Danh mục: Tin khoa học công nghệ

  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242

    Vừa qua, PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Cúc, giảng viên ngành Công nghệ sinh học (CNSH) trường Đại học Thủy lợi và tập thể tác giả đã vinh dự và tự hào được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242 về Quy trình nuôi trồng Đông trùng hạ thảo 100% hữu cơ với nguồn nguyên liệu bổ sung tảo xoắn và dịch chiết hoa quả cho sản phẩm có hàm lượng chất có hoạt tính sinh học (Cordycepine và Adenosine) cao.

    Trong quy trình này, giải pháp Thủy lợi (Kỹ thuật tưới hiện đại – công nghệ cao – tưới phun sương nhẹ) đã được nghiên cứu và áp dụng để tạo độ ẩm cao nhưng không ướt và ổn định (70-80%) trong suốt thời gian nuôi. Kỹ thuật tưới này đã được kết hợp nhịp nhàng với giải pháp CNSH (kỹ thuật và nguyên liệu) để tạo ra quy trình tối ưu cho ra sản phẩm Đông trùng hạ thảo hữu cơ 100% có giá trị cao.

    Công nghệ sinh học được hiểu là việc áp dụng các kỹ thuật, công nghệ trên đối tượng sinh vật nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ xã hội loài người. Vậy CNSH cần được đào tạo và nghiên cứu theo hướng nào trong Trường Đại học Thủy lợi? Tài nguyên nước sẽ là nguồn căn của ngành CNSH? Đây chính là suy nghĩ xuyên suốt tháng năm xây dựng đề án mở ngành CNSH tại Trường Đại học Thủy lợi. Nhóm tác giả đã thật may mắn được làm việc và cộng tác với những người Thầy, những người đồng nghiệp tốt để phát triển hướng phát triển  ngành của Trường gắn với thành tựu khoa học truyền thống của Nhà trường về Tài nguyên nước, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của ngành CNSH.

    NTKC

  • Phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

    Phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050

    (ĐCSVN) – Mục tiêu chung của quy hoạch nhằm bảo đảm cấp nước, tiêu, thoát nước cho dân sinh, sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế và bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực phòng, chống, giảm thiệt hại do thiên tai, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển ở thượng nguồn các sông liên quốc gia.

    Ảnh minh họa 

    Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang vừa ký Quyết định số 847/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Phạm vi quy hoạch bao gồm trên toàn bộ phần diện tích đất liền và một số đảo đông dân cư, có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh (Vân Đồn, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Phú Quý, Lý Sơn, Phú Quốc, Côn Đảo), theo các vùng phát triển kinh tế-xã hội, theo các lưu vực sông.

    Mục tiêu chung của quy hoạch nhằm bảo đảm cấp nước, tiêu, thoát nước cho dân sinh, sản xuất nông nghiệp, các ngành kinh tế và bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực phòng, chống, giảm thiệt hại do thiên tai, góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển ở thượng nguồn các sông liên quốc gia.

    Cấp đủ nguồn nước phục vụ sinh hoạt

    Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, về cấp nước, phấn đấu cấp đủ nước phục vụ sinh hoạt; cấp và tạo nguồn cấp nước cho nông thôn, đô thị, công nghiệp, khu kinh tế…; đáp ứng nhu cầu nước cho hoạt động kinh tế ven biển, các đảo có đông dân cư. Chủ động nguồn nước tại chỗ cho sinh hoạt ở các khu vực bị ảnh hưởng của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; chú trọng một số vùng đặc biệt khó khăn về nguồn nước, vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng. Chủ động kiểm soát mặn, ngọt tại các vùng cửa sông, vùng ven biển.

    Cấp nước tưới chủ động cho diện tích lúa 2 vụ với tần suất đảm bảo 85%, riêng vùng đồng bằng sông Hồng đảm bảo 85-90%, đối với các vùng khó khăn về nguồn nước và giải pháp thủy lợi (miền núi, biên giới, ven biển, hải đảo) bảo đảm 75-85%; kết hợp các giải pháp tưới tiết kiệm nước.

    Cấp nước tưới đảm bảo cho 70% diện tích cây trồng cạn, nâng dần tần suất đảm bảo tưới cho rau màu lên 90%, cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm 90-95%. Đảm bảo cấp đủ nước cho gia súc, gia cầm với khoảng 10,5 triệu con. Cấp nước và thoát nước chủ động cho 1,35 triệu ha nuôi trồng thủy sản thâm canh tập trung.

    Đồng thời, bổ sung nguồn nước trên sông, kênh, hệ thống thủy lợi bị ô nhiễm, góp phần cải tạo môi trường, đảm bảo chất lượng nước đáp ứng yêu cầu sử dụng nước.

    Về tiêu, thoát nước, phấn đấu bảo đảm tiêu, thoát nước qua công trình thủy lợi cho khoảng 3,5 triệu ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản và diện tích đất đô thị, công nghiệp với tần suất mưa thiết kế 10%.

    Khắc phục hoàn toàn tình trạng ô nhiễm nguồn nước

    Tầm nhìn đến năm 2050 cấp đủ nguồn nước phục vụ sinh hoạt với mức đảm bảo 100%; cấp và tạo nguồn cấp nước cho khu vực nông thôn, đô thị, công nghiệp, khu kinh tế…; đáp ứng nhu cầu nước cho hoạt động kinh tế ven biển, các đảo có đông dân cư.

    Cấp nước tưới chủ động cho toàn bộ diện tích lúa được tưới với tần suất đảm bảo tối thiểu 85%, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng đảm bảo 90% đến 95%, chủ động với các kịch bản cực đoan, nâng cao tỷ lệ tưới tiết kiệm nước.

    Khắc phục hoàn toàn tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên các sông, kênh, hệ thống thủy lợi…

    Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phòng chống thiên tai và thủy lợi

    Để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phòng chống thiên tai và thủy lợi, Quy hoạch đã đưa ra phương án chung và phương án phát triển cho từng vùng.

    Phương án chung gồm: Tạo nguồn, tích trữ, điều hòa nguồn nước; nâng cấp, cải tạo các hệ thống thủy lợi; khắc phục tình trạng hạ thấp mực nước; cấp nước sinh hoạt; tiêu, thoát nước và chống ngập úng; phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; phòng, chống lũ, ngập lụt và các loại hình thiên tai khác.

    Cụ thể, nâng cấp, cải tạo các hệ thống thủy lợi: Nâng cao hiệu quả, năng lực của các công trình hiện có, trong đó tập trung nâng cấp công trình đầu mối, hệ thống kênh chính, bổ sung đầu tư mới các công trình thuộc hệ thống, tăng khả năng tự làm sạch, cải thiện chất lượng nước, phòng, chống ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống công trình thủy lợi, bảo đảm khôi phục, duy trì và nâng cao năng lực phục vụ của các hệ thống thủy lợi, góp phần đồng bộ với kết cấu hạ tầng các ngành.

    Khắc phục tình trạng hạ thấp mực nước: Xây dựng đập dâng, công trình dâng nước trên dòng chính đối với các sông có biến động lớn về lòng dẫn, diễn biến hạ thấp đáy sông, suy giảm mực nước và nguy cơ xâm nhập mặn cao…

    Cấp nước sinh hoạt: Đầu tư xây dựng hệ thống các công trình cấp nước, tạo nguồn, dẫn nguồn cấp nước ổn định cho sinh hoạt, hoàn thiện các công trình cấp nước tập trung nông thôn, ưu tiên cho khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và các đảo. Nâng cấp, sửa chữa, kết hợp với quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng nhằm phát huy hiệu quả, hoạt động bền vững của công trình; ưu tiên lấy nước từ hệ thống công trình thủy lợi, hồ chứa, đập dâng để bảo đảm nguồn nước ổn định cho công trình cấp nước sinh hoạt.

    Phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn: Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình tạo nguồn nước, tích trữ nước, điều tiết, cân đối nước, cấp nước tại chỗ; sử dụng nước từ hệ thống thủy lợi, hồ thủy điện… phục vụ cấp nước sinh hoạt trong trường hợp xảy ra thiên tai, hạn hán, thiếu nước xâm nhập mặn; nghiên cứu, đầu tư xây dựng công trình trữ, hồ chứa nước phân tán phù hợp với đặc điểm từng vùng, triển khai đầu tư hồ trữ nước ngọt, công trình để trữ nước trên hệ thống sông, kênh rạch…

    Nguồn: https://dangcongsan.vn/thoi-su/

  • Thông báo nhắc hạn nộp bài Hội nghị Khoa học Thường niên – năm 2023

    Thông báo nhắc hạn nộp bài Hội nghị Khoa học Thường niên – năm 2023

    ​
    Hội nghị Khoa học thường niên năm 2023 dự kiến gồm các tiểu ban sau:   
    1. Công trình: Thuộc các lĩnh vực công trình thủy lợi, công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp, công trình giao thông, công trình biển, địa kỹ thuật và thủy điện; 
    2. Kỹ thuật Tài nguyên nước: Thuộc các lĩnh vực kỹ thuật tưới tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống các công trình thủy lợi, cấp nước phục vụ đa mục tiêu;
    3. Thủy văn – Thủy lực: Thuộc các lĩnh vực thủy văn, thủy lực, quản lý giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu;
    4. Hóa & Môi trường: Thuộc các lĩnh vực môi trường, hoá và công nghệ sinh học;
    5. Công nghệ thông tin: Thuộc các lĩnh vực công nghệ thông tin và toán ứng dụng;
    6. Điện – Điện tử: Thuộc các lĩnh vực kỹ thuật điện, điện tử viễn thông, năng lượng, điều khiển và tự động hóa;
    7. Cơ khí: Thuộc các lĩnh vực cơ khí, kỹ thuật ô tô và kỹ thuật cơ điện tử;
    8. Khoa học xã hội: Thuộc các lĩnh vực phương pháp giảng dạy, phát triển kỹ năng, luật và lý luận chính trị;
    9. Kinh tế và Quản lý: Thuộc các lĩnh vực kinh tế, tài chính, du lịch và quản lý;
    10. Ngôn ngữ Anh: Thuộc các lĩnh vực về ngôn ngữ và phương pháp giảng dạy tiếng Anh.
    Chi tiết xem tại: http://hoithaokhcn.tlu.edu.vn/
  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền sáng chế

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền sáng chế

    Vừa qua, TS. Nguyễn Ngọc Linh và ThS. Nguyễn Văn Kựu – Khoa Cơ khí; PGS.TS. Nguyễn Thị Thế Nguyên – Khoa Hóa và Môi trường; PGS.TS. Lê Hải Trung – Khoa Công trình cùng các cộng sự của Trường Đại học Giao thông vận tải, Trường Đại học Xây dựng, Sở Khoa học và Công nghệ Tỉnh Thanh Hóa đã được Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ trao Bằng độc quyền sáng chế về Hệ thống thiết bị ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt và quy trình ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt sử dụng thiết bị này.

    Bằng độc quyền sáng chế số 36099 – Hệ thống thiết bị ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt và quy trình ép kiện và đóng bao chất thải rắn sinh hoạt sử dụng thiết bị này.

    Số đơn 1-2021-05945.

    Cấp theo Quyết định số 31641/QĐ-SHTT. ngày 18/5/2023

    Có thể thấy rằng, nhiều năm qua công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại các địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Riêng việc thu gom, vận chuyển rác giữa thành thị và nông thôn cũng chưa có sự thống nhất cách thức triển khai sao cho hiệu quả. Nhiều năm qua, không ít doanh nghiệp đã đề xuất muốn xây dựng các nhà máy xử lý rác có công nghệ hiện đại xong đến nay, chôn lấp lộ thiên và đốt không qua xử lý vẫn là giải pháp được sử dụng chủ yếu tại các khu xử lý rác. Điều này cho thấy, Việt Nam còn thiếu định hướng, lựa chọn được công nghệ xử lý phù hợp cũng như mô hình hoạt động hiệu quả. Để xử lý các bãi rác lộ thiên hiện nay là một vấn đề cấp bách do rác để lâu ngày ngập trong nước gây ô nhiễm không khí và nguồn nước ngầm xung quanh, giải pháp đặt ra là ép rác thành các kiện đóng vào bao đưa đi chôn lấp đồng thời tách được nước ra khỏi rác là một giải pháp tối ưu. Kiện rác được đóng bao chôn lấp ở các bãi rác được thiết kế đúng tiêu chuẩn sẽ giảm thiểu được ô nhiễm môi trường xung quanh.

    Nghiên cứu này tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ đóng bao-tách nước và các giải pháp phục vụ quá trình vận chuyển, lưu trữ và đốt chất thải rắn sinh hoạt có thể cháy, sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế – kỹ thuật hiện có của các đơn vị xử lý rác ở trên cả nước. Theo đó, quy trình công nghệ đóng bao-tách nước được đề xuất đặt trọng tâm vào hệ thống thiết bị không phức tạp về mặt công nghệ, thuận tiện trong việc chế tạo, vận hành và bảo trì, có tính cơ động cao để đáp ứng điều kiện mặt bằng thi công xử lý hạn chế, cũng như có thể nhân rộng để tăng công suất xử lý theo yêu cầu trong thời gian ngắn.

    Phòng KHCN&HTQT

  • Hoạt động sinh hoạt học thuật sôi nổi tại Trường Đại học Thủy lợi

    Hoạt động sinh hoạt học thuật sôi nổi tại Trường Đại học Thủy lợi

    Vừa qua, bộ môn Quản trị kinh doanh – khoa Kinh tế và Quản lý đã tổ chức sinh hoạt khoa học cho 04 giảng viên, nội dung buổi sinh hoạt nhằm trình bày và trao đổi về các kết quả và định hướng nghiên cứu. Toàn bộ môn đã được nghe các cô giáo trình bầy về các nghiên cứu cùa mình:

    – TS. Nguyễn Thuỳ Linh trình bày về “Sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ thuế điện tử: nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”. Nghiên cứu này nhằm đánh giá và đo lường mức độ tác động của một số nhân tố đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ Thuế điện tử, từ đó sẽ giúp cho cơ quan quản lý hoàn thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ, hiện đại hóa ngành thuế.

    – TS. Hoàng Thị Ba  “Quản trị quan hệ khách hàng ngành chè xuất khẩu: Kinh nghiệm thế giới và bài học rút ra đối với các doanh nghiệp Viêt Nam”, nghiên cứu đưa ra những lý luận về quản trị quan hệ khách hàng, những khó khăn trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng của ngành chè xuất khẩu, giải pháp khắc phục khó khăn và một số bài học kinh nghiệm trong quản trị quan hệ khách hàng của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam.

    – TS. Đặng Thị Minh Thùy “Sự gắn kết của khách hàng với các cộng đồng thương hiệu trực tuyến – Nghiên cứu tại Việt Nam” chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học đến sự gắn kết của khách hàng Việt Nam với các cộng đồng thương hiệu trực tuyến.

    – TS. Hoàng Thị Thu Hiền trình bày nghiên cứu về “Lý luận về rào cản kỹ thuật, đề xuất một số giải pháp vượt rào cản cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản”. Nghiên cứu đưa ra các lý luận về rào cản kỹ thuật, các rào cản kỹ thuật của Mỹ và EU đối với rau quả, từ đó trình bày các giải pháp vượt rào cản của các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả.

    Buổi sinh hoạt học thuật đã giúp các giảng viên có cái nhìn đa chiều, bổ sung thêm kiến thức mới thuộc nhều lĩnh vực khác nhau. Các thành viên trong hội đồng đều đánh giá cao những kết quả nghiên cứu nói trên.

    Bộ môn Quản trị kinh doanh – Khoa Kinh tế và Quản lý

  • Nam sinh “con nhà nông” thiết kế bàn tay robot cho người liệt vừa chơi game, vừa chữa bệnh

    Với sản phẩm “Thiết kế mô hình bàn tay robot để phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt một bàn tay” dưới hướng dẫn của TS. Ngô Quang Vĩ và PGS.TS Nguyễn Trọng Thắng, em Dương Văn Vũ, sinh viên khoa Điện – Điện tử, Trường Đại học Thủy lợi mới đây đã xuất sắc giành giải Nhất nghiên cứu khoa học cấp trường.

    Thiết kế

    Dương Văn Vũ với sản phẩm bàn tay robot. Ảnh: Tào Nga

    “Bàn tay robot” – vừa chơi game, vừa chữa bệnh

    Chia sẻ với PV báo Dân Việt sau khi nhận giải Nhất nghiên cứu khoa học với sản phẩm bàn tay robot, Dương Văn Vũ bày tỏ: “Em rất vui với kết quả này và đây là động lực cho em hoàn thiện sản phẩm hơn nữa để ứng dụng hữu ích hơn cho người bệnh”. 

    Vũ cho biết, nghiên cứu mô hình với mục tiêu mang đến cho người bệnh một thiết bị phục hồi chức năng bàn tay tại nhà. Bàn tay này có khả năng gập duỗi các ngón tay linh hoạt theo nhiều mức độ khác nhau bằng công nghệ xử lý ảnh. Bên cạnh đó, sản phẩm còn phát triển thêm các bài tập thụ động và các bài tập có mục tiêu.

    “Ý tưởng xuất phát từ trường hợp thực tế của thầy giáo hướng dẫn em có người cháu bị bẩm sinh khó vận động bàn tay. Hai thầy trò đã quyết định nghiên cứu sản phẩm để phục hồi chức năng cho những người như cháu. Trên thị trường đã có các sản phẩm tương tự nhưng nhược điểm là trẻ con rất chán với những bài tập đơn điệu và đeo vào nóng nên đòi cởi ra không chịu tập.

    Khi đó em nghĩ trẻ con rất thích chơi game nên đã chuyển hóa các bài tập thành game. Người bệnh sẽ chủ động luyện tập chứ không còn bị ép. Từ lúc lên ý tưởng đến phát triển sản phẩm, em thực hiện trong vòng 6 tháng”, Vũ kể.

    Thiết kế

    Vũ đang giới thiệu về sản phẩm. Ảnh: Tào Nga

    Theo chia sẻ của Vũ, sản phẩm hiện đang phát triển 2 game là bắt bóng dành cho trẻ 2-3 tuổi và xếp hình dành cho trẻ 5-6 tuổi. Thiết bị này không dây nên sử dụng độc lập. Người lớn thì được lập trình các bài tập bình thường. Bàn tay cũng có nhiều kích cỡ linh hoạt cho mọi người đều sử dụng được.

    “Sắp tới em sẽ nghiên cứu phát triển thêm cho sản phẩm có thể giúp bác sĩ thăm khám bệnh từ xa thay vì bệnh nhân phải đến bệnh viện. Tính năng này hiện đã có nhưng khoảng cách chưa được xa. Ngoài ra em muốn tích hợp sản phẩm có thể theo dõi tình trạng sức khỏe và không chỉ phục hồi bàn tay mà cả cánh tay”, Vũ cho hay.

    Gây ấn tượng với bàn tay robot ứng dụng trong y tế này, trước đây Vũ cũng có 2 đề tài về cánh tay robot ứng dụng trong dây chuyền sản xuất công nghiệp.

    Thiết kế

    Sinh viên Dương Văn Vũ, lớp TĐH1, Khoa Điện – Điện tử trình bày đề tài đạt giải Nhất mang tên: Nghiên cứu thiết kế mô hình bàn tay robot để phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt 1 bàn tay. Ảnh: NVCC

    Chàng trai mê nghiên cứu khoa học từ cấp 2

    Vũ sinh ra trong gia đình làm nông, một mình mẹ nuôi 3 chị em Vũ ăn học giỏi giang. Chị của Vũ vừa tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại thương. Vũ kể, từ năm cấp 2 em đã có đam mê về điện. Lên cấp 3 và đại học, em có cơ hội được thực hành nhiều hơn. Tuy nhiên, do mải mê làm các mô hình mà Vũ từng bỏ bê việc học năm cấp 3, học lệch, chỉ giỏi môn Vật lý. Khi thi đại học, Vũ đã phải dồn sức học ôn các môn còn lại để trúng tuyển vào Trường Đại học Thủy lợi. 

    Hiện tại Vũ đã biết cân bằng hơn giữa việc học và tham gia nghiên cứu khoa học. Ngược lại, Vũ thấy rằng việc nghiên cứu khoa học giúp cho việc học trở nên dễ dàng hơn. 

    Thiết kế

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó hiệu trưởng trao thưởng cho các đề tài xuất sắc đạt giải Nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2023. Ảnh: NVCC

    Được biết, năm lớp 12 khi dịch Covid-19 bùng phát, Vũ đã nghiên cứu làm ra máy rửa tay sát khuẩn kèm đo nhiệt độ được sử dụng tại chính ngôi trường mình đang học là Trường THPT Yên Phong, Bắc Ninh. Cũng trong năm lớp 12, Vũ gây ấn tượng với nghiên cứu máy bay không người lái để phục vụ cho việc phun thuốc trừ sâu. 

    Khi được hỏi về kinh phí đã dành cho nghiên cứu khoa học, Vũ tiết lộ: “Em không tốn nhiều tiền mà tận dụng tháo bộ điều khiển từ các dự án từ trước đã làm. Khi lên đại học, em có đi làm thêm nên có tiền để chủ động mua thiết bị nghiên cứu chứ không phải tháo lắp ra nữa”.

    “Hiện tại em muốn phát triển về mảng robot và sau đó sẽ học lên thạc sĩ”, Vũ chia sẻ thêm.

    Đánh giá về các công trình nghiên cứu khoa học, GS.TS Nguyễn Trung Việt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi cho biết: Năm học 2022-2023 phong trào nghiên cứu khoa học sinh viên Trường Đại học Thủy lợi tăng cao khi đã nhận được kỷ lục với 263 đề tài. Các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên đã tiếp cận với nhiều vấn đề khoa học công nghệ mới, sản phẩm có khả năng ứng dụng cao. Phần lớn các báo cáo có chất lượng tốt, khả năng thuyết trình của sinh viên rất tự tin. Năm nay có 10 đề tài xuất sắc được trao giải và Dương Văn Vũ là sinh viên đạt giải cao nhất. 

    Theo Dân Việt

  • Thiếu điện – Cắt điện – Tiết kiệm nước

    Thiếu điện – Cắt điện – Tiết kiệm nước

    Vì ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, tình trạng nắng nóng, hạn hán, thiếu nước đã làm cho các hồ thủy điện ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây là dấu hiệu đáng lo ngại cho sự thiếu nước sản xuất, sinh hoạt cũng như việc sản xuất điện sẽ gặp nhiều khó khăn khi mà trong thời gian tới, nắng nóng còn gia tăng. Việc đưa ra các giải pháp tức thời và dài hạn để nhằm giảm mạnh việc tiêu hao lượng nước một cách lãng phí là rất cần thiết lúc này. Trường Đại học Thủy lợi đã góp phần không nhỏ trong công tác phát triển thủy điện của nước ta.

    Với nhà máy thủy điện, việc duy trì mực nước phù hợp là cực kỳ quan trọng. Với các nhà máy ví dụ như các hình dưới (hình 1): khi mực nước hồ về mực nước chết (MNC) thì:

    1. Công suất khả dụng (công suất có thể phát được) chỉ còn (56 ÷ 65)%. Lúc này, nếu có nhiều nước cũng không thể phát công suất lớn được.
    2. Tiêu hao nước tăng cao (167 ÷ 186) % (để phát được 1kWh ở mực nước thấp cần lượng nước gần 2 lần so với khi ở mực nước cao).
    3. Việc vận hành trong điều kiện cột nước thấp sẽ phát sinh các điều kiện làm việc bất lợi đối với thiết bị của nhà máy thủy điện.

     

    Hình  1 – Biểu đồ đặc tính năng lượng của nhà máy thủy điện (đường đỏ – công suất phát; đường xanh: mức độ tiêu hao nước)

    Các giải pháp có thể thực hiện:

    1. Giải pháp tức thời: tiết kiệm năng lượng

    • Các hộ dùng điện sử dụng điện tiết kiệm
    • Các nhà thủy điện: xác định chế độ phát điện tốt khi mực nước hồ thấp (tiết kiệm nước)

    2. Các giải pháp dài hạn:

    Với mục tiêu NetZero vào 2050, khi đó tỷ trọng năng lượng tái tạo trong hệ thống tăng cao thì vai trò của thủy điện lại càng đặc biệt quan trọng (khi không có các nguồn lưu trữ khác). Cần có giải pháp dài hạn trong vận hành các công trình hiện có và phát triển các công trình thủy điện mới:

    • Xác định lại chế độ vận hành của các nhà máy thủy điện khi tỷ trọng năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, …) trong hệ thống điện tăng cao;
    • Đánh giá hiện trạng chất lượng vận hành của các nhà máy thủy điện (đánh giá mức độ hiệu quả trong sử dụng nước), từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng vận hành;
    • Nâng cao khả năng dự báo thủy văn trong việc lập kế hoạch phát điện cho các nhà máy thủy điện (dài hạn và ngắn hạn);
    • Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong việc nâng cao chất lượng vận hành các nhà máy thủy điện;
    • Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án thủy điện tích năng. Tăng công suất quy hoạch của các nhà máy lưu trữ năng lượng, đặc biệt là các nhà máy thủy điện tích năng.

    3. Các giải pháp TLU đã thực hiện:

    • Nghiên cứu chế độ vận hành hợp lý (tối ưu, cận tối ưu) cho các nhà máy thủy điện, bậc thang nhà máy thủy điện
    • Tập huấn nâng cao chất lượng vận hành phát điện cho các nhà máy thủy điện (hình 2)
    • Xây dựng các công cụ hỗ trợ vận hành phát điện, chuyển giao cho các nhà máy thủy điện (Phần mềm: Vận hành tối ưu trạm thủy điện) (hình 3, 4)
    • Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác vận hành các nhà máy thủy điện. (hình 5)

    Hình  2 – Trường Đại học Thủy lợi tổ chức tập huấn nâng cao chất lượng vận hành phát điện cho các nhà máy thủy điện

    Hình  3 – Cán bộ vận hành theo dõi chỉ dẫn vận hành phát điện từ phần mềm Vận hành tối ưu trạm thủy điện

    Hình 4 – Kết quả ứng dụng sản phẩm khoa học công nghệ của Trường Đại học Thủy lợi trong vận hành nhà máy thủy điện

    Hình  5 – Tập thể giảng viên Bộ môn Thủy điện và năng lượng tái tạo – Trường Đại học Thủy lợi

    TS. Nguyễn Đức Nghĩa – Bộ môn Thủy điện và Năng lượng tái tạo

     Khoa Công trình – Trường Đại học Thủy lợi

  • Quản lý chất thải nhựa ngành Nông nghiệp, thực trạng và giải pháp

    Quản lý chất thải nhựa ngành Nông nghiệp, thực trạng và giải pháp

    Nông nghiệp và phát triển nông thôn là một trong những ngành kinh tế quan trọng của quốc gia. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp góp phần thiết yếu trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định đời sống và an sinh xã hội. Tuy nhiên, hoạt động này cũng tạo áp lực lớn cho môi trường, trong đó có vấn đề chất thải nhựa trong ngành. Tổng lượng chất thải rắn (bao gồm chất thải nhựa) phát sinh từ trồng trọt khoảng 661,5 nghìn tấn/năm (gồm 550 nghìn tấn ni lông, 77,49 nghìn tấn vỏ bao bì phân bón và 33,98 nghìn tấn vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật); chất thải rắn phát sinh từ chăn nuôi là 67,93 triệu tấn, trong đó riêng chất thải nhựa 77 nghìn tấn từ nhựa vỏ bao bì thức ăn; thủy sản là 880 nghìn tấn bùn thải và 273 nghìn tấn chất thải nhựa từ bao bì thức ăn, vỏ thuốc thú y và các loại chất rắn khác.. Chính từ hiện trạng trên, cần thiết thúc đẩy các giải pháp hành động giảm thiểu chất thải nhựa ngành nông nghiệp một cách có hệ thống.

    Theo ông Phùng Đức Tiến – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các giải pháp này phải huy động nguồn lực của tất cả các bên nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động sản xuất, hướng tới phát triển nền sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững. Qua đó, góp phần xây dựng nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Thúc đẩy mô hình thu gom và tái chế hiệu quả

    Hiện nay, một số giải pháp đang triển khai tại nhiều địa phương, giúp giảm thiểu, thu gom, phân loại, tái sử dụng và tái chế chất thải trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

    Điển hình là mô hình thu gom rác thải nhựa trên tàu cá, kết nối với cơ sở thu hồi vật liệu tại Quy Nhơn (Bình Định), thuộc Dự án “Nhân rộng mô hình cộng đồng quản lý chất thải sinh hoạt và nhựa tại 5 thành phố” được tài trợ bởi UNDP Việt Nam và Đại sứ quán Nauy tại Việt Nam. Chất thải nhựa được tái chế thành các sản phẩm như: viên nén nhiêu liệu (RDF), các sản phẩm tái chế như: ngói lợp, gạch, hàng rào và các sản phẩm khác.

    Gạch tái chế từ cất thải nhựa- Dự án UNDP _DWP5C giai đoạn 2  (Ảnh: Phương Lan)

    Cụ thể, hoạt động gom rác thải nhựa trên tàu cá, kết nối với cơ sở thu hồi vật liệu giúp tận dụng lực lượng ngư dân thành thành viên trong tổ thu gom rác trên biển, giảm thiểu lượng chất thải nhựa trôi nổi, đem lại thu nhập cũng như gia tăng giá trị kinh tế cho nguồn chất thải có thể tái chế.

    Hay như mô hình chuyển đổi phao xốp trong nuôi trồng thủy sản sang vật liệu nổi theo quy chuẩn tại Quảng Ninh. Hoạt động này hướng tới việc thay thế dần vật liệu nhựa dùng một lần, khó thu gom và tái sử dụng bằng vật liệu đã tái chế, thân thiện với môi trường…

    Cán bộ Hải đội Biên phòng 2 BĐBP Quảng Ninh cùng đoàn viên thanh niên địa phương thu gom rác thải nhựa, phao xốp từ hoạt động nuôi trồng thủy sản trên biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Internet

    Ngoài ra, An Phát Bioplastics, doanh nghiệp số 1 Đông Nam Á trong lĩnh vực sản xuất bao bì màng mỏng đã mở rộng nghiên cứu, phát triển, sản xuất dòng sản phẩm sinh học phân hủy hoàn toàn, thân thiện với môi trường như: Túi sinh học phân hủy hoàn toàn, màng bọc thực phẩm, dao-thìa-nĩa sinh học phân hủy hoàn toàn Không chỉ vậy, sản phẩm màng nông nghiệp, lưới đánh cá từ nguyên liệu phân hủy sinh học AnBio cũng được nghiên cứu, sản xuất thành công đem lại giải pháp xanh cho ngành nông – ngư nghiệp.

    ​

    Túi lưới giữ rác thải nhựa trên tàu cá (Ảnh: Internet)

     Để thực hiện thành công kế hoạch quốc gia về giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành nông nghiệp, bà Ramla Khalidi – Trưởng Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam khuyến nghị Việt Nam cần đẩy nhanh các giải pháp hiệu quả hướng tới kế hoạch quốc gia.

    Việt Nam cần xây dựng dữ liệu cơ sở về ô nhiễm nhựa và chất thải nhựa, cũng như hệ thống giám sát khả thi từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh để đánh giá quá trình giảm thiểu chất thải nhựa trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy những mô hình thu gom và tái chế hiệu quả, sử dụng vật liệu đóng gói thay thế cho nhựa dùng một lần trên đồng ruộng; tập huấn người dân và các bên liên quan trong nông nghiệp về tác động đến môi trường của nhựa cũng như sự sẵn có của các giải pháp thay thế.

    Nguyễn Thị Phương Lan

  • Lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi tham gia Hội nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện các tỉnh, thành phố có đê từ cấp III đến cấp đặc biệt năm 2023

    Lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi tham gia Hội nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện các tỉnh, thành phố có đê từ cấp III đến cấp đặc biệt năm 2023

    Hội nghị quán triệt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về các nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý đê điều, phòng chống thiên tai năm 2023; trao đổi, thảo luận nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, phát huy những sáng kiến kinh nghiệm tốt trong quá trình thực hiện.

    Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu khai mạc hội nghị

    Phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu lãnh đạo các huyện có đê trên toàn quốc cần nghiên cứu Chỉ thị số 1148/CT-BNN-ĐĐ của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc tăng cường công tác quản lý đê điều và chuẩn bị sẵn sàng hộ đê, chống lũ bão năm 2023. Thứ trưởng nhấn mạnh các địa phương cần theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, đặc biệt có phương án chủ động ứng phó với các sự cố bất thường xảy ra đối với 288 điểm xung yếu trên hệ thống 2.741km đê từ cấp 3 đến cấp đặc biệt; nếu có mưa lũ bất thường chắc chắn xảy ra sự cố thì phải có phương án khắc phục kịp thời. Bên cạnh đó, cần chú trọng tăng cường tuyên truyền tập huấn, nâng cao nhận thức từ cấp lãnh đạo đến các cán bộ quản lý, kỹ thuật và cộng đồng về ảnh hưởng của sự cố đê; nếu xảy ra sự cố sẽ ảnh hưởng hậu quả lớn đến cộng đồng và xã hội, mất ổn định đời sống nhân dân, thậm chí rất khó khăn để khôi phục thiệt hại trong hàng chục năm tới. Ngoài ra, trên phạm vi cả nước có gần 8.000 vụ vi phạm an toàn đê và số lượng các vụ ngày càng tăng, việc giải quyết còn nhiều tồn đọng (sạt lở, khai thác cát, lấn chiếm lòng sông, bãi sông), cần phải được Hội nghị bàn bạc, nhất trí và đồng lòng triển khai thực hiện.

    Đại diện Tổng cục Khí tượng thủy văn báo cáo về dự báo mưa, tình hình thời tiết, thủy văn năm 2023 và giai đoạn tiếp theo

    Lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị

    Bổ sung chỉ đạo của Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, Ông Phạm Đức Luận – Cục trưởng Cục Quản lý Đê điều và PCTT đề nghị lãnh đạo các địa phương cần quan tâm huy động nguồn lực, đánh giá trọng điểm các khu vực xung yếu; chuẩn bị vật tư, phương án xử lý sự cố đê; chỉ đạo phòng chức năng và các đơn vị chuyên môn rà soát, chuẩn bị phương án, vật tư và các phương án cụ thể, có kế hoạch kiểm tra thực tế các phương án để đảm bảo khi có sự cố sẽ kích hoạt triển khai được ngay các các phương án đã được cấp có thẩm quyền thông qua.

    Hiệu trưởng Trịnh Minh Thụ trao đổi với các đại biểu tham dự Hội nghị

    Trường Đại học Thủy lợi là cơ sở đào tạo, nghiên cứu hàng đầu cả nước trong lĩnh vực thủy lợi và phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trường đã tham gia thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất cho các địa phương để giải quyết các vấn đề thực tiễn, phục vụ xã hội. Kết quả của các đề tài dự án do Trường thực hiện đã được ứng dụng rộng rãi, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành và của đất nước.

    Tin bài và ảnh: Phòng KHCN&HTQT

  • Nghiệm thu kết quả nhiệm vụ theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”

    Nghiệm thu kết quả nhiệm vụ theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”

    Chiều ngày 01/6/2023, tại Văn phòng các Chương trình Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ đã diễn ra phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”, mã số NĐT.67/e-Asia19 do Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị Tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ: PGS.TS Hoàng Việt Hùng.

    PGS.TS Hoàng Việt Hùng – Chủ nhiệm nhiệm vụ báo cáo kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ

    Nhiệm vụ triển khai thực hiện từ đầu năm 2020 với mục tiêu:

    – Thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực tại Tả Van – Sa Pa và Tĩnh Túc – Cao Bằng. Xây dựng bản độ nhạy cảm trượt lở đất tỷ lệ 1/2000 cho khu vực trọng điểm sạt lở ở hai khu vực nghiên cứu.

    – Xây dựng quy trình công nghệ cảnh báo trượt lở đất theo thời gian thực.

    – Nâng cao năng lực hợp tác nghiên cứu giữa các nước trong khu vực.

    Qua 3 năm triển khai thực hiện, Nhiệm vụ đã đạt được nhiều kết quả là cơ sở quan trọng trong việc giúp xây dựng hoàn chỉnh các giải pháp phòng, chống trượt lở đất ở hai khu vực trọng điểm nghiên cứu, bao gồm cả các giải pháp công trình, các giải pháp phi công trình gồm quan trắc, ứng phó thiên tai, quy hoạch dân cư… Công bố 11 bài báo quốc tế thuộc danh mục SCIE/SCOPUS, 02 bài báo trên các Tạp chí trong nước có mã số ISSN và 02 bài đăng trên Hội thảo quốc tế; Hỗ trợ đào tạo 03 Tiến sĩ và 02 Thạc sĩ chuyên ngành Địa kỹ thuật/Trượt lở đất.

    Kết quả đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao về chất lượng khoa học cũng như ý nghĩa thực tiễn trong lĩnh vực quản lý và giảm nhẹ rủi ro thiên tai./.

      

    Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”, mã số NĐT.67/e-Asia19

    KHCN