Danh mục: Tin công nghệ

  • Thư mời tham dự Hội thảo khoa học chào mừng 50 năm thành lập trường Đại học Thủy lợi

    THƯ MỜI THAM DỰ


    HỘI THẢO KHOA HỌC CHÀO MỪNG 50 NĂM THÀNH LẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


    Thay mặt ban tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Đại học Thuỷ Lợi, tôi rất hân hạnh được chuyển đến quý vị lời mời tham dự Hội thảo khoa học sẽ được tổ chức tại trường Đại học Thuỷ Lợi – Hà Nội vào ngày 13 tháng 11 năm 2009.


    Hiệu trưởng: PGS.TS. Nguyễn Quang Kim.


     


    Trường Đại học Thuỷ lợi được thành lập năm 1959, là trường đào tạo đầu ngành và là trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ về kỹ thuật tài nguyên nước. Đến nay, Nhà trường có đội ngũ cán bộ khoa học trên 900 người, bao gồm 46 GS và PGS và trên 300 cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Trường đã đào tạo được khoảng 22.000 kỹ sư, trên 800 Thạc sĩ và 76 Tiến sĩ trong 17 ngành. Thực hiện Chiến lược phát triển Trường, Trường ĐHTL đã mở rộng ngành nghề đào tạo trở thành Trường đại học đa ngành để phát triển, tạo xu thế hội nhập quốc tế.


    Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập (1959 – 2009), nằm trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng ngày lễ quan trọng, Trường Đại học Thuỷ lợi sẽ tổ chức Hội thảo khoa học. Hội thảo hướng tới việc tạo ra một diễn đàn thảo luận cho các nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật tài nguyên nước và môi trường; thủy điện; phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; quản lý tài nguyên thiên nhiên; quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý hệ thống thủy lợi; kinh tế nguồn nước; các vấn đề về cửa sông, bờ biển và đại dương… Các chủ đề chính của hội thảo gồm:


    ·         Toán tin


    ·         Cơ điện


    ·         Kinh tế và quản lý


    ·         Công trình thủy


    ·         Thủy động lực, môi trường


    ·         Kỹ thuật tài nguyên nước


    ·         Khoa học xã hội và nhân văn


    Chúng tôi rất hân hạnh được mời quý vị tham dự sự kiện này.


    Hạn cuối để đăng ký tham dự hội thảo đồng thời nộp bản tóm tắt bài viết với độ dài khoảng 150 – 200 từ là ngày 10/9/2009. Bài viết đầy đủ cần gửi về cho ban tổ chức trước ngày 01/10/2009 để có thể biên tập và xuất bản cuốn kỷ yếu của hội thảo. Các bài viết gửi ban tổ chức xin soạn thảo theo mẫu bài viết có trên Website 50 năm và gửi về cho thư ký hội nghị qua email [email protected] trước các thời hạn nêu trên.


    Chúng tôi hoan nghênh và sẵn sàng đón nhận những cống hiến quý báu và nhiệt thành của các đại biểu tham dự cho sự thành công của sự kiện này. Hy vọng sẽ sớm được chào đón quý vị tại trường Đại học Thuỷ Lợi – Hà Nội.


    Bản in mẫu Bài viết Tham dự Hội thảo Khoa học chào mừng 50 năm thành lập Trường: Xem tại đây 

  • Hội nghị Khoa học công nghệ Nông nghiệp 2006-2007 các tỉnh phía Bắc

    Hội nghị Khoa học công nghệ Nông nghiệp 2006-2007 các tỉnh phía Bắc

    Ngày 25/10, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội nghị Khoa học công nghệ nông nghiệp 2006-2007 khu vực các tỉnh phía Bắc tại Hội trường T45 – Đại học Thủy Lợi – Hà Nội








    Hội trường T45 – Trường ĐH Thủy Lợi

    Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Sở NN & PTNT, Sở Thuỷ sản, Sở Khoa học Công nghệ, Trung tâm khuyến nông, Trung tâm khuyến ngư các tỉnh, thành phố từ Thừa Thiên – Huế trở ra phía bắc, đại diện một số Bộ, ngành trung ương, các cơ quan thuộc Bộ NN & PTNT và các các Viện, Trường trong ngành. Ngoài ra còn có đại diện các Hội nghề nghiệp, Hiệp hội, một số doanh nghiệp và các cơ quan thông tin đại chúng. Các Thứ trưởng Bộ NN & PTNT Bùi Bá Bổng và Nguyễn Việt Thắng đồng chủ trì Hội nghị.









    Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Cao Đức Phát phát biểu tại Hội nghị

    Bộ trưởng Bộ NN & PTNT Cao Đức Phát đã phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Bộ trưởng nhấn mạnh, Bộ mong muốn Hội nghị đóng góp nhiều ý tưởng để xây dựng những đề án phát triển nông nghiệp và nông thôn sát thực, hiệu quả; Xác định được các nhiệm vụ khoa học công nghệ ưu tiên nghiên cứu phát triển trong thời gian tới, nhất là công nghệ tạo ra những giống vật nuôi, cây trồng cho năng suất, chất lượng ngày càng cao hơn. Hội nghị cũng cần tập trung vào một số nội dung như giới thiệu những tiến bộ khoa học và công nghệ để các địa phương lựa chọn áp dụng, phổ biến cho bà con để nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm cải thiện thu nhập, đời sống. Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp phụ thuộc vào bốn nhân tố đầu vào chủ yếu là đất, lao động, vốn và khoa học công nghệ. Quá trình CNH, HĐH đất nước đã thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp và một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động ở nông thôn đã chuyển sang các ngành sản xuất khác. Khoa học và công nghệ có vai trò là động lực hết sức quan trọng để bù đắp những thiếu hụt nguồn lực đầu vào đó, trong quá trình tăng trưởng bền vững của ngành Nông nghiêp.


    Sau bài phát biểu của Bộ trưởng, Hội nghị đã nghe các báo cáo tổng kết về tiến bộ khoa học công nghệ có khả năng áp dụng vào sản xuất trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ lợi và thuỷ sản. Hội nghị dành nhiều thời gian để các đại biểu thảo luận và đóng góp ý kiến cho định hướng phát triển khoa học công nghệ trong thời gian tới, đề xuất những nội dung ưu tiên như nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo vệ các loài hoang dã nhằm bảo tồn nguồn gen quý hiếm phục vụ nghiên cứu khoa học lâu dài; Đa dạng hoá chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, không chỉ từ trồng trọt sang chăn nuôi, từ trồng lúa sang rau, hoa, quả, mà còn có nhiều hướng khác như trồng các loại cỏ, cây làm thức ăn cho chăn nuôi,… Một số nội dung cần ưu tiên nữa là nghiên cứu phát triển sản xuất các loại cây trồng giàu đạm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng nhằm thay thế cho việc nhập nhập khẩu loại sản phẩm này, nghiên cứu quy trình kỹ thuật canh tác, sản xuất sản phẩm đảm bảo hiệu quả kinh tế và đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, nghiên cứu cơ chế chính sách, phương thức quản lý khoa học công nghệ để gắn kết giữa tổ chức NCKHCN với các doanh nghiệp, hệ thống khuyến nông và người sản xuất.


    Từ những nội dung được Hội nghị đóng góp, Bộ NN & PTNT sẽ phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị tiếp tục đi sâu làm rõ và xây dựng các đề án thực hiện.

    Theo FISTENET

  • Mục tiêu, nội dung và dự kiến sản phẩm của chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010

    MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ DỰ KIẾN SẢN PHẨM CỦA CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2006-2010:


    “Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn”. Mã số: KC.07/06-10


    (Kèm theo Quyết định số 2025 /QĐ-BKHCN ngày 13 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)


    I. Mục tiêu


    Ứng dụng và chuyển giao được các công nghệ tiên tiến và thiết bị phù hợp vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; bảo quản và chế biến nông-lâm-thủy sản và ngành nghề nông thôn nhằm xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao.


    Góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đảm bảo hiệu quả, phát triển bền vững trong sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn.


    II. Nội dung


    1. Lĩnh vực cơ giới hoá nông nghiệp


    Nghiên cứu và chuyển giao các loại máy, thiết bị và dây chuyền thiết bị:


    1.1.Trồng trọt


    Làm đất cho cây trồng cạn, đặc biệt là trên đất dốc;


    Gieo, trồng, cấy các loại cây trồng chính;


    Chăm sóc, tưới tiêu;


    Thu hoạch một số cây trồng chính;


    Nhà kính, nhà lưới và thiết bị trong nhà trồng;


    Khai thác, vận xuất, vận chuyển gỗ và lâm, đặc sản;


    Phòng, chống cháy rừng.


    1.2. Chăn nuôi


    Chuồng trại chăn nuôi, lồng bè nuôi trồng thuỷ hải sản; Cung cấp thức ăn, nước uống, chăm sóc vật nuôi, vệ sinh chuồng trại và ao, lồng nuôi trồng thủy sản; Khai thác, đánh bắt thuỷ-hải sản.


    1.3. Sản xuất muối


    Công nghệ và thiết bị để cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất muối tập trung quy mô công nghiệp; Công nghệ và thiết bị cơ giới hoá một số khâu trong quá trình sản xuất muối quy mô nhỏ.


    2. Bảo quản, chế biến nông lâm, thuỷ sản


    Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tiên tiến và thiết bị phù hợp:


    2.1. Công nghệ và thiết bị sơ chế, bảo quản nông-lâm-thuỷ sản, Vật liệu làm bao bì và bao bì để đóng gói, bảo quản; Các kiểu nhà bảo quản (packing house); Công nghệ và thiết bị để sơ chế, bảo quản.


    2.2. Công nghệ và thiết bị chế biến nông-lâm-thuỷ sản


    Các loại hạt giống; Thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và thức ăn nhanh; Rau quả, cây công nghiệp quy mô nhỏ; Dược liệu; Gỗ và lâm đặc sản; Thịt gia súc, gia cầm và thuỷ-hải sản; Thức ăn chăn nuôi; Phân vi sinh và hữu cơ vi sinh.


    3. Ngành nghề nông thôn


    Nghiên cứu công nghệ, thiết bị và vật liệu phục vụ phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn có quy mô vừa và nhỏ:


    3.1. Công nghệ và thiết bị phục vụ các làng nghề chế biến nông-lâm-thủy-hải sản …;


    3.2. Công nghệ, thiết bị và vật liệu phục vụ sản xuất sản phẩm thủ công, mỹ nghệ:


    Gỗ và lâm sản ngoài gỗ;


    Gốm, sứ, thủy tinh, đá;


    Kim loại;


    Các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ khác.


    4. Môi trường


    Nghiên cứu công nghệ, thiết bị và các giải pháp xử lý các chất phế thải nông nghiệp và ở nông thôn:


    4.1. Công nghệ, thiết bị và các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề


    Làng nghề chế biến nông-lâm-thủy-hải sản;


    Làng nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ;


    Làng nghề thuộc da, dệt, nhuộm;


    Làng nghề tái chế phế thải, phế liệu.


    4.2. Công nghệ, thiết bị và các giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường các cụm công nghiệp vừa và nhỏ nông thôn: Cụm đơn nghề; Cụm đa nghề.


    4.3. Công nghệ, thiết bị và các giải pháp xử lý các chất thải gây ô nhiễm môi trường nông thôn:


    Các chất thải do hóa chất nông nghiệp;


    Các chất thải do hoạt động sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt …);


    Các chất thải do hoạt động nuôi trồng thủy sản;


    Các chất thải do các hoạt động khác.


    III. Dự kiến các sản phẩm của chương trình


    Công nghệ tiên tiến và thiết bị phù hợp được ứng dụng có hiệu quả trong sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp phuc vụ việc hiện đại hoá sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp;


    Công nghệ tiên tiến và thiết bị phù hợp được ứng dụng có hiệu quả trong bảo quản và chế biến nông-lâm-thủy sản phục vụ các trang trại và vùng sản xuất tập trung;


    Công nghệ và thiết bị phù hợp được ứng dụng có hiệu quả trong ngành nghề nông thôn, sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;


    Công nghệ, thiết bị và giải pháp phù hợp được ứng dụng có hiệu quả trong xử lý ô nhiễm môi trường nông nghiệp và nông thôn;


    Các mô hình ứng dụng các công nghệ và thiết bị được áp dụng trong thực tế.


    IV. Các chỉ tiêu đánh giá Chương trình


    1. Chỉ tiêu về trình độ khoa học: 90% đề tài/dự án có kết quả được công bố trên các tạp chí khoa học công nghệ có uy tín quốc gia; ít nhất 10% đề tài có kết quả được công bố trên các tạp chí khoa học công nghệ quốc tế.


    2. Chỉ tiêu về trình độ công nghệ: các thiết bị là sản phẩm mới có tính năng kỹ thuật, kiểu dáng, chất lượng và giá cả có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực.


    3. Chỉ tiêu sở hữu trí tuệ: Có ít nhất 10% số nhiệm vụ có giải pháp được công nhận sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, 15% số nhiệm vụ đã được chấp nhận đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp.


    4. Chỉ tiêu về đào tạo: 70% số đề tài đào tạo được hoặc đang đào tạo ít nhất 1 tiến sĩ và 1 thạc sĩ (hoặc nhiều cử nhân /kỹ sư); 50 % số dự án đào tạo được ít nhất 1 thạc sĩ (hoặc nhiều cử nhân/kỹ sư).


    5. Chỉ tiêu về cơ cấu nhiệm vụ khi kết thúc chương trình:


    – 40% nhiệm vụ nghiên cứu có kết quả là các công nghệ ứng dụng trong các ngành KT-KT ở giai đoạn tiếp theo.


    – 30% nhiệm vụ nghiên cứu có kết quả được ứng dụng phục vụ trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh (kết thúc giai đoạn sản xuất thử nghiệm).


    30% nhiệm vụ nghiên cứu có kết quả được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất – đời sống hoặc được thương mại hoá.


    ——————————


     


    Bộ ….  (ghi rõ tên Bộ, Ngành,


    Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty 91)
    UBND tỉnh, thành phố…


     


     


    PHIẾU ĐỀ XUẤT NHU CẦU (*)  


    THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KH&CN CẤP NHÀ NƯỚC NĂM 2008


    THUỘC CHƯƠNG TRÌNH ……………


     


     


    1. Tên và nội dung vấn đề cần giải quyết (giải trình về vấn đề đang gặp khó khăn, vướng mắc đối với sản xuất và đời sống)


     


     


     


    2. Tính cấp thiết: việc giải quyết được vấn đề trên có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành, lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật, vùng kinh tế trọng điểm, nhưng việc giải quyết vấn đề trên vượt quá khả năng của Cơ quan (Bộ, Ngành, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Doanh nghiệp, Tỉnh, Thành phố)


     


     


    3. Một số yêu cầu về giải pháp hoặc sản phẩm KH&CN để giải quyết  vấn đề trên   (nếu có):


     


     


    4. Dự kiến kinh phí để giải quyết vấn đề trên (nếu có):


     


     


     


    5. Thời gian thực hiện (không quá 3 năm – trừ trường hợp đặc biệt):


     


     







     


    THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN


    (Họ, tên, chữ ký và đóng dấu)


     


     


     


    (*) Phiếu đề xuất trình bày không quá 02 trang giấy khổ A4.


     
    Thông báo của Bộ NN và PTNT về việc đề xuất nhiệm vụ KHCN năm 2008 cho chương trình KC07


  • Phương pháp thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn

    Phương pháp thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn


            NGHIÊN CỨU VÀ LUẬN BÀN VỀ
    PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ CẤP PHỐI BÊ TÔNG ĐẦM LĂN

                                     ThS. Nguyễn Như  Oanh


                                     NCS. Đại học Vũ Hán – Trung Quốc


                Đập bê tông đầm lăn là loại bê tông có sự khác biệt so với bê tông dẻo thông thường. Nó có lượng dùng cát lớn, lượng dùng xi măng nhỏ, thường dùng  lượng vật liệu hỗn hợp với tỷ lệ lớn. Hỗn hợp BTĐL không có tính dẻo, hiện rõ trạng thái phân tán, rời rạc, nhưng hỗn hợp BTĐL vẫn có những đặc điểm giống như bê tông thông thường là sau khi đầm lèn chặt, nó cũng ngưng kết và cứng hoá. Đặc biệt là vật liệu kết dính qua quá trình thuỷ hoá sinh ra các sản phẩm dính kết các hạt cốt liệu thành một thể hoàn chỉnh, cường độ cũng tăng liên tục theo tuổi của bê tông. Do hàm lượng vữa vật liệu kết dính trong bê tông đầm lăn tương đối ít nên tính kết dính của hỗn hợp tương đối kém, BTĐL có phương pháp thi công giống như thi công đắp vật liệu cát, đất đá, cho nên có thể xem hỗn hợp bê tông đầm lăn như là loại vật liệu hỗn hợp cát, đất, đá. Đó là tổng hợp các hệ rắn, thể lỏng, và thể khí. Sự đầm lèn của hỗn hợp BTĐL để tăng độ chặt khác so với bê tông thông thường, đó là dùng đầm rung lèn chặt từng tầng bê tông. Hỗn hợp BTĐL được máy đầm rung, chấn động và tác dụng của lực nén làm chặt lại, có thể tích rắn chắc, làm vị trí các hạt   khi rắn chắc sẽ đạt tới vị trí mới, sinh ra sự thay đổi vị trí tương đối giữa các hạt tiếp xúc lẫn nhau. Các hạt nhỏ bị dồn lèn lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt lớn, không khí trong lỗ rỗng bị dồn đẩy ra ngoài. Hỗn hợp bê tông dần dần bị lèn chặt. Ngoài ra vữa vật liệu kết dính trong hỗn hợp BT có tính thay đổi khi tiếp xúc, trong khi đầm lèn do sự thay đổi  sự keo kết mà dung dịch keo gọi là “hoá lỏng” nên có tính lưu động nhất định, dần dần lấp đầy lỗ rỗng, làm không khí bị đẩy ra ngoài. Do vậy, độ đầm lèn chặt của bê tông đầm lăn ngoài có đặc điểm cơ bản giống bê tông thông thường còn có một số đặc tính giống như thi công như đầm lèn vật liệu đất.


                Chính vì hỗn hợp bê tông đầm lăn và BTĐL sau khi cứng hoá có một số đặc tính giống như bê tông và vật liệu hỗn hợp cát, đất, đá, nên tỷ lệ phối hợp bê tông đầm lăn có thể tiến hành thiết kế cơ bản theo nguyên lý của bê tông thông thường, cũng có thể tiến hành thiết kế gần như vật liệu đất đắp. Các nguyên lý, phương pháp thiết kế bê tông đầm lăn được xem hỗn hợp BTĐL như là bê tông thông thường, cường độ  bê tông và các tính năng khác có thể tuân theo mối quan hệ với tỷ lệ N/CKD được Abrams thành lập từ năm 1918.


    Trong hỗn hợp bê tông  cần yêu cầu có lượng vữa đầy đủ để nhét đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu lớn, thì hỗn hợp bê tông mới được lèn chặt hoàn toàn, bê tông mới không có lỗ rỗng. Nguyên lý, phương pháp thiết kế đầm đất sẽ xem hỗn hợp bê tông đầm lăn như là loại đất giầu xi măng. Thiết kế tỷ lệ phối hợp của nó dựa vào quan hệ giữa độ chặt, hàm lượng nước và căn cứ vào máy móc ở hiện trường có thể xác định được khả năng đầm chặt của hỗn hợp ứng với hàm lượng nước tối ưu.


    Nhưng hỗn hợp bê tông sau khi lèn chặt, lượng bột vữa thông thường không thể lấp đầy được lỗ rỗng, giữa các hạt cốt liệu.


     


     I. PHÂN LOẠI CẤP PHỐI CHỦ YẾU BTĐL


                Bê tông đầm lăn từ thí nghiệm trong phòng đến thí nghiệm hiện trường sau đó ứng dụng vào thi công công trình từ góc độ vật liệu xem xét, chúng ta có thể phân thành 3 loại hình cấp phối chủ yếu như sau:


    1. Vữa vật liệu kết dính cố kết cát, đá trong BTĐL :


                “Vữa vật liệu kết dính cố kết cát, đá” trong BTĐL cũng có thể gọi là bê tông đầm lăn “nghèo”. Trong loại hình bê tông này, tổng liệu vật liệu kết dính không lớn hơn 110kg/m3; trong đó  bột tro bay hoặc là vật liệu hỗn hợp khác có lượng dùng không vượt  quá 30% tổng lượng vật liệu kết dính (CKD), một số ít loại bê tông có thể đạt 50%; Do lượng dùng vật liệu kết dính trong loại bê tông này ít, để đầm lèn đạt yêu cầu phải tăng lượng nước cho đến khi thực hiện được. Do vậy, tỷ lệ N/CKD tương đối lớn, thông thường đạt đến 0.95 ¸ 1.50. Điều này làm cho cường độ bê tông sẽ giảm thấp, tính bền và tính chống thấm sẽ kém. Trong loại bê tông này vữa vật liệu kết dính không đủ để nhét đầy lỗ rỗng của cát nên độ rỗng bê tông sẽ lớn.


    Khi thiết kế công trình sử dụng loại bê tông này, chỉ mục đích lợi dụng vữa vật liệu kết dính để kết dính vật liệu cát, đá thành một thể hoàn chỉnh, như là một bộ phận thân đập, sự ổn định  đập do trọng lượng bản thân của bê tông còn để chịu lực và phòng thấm cho thân đập thì dùng loại bê tông khác hoặc là vật liệu chống thấm. Nên tiến độ xây dựng công trình đạt tốc độ nhanh và đạt được mục đích kinh tế. Ví dụ Đập Willow Creek ở Mỹ, đập Galesville, đập Elk Creek, … vv đã sử dụng một phần bê tông đầm lăn thuộc loại hình cấp phối này cho bê tông đầm lăn. Ở tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc, trong thân đập của Nhà máy thuỷ điện Bách Long Nam đã dùng loại cấp phối này cho bê tông đầm lăn.


    Vì loại bê tông này do lượng dùng vật liệu kết dính ít, tính dính kết của hỗn hợp kém, cốt liệu dễ phát sinh hiện tượng phân tầng, nhưng độ tăng nhiệt độ của bê tông thấp, khi thi công có thể  dễ dàng khống chế nhiệt độ của bê tông. Thiết bị thi công loại bê tông này không những có thể dựa vào kết cấu chống thấm ở thượng lưu  mà còn phảI dựa vào cường độ yêu cầu của bê tông không quá lớn nên dễ chọn và sử dụng, đối với  các đập loại vừa và nhỏ rất thích hợp với vật liệu  loại hình bê tông này.


    2. Loại bê tông đầm lăn khô, nghèo :


    Loại bê tông này cũng gọi được là bê tông đầm lăn có tỷ lệ phối hợp “nghèo”. Lượng dùng vật liệu kết dính trong loại bê tông này từ 120 ¸ 130 kg/m3, trong đó vật liệu hỗn hợp chỉ chiếm 25 – 30% tổng lượng vật liệu kết dính. Với loại bê tông này, do lượng dùng vật liệu kết dính không nhiều, với lượng nước dùng tăng, để xác định được khả năng thoả mãn yêu cầu của hỗn hợp bê tông, tỷ lệ N/CKD thường từ 0.70 ¸ 0.90. Do tỷ lệ vật liệu độn hỗn hợp tương đối thấp, nên gia tăng nhiệt của bê tông khá cao, khi tỷ lệ N/CKD của loại bê tông này tương đối lớn, thì tính chống thấm giảm, thường không dùng cho tầng chống thấm của thân đập mà chỉ làm bê tông bên trong thân đập. Trong quá trình thi công các tầng và độ nghỉ giữa các lớp từ 2 – 5 ngày có thể lợi dụng lượng nhiệt phát tán ở bề mặt đỉnh các lớp bê tông để tránh sinh khe lạnh giữa các tầng, nên sử dụng phương pháp bàn chải sắt rải cát đánh sạch  bề mặt  các lớp sẽ làm cải thiện được chất lượng dính kết bề mặt các tầng. Ở Nhật Bản khi xây dựng đập BTĐL đều sử dụng loại tỷ lệ phối hợp BTĐL này làm bê tông bên trong thân đập  còn mặt ngoài đập thì sử dụng loại bê tông dẻo thông thường.


    3. Bê tông đầm lăn có hàm lượng bột tro bay cao :


    Lượng vật liệu kết dính trong loại BTĐL này từ 140 – 250 kg/m3, trong đó bột tro bay chiếm từ 50% đến 75% so với tổng lượng vật liệu kết dính. Loại bê tông này phân thành 2 loại: 1) Loại 1: lượng dùng vật liệu kết dính từ 140 ¸ 170 kg/m3, trong đó bột tro bay chiếm từ 50% ¸ 60%, gọi là bê tông đầm lăn có lượng dùng vật liệu kết dính trung bình; 2) Loại 2: Có lượng dùng vật liệu kết dính 180 – 250 kg/m3, trong đó tro bay chiếm  từ 60% đến 70%, được gọi là bê tông đầm lăn có lượng dùng vật liệu kết dính cao. Trước đây Bê tông có lượng dùng vật liệu kết dính thấp, lượng dùng XM khá thấp, sự phát nhiệt trong bê tông nhỏ, nhưng chất lượng dính kết bề mặt giữa các tầng thi công rất khó khống chế. Và thường dùng bê tông này làm bê tông bên trong thân đập, mặt thượng lưu đập xây dựng tầng chống thấm bằng Bê tông khác. Sau này dùng Bê tông có lượng dùng vật liệu kết dính tăng cao hơn (nhiều bằng hai lần cấp phối bê tông trước đây), nhiệt thuỷ hoá tăng cao hơn, chất lượng dính kết bề mặt của các tầng thi công so với trước dễ khống chế hơn, bê tông có tính năng chống thấm tốt hơn (đặc biệt là tính năng chống thấm của bề mặt các tầng thi công) so với trước đây. Nó không chỉ làm bê tông bên trong thân đập, mà cũng có thể dùng làm tầng chống thấm mặt thượng lưu của đập.


     Ở Trung Quốc, từ năm 1985 bê tông đầm lăn đã sử dụng, đa số là bê tông đầm lăn có lượng dùng vật liệu kết dính từ 140 ¸ 170 kg/m3, lượng tro bay dùng có xu thế dần càng tăng lên. Ví dụ như năm 1985, nhà máy thuỷ điện Sa Khê Khẩu ở tỉnh Phúc Kiến, bê tông đầm lăn tường chắn cửa dẫn nước, có lượng trộn bột tro bay là 57%. Sau đó khi xây dựng tường vây của Nhà máy thuỷ điện Nham – Nan và bê tông đập Thiên Sinh Cầu II ở tỉnh Quảng Tây, lượng trộn bột tro bay được dùng là 61% và 70%. Những năm gần đây Trung Quốc đã triển khai nghiên cứu những ảnh hưởng của lượng dùng xi măng và lượng trộn bột tro bay đối với bê tông đầm lăn, kết quả là lượng dùng xi măng thấp, hàm lượng bột tro bay cao thì bê tông sẽ có những tính năng ưu việt. Do vậy, BTĐL có loại tỷ lệ cấp phối  này đang được dùng rộng rãi. Ở Trung Quốc, tại các mặt thượng lưu của đập vòm Phổ Định – tỉnh Quý Châu, mặt thượng lưu đập của kho nước 2 – Phân Hà – tỉnh Sơn Đông, mặt thượng lưu đập Nhà máy thuỷ điện Miên Hoa Nan – tỉnh Phúc Kiến đều sử dụng BTĐL loại 2 này.  Tại một đập ở Mỹ đã sử dụng loại BTĐL lượng dùng vật liệu kết dính cao, hàm lượng bột tro bay cao. Vật liệu kết dính của nó là 254kg/m3, lượng dùng xi măng chỉ 80 kg/m3 hàm lượng bột tro bay tới 69%; Tư tưởng chỉ đạo để chế tạo BTĐL cho đập đó là phải khắc phục hiện tượng phân tầng cốt liệu thô, cải thiện chất lượng dính kết bề mặt các tầng, không bị gián đoạn trong thi công, do đó đã sử dụng bê tông đầm lăn có cấp phối loại 2 này, lượng dùng vật liệu kết dính tăng lên nhiều và nâng cao tỷ lệ trộn bột tro bay. Thực tiễn thi công thấy rõ, về cơ bản đạt được các yêu cầu đề ra, nhưng lượng nhiệt toả ra trong Bê tông tăng lên cao làm cho việc khống chế nhiệt độ có khó khăn nhất định.


     


    II. NGUYÊN LÝ CƠ BẢN THIẾT KẾ CẤP PHỐI BTĐL


    BTĐL là một loại bê tông rất khô, không có tính lưu động. Sau khi đầm lèn rất khó thu  được bê tông có độ đặc chắc cao. Phương pháp rải đổ liên tục với các lớp mỏng để xây dựng lên đập bê tông đầm lăn nên khi thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn tự nó đã có đặc điểm là bê tông phải rất khô, nguyên tắc xác định các tham số tỷ lệ phối hợp và nguyên lý thiết kế cấp phối  bê tông có sự khác biệt với bê tông thông thường.


    1. Đặc điểm của thiết kế cấp phối.


    1.     Để không gây trở ngại đến thi công đầm lèn bê tông, thông thường dưới điều kiện nhất định, trong thân đập không nên thiết kế đặt ống nước lạnh, do phải đổ rải liên tục, lượng nhiệt phát tán thông qua bề mặt các lớp bê tông sẽ giảm  khi thi công đổ rải các tầng, do nguyên nhân nhiệt độ tăng dần trong bê tông…vv. Khi thiết kế phải cân nhắc khi chế tạo bê tông, vừa phải thoả mãn các yêu cầu về, cường độ, tính bền  vừa phải hạn chế sự tăng nhiệt trong bê tông. Dù rằng lượng dùng xi măng tương đối thấp, nhưng tỷ lệ vật liệu hỗn hợp thì lại lớn.


    2.     Do đặc tính hỗn hợp bê tông rất khô cứng, phân tán  và dễ phân tầng, nên trong thiết kế cấp phối  bê tông phải khống chế đường kính lớn nhất của cốt liệu thô, và tỷ lệ hợp lý giữa các cấp hạt cốt liệu, lượng dùng cát thoả đáng, để trong quá trình thi công tránh xuất hiện sự phân tầng nghiêm trọng và hiện tượng không có khả năng đầm chặt được.


    3.     Trong thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn thường phải cân nhắc xen nên pha loại phụ gia gì vào bê tông.


    4.     Coi hỗn hợp bê tông đầm lăn tương tự như  vật liệu đất để đầm lèn hoặc xác định phương pháp  thi công công trình, xác định lượng dùng nước đơn vị tối ưu, còn phải cân nhắc các tính năng của bê tông sau khi cứng hoá và mối tương quan trực tiếp giữa tỷ lệ N/CKD.


    5.     Cấp phối để được đưa ra thi công – thường phải thông qua thí nghiệm bê tông tại hiện trường để quyết định.


    2. Nguyên tắc thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn :


    Để tiến hành thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn tốt, chúng ta cần phải hiểu biết và nắm vững, tuân thủ những nguyên tắc thiết kế cấp phối bê tông như sau:


    a) Thiết kế cấp phố bê tông đầm lăn phải tuân theo nguyên tắc của bê tông  thông thường:


    Theo kết quả thí nghiệm vật liệu đều thấy rõ, bê tông đầm lăn sau khi cứng hoá, sau khi đã lèn chặt thì cường độ của nó và tỷ lệ N/CKD có mối quan hệ mật thiết, nếu tỷ lệ N/CKD của hỗn hợp bê tông càng lớn, cường độ bê tông đầm lăn sau khi cứng hoá có quy luật càng  giảm thấp. Cũng có thể nói rằng, cường độ BTĐL sau khi cứng hoá phù hợp với “tỷ lệ N/CKD xác định”. Định trước tỷ lệ N/CKD, để thiết kế cấp phối sơ bộ và sau đó điều chỉnh cấp phối đã tính được.


    Các thí nghiệm khác cũng thấy rõ rằng, với các điều kiện khác không đổi, giá trị VC của hỗn hợp BTĐL phụ thuộc vào lượng nước dùng cho 1 đơn vị thể tích bê tông và tỷ lệ giữa lượng Nước so với lượng dùng vật liệu kết dính (trong một phạm vi nhất định) quan hệ này thay đổi không lớn. Cũng giống như bê tông thông thường, nó phụ thuộc vào” Lượng nước yêu cầu xác định”. Trong các phương pháp thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn, đều trực tiếp hoặc gián tiếp ứng dụng nguyên tắc cơ bản này. Để điều chỉnh giá trị VC của hỗn hợp bê tông và duy trì cường độ bê tông không thay đổi, cần giữ nguyên tỷ lệ N/CKD và giảm lượng nước dùng và lượng cát. Để giữ cho giá trị VC không đổi, có thể điều chỉnh tỷ lệ N/CKD thì sẽ điều chỉnh được cường độ bê tông; Nếu giữ nguyên lượng nước dùng, giảm lượng dùng vật liệu kết dính và lượng cát. Lượng vật liệu kết dính và lượng cát thay đổi thì thể tích bê tông có thể thay đổi, tỷ lệ N/CKD thay đổi  có thể điều chỉnh được cường độ bê tông mà không ảnh hưởng đến lượng nước dùng và giá trị VC của bê tông.


    b)  Tuân theo nguyên tắc xác định những tham số cấp phối bê tông :


                Tham số tỷ lệ phối hợp BTĐL bao gồm:


                + Nước và mối quan hệ giữa lượng dùng vật liệu kết dính  so với nước; đó là tỷ lệ  W/(C+F).


                + Quan hệ giữa tỷ lệ lượng vật liệu hỗn hợp so với lượng dùng vật liệu kết dính – F/(C+F) hoặc là F/C.


                + Mối quan hệ  giữa lượng dùng cát  so với tổng lượng cốt liệu cát, đá trong bê tông ® S/(S+G)


    + Mối quan hệ giữa lượng vữa vật liệu kết dính so với lượng cát: ® (C+F+W)/S hoặc hệ số a biểu thị lượng vữa đủ và dư thừa để nhét đầy lỗ rỗng các hạt cát. Để thiết kế ra loại bê tông thoả mãn đầy đủ yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật, khi xác định các tham số cấp phối phải tham khảo những nguyên tắc dưới đây:


    1.     Nguyên tắc xác định tỷ lệ F/(C+F) hoặc F/C trong BTĐL:


    Tỷ lệ này càng lớn, không chỉ  tiết kiệm xi măng, cải thiện một số tính năng của bê tông mà còn có thể giảm giá thành mà còn sử dụng được phế thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Do vậy, nguyên tắc xác định tỷ lệ F/(C+F) là từ yêu cầu tính năng kỹ thuật của bê tông, để lựa chọn được giá trị tham số tương đối thoả mãn với yêu cầu.


    2.     Nguyên tắc xác định W/(C+F):


    Tỷ lệ W/(C+F) trong BTĐL lớn hay nhỏ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tính năng thi công của hỗn hợp bê tông và các tính chất kỹ thuật của bê tông sau khi cứng hoá. Với lượng dùng vật liệu kết dính nhất định, tỷ lệ N/CKD càng lớn thì giá trị VC của hỗn hợp sẽ giảm (nhỏ) cường độ bê tông tăng và tính bền giảm thấp. Ngược lại với giá trị VC tăng, cường độ bê tông sau cứng hoá và tính bền được cải thiện. Nếu như với lượng dùng xi măng không đổi, tỷ lệ F/(C+F) tăng lớn lên, thì tỷ lệ W/(C+F) giảm thấp, điều đó có lợi cho việc phát huy hoạt tính của vật liệu hỗn hợp trong bê tông, cường độ và tính bền của bê tông tăng cao. Trong điều kiện về cường độ yêu cầu và tính bền của bê tông như nhau, có thể đạt được hiẹu quả về kinh tế cao; do đó nguyên tắc xác định tỷ lệ W/(C+F) càng lớn thì lượng dùng xi măng sẽ càng nhỏ.


    3.     Nguyên tắc xác định tỷ lệ: (C+F+W)/S:


            Tỷ lệ vữa cát lớn hay nhỏ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị VC của hỗn hợp bê tông; cũng là nhân tố ảnh hưởng đến cường độ của bê tông.


            Khi lượng dùng cát tăng, thì giá trị VC giảm nhỏ, dưới điều kiện năng lượng đầm chấn động nhất định, độ đầm chặt của bê tông sẽ nâng cao, nếu tỷ lệ vữa cát tăng lên quá lớn, không chỉ tạo nên giá trị VC giảm quá nhỏ, không thể thi công đầm lèn được, mà còn làm cho lượng dùng vật liệu kết dính gia tăng. Do vậy, nguyên tắc xác định tỷ lệ lượng vữa cát là: với năng lượng đầm chấn động nhất định đối với hỗn hợp bê tông để thoả mãn được yêu cầu thi công với giá trị VC định trước,  thường giá trị VC nhỏ.


    4.     Nguyên tắc xác định lượng cát:


    Lượng cát lớn hay nhỏ trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng thi công của hỗn hợp bê tông, đến cường độ và tính bền của bê tông sau khi cứng hoá. Lượng cát quá lớn, hỗn hợp bê tông khô cứng, rời rạc, giá trị VC lớn, khó đầm lèn chặt, cường độ bê tông thấp, tính bền kém. Lượng cát quá nhỏ, vữa cát không đủ để nhét đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu thô và bao bọc mặt ngoài các hạt cốt liệu, giá trị VC của hỗn hợp cũng lớn, cốt liệu thô dễ bị phân tầng, độ đặc của bê tông giảm thấp, cường độ và tính bền giảm. Do vậy, khi xác định tỷ lệ phối hợp bê tông, cần phải chọn lượng dùng cát tối ưu. Gọi là lượng cát tối ưu, để  duy trì hỗn hợp bê tông có tính chống phân tầng tốt và đạt được giá trị VC theo yêu cầu thi công, lượng dùng vật liệu kết dính ít nhất.


    3. Nguyên lý thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn :


                Cho đến nay có 2 nguyên lý cơ bản để tiến hành thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn, đó  là nguyên lý “phối chế vật liệu đất”và nguyên lý “phối chế bê tông”. Nhưng cho dù là nguyên lý cơ bản nào, thì xuất phát điểm cơ bản của nguyên lý thiết kế cấp phối bê tông đầm lăn là: lượng vữa vật liệu kết dính phải đủ bao bọc các hạt cốt liệu thô mà còn đủ để có thể lấp đầy lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu nhỏ, vữa cát bao bọc các hạt cốt liệu thô, hình thành lên bê tông có độ đặc đồng đều, đạt được các yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật. Khi tiến hành thiết kế cấp phối bê tông, còn cần phải hiểu rằng  lượng vữa vật liệu kết dính  có thể không thể lấp đầy lỗ rỗng các hạt cốt liệu nhỏ và lượng vữa cát không đủ để lấp đầy lỗ rỗng các hạt cốt liệu thô; nhưng về cơ bản, phải xem xét đến điều kiện hiện trường thi công và điều kiện trong phòng thí nghiệm có sự  khác nhau, nên phải gia tăng thêm một lượng vữa chất kết dính thích đáng và cần có dư  thêm một lượng vữa cát. Cuối cùng là cần phải thông qua thí nghiệm đầm lèn ở hiện trường để kiểm nghiệm  lại cấp phối thiết kế của bê tông xem có thoả mãn với với khả năng thi công ở ngoài hiện trường không.


    a). Nguyên lý vật liệu đất .


     Nguyên lý vật liệu đất coi hỗn hợp bê tông đầm lăn như là loại vật liệu đất hay như xi măng đất. Thiết kế cấp phối của nó là dựa trên quan hệ giữa hàm lượng nước trong đất và độ đầm chặt. Như là đối với một lượng cốt liệu nhất định và vật liệu kết dính,  Làm thí nghiệm trong phòng dùng phương pháp đầm chấn động, ở hiện trường dùng phương pháp đầm lèn ép để xác định lượng nước dùng đơn vị tối ưu của nó. Từ lực đầm động trong phòng và độ đầm chặt có thể đưa ra độ lèn và lực lèn ép tương ứng của máy đầm lèn  ở hiện trường. Phương pháp nguyên lý vật liệu đất với nguyên tắc là đối với một lực đầm lèn nhất định tìm được một “hàm lượng nước tối ưu”. Dựa vào hàm lượng nước tối ưu này, hỗn hợp bê tông đầm lăn sau khi đầm lăn có thể đạt được tỷ trọng khô lớn nhất. Lực đầm lèn càng lớn, tỷ trọng khô lớn nhất có thể tăng lên khi, hàm lượng nước tối ưu  giảm xuống. Với phương pháp nguyên lý đất, tỷ trọng khô lớn nhất được dùng làm chỉ tiêu thiết kế.


    b). Nguyên lý bê tông .


                Phương pháp phối chế bê tông coi hỗn hợp bê tông đầm lăn như là bê tông dẻo thông thường. Cường độ nén và các tính năng khác của nó tuân theo quan hệ giữa tỷ lệ N/CKD được Abrams thành lập từ năm 1918 của, đó là giả sử cốt liệu sạch và rắn chắc thì độ đặc, cường độ nén và tỷ lệ N/CKD tồn tại mối quan hệ với nhau, tỷ lệ N/CKD tăng lên thì cường độ bê tông sẽ giảm, nên khi  thiết kế cấp phối bê tông cần dựa vào mối quan hệ giữa cường độ nén và tỷ lệ N/CKD, đối với một lượng cốt liệu và vật liệu kết dính nhất định, nếu duy trì  độ đầm lèn của hỗn hợp BTĐL, thì khi tỷ lệ N/CKD của hỗn hợp càng lớn, cường độ BTĐL sau khi cứng hoá có quy luật càng giảm. Vì vậy, tỷ lệ N/CKD được dùng làm chỉ tiêu thiết kế quan trọng.


                Phương pháp nguyên lý phối chế bê tông được xem sự lấp đầy, lên chặt lẫn nhau giữa các loại vật liệu trong bê tông là cơ sở để tính toán.


    Trong hỗn hợp BTĐL phải có đủ nhiều lượng vữa vật liệu kết đính để bao bọc và nhét đầy lỗ rỗng các hạt cốt liệu nhỏ, và lượng vữa cát đủ nhiều để bao bọc và nhét đầy lỗ rỗng có hạt cốt liệu thô, hình thành lên loại bê tông siêu khô cứng và đồng nhất.


              c). Liên hệ giữa hai nguyên lý:


    Quan hệ giữa hai nguyên lý có thể dùng tỷ lệ N/CKD của bê tông và cường độ nén của bê tông có quan hệ đường cong, biểu đồ 2.3 biểu thị ” bê tông đầm chặt không hoàn toàn có hai đường cong chấm chấm biểu thị quan hệ giữa dung trọng và hàm lượng nước tối ưu, và trang thái thông thường là đường cong liền. Trong đó đường cong a là ứng với lực đầm nén tương đối nhỏ, đường b đối với lực đầm lén tương đối lớn, và có hàm lượng nước  tương đối nhỏ, xem xét trong hỗn hợp BTĐL còn có một lượng không khí nhất định, nên mối quan hệ giữa cường độ nén và tỷ lệ N/CKD thực tế của bê tông đầm lăn khi đầm chặt hoàn toàn với lý thuyết thì vẫn tồn tại một lượng không khí nhất định. Dù sao thì BTĐL có thể dùng hai loại nguyên lý trên để tiến hành thiết kế cấp phối, nhưng thông thường thì nên dựa vào nguyên lý của bê tông để tiến hành thiết kế sơ bộ. Do cường độ bê tông ngoài sự liên quan đến đầm lèn, mà còn liên quan đến sự dính kết. Khi mức độ đầm lén và mức độ dính kết càng cao, thì cường độ nén của bê tông thì càng lớn, nói một cách khác cường độ của bê tông phương pháp đất chủ yếu là do mức độ đầm chặt. Hỗn hợp bê tông theo nguyên lý đất  mà nói, bề mặt bê tông sau khi đầm lèn chấn động nhẹ, vẫn xuất hiện chưa đầy đủ lượng vữa trên bề mặt, trong bê tông vẫn không đủ lượng vữa để lấp đầy lỗ rỗng cốt liệu, do vậy hỗn hợp bê tông không thể có khả năng kết dinh hoàn toàn. Bảo đảm bề mặt bê tông sau khi đầm lèn nhẹ đã xuất hiện đủ lượng vữa không chỉ có khả năng nâng cao được năng lực kết dính giữa bề mặt các lớp, đồng thời cũng nói lên rằng hỗn hợp bê tông này có khả năng  chống sự phân tầng của cốt liệu rất tốt.


    Tạp chí KHKT Thủy lợi và môi trường

  • Kế hoạch tổ chức Hội nghị kỷ niệm 45 năm Khoa Công trình







           TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    KHOA CÔNG TRÌNH


     


          


               CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


     


     


                        Hà Nội, ngày 23  tháng 5  năm 2011


     


    KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HỘI NGHỊ KHOA HỌC


    KỶ NIỆM 45 NĂM KHOA CÔNG TRÌNH


     


    Để thiết thực kỷ niệm 45 năm thành lập khoa Công trình – trường Đại học Thủy lợi, Ban chủ nhiệm khoa thông báo kế hoạch tổ chức Hội nghị Khoa học của khoa như sau:


    I. Nội dung Hội nghị:


    Trình bày các kết quả hoạt động khoa học – công nghệ của cán bộ, giáo viên, cộng tác viên, nghiên cứu sinh (NCS), học viên cao học và các cựu sinh viên khoa Công trình trong thời gian 5 năm qua (2006 – 2011), về tất cả các hướng chuyên môn của khoa.


    II. Thành phần tham gia Hội nghị


    –          Toàn thể cán bộ, giáo viên khoa Công trình, Viện Kỹ thuật Công trình;


    –          Các NCS, học viên cao học của khoa.


    –          Đại biểu là lãnh đạo trường và các khoa, phòng, ban.


    –          Các đại biểu là cộng tác viên, cựu sinh viên của khoa.


    –          Đại biểu của các trường, các tổ chức khoa học – công nghệ trong và ngoài nước có hợp tác với khoa.


    III. Quy định về báo cáo tham gia Hội nghị.



    1. Nội dung: là các kết quả nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, tổng kết thực tiễn về các lĩnh vực: công trình thủy lợi, giao thông, xây dựng dân dụng và công nghiệp và các vấn đề khác liên quan.

    2. Hình thức trình bày: theo quy cách của bài viết trên Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường (Đại học Thủy lợi), độ dài không quá 8 trang A4.

    3. Ấn phẩm của Hội nghị:

    –          Tuyển tập Báo cáo của Hội nghị.


    –          Các Báo cáo sẽ được tham gia tuyển chọn để đăng Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường.



    1. Sản phẩm gửi tham gia: Báo cáo (bản cứng) và file.

    2. Địa chỉ liên hệ:

    –          Gửi bài: Văn phòng khoa Công trình – Đại học Thủy lợi, 175 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội


    (ngoài bì ghi: Báo cáo khoa học)


    –          Thường trực nhận thông tin: Trần Thị Thúy Lam, văn phòng khoa Công trình – Đại học Thủy lợi.


    Điện thoại: (04) 38522024 (trong giờ hành chính)


    Email: [email protected].


    IV. Kế hoạch cụ thể :



    1. Thông báo kế hoạch : từ 24 đến 31/5/2011.

    2. Nhận bài : từ 01/8 đến 30/9/2011.

    3. Phản biện và biên tập : từ 01/10 đến 20/10/2011.

    4. In và phát hành tuyển tập : từ 21/10 đến 15/11/2011.

    5. Tổ chức Hội nghị khoa học : trong khoảng từ 16 đến 19/11/2011 (sẽ có thông báo và giấy mời cụ thể).

    Kính mời tất cả thầy, cô giáo và quý vị đại biểu quan tâm gửi Báo cáo tham gia Hội nghị.


     


                                                                      TRƯỞNG KHOA CÔNG TRÌNH


     


                                                                            (đã ký)


     


                                                         GS. TS. NGUYỄN CHIẾN


    Nơi gửi :


    –          BGH (để báo cáo)


    –          P9, Viện Kỹ thuật công trình, CS2, ĐH2.


    –          Các BM trong khoa.


    –          Trang Web của trường (để thông báo rộng rãi)


    –          Lưu VPK


     


     

  • Hội thảo khoa học “Các trường đại học kỹ thuật với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân”.

    Hội thảo khoa học “Các trường đại học kỹ thuật với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân”.

    Ngày 16 tháng 5 năm 2009 tại Trung tâm Tập huấn và Cung ứng dịch vụ Ngân hàng,  Đồ Sơn – Hải Phòng, Trường Đại học Thuỷ lợi đăng cai tổ chức Hội thảo khoa học lần thứ 34 của Câu lạc bộ các trường Đại học kỹ thuật với chủ đề “Các trường Đại học Kỹ thuật với sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn“.


    Mục đích của hội thảo nhằm:


    – Tăng cường sự liên kết, hợp tác giữa các trường Đại học Kỹ thuật trong hoạt động Khoa học, Công nghệ và Đào tạo.


    – Tăng cường khai thác tiềm lực Khoa học và Công nghệ của mỗi trường đóng góp cho công cuộc “Tam nông” phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.











    PGS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu


    Thành phần tham dự hội thảo bao gồm: Ban giám hiệu/Ban giám đốc và lãnh đạo phòng KHCN 16 trường đại học/học viện thành viên thuộc Câu lạc bộ và 2 trường đại học kỹ thuật của TP Hải Phòng là quan sát viên. Khách mời có đ/c Lê Huy Ngọ Nguyên uỷ viên Trung Đảng, Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT; Lãnh đạo/đại diện: Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ; Đại diện và các cục vụ thuộc các bộ: Bộ NN&PTNT, Bộ GD& ĐT, Bộ  KHCN; Trung ương Hội nông dân Việt Nam; UBND và Sở NN&PTNT Thành phố Hải Phòng; UBND Quận Đồ Sơn, các công ty và doanh nghiệp liên quan đóng trên địa bàn TP  Ban giám hiệu/Ban giám đốc và lãnh đạo phòng KHCN các trường đại học/học viện thành viên thuộc Câu lạc bộ,… Hơn 160 đại biểu tham dự hội thảo.


     Hội thảo dành nhiều thời gian cho các báo cáo tham luận và thảo luận về vấn đề: làm thế nào để hoạt động khoa học, công nghệ và đào tạo của các trường Đại học kỹ thuật gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình hành động của Chính phủ (Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP)….


    Hội thảo đã giúp các trường đại học kỹ thuật trong Câu lạc bộ nắm bắt đầy đủ hơn tinh thần và nội dung của các Nghị quyết của Trung ương Đảng và Chính phủ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; giúp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành khác hiểu rõ hơn tiềm lực khoa học công nghệ của Câu lạc bộ, trên cơ sở đó xây dựng được cơ chế phù hợp để huy động tối đa tiềm lực của các trường vào việc thực hiện thành công các chương trình và đề án của Chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương Đảng


     







     







     


     

  • Kết luận của Thứ trưởng Bộ NN & PTNT tại Hội nghị KHCN Nông nghiệp 2006-2007 các tỉnh Nam Bộ

    Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội nghị Khoa học Công nghệ Nông nghiệp 2006-2007 các tỉnh Nam bộ vào ngày 13 tháng 10 năm 2007 tại TP. Hồ Chí Minh:

    http://omard.mard.gov.vn/omardLive/Trang-chu/Thong-bao-bao-cao/Thong-bao?contentId=2549&noteName=83



  • Thông báo về kế hoạch thẩm định các đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2007

    THÔNG BÁO

    Về kế hoạch thẩm định các đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2007


     


    PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ


    – Căn cứ kế hoạch triển khai khoa học công nghệ năm 2007 của Bộ Nông nghiệp & PTNT;


    – Căn cứ Thông báo số 851/BNN-KHCN ngày 31 tháng 01 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc thông báo kế hoạch vốn sự nghiệp khoa học đợt 1 năm 2007;


    – Căn cứ tình hình triển khai nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2007 của trường Đại học Thuỷ lợi;


    – Và được sự đồng ý của Ban Giám hiệu.


     


    THÔNG BÁO KẾ HOẠCH THẨM ĐỊNH CÁC ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ NĂM 2007


    Nhận được thông báo này, các chủ nhiệm đề tài gửi đề cương và dự toán của đề tài về phòng Khoa học Công nghệ, để tiến hành thẩm định.





    TRƯỞNG PHÒNG



    (đã ký)    
    TS. Hoàng Thái Đại