Danh mục: Tin công nghệ

  • Hội thảo MERDCVEL – 06

    1. Introduction.


    Marketing, Management, Education, Research and Development and Cultural Value for Engineers, Managers and Leaders are key words for alleviation of poverty, environmental protection, natural disaster prevention, sustainable development and international integrations – MERDCVEL-06 is excellent opportunities to exchange, discuss and present the best knowledge, expertise’s, lesson learned, case studies, ideas and innovation and answers on :


    1.1      What are the roles and new concepts of Marketing, Management, Education, Research and Development and Cultural Value in flat world?
    1.2      What is the best ways to improve knowledge’s, build up capabilities, skills, abilities of our engineers, academics, researchers, managers, leaders for sustainable development, International Integration challenges and opportunities of WTO
    1.3      What is the meaning of registration of professional engineers, code of ethics, continuity study, mutual recognition and services in order to have transparency, prevent and avoid corruption and increase value of engineering and culture. How we can build a better world and achieve the high quality and bring enjoyment to the life?  
    1.4      How we can use Vietnamese and Asian Cultural Value and Intelligent for business development. The important role of Cultural Value, brands and human recourses for future development.
    1.5      How we can build International Institutes, Universities, Center of Education, Training, Research, Research, Technology Transfer, Investment, Trade… for Sustainable Development and Cultural Values? How we can combine Western Civilization and Asian Culture to make more money, build up the intellectual market and connecting the best people over the word to help the development of Vietnam and human quality?


     


    2. Who will attend the short course and seminar on MERDCVEL – 06’.


    2.1      Engineers, Architects, Managers Researcher, Academics and Leaders from Companies, Institutes, Universities…
    2.2      Staffs of Authorities, Non-Government Organizations.
    2.3      Staffs of ministries, Government, People Committee, Department.
    2.4      Students, young engineers.
    2.5      Friends and Colleagues. Engineers, who wish to become Asean Engineers.


    3. Time and Place :


    From September 6 -8, 2006.
    Place : Hanoi (Fixed)
    And From October 6 -8, 2006 – Place Ho Chi Minh City (Tentative).


    4. Guest Speakers and Key Speakers.


    4.1 Dr., FF. of AAET  Viphandh Roengpith – President and Director of Asian University Pattaya, Thailand.
    4.2 Academician, PE, Chitr Lilavivat, Thailand – FF. of AAET, executive member Charted Engineers of England.
    4.3  Prof. Dr. Vu Gia Hien, Apollos University, USA.
    4.4 Dr. Tran Ha Anh, Engineer of Ecole Polytechnique (1959), Pre Vice Chairman of Committee of Science, Technology & Environment of the NA.
    4.5  Mr. Bui Kien Thanh, Senior Advisor.
    4.6 Mr. Nguyen Tri Dzung, President, Network of International Cooperation for Development.
    4.7 Mr. Nguyen Vi Khai, Senior Advisor, Prof. on Philosophy.
    4.8 Prof. Dr. Nguyen Truong Tien, FF of AAET.
    4.9 Prof. Dr. Nguyen Tien Chuong, Institute for Building Science and Technology.
    4.10 Dr. Trinh Minh Thu, Hanoi Water Resource University.
    4.11 Dr. Vo Hung Tuan, France.
    4.12 Dr. Le Van Cuong, Director of Research Center, France.
    4.13 Dr. Luong Bach Van, Ho Chi Minh City Committee.
    4.14 Prof. Dr. Mai Trong Nhuan.
    4.15 Prof. Dr. Tran Nghi.
    4.16 Senior Expert Le Van Thinh
    4.17 Mr. Bertil Nord.
    4.18 Dr. Phung Duc Long.
    And other colleagues and friends.



    5. Programs.


















    Day 1


    September 6, 2006


    Registration


    Opening Seminar / Short course.


    Marketing and Management – Education, Research and Development.


    Lectures and discussions.


    Day 2


    September 7, 2006


    The role of Science, Engineering, Technology.


    Investment and Commerce for Sustainable Development.


    Cultural and Engineering Value.


    Round Table of interested participants


    Lectures and discussions.


    Day 3


    September 8, 2006


    Lectures and discussion.


    Registration of Engineers, Mutual Recognition, Code of Ethics, Continuity Study Assessment and Examination of PE.


    Certification of VUSTA.


     


    6. Registration Fees.


    The MERDCVEL-06’ is non profit activity and self finance. The organizing committee will as some Organization / Corporation will be Sponsor and Co-Sponsor.
    The Speakers will make kind contribution. Minimum. Registration fee is asked as follow :
    –  Delegates over 31 years old   : 400.00 Dong VN (for 02 days seminar/short course)
    –  Delegation  to be registered as ASEAN Engineer : 500.000 Dong VN (for 03 days seminar/short course and RoundTable).
    – Young Engineers (less than 30 years old) : 300.000 Dong VN
    –  Students : 200.000 Dong VN.
    The fees is covered :
    –   Proceeding of Short course / Seminar.
    –   Coffee and tea.
    –  Lunch.
    –  Assessment and Examination for ASEAN Engineers (for interested engineers). The examination will make in English.
    The Organization Committee will responsible for Guest Speakers :
    –  Accommodation.
    – Local Transportation.
    –  Food.
    –  Visit Hanoi.


     


    7. Time Schedule


    –  Confirmation to be speakers        : August 15, 2006.
    –  Papers for Proceeding    : August 20, 2006.
    –  Registration of participant           :
           + First Announcement                : August 10, 2006.
           + Second Announcement           : August 20, 2006.
           + Invitation and Official Program: August 25, 2006.


     


    8. Contact Person.


    Prof. Dr. Nguyen Truong Tien, Deputy Director of Hancorp.
    FF of AAET.
    Vice Chairman of National Committee for Registration of Engineers.
    President of Vietnam of Society  Soil Mechanics and Geotechnical Engineering (VSSMGE).
    President of Advisory of Advance Associates Consulting Corporation.


    Address : No9 – Alley 44 – Ham Tu Quan Str., Hoan Kiem Distr., Hanoi – Vietnam.


    Tel : (84-4) 9324 959.                 Fax : (84-4) 9325 969


    Email : [email protected]


    Mobile : 090340 5769.


    You are most welcome to make any contribution, modification and suggestion. Thank you.


    Prof. Dr. FF. Nguyen Truong Tien


    Chairman of Organization Committee of MERDCVEL – 06’

  • Nghiệm thu Đề tài NCKH cấp Nhà nước

    Nghiệm thu Đề tài NCKH cấp Nhà nước




    Ngày 7/1/2006 Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi đã tổ chức Đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu dự báo hạn hán vùng Nam trung bộ và Tây nguyên và Xây dựng các giải pháp phòng chống” – Mã số KC-08-22 do PGS.TS Nguyễn Quang Kim làm chủ nhiệm và Cơ sở 2 Đại học Thủy lợi chủ trì.


    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở gồm 9 thành viên lá các Nhà Khoa học có uy tín trong các ngành khoa học liên quan, đánh giá cao các kết quả đạt được của đề tài và đã thống nhất đề nghị cho đề tài được nghiệm thu ở cấp Nhà nước


    Xem tóm tắt báo cáo (Download)









                                                                                Nguồn: CS2-ĐHTL

  • Về an toàn của các hồ, đập trong điều kiện mưa lũ lớn

    Về an toàn của các hồ, đập trong điều kiện mưa lũ lớn

    Về an toàn của các hồ, đập trong điều kiện mưa lũ lớn


    GS. TS. Nguyễn Chiến – Khoa Công trình


     


    1.     Tổng quát


    Chúng ta vừa chứng kiến những ngày mưa lũ kinh hoàng ở các tỉnh miền Trung. Mưa lũ lớn, gây ngập trên diện rộng và gây tổn thất lớn lao về người và tài sản, nặng nề nhất là ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An. Mặc dù đỉnh lũ đã đi qua, nhưng ngập úng ở các vùng dân cư còn dài, khả năng phát sinh dịch bệnh, thiếu đói ở các khu vực dân cư vùng ngập lũ đang hiện hữu. Cả nước đang hướng về miền Trung với tinh thần tương thân tương ái, cứu trợ trước mắt và giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội lâu dài.


    Bên cạnh các vấn đề kinh tế, xã hội thì Nhà nước và các cơ quan chuyên ngành cũng đang tập trung nghiên cứu các vấn đề chuyên môn nhằm đảm bảo an toàn cho hệ thống cơ sở hạ tầng, nhà cửa và các công trình trong điều kiện có mưa lũ lớn. Các hồ, đập Thủy lợi là những công trình dễ bị tổn thương nhất khi có mưa lũ lớn, do đó công tác nghiên cứu và triển khai bảo đảm an toàn cho hồ, đập là một nhiệm vụ cấp bách của ngành nông nghiệp – thủy lợi nói riêng và của cả nước nói chung.


     


    2.     Đặc tính dễ bị tổn thương trong mưa lũ lớn của các hồ đập thủy lợi.


    Hiện nay, cả thế giới đang phải đối mặt với các vấn đề biến đổi khí hậu, trong đó có hiện tượng mưa lũ vượt ra ngoài các quy luật thông thường. Đợt lũ lịch sử vừa qua ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An là một ví dụ. Đã xảy ra hiện tượng lũ chồng lên lũ, con lũ trước chưa rút hết thì con lũ sau đã sầm sập đổ về. Thêm vào đó, cường suất của con lũ sau là rất lớn; lượng mưa 1 ngày tại Chu Lễ (Hương Khê – Hà Tĩnh) đo được là 800mm; tổng lượng mưa 5 ngày lên tới 1300÷1500mm. Tổng lượng nước này được dồn vào các thung lũng sông gây nên lũ lụt kinh hoàng. Trong điều kiện mưa lũ lớn như vậy, các hồ đập thủy lợi rất dễ bị tổn thương bởi các lý do sau đây.


    –        Các hồ đập thường khống chế một lưu vực nhất định. Toàn bộ nước mưa trên lưu vực được dồn vào bụng hồ phía trước đập. Lưu vực càng lớn, nước dồn về càng nhiều; rừng bị phá, mặt đệm trơ trọi, nước dồn về càng nhanh làm cho đường tràn xả nước không kịp, gây tràn và vỡ đập.


    –        Hơn 90% số đập tạo hồ ở nước ta hiện nay là đập đất. Loại đập này có điểm yếu là khi nước tràn qua thì dễ gây xói, moi sâu vào thân dẫn đến bị vỡ. Ngoài ra, khi cường suất mưa lớn và kéo dài, đất thân đập bị bão hòa nước làm giảm khả năng chống đỡ, dẫn đến trượt mái và hư hỏng đập.


    –        Trong thiết kế và xây dựng đập ở nước ta hiện nay, tiêu chuẩn phòng lũ được xác định theo cấp công trình. Ví dụ đập cấp I chống được con lũ thiết kế có chu kỳ xuất hiện lại là 500÷1000 năm; trị số tương ứng của đập cấp II là 200 năm; cấp III: 100 năm; cấp IV: 67 năm; cấp V: 50 năm. Như vậy các đập cấp IV, V khả năng chống lũ thấp, khả năng nước tràn dẫn đến vỡ đập là lớn. Ngoài ra, số lượng các đập loại này rất nhiều; việc quản lý, bảo dưỡng các đập nhỏ cũng không được chặt chẽ, bài bản như đối với các đập lớn.


    Thực tế đã xảy ra ở nước ta trong những năm qua là hư hỏng ,sự cố và vỡ đập chỉ xảy ra ở đập vừa và nhỏ. Trong trận lũ lịch sử ở Hà Tĩnh vừa qua, đập Khe Mơ bị vỡ là một đập nhỏ, trong khi các đập lớn như Kẻ Gỗ, Bộc Nguyên, Sông Rác … vẫn an toàn.


    –        Đập dù lớn hay nhỏ khi bị vỡ đều gây ra tổn thất nặng nề cho bản thân công trình, và cho vùng hạ du. Ở các đập mà hạ du là khu dân cư hoặc kinh tế, văn hóa thì thiệt hại do vỡ đập gây ra ở hạ du lớn hơn gấp nhiều lần so với thiệt hại đối với bản thân công trình, và phải mất nhiều năm sau mới có thể khắc phục được.


    Những đặc điểm trên đây cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của công tác đảm bảo an toàn hồ – đập thủy lợi, nhất là trong mùa mưa lũ lớn.


     


    3.     Các hướng nghiên cứu để đảm bảo an toàn hồ đập


    Do đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn, thời gian xây dựng của các đập là rất khác nhau nên việc nghiên cứu và đánh giá an toàn hồ đập cũng phải được thực hiện riêng cho từng công trình cụ thể. Tuy nhiên, trong nghiên cứu có thể phân ra các hướng như sau.


    a- Nghiên cứu về thủy văn-lũ và tràn sự số:


    –        Tính toán lại thủy văn-lũ của hồ-đập với việc cập nhật các tài liệu mới nhất về khí tượng, thủy văn, yếu tố mặt đệm bị thoái hóa do phá rừng, đào bới trên lưu vực …


    Trên cơ sở số liệu tính toán thủy văn-lũ để nghiên cứu, thiết kế bổ sung tràn sự cố nếu cần thiết.


    –        Nghiên cứu các mối quan hệ giữa các số liệu khí tượng – thủy văn phục vụ cho việc cảnh báo, dự báo lũ đối với hồ-đập. Công tác này là rất quan trọng đối với các hồ chứa lớn, có nhiệm vụ phòng lũ cho hạ du.


    Theo hướng nghiên cứu này, trong thời gian qua đã triển khai thành công đề tài “Nghiên cứu lũ vượt thiết kế ở các hồ chứa và giải pháp làm tràn sự cố” do GS. TS. Phạm Ngọc Quý làm chủ nhiệm.


    b- Nghiên cứu các vấn đề về an toàn đập, đặc biệt là đập đất:


    –        Nghiên cứu khả năng chống thấm qua thân và nền đập, các giải pháp đảm bảo an toàn về thấm.


    –        Nghiên cứu ổn định của mái đập trong những điều kiện bất lợi như mưa lớn làm toàn bộ đất thân đập bị bão hòa nước; thiết bị chống thấm bị thủng; thiết bị thoát nước bị tắc; trường hợp mực nước hồ rút nhanh sau lũ …


    –        Nghiên cứu khả năng xói và giải pháp bảo vệ mái hạ lưu đập khi có nước tràn đỉnh đập. Theo hướng này, ở trường ta đã thực hiện các đề tài nghiên cứu về thấm dị hướng qua đập đất, ổn định của mái khi nước rút nhanh, giải pháp chống thấm bằng tường hào ximăng – bentonite, hào đất – bentonite, phương pháp gia cố chống xói mái đập hạ lưu …


    c- Nghiên cứu các vấn đề về an toàn của công trình tháo lũ:


    –        Khả năng tháo của công trình tràn với các điều kiện biên thực tế.


    –        Các vấn đề tiêu năng, chống xói ở hạ lưu tràn.


    –        Các vấn đề về mạch động, rung động công trình.


    –        Các vấn đề về khí thực mặt tràn, dốc nước.


    –        Vấn đề hàm khí, thoát khí ở công trình tháo nước.


    d- Nghiên cứu về khả năng thoát lũ và an toàn cho vùng hạ du đập:


    –        Khả năng thoát lũ ở hạ du khi tràn xả lũ thiết kế, lũ kiểm tra.


    –        Sự truyền sóng lũ trong sông hạ lưu với các kịch bản vỡ đập khác nhau.


    –        Về chỉ giới thoát lũ và các biện pháp đảm bảo an toàn cho vùng hạ du.


     



    1. Về an toàn của hồ-đập Kẻ Gỗ

    Hồ Kẻ Gỗ là hồ chứa nước lớn nhất ở Hà Tĩnh hiện nay. Hồ có tổng dung tích 425 triệu m3, dung tích hữu ích 345 triệu m3, diện tích lưu vực 233 km2. Hồ có nhiệm vụ tưới cho 21.136 ha đất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp 1,6 m3/s, kết hợp phát điện trong mùa tưới. Công trình đầu mối thuộc cấp II; đập chính là đập đất cao 37,4 m; ngoài ra còn có 3 đập phụ cũng là đập đất. Công trình xả lũ gồm tràn chính (tràn Dốc Miếu) có B=2×10 m, lưu lượng xả thiết kế Q=1065 m3/s; ngoài ra còn có tràn dự phòng qua hành lang cống lấy nước và tràn sự số có B=65 m. Cống lấy nước dưới đập có kích thước B×H=3×3m; lưu lượng thiết kế Q=28,2 m3/s, cống có cửa van ở hạ lưu để điều tiết nước cho tưới, cấp nước, phát điện.


    Hồ Kẻ Gỗ được xây dựng trong thời gian 1976-1988. Trải qua hơn 30 năm làm việc, hồ đã phát huy tốt tác dụng của mình, biến một vùng đất khô cằn của hai huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà thành vùng đồng bằng màu mỡ, ruộng vườn tươi tốt quanh năm.


    Trong thời gian 2005-2006 đã có đợt khảo sát đánh giá an toàn hồ-đập, đã phát hiện các biểu hiện xuống cấp của công trình đầu mối như nước thấm ra mái hạ lưu đập chính và đập phụ, xâm thực trên bề mặt mũi phun đập tràn, xâm thực trong lòng cống lấy nước ở khu vực sau cửa van điều tiết thượng lưu và một số hư hỏng cục bộ khác.















     Hình 1: Xâm thực trên mặt dốc nước đường tràn









    Hình 2: Nước thấm ra mái HL đập


        Dự án sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Kẻ Gỗ thực hiện từ năm 2007 đến nay đã giải quyết được các vấn đề sau:


    –        Sửa chữa, nâng cấp đập chính và các đập phụ (chống thấm, kiên cố hóa đỉnh đập, bảo vệ mái thượng lưu …).


    –        Sửa chữa, nâng cấp cống lấy nước và cửa van điều tiết.


    –        Nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống kênh (đang thực hiện).


    –        Nâng cấp hệ thống đường quản lý.


    Trong trận lũ đầu tháng 10 năm 2010 vừa qua, các hạng mục của công trình đầu mối làm việc bình thường. Tràn xả lũ đã được điều tiết để vừa hạn chế lưu lượng xả lớn nhất xuống hạ lưu và vẫn đảm bảo an toàn cho bản thân công trình. Lưu lượng xả lớn nhất trong đợt này là 600 m3/s, nhỏ hơn lưu lượng xả thiết kế là Q=1065 m3/s. Tuy nhiên khu vực hạ du vẫn ngập nặng là do kết hợp với mưa lớn lịch sử và triều cường từ phía biển.


    Dưới góc độ chuyên môn, hiện tại hệ thống công trình hồ Kẻ Gỗ còn có những điểm cần quan tâm như sau:


    –        Đường tràn chính: xâm thực bề mặt dốc nước chưa được khắc phục, nếu tràn xả đủ lưu lượng thiết kế, khả năng xâm thực sẽ còn mạnh hơn.


    –        Tràn sự cố được kết cấu theo kiểu tự vỡ khi nước tràn qua. Tuy nhiên qua nhiều năm tràn không làm việc, vật liệu thân đập đã được lèn chặt, liệu đập có tự vỡ được như thiết kế nữa không?


    –        Muốn chủ động điều tiết cửa xả để cắt lũ cho hạ du và bảo vệ bản thân công trình, cần có số liệu dự báo mưa lũ chính xác, kịp thời. Hiện tại ở thượng nguồn hồ Kẻ Gỗ chưa có trạm khí tượng thủy văn, đây là một khó khăn lớn cho công tác dự báo.


    –        Vấn đề quy hoạch phòng chống lũ cho hạ du chưa được giải quyết một cách bài bản.


    Hiện tại Viện Kỹ thuật Công trình – trường Đại học Thủy lợi đang thực hiện Hợp đồng nghiên cứu về đảm bảo an toàn cho hồ-đập Kẻ Gỗ nên tất cả các vấn đề nêu trên đang được quan tâm xem xét.


     



    1. Kết luận

    An toàn cho hồ-đập là một vấn đề cấp bách hiện nay. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, mưa lũ bất thường, các hồ đập nói chung, đặc biệt là các hồ-đập vừa và nhỏ có mức độ an toàn không cao, nguy cơ xảy ra sự cố vỡ đập là có thật.


    Để từng bước nâng cao độ an toàn của hồ-đập, cần phải thực hiện các nghiên cứu cụ thể đối với từng nhóm đề tài nêu trên. Nhà nước cần sớm hoàn chỉnh các tiêu chuẩn và chế tài đối với vấn đề an toàn hồ đập, có chính sách đầu tư đúng hướng và nhất quán đối với sự nghiệp Thủy lợi nói chung và công tác an toàn hồ-đập nói riêng.

  • Trường Đại học Thủy lợi trúng tuyển 01 đề tài độc lập cấp Nhà nước thực hiện trong kế hoạch năm 2009

    Ngày 16 tháng 7 năm 2008, Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định số 1472/QĐ-BKHCN về việc phê duyệt tổ chức và cá nhân chủ trì đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm độc lập cấp nhà nước thực hiện trong kế hoạch năm 2009. Trường Đại học Thủy lợi đã trúng tuyển 01 đề tài do GS. TS Nguyễn Văn Mạo chủ trì với tên “Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn các công trình xây dựng trong điều kiện thiên tai bất thường vùng duyên hải miền Trung”.

    Thông tin chi tiết

  • Đại hội thành lập Hội tưới tiêu Việt Nam

    Đại hội thành lập Hội tưới tiêu Việt Nam

    Ở Việt Nam, trong những thập kỷ qua, công tác thuỷ lợi nói chung cũng như tưới tiêu nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm.Nhiều công trình, hệ thống công trình thuỷ lợi lớn nhỏ được xây dựng, hình thành nên cơ sở vật chất hạ tầng hết sức to lớn với giá trị trên 100 nghìn tỷ đồng phục vụ tưới tiêu, ngăn mặn, giữ ngọt, du lịch, đảm bảo cho sản xuất và đời sống dân sinh.Công tác tưới tiêu đã khẳng định được vai trò vị trí của mình trong công tác Thuỷ lợi, đóng góp to lớn cho việc phát triển của Ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.


    Ngày 19/7/2007, Đại hội thành lập Hội tưới tiêu được tổ chức tại Trường Đại học Thuỷ lợi.Tham dự đại hội có đại diện cho các cơ quan Trung ương, các Bộ ngành, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Kế hoạch đầu tư, đại diện các cơ quan, Công ty, Sở, các Chi cục Thuỷ lợi, Chi cục đê điều và phòng chống lụt bão, các Hội thuỷ lợi, Hội Đập lớn…










    GS.TS Đào Xuân Học làm Chủ tịch danh dự của Hội tưới tiêu Việt Nam 


    Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội, PGS.TS Đào Xuân Học – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhấn mạnh sự cần thiết của việc tập hợp đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tưới tiêu (hiện cả nước có trên 22.000 người) đang không ngừng phát triển, lớn mạnh để có điều kiện tập trung phát huy năng lực trí tuệ, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tham gia tư vấn về cơ chế chính sách tưới tiêu cho cơ quan quản lý nhà nước cũng như vận động cộng đồng tham gia vào phát triển công tác tưới tiêu.


    Tên gọi chính thức của tổ chức là Hội tưới tiêu Việt Nam. Hội có tên giao dịch quốc tế theo Tiếng Anh là Vietnam National Commission on Irrigation and Drainage. Là tổ chức tự nguyện, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, tập hợp những người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, quy hoạch, khảo sát thiết kế xây dựng, quản lý vận hành công trình thuỷ lợi và các hoạt động khác liên quan đến công tác tưới tiêu nhằm trao đổi thông tin, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng hợp tác khoa học công nghệ…


    Sau khi thông qua Điều lệ Hội tưới tiêu Việt Nam và phương hướng hành động hoạt động của Hội, Đai hội giới thiệu và bầu ra Ban chấp hành Hội tưới tiêu Việt Nam. Ban chấp hành Hội tưới tiêu Việt Nam đã họp phiên đầu tiên và công bố: bầu GS.TS Đào Xuân Học làm Chủ tịch danh dự của Hội; ông Phạm Xuân Sử – nguyên Cục trưởng Cục Thuỷ lợi, trưởng Ban vận động giữ chức vụ chủ tịch Hội, các Phó Chủ tịch Hội bao gồm: PGS.TS Nguyễn Quang Kim – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi; ông Nguyễn Thế Quảng – Viện trưởng Viện Khoa học Thuỷ lợi; ông Tô Trung Nghĩa – Viện trưởng Viện Quy hoạch Thuỷ lợi; Ông Tăng Đức Thắng – Phó Viện trưởng viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam cùng Ban thường vụ gồm 25 uỷ viên và Ban Kiểm tra gồm 5 đồng chí.


    Linh Ngọc


    Ảnh HMT


     

  • ElNino DECODING

    ElNino DECODING

    INTRODUCTION


     ENSO indicates the relation between El Nĩno and Southern oscillation that have been cognized since 1957. This ENSO does not provide the causes and mechanisms that generate El Nĩno with their controlling system. In other hand, in the conditions of global warming of today, there is disorder in the relation mentioned above. For example, from the end of 1990 to the mid of 1995 (fig. 2.27), the values of SOI are negative (-) but there were only three small discontinuous El Nĩno in 1992, 1993 and from the end of 1994 to the beginning of 1995; from the mid of 2001 until now, the disorder has usually appeared. All of these prove that ENSO is only experienced correlation and up to now there is no El Nĩno theory.


     These matters of fact need to investigate the El Nĩno theory that inclined to ocean – atmosphere interaction or macro-scale deep convection in order to explain the latent rules showed in the surveyed data – called El Nĩno decoding. Of course, the macro-scale deep convection that would be studied in the first part as below not only to build the El Nĩno theory but also would be the most fundamental one to understand both the dynamics of the atmosphere and ocean which contribute to develop this matter in the future…..

    Click here and read more

  • HỘI NGHỊ KHOA HỌC 
NHÂN DỊP KỈ NIỆM 50 NĂM THÀNH LẬP ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

    HỘI NGHỊ KHOA HỌC NHÂN DỊP KỈ NIỆM 50 NĂM THÀNH LẬP ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

    Nhân dịp kỉ niệm 50 năm thành lập Trường Đại học Thuỷ lợi (14/11/1959 – 14/11/2009), Trường Đại học Thuỷ Lợi đã tổ chức Hội nghị khoa học. Tham dự hội nghị có các nhà nghiên cứu trong trường, các nhà nghiên cứu ngoài trường và các nhà nghiên cứu đến từ Hà Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Italia, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc.

    Mở đầu buổi hội nghị là diễn văn khai mạc của PGS. TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng nhà trường. Bài diễn văn đã tổng kết và đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của cán bộ giáo viên nhà trường trong những năm qua: “Những năm qua, nhà trường đã gắn hoạt động khoa học công nghệ với thực tế địa phương và các đơn vị sản xuất trong nước, đã gắn hoạt động khoa học công nghệ với hoạt động hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo và sản phẩm khoa học công nghệ. Trường Đại học Thuỷ lợi đã khẳng định được thương hiệu của mình trong hoạt động khoa học công nghệ và đào tạo, tạo được sự tin cậy của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, bộ Khoa học Công nghệ, bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành và các đối tác cũng như sự tin cậy của bạn bè quốc tế. Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học do cán bộ, giáo viên của trường chủ trì và tham gia thực hiện tăng nhanh qua từng năm cả về số lượng, chất lượng cũng như quy mô đề tài. Đặc biệt trong năm 2009, nhà trường đang chủ trì thực hiện 7 đề tài cấp nhà nước với tổng kinh phí thực hiện trong năm 2009 là 8686 triệu đồng; 11 đề tài cấp Bộ với tổng kinh phí thực hiện trong năm 2009 là 6390 triệu đồng. Số đề tài và kinh phí nghiên cứu khoa học trong 5 năm gần đây chiếm 35% tổng số đề tài và kinh phí của 20 năm qua”.
     

    PGS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường khai mạc Hội nghị khoa học

    Sau phần diễn văn khai mạc là phần trình bày báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu. Hội nghị đã quy tụ được 255 báo cáo khoa học, trong đó 164 báo cáo của các tác giả trong trường, 72 báo cáo của các tác giả ngoài trường, 19 báo cáo của các tác giả quốc tế. Để việc trình bày các báo cáo được tập trung, phù hợp với đối tượng và tiết kiệm thời gian, ban tổ chức đã chia các báo cáo thành 10 tiểu ban:

    Tiểu ban 1: Toán và Công nghệ Thông tin

    Tiểu ban 2: Cơ điện và Năng lượng

    Tiểu ban 3: Kinh tế và Quản lý

    Tiểu ban 4: Công trình

    Tiểu ban 5: Thuỷ văn và Tài nguyên nước

    Tiểu ban 6: Thuỷ động lực sông biển

    Tiểu ban 7: Kỹ thuật Môi trường

    Tiểu ban 8: Kỹ thuật Tài nguyên nước

    Tiểu ban 9: Khoa học Xã hội và Nhân văn

    Tiểu ban 10: Quốc tế

    Hoạt động báo cáo diễn ra nghiêm túc, sôi nổi. Sau khi báo cáo viên trình bày xong là phần hỏi đáp, tranh luận của những người tham dự làm tăng thêm tính khoa học và làm cho không khí hội nghị thêm sôi nổi. Các đề tài nghiên cứu đều xuất phát từ những vấn đề thực tế nên rất thiết thực và có thể ứng dụng ngay vào công việc, như: Triển khai tổ chức đào tạo các môn Khoa học Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Thuỷ lợi – Ths Tô Mạnh Cường, Phương pháp giảng dạy các môn học kỹ năng tại trường Đại học Thuỷ lợi – TS Đặng Tùng Hoa – Ths Vũ Huy Vĩ, Tích hợp mô hình 3 lớp trong triển khai ứng dụng .NET-ThS. Nguyễn Thanh Tùng, ThS. Trịnh Hồng Cường, Phương pháp luận và cơ sở khoa học đánh giá tổng hợp công trình thuỷ lực phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế, xã hội và môi trường – GS. TS Bùi Hiếu và cộng tác viên, Phương pháp thí nghiệm hiện trường kiểm tra đo đạc vết nứt bê tông bản mặt đập chính hồ chứa nước Cửa Đạt – TS Nguyễn Hữu Huế – Ths Thân Văn Văn, Phương pháp phần tử hữu hạn tự thích ứng và ứng dụng trong phân tích đập bê tông trọng lực – Ths Vũ Hoàng Hưng – TS Nguyễn Quang Hùng, Xây dựng mô hình sản xuất sạch hơn trong chế biến đường mía và các sản phẩm sau đường – áp dụng cho Công ty cổ phần mía đường Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình – Ths Phạm Thị Ngọc Lan, Công nghệ lọc sinh học trong xử lí nước thải nhà máy chế biến hoa quả – TS Phạm Thị Minh Thư, Ứng dụng công nghệ scan 3D vào quản lí và kiểm tra chất lượng sản phẩm – Ths Hoàng Đức Bằng – Ks Hồ Sĩ Sơn, Nghiên cứu giải pháp giảm áp suất chân không trong ống hút của nhà máy thuỷ điện ngầm bằng kết cấu khe hẹp tại tháp van – TS Nguyễn Văn Sơn, Một số loại cửa van có thể áp dụng cho thiết kế, xây dựng công trình ngăn sông lớn ở Việt Nam – PGS. TS Trần Đình Hoà và các cộng sự, Mô phỏng hệ thống thoát nước thành phố Hà Nội và xác định giải pháp tiêu nước tổng thể – PGS. TS Dương Thanh Lượng, Ảnh hưởng của chế độ nước mặt ruộng đến năng suất lúa, mức nước và lượng mưa hiệu quả – PGS. TS Trần Viết Ổn, Ứng dụng phân tích rủi ro vào việc lựa chọn tiêu chuẩn an toàn cho đê biển Việt Nam – NCS Nguyễn Văn Thìn – PGS. TS Nguyễn Bá Quỳ, Dự án cống Thủ Bộ và những kết quả nghiên cứu bước đầu để lựa chọn giải pháp kết cấu cống – GS. TS Nguyễn Văn Mạo – Ths Lê Xuân Bảo, …

    Hội nghị lần này đã tập trung được một đội ngũ hùng hậu các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các báo cáo có tính khoa học và có tính thực tiễn cao. Đây là thế mạnh trường Đại học Thuỷ lợi. Hội nghị đã thành công tốt đẹp trong niềm hân của những người tham gia. Hội nghị đã khẳng định thêm năng lực và thương hiệu Đại học Thuỷ lợi Việt Nam, đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ tốt đẹp của trường Đại học với các trường đại học trong nước và quốc tế.

    Một vài hình ảnh của Hội nghị:

     

     

     

     Huy Vĩ – Thái Trang

  • 20 trận bão từ ảnh hưởng tới Việt Nam trong năm nay







    SV học ĐH phải chia
    Bùng nổ sắc cầu mặt trời – nguyên nhân gây ra bão từ
    “Càng đến chu kỳ hoạt động mạnh của nó, thì cường độ và số lượng bão từ càng tăng lên. Với chu trình của bão từ là 11 năm, năm có bão từ hoạt động mạnh nhất là năm 2001, thì phải đến năm 2011 – 2012, mới sẽ quay lại giai đoạn hoạt động mạnh. Lúc đó, một năm sẽ có khoảng 40 – 50 trận ảnh hưởng đến nước ta, tính ra một tháng sẽ có khoảng 3 – 4 trận bão từ, trong đó sẽ có những trận cường độ rất mạnh” – Ông Châu cho biết.

     


    Đại diện Viện Vật lý Địa cầu cũng cho biết từ đầu năm đến nay có một số trận bão từ xảy ra nhưng do cường độ nhỏ nên không gây tác động đáng kể.


     


    “Nhìn chung, bão từ dự báo được, nhưng ở Việt Nam chưa quan trắc được. Còn trên thế giới, họ đã quan trắc trên bề mặt mặt trời thấy có những đám lửa rất lớn bùng nổ trong Vũ trụ, thì người ta xác định được lượng lửa này bùng nổ bao nhiêu thì dưới đất sẽ tính được cường độ của bão từ. Việt Nam mình chỉ sử dụng số liệu của thế giới và chỉ ghi lại được khi bão từ xảy ra”- Đại diện Viện Vật lý địa cầu cho biết.


     


    Hiện trên thế giới có hai vùng (vùng cực quang và vùng xích đạo) là vùng chịu ảnh hưởng mạnh nhất của bão từ. Khi bão từ xảy ra, cường độ của bão ở hai vùng này có thể lên tới hàng nghìn nT (nano Tesla – đơn vị đo cường độ bão từ).


     


    Ở Việt Nam, trận bão từ mạnh nhất mà từ trước tới nay ghi nhận được là trận bão từ xảy ra năm 1989. Khi đó cường độ bão từ ghi nhận được ở Sapa lên tới 660 nT. Trận bão từ này trùng với một trận bão ở Quebec (Canada) năm đó khiến toàn bộ hệ thống truyền tải điện 550KV của Canada bị sụp đổ, gây thiệt hại hàng tỷ USD.


     


    Còn ở Hà Nội, năm 2001 các nhà nghiên cứu cũng đã ghi lại được một số trận bão từ mạnh tới 550 nT. Cũng theo ông Châu, từ năm ngoái đến nay, thì cường độ các trận bão từ ở Việt Nam không đáng kể, chỉ khoảng 100 nT. Dự báo cường độ của các trận bão từ trong năm 2008 dao động ở mức 300- 400 nT.


     


    Cách phòng chống và tác hại


    Về cách phòng chống ảnh hưởng do bão từ gây ra, ông Châu cho biết ở Liên Xô (cũ), khi bão từ xảy ra, những người điều trị trong bệnh viện tim mạch và thần kinh được cho vào trong một cái lồng thiết kế đặc biệt có tác dụng ngăn cản biến thiên của từ trường.


     


    Ở Việt Nam hiện chưa có biện pháp nào. Tuy nhiên, để hạn chế ảnh hưởng, khi bão từ xảy ra, người dân nên ở trong ôtô, hoặc trong nhà xây bê tông, sẽ hạn chế được phần nào ảnh hưởng.


     


    Ông Châu cũng cho biết, khi xảy ra, bão từ sẽ có những tác động đối với sức khỏe, mạnh nhất là tim và hệ thần kinh, làm cho con người mệt mỏi. Tuy nhiên, bão từ chỉ tác động mạnh tới những người mẫn cảm, còn đa số mọi người lại không cảm nhận được những biến đổi từ trường.


     


    Chỉ những cơn bão từ có cường độ 200 nT trở lên mới ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Tại Liên Xô, thống kê của các nhà khoa học cho thấy, khi bão từ xảy ra, thì số người chết vì bệnh tim mạch tăng đến 30%.


     


    Cùng với ảnh hưởng tới sức khỏe con người, bão từ còn ảnh hưởng tới các đường dây cao thế và cũng ảnh hưởng tới ống dẫn dầu khí, gây ra ăn mòn đường ống.


     


    Đối với các vệ tinh viễn thông, trong đó có Vệ tinh Vinasat 1 mới phóng của Việt Nam, bão từ sẽ ảnh hưởng đến khả năng truyền thông tin liên lạc, làm mất tín hiệu đường truyền. Trên thế giới cũng từng ghi nhận vụ tai nạn máy bay do bão từ gây ra.



    Theo Tiền phong