỏi năm 2010 của Cụm 11:






















        BT: Linh Ngọc


  • Biểu mẫu nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2011

    Kính gửi các thầy cô giáo và các bạn sinh viên bấm vào link dưới đây để tải về các biểu mẫu phục vụ Nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2011:

    Biểu mẫu NCKH sinh viên.

  • Đề xuất xây dựng tuyến đê biển Vũng Tàu – Gò Công

    Đề xuất xây dựng tuyến đê biển Vũng Tàu – Gò Công

    Dự nghe báo cáo có nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Trần Minh Sanh, Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Văn Khang, Phó chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Trung Tín, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An Nguyễn Thanh Nguyên, cùng các cơ quan chuyên môn của các Tỉnh trên. Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Nguyễn Giới tham dự nghe báo cáo.

    GS.TS. Đào Xuân Học-Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi, GS. TS. Nguyễn Quang Kim-Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi, PGS. TS. Tăng Đức Thắng-Viện trưởng Viện KHTL Miền Nam, cùng đại diện các cơ quan nghiên cứu và chuyên môn liên quan của Tổng cục Thủy Lợi đã tham dự và báo cáo về ý tưởng dự án.

    Đây là ý tưởng về dự án đê biển từ Vũng tàu đến Gò Công, có liên quan trực tiếp đến cùng đất trũng thấp thuộc lưu vực sông Vàm cỏ và hệ thống sông Đồng Nai, bao gồm khu vực Đồng tháp Mười và khu vực Thành phố HCM.

    Nguyên chủ tịch nước và lãnh đạo các tỉnh đã đánh giá cao về ý tưởng Dự án. Đánh giá đó là một ý tưởng sáng tạo, cần được nghiêm túc xem xét, tạo điều kiện nghiên cứu sâu hơn, nguyên Chủ tịch nước và lãnh đạo các Tỉnh đề nghị cần báo cáo Chính phủ xem xét, đầu tư nghiên cứu tính khả thi về mặt kỹ thuật, kinh tế, môi trường, xã hội,..bao gồm các lợi ích và tác động của dự án.

    Ảnh: Đê biển Saemageun- Hàn Quốc (Xem thêm)

    Ảnh: Hệ thống cánh cửa ngăn mặn trên đê biển

    (Theo www.wrd.gov.vn)

  • Lễ trao tặng chức danh GS. PGS năm 2010

    Lễ trao tặng chức danh GS. PGS năm 2010

    Sáng 14/11/2010, lễ công bố quyết định và trao tặng  chức danh GS. PGS năm 2010 đã được tổ chức trang trọng tại Văn Miếu Quốc Tử giám – biểu tượng của nền văn hiến và trí tuệ Việt Nam. GS Nguyễn Thiện Nhân – Phó Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước đã trao giấy chứng nhận các danh hiệu cao quý và chúc mừng 578 GS, PGS được công nhận năm 2010.


    Tham dự buổi lễ còn có Bà Katerine Muller Marin, Trưởng Đại diện Unesco tại Việt Nam, đại diện các cơ quan Trung ương, địa phương, và các cơ quan truyền thông đại chúng, các cơ quan thông tấn báo chí.









    Lãnh đạo Nhà trường và tập thể các Tân GS, PGS ngành Thuỷ lợi trong buổi lễ tại Văn Miếu 2010

    Theo GS.TSKH Trần Văn Nhung – Tổng Thư ký Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, năm nay, cả nước ta có 507 PGS và 71 GS đạt tiêu chuẩn được công nhận chức danh, trong đó 20% là nữ, có 2GS và 4PGS là người dân tộc thiểu số. PGS trẻ tuổi nhất là PGS Từ Diệp Công Thành 32 tuổi ( ngành Cơ khí , ĐH Quốc gia TPHCM). Tân GS trẻ nhất là GS Phạm Quang Trung (ngành Kinh tế – ĐH KTQD) và GS Nguyễn Văn Hiệp (ĐH QGHN) cùng 46 tuổi. PGS cao niên nhất là PGS Nguyễn Như Ất (Ngành Giáo dục – ĐH Sư phạm Thái Nguyên) 75 tuổi. Nữ GS trẻ tuổi nhất được phong tặng dịp này là GS Phạm Thị Ngọc Yến 51 tuổi( ngành Điện, ĐH Bách khoa HN)….


    Các đợt xét bắt đầu từ năm 2011 tới đây sẽ chặt chẽ hơn về các yêu cầu ngoại ngữ và chuyên môn. Đây cũng là đề nghị của đông đảo các nhà giáo, nhà khoa học để đưa các tiêu chuẩn Giáo sư, Phó Giáo sư đi vào thực chất, phù hợp với chuẩn khoa học của khu vực và thế giới.









    Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao giấy chứng nhận chức danh giáo sư và tặng hoa chúc mừng GS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Thuỷ lợi


    DANH SÁCH CÁC GS, PGS TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI ĐƯỢC CÔNG NHẬN NĂM 2010


     

































































    TT


    Họ tên


    Chức danh


    Học hàm


    1


    Dương Thanh Lượng


    Chủ tịch Hội đồng trường


    Giáo sư


    2


    Hoàng Xuân Thành


    Chủ tịch Công đoàn trường


    Phó Giáo sư


    3


    Hồ Việt Hùng


    Trưởng BM Thuỷ lực – Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước


    Phó Giáo sư


    4


    Phạm Thị Minh Thư


    Trưởng BM Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên – Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước


    Phó Giáo sư


    5


    Nguyễn Trọng Tư


    Bí Thư Đoàn TNCSHCM


    Phó Giáo sư


    6


    Đỗ Văn Lượng


    GĐ Trung Tâm ĐH2


    Phó Giáo sư


    7


    Nguyễn Đăng Tính


    PGĐ Cơ sở 2


    Phó Giáo sư


    8


    Nguyễn Quốc Luật


    Khoa Lý luận chính trị


    Phó Giáo sư


    9


    Nguyễn Đình Tân


    Trưởng BM Công nghệ cơ khí – Khoa Cơ khí


    Phó Giáo sư


    10


    Nguyễn Trung Việt


    Trưởng Phòng Đào tạo ĐH và SĐH


    Phó Giáo sư


    11      


    Trịnh Công  Vấn


    Viện Thuỷ lợi Môi trường


    Phó Giáo sư



    Trong lời chúc mừng các tân GS, PGS, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhắc lại lời dạy của Bác Hồ “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, và thể hiện mong muốn các GS, PGS sẽ mang hết tâm huyết và trí tuệ của mình hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề mà thời đại đặt ra cho sự nghiệp giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học của nước ta. Phó Thủ tướng cũng đề nghị đội ngũ GS,PGS cả nước với tổng số gần 9.000 người sẽ đi đầu trong việc thúc đẩy phát triển giáo dục đại học, đào tạo trình độ cao và nghiên cứu khoa học đỉnh cao.


    Với ý nghĩa đặc biệt trong việc tôn vinh những người làm giáo dục, buổi lễ đã thu hút rất đông gia đình các GS, PGS được công nhận đến chung vui và cũng là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ tình cảm với những người thầy của mình bằng những bó hoa tươi thắm và những lời chúc mừng chân thành, sâu sắc.


    Buổi lễ tôn vinh các Giáo sư, Phó giáo sư năm nay thiêng liêng và quan trọng hơn nữa, khi đúng vào dịp thủ đô yêu dấu của chúng ta tròn 1000 năm tuổi, và ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 đã đến rất gần. Những danh hiệu cao quý của  Nhà nước đó là sự ghi nhận những cống hiến lớn lao, những nổ lực không mệt mỏi của các thầy cô giáo trong sự nghiệp cao cả mà cả nước luôn tôn vinh kính trọng. Xin nhiệt liệt chúc mừng các Tân Giáo sư, Phó Giáo sư của Trường Đại học Thủy lợi, chúc các thâỳ cô luôn mạnh khỏe, yêu nghề, gắn bó cuộc đời mình vì sự phát triển của Nhà trường và đất nước.


    Bài và ảnh : Hà Linh Ngọc