Danh mục: Tin khoa học công nghệ

  • Kết quả công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2025 tại Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường ĐH Thủy lợi

    Kết quả công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2025 tại Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường ĐH Thủy lợi

    Kết quả xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh phó giáo sư 

    TT

    Họ và tên ứng viên

    Chức danh đăng ký GS/PGS

    Ngành, chuyên ngành

    Đơn vị công tác

    Kết quả

    1

    Lâm Thanh Quang Khải

    PGS

    Xây dựng-Kiến trúc/Kỹ thuật Xây dựng

    Trường Đại học

    Xây dựng Miền Tây

    Đạt

    2

    Trần Quốc Lập

    PGS

    Thuỷ lợi/Kỹ thuật và Quản lý tài nguyên nước

    Trường Đại học

     Thủy lợi

    Đạt

    3

    Đặng Tuyết Minh

    PGS

    Khoa học trái đất-Mỏ/Trắc địa

    Trường Đại học

    Thủy lợi

    Đạt

    4

    Nguyễn Thị Phương Nga

    PGS

    Khoa học trái đất-Mỏ /Địa lý

    Trường Đại học

    Thủy lợi

    Đạt

    5

    Lê Trung Phong

    PGS

    Xây dựng-Kiến trúc/Kỹ thuật Xây dựng

    Phân hiệu Trường

    Đại học Thủy lợi

    Đạt

    6

    Đinh Thị Lan Phương

    PGS

    Thủy lợi/Kỹ thuật và Quản lý môi trường

    Trường Đại học

    Thủy lợi

    Đạt

    7

    Nguyễn Tuấn Phương

    PGS

    Thủy lợi/Địa chất thủy văn và Địa kỹ thuật

    Trường Đại học

    Xây dựng Miền Tây

    Đạt

    8

    Trần Tuấn Thạch

    PGS

    Thuỷ lợi/Kỹ thuật và Quản lý tài nguyên nước

    Trường Đại học

    Thủy lợi

    Đạt

    9

    Nguyễn Ngọc Thắng

    PGS

    Xây dựng-Kiến trúc/ Kỹ thuật Xây dựng

    Trường Đại học

    Thủy lợi

    Đạt

    10

    Nguyễn Nhất Tùng

    PGS

    Điện-Điện tử-Tự động hóa/Kỹ thuật Điện

    Trường Đại học

    Thủy lợi

    Đạt

    Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi xin thông báo đến các đơn vị, các ứng viên, kết quả xét đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2025 tại Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi./.

     

  • Danh sách ứng viên đăng ký xét đạt Tiêu chuẩn chức danh GS/PGS tại HĐGSCS Trường ĐHTL năm 2025

    Danh sách ứng viên đăng ký xét đạt Tiêu chuẩn chức danh GS/PGS tại HĐGSCS Trường ĐHTL năm 2025

    TT

    Họ và tên ứng viên

    Đăng ký xét

    Link bản đăng ký xét công nhận chức danh

    Chức danh GS/PGS

    Ngành/Chuyên ngành

    1

      Nguyễn Ngọc Thắng

    PGS

    Xây dựng-Kiến trúc/ Kỹ thuật xây dựng

    Link

    2

      Đinh Thị Lan Phương

    PGS

    Thủy lợi/Kỹ thuật và Quản lý môi trường

    Link

    3

      Trần Tuấn Thạch

    PGS

    Thuỷ lợi/Kỹ thuật và quản lý tài nguyên nước

    Link

    4

      Trần Quốc Lập

    PGS

    Thuỷ lợi/Kỹ thuật và quản lý tài nguyên nước

    Link

    5

      Đặng Tuyết Minh

    PGS

    Khoa học trái đất-Mỏ/Trắc địa

    Link

    6

      Nguyễn Thị Phương Nga

    PGS

    Khoa học trái đất/Địa lý

    Link

    7

      Nguyễn Nhất Tùng

    PGS

    Điện-Điện tử-Tự động hóa/Kỹ thuật Điện

    Link

    8

      Lê Trung Phong

    PGS

    Xây dựng-Kiến trúc/Kỹ thuật xây dựng

    Link

    9

      Lâm Thanh Quang Khải

    PGS

    Xây dựng-Kiến trúc/Kỹ thuật xây dựng

    Link

    10

      Nguyễn Tuấn Phương

    PGS

    Thủy lợi/Địa chất thủy văn và Địa kỹ thuật

    Link

    11

      Nguyễn Phi Long

    PGS

    Xây dựng-Kiến trúc/Kỹ thuật xây dựng

    Link

    Danh sách trên gồm 11 người./.

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Vấn đề xói lở bờ biển miền Trung – Nguyên nhân và giải pháp”

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Vấn đề xói lở bờ biển miền Trung – Nguyên nhân và giải pháp”

    Tham dự Hội thảo có GS.TS Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng Nhà trường, đồng thời là chủ nhiệm đề tài; Về phía nhóm thực hiện đề tài có sự góp mặt của nhiều nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ giảng viên và nghiên cứu sinh đến từ các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp liên quan trong và ngoài trường.

    Phát biểu khai mạc, GS.TS Nguyễn Trung Việt chia sẻ một số thông tin về tiến độ, yêu cầu và trách nhiệm trong triển khai các đề tài thuộc Chương trình 562. Giáo sư nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo chất lượng và tiến độ nghiệm thu các đề tài trước thời hạn kết thúc chương trình vào ngày 30/11/2025. Đồng thời, GS.TS Nguyễn Trung Việt bày tỏ sự trân trọng đối với những nỗ lực của nhóm nghiên cứu, sự hỗ trợ quý báu từ các đơn vị như Công ty Portcoast, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam và các nhà khoa học quốc tế.

    Tại hội thảo, nhóm thực hiện đề tài đã trình bày kết quả nghiên cứu bước đầu về diễn biến xói lở bờ biển tại bốn khu vực điển hình của miền Trung, bao gồm: Cửa Tùng (Quảng Trị), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Tân Thành (Quảng Nam) và Mỹ Khê (Đà Nẵng). Trong đó, bãi biển Mỹ Khê được lựa chọn làm khu vực nghiên cứu chính để đề xuất các giải pháp kỹ thuật ổn định đường bờ.

    Báo cáo khoa học do PGS.TS Lê Nhật Quang (Phó chủ nhiệm đề tài) và các thành viên nhóm nghiên cứu trình bày đã tập trung vào ba mục tiêu chính:

    1. Xây dựng bộ công cụ mô hình toán đánh giá và dự báo biến động hình thái bãi biển.
    2. Phân tích chế độ thủy thạch động lực và cơ chế xói lở.
    3. Đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình nhằm ổn định đường bờ biển Mỹ Khê.

    Đề tài sử dụng nhiều công nghệ hiện đại như UAV, ảnh viễn thám, camera quan trắc liên tục, mô hình toán sóng – dòng chảy – bùn cát, khảo sát bằng thiết bị laser scan và máy đo địa hình hiện đại. Qua quá trình khảo sát và phân tích, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận được tốc độ xói lở đáng kể tại các khu vực nghiên cứu, đặc biệt là trong mùa gió mùa Đông Bắc. Từ đó, một số phương án công trình như “mỏ hàn chữ Y”, các giải pháp dạng ngầm phân tán năng lượng sóng cũng được đề xuất và mô phỏng đánh giá hiệu quả.

    ​

    Trong phần thảo luận, các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc về mô hình tính toán, dữ liệu đầu vào, hiệu quả kinh tế – kỹ thuật của các giải pháp đề xuất, cũng như khả năng ứng dụng rộng rãi cho các vùng bờ biển khác.

    Kết luận hội thảo, GS.TS Nguyễn Trung Việt ghi nhận tinh thần làm việc nghiêm túc và cầu thị của nhóm thực hiện đề tài, đồng thời khuyến khích các nhà khoa học tiếp tục chia sẻ phản biện, góp ý để đề tài sớm hoàn thiện nghiệm thu cấp Nhà nước đúng tiến độ. Giáo sư cũng kỳ vọng những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần quan trọng vào công tác quy hoạch, bảo vệ và phát triển bền vững dải bờ biển miền Trung trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.

    Bình Dương, Ảnh: CLB Báo chí và Truyền thông TLU

  • Tập huấn xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư năm 2025

    Tập huấn xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư năm 2025

    Tại Hội nghị tập huấn công tác xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2025, Chánh văn phòng Hội đồng giáo sư Nhà nước, PGS.TS Trần Anh Tuấn cho biết, năm 2025, cả nước đã thành lập 117 Hội đồng giáo sư cơ sở nhằm phục vụ công tác xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư. Tổng số ứng viên đăng ký tham gia xét công nhận trên toàn quốc là 1.292 người, gồm 119 ứng viên giáo sư và 1.173 ứng viên phó Giáo sư. So với năm 2024, số lượng ứng viên đăng ký tăng 259 người (năm 2024 có 1.033 ứng viên).

    PGS.TS Trần Anh Tuấn – Chánh văn phòng Hội đồng giáo sư Nhà nước phát biểu tại Hội nghị

    Cụ thể, ba khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam có sự phân bổ như sau: Khu vực miền Bắc có 68 Hội đồng Giáo sư cơ sở với 729 ứng viên đăng ký (trong đó có 68 ứng viên Giáo sư và 661 ứng viên Phó giáo sư). Khu vực miền Trung có 10 Hội đồng Giáo sư cơ sở, tổng cộng 149 ứng viên (9 ứng viên Giáo sư và 140 ứng viên Phó giáo sư). Khu vực miền Nam gồm 39 Hội đồng Giáo sư cơ sở, với 413 ứng viên (42 ứng viên Giáo sư và 372 ứng viên Phó giáo sư). Trong số các hội đồng Giáo sư cơ sở, đơn vị có số ứng viên đăng ký nhiều nhất là 46 người (4 ứng viên Giáo sư và 42 ứng viên Phó giáo sư), trong khi đơn vị có ít ứng viên nhất chỉ có 1 ứng viên Phó giáo sư.

    Năm nay, Trường Đại học Thủy lợi có 11 nhà giáo đăng ký xét tiêu chuẩn chức danh Phó Giáo sư thuộc 7 ngành/chuyên ngành. Cụ thể có 4 ứng viên ngành Xây dựng-Kiến trúc/Kỹ thuật xây dựng; 2 ứng viên ngành Thuỷ lợi/Kỹ thuật và quản lý tài nguyên nước; các ngành Thủy lợi/Kỹ thuật và Quản lý môi trường; Văn hóa, nghệ thuật, thể thao/Du lịch; Khoa học trái đất-Mỏ/Trắc địa; Điện-Điện tử-Tự động hóa/Kỹ thuật Điện; Xây dựng-Kiến trúc/ Địa Kỹ thuật  – mỗi ngành/chuyên ngành có 1 ứng viên

    GS.TS Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng trưởng Đại học Thủy lợi – thành viên Hội đồng Giáo sư cơ sở – ủy viên Hội đồng Giáo sư ngành Thủy lợi (ngoài cùng bên phải), GS.TS Trịnh Minh Thụ – Chủ tịch hội đồng Giáo sư ngành Thủy lợi năm 2025, nguyên Hiệu trưởng trưởng Đại học Thủy lợi (thứ tư từ bên phải sang) dự Hội nghị.

    Hội nghị cũng tập huấn về quy trình xét công nhận tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư. Theo đó, các Hội đồng Giáo sư cơ sở tiếp tục thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục như năm 2024. Đáng chú ý, năm 2025, có 5 Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành thực hiện xét hồ sơ trực tuyến, gồm các ngành: Công nghệ thông tin, Điện-Điện tử-Tự động hóa, Thuỷ lợi, Toán học và Vật lý. 23 Hội đồng giáo sư ngành, liên ngành còn lại thực hiện thẩm định và kết luận hồ sơ ứng viên thông qua phần mềm trực tuyến, áp dụng theo quy định.

    Các ứng viên tham gia xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư năm 2025 là giảng viên cơ hữu hoặc giảng viên thỉnh giảng đang giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ, cũng như các cơ sở thực hành của cơ sở giáo dục đại học nhóm khối ngành sức khỏe tại Việt Nam.

    ​

    Hội nghị trao đổi, thảo luận

    Theo lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư năm 2025, ngày 30/6/2025 là hạn cuối cùng ứng viên nộp hồ sơ đăng ký xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư năm 2025 tại Hội đồng Giáo sư cơ sở và cũng là hạn cuối cùng ứng viên gửi bản đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh lên trang thông tin điện tử của Hội đồng Giáo sư nhà nước.

    Các Hội đồng Giáo sư cơ sở xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, Phó giáo sư năm 2025 từ ngày 1/7 đến 22/7/2025.

    BV

  • Thông báo kế hoạch tài trợ nghiên cứu ứng dụng năm 2025 của Quỹ phát triển KH & CN Quốc gia

    Thông báo kế hoạch tài trợ nghiên cứu ứng dụng năm 2025 của Quỹ phát triển KH & CN Quốc gia

    Kế hoạch triển khai tài trợ đề tài NCƯD năm 2025 của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia như sau

    1. Phạm vi tài trợ
    Quỹ tài trợ cho các đề tài NCƯD trong các lĩnh vực sau: i) Khoa học tự nhiên; ii) Khoa học kỹ thuật và công nghệ; iii) Khoa học y, dược; iv) Khoa học nông nghiệp; v) Khoa học xã hội; và vi) Khoa học nhân văn.
    2. Đối tượng tài trợ
    Các tổ chức, cá nhân đang có hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam có thể tham gia đăng ký thực hiện đề tài NCƯD do Quỹ tài trợ.
    Yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân đăng ký thực hiện đề tài, thời gian thực hiện và kết quả nghiên cứu của đề tài NCƯD đề nghị tham khảo tại Điều 8 và Điều 9 của Thông tư 15.
    3. Kinh phí dự kiến
    Kinh phí đề xuất của đề tài tương ứng với nội dung trong thuyết minh và sản phẩm đăng ký, phù hợp với định mức công lao động khoa học quy định tại Thông tư số 03/2023/TT-BTC ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư số 02/2023/TT-BKHCN ngày 08 tháng 05 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
    Hướng dẫn lập dự toán kinh phí: Tham khảo tại trang 1 mẫu Dự toán kinh phí
    4. Thời gian tiếp nhận hồ sơ
    Từ ngày 20/5/2025 đến 17:00 ngày 30/6/2025.
    5. Phương thức nộp hồ sơ
    Xem chi tiết hướng dẫn phương thức nộp hồ sơ tại đây.
    Mẫu hồ sơ tải tại đây.
    Địa chỉ tiếp nhận hồ sơ: Bộ phận một cửa – Bộ Khoa học và Công nghệ (tầng 1, tòa nhà số 113 Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hà Nội) hoặc gửi hồ sơ ký số trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Quỹ.

    Nội dung chi tiết tham khảo đường link dưới đây:

    https://nafosted.gov.vn/thong-bao-ke-hoach-tai-tro-nghien-cuu-ung-dung-nam-2025/

  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận 02 Bằng Độc quyền sáng chế

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận 02 Bằng Độc quyền sáng chế

    Vừa qua, TS. Lê Trung Phong, PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái và PGS.TS Hồ Sỹ Tâm – Trường Đại học Thủy lợi đã được Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ trao 02 Bằng độc quyền sáng chế về:

    1. “Bê tông nhẹ sử dụng vỏ hạt mắc ca, quy trình sản xuất bê tông nhẹ này, quy trình sản xuất cấu kiện xây dựng từ bê tông nhẹ này và cấu kiện xây dựng” –  Bằng độc quyền sáng chế số 46154 theo quyết định số 54301/QĐ-SHTT ngày 21/04/2025.

    2. “Kết cấu dàn chịu lực sử dụng thanh họ tre chứa bê tông cốt thép” – Bằng độc quyền sáng chế  số 46151 theo quyết định số 54028/QĐ-SHTT ngày 21/04/2025

    Bằng độc quyền sáng chế số 46154 “Bê tông nhẹ sử dụng vỏ hạt mắc ca, quy trình sản xuất bê tông nhẹ này, quy trình sản xuất cấu kiện xây dựng từ bê tông nhẹ này và cấu kiện xây dựng” là kết quả của việc nghiên cứu đến hoạt động thực tiễn. Công nghệ xây dựng được sáng tạo từ việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp bằng cách thay thế đá dăm bằng vỏ hạt mắc ca đã sấy khô.

    Sáng chế đề cập đến bê tông sử dụng vỏ hạt macca, quy trình sản xuất bê tông nhẹ sử dụng vỏ hạt macca, quy trình sản xuất cấu kiện xây dựng sử dụng vỏ hạt macca và cấu kiện xây dựng được tạo thành từ quy trình sản xuất cấu kiện xây dựng từ bê tông nhẹ sử dụng vỏ hạt macca. Với sáng tạo này đã cung cấp một giải pháp mới có tính ứng dụng cao cho việc thay thế đá – là loại vật liệu chỉ được khai thác từ các mỏ đá có chi phí cao cũng như gây ảnh hưởng nhiều đến tài nguyên, ô nhiễm môi trường trong quá trình khai thác. Điều này giúp giảm thiểu phát thải cacbon, giảm thiểu gây hiệu ứng nhà kính, mặt khác giúp quá trình phát triển nông nghiệp bền vững và tăng giá trị công nghiệp cho loại cây trông có giá trị kinh tế cao này.

       

    Bằng độc quyền sáng chế số 46151 “Kết cấu dàn chịu lực sử dụng thanh họ tre chứa bê tông cốt thép”

    Sáng chế đề cập đến kết cấu dàn chịu lực sử dụng thanh họ tre chứa bê tông cốt thép bao gồm thanh họ tre chứa bê tông cốt thép (100), nút liên kết các thanh quy tụ (200, 300, 400, 500), long đen vênh (306), gối liên kết (600, 700). Trong đó thanh tre bê tông cốt thép có tác dụng chịu lực và truyền tải lực về gồi liên kết của hệ kết cấu dàn chịu lực, các nút liên kết các thanh quy tụ giúp cố định các thanh họ tre chứa bê tông cốt thép và định hình kiểu dáng của kết cấu dàn chịu lực, gối liên kết giúp liên kết kết cấu dàn chịu lực với các cấu trúc khác. Nút liên kết các thanh quy tụ bao gồm thép lõi, lớp vỏ bê tông bao bên ngoài thép lõi, các lỗ lắp ghép, các bu lông đai ốc, nút bê tông chèn.

    Đây là phần tiếp theo về cho cách thức chế tạo và lắp ghép cấu kiện tre bê tông nhằm giúp quá trình công nghiệp hóa quá trình sản xuất và cách thức liên kết. Điều này làm cho giải pháp đưa ra có thêm công cụ hiện thực hóa quá trình thiết kế và chế tạo một cách hàng loạt, giảm chi phí xây dựng và dễ dàng cho quá trình lắp dựng, chế tạo.

    Với cách thức này, khi ứng dụng vào các công trình dân dụng và công nghiệp cho phép các nhà thiết kế và thi công thuận lợi cho thao tác lắp ghép, dễ dàng vận chuyển đến công trường để lắp ghép thuận lợi, phục vụ cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau mà không làm tăng chi phí xây dựng công trình.

    LTP

  • Thông báo về việc giới thiệu ứng viên tham gia Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi năm 2025

    Thông báo về việc giới thiệu ứng viên tham gia Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường Đại học Thủy lợi năm 2025

    Căn cứ Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg ngày 31/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư, thủ tục xét hủy bỏ công nhận chức danh và miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư;

    Căn cứ Thông tư số 04/2019/TT-BGDĐT ngày 28/3/2019, được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 06/2020/TT-BGDĐT ngày 19/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giáo sư nhà nước, các Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành và Hội đồng Giáo sư cơ sở;

    Hội đồng khoa học đào tạo Trường Đại học Thủy lợi đã giới thiệu ứng viên tham gia Hội đồng Giáo sư cơ sở năm 2025 của Trường ĐH Thủy lợi (như danh sách đính kèm).

    Căn cứ danh sách giới thiệu, Hiệu trưởng Trường ĐHTL sẽ lựa chọn những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 17 Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg để thành lập Hội đồng Giáo sư cơ sở Trường ĐH Thủy lợi năm 2025./.

    ​

    STT Họ và tên Chức vụ,

    đơn vị công tác

    Chuyên môn

    1

    GS.TS Nguyễn Trung Việt

    Hiệu trưởng,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy

    2

    PGS.TS Nguyễn Hữu Huế

    Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐT,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy

    3

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái

    Phó Hiệu trưởng,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy

    4

    PGS.TS Đỗ Văn Quang

    Phó Hiệu trưởng,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kinh tế Thủy lợi

    5

    GS.TS Trịnh Minh Thụ

    Hội đồng Giáo sư Ngành Thủy lợi

    Địa Kỹ thuật Xây dựng

    6

    GS.TSKH Thân Ngọc Hoàn

    Khoa Điện-Điện tử,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Tự động hóa

    7

    GS.TS Nguyễn Văn Đính

    Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi

    Kinh tế, du lịch

    8

    PGS.TS Hồ Sỹ Tâm

    Trưởng phòng KHCN &HTQT, Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy

    9

    PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng

    Trưởng khoa Công trình,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật xây dựng Công trình thủy

     

    10

    PGS.TS Nguyễn Anh Dũng

    Phó trưởng khoa Công trình,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật xây dựng

    11

    PGS.TS Lê Văn Chín

    Trưởng khoa Kỹ thuật TNN,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật Tài nguyên nước

    12

    PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương

    Phó Trưởng Khoa – Phụ Trách Khoa Hóa-Môi trường,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật và quản lý môi trường

    13

    PGS.TS Lê Văn Chính

    Trưởng khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi

    Kinh tế thủy lợi

    14

    PGS.TS Phạm Đức Đại

    Phó trưởng khoa Điện – Điện tử,

    Trường Đại học Thủy lợi

    Kỹ thuật Điện

    15

    GS.TS Nguyễn Tiến Chương

    Tổng hội xây dựng Việt Nam

    Kỹ thuật xây dựng

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Bắc Ninh

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Bắc Ninh

    Tham dự Hội nghị có hơn 1.100 đại biểu gồm Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo các Cơ quan và đội ngũ nhà khoa học các lĩnh vực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các Ban/Bộ/Ngành liên quan của Trung ương và địa phương, các Viện nghiên cứu, Trường đại học, Doanh nghiệp, Hợp tác xã và các tổ chức quốc tế, như: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR), Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế (IFPRI), Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI)… Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và lãnh đạo Tỉnh Bắc Ninh đồng chủ trì Hội nghị. 

    Ảnh: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy và các Lãnh đạo Tỉnh Bắc Ninh đồng chủ trì Hội nghị triển khai Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

    Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy nhấn mạnh “Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh ngành NN&MT đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu gay gắt, tài nguyên suy giảm và áp lực tăng trưởng xanh, các mô hình sản xuất truyền thống không còn phù hợp. Do đó, để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm và bảo vệ môi trường sống, toàn ngành cần đổi mới tư duy và lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số làm nền tảng phát triển”.

    Tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã kêu gọi sự đồng hành, phối hợp của các địa phương, doanh nghiệp, viện trường, hiệp hội và tổ chức quốc tế để tạo bước chuyển thực chất, bền vững cho ngành Nông nghiệp và Môi trường.

    Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, Ông Vương Quốc Tuấn phát biểu chào mừng Hội nghị (nguồn: https://bacninh.gov.vn/news)

    Phát biểu chào mừng Hội nghị, thay mặt tỉnh Bắc Ninh, Chủ tịch UBND tỉnh Vương Quốc Tuấn trân trọng cảm ơn Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tin tưởng và phối hợp với tỉnh để đồng tổ chức Hội nghị và cho rằng đây là cơ hội quý giá để Bắc Ninh và ngành NN&MT Bắc Ninh được tiếp cận những tâm huyết chuyên sâu từ các nhà khoa học, chuyên gia và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương, doanh nghiệp, viện trường nhằm cụ thể hóa các Nghị quyết thành các chương trình, đề án, mô hình triển khai hiệu quả tại địa phương.

    Ảnh: Toàn cảnh Hội nghị (nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/)

    Trường Đại học Thủy lợi đã cử Đoàn công tác do PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái, Phó Hiệu trưởng làm Trưởng Đoàn tham dự Hội nghị quan trọng nêu trên. Đoàn công tác đã tham dự các phiên họp và tham gia chia sẻ, góp ý, cũng như thể hiện sự cam kết Nhà trường về phát triển AI như một công nghệ cốt lõi, xây dựng các mô hình thích nghi với đặc thù dữ liệu Việt Nam, tích hợp đa nguồn từ cảm biến, vệ tinh và mô phỏng toán học. Nhà trường cũng mang đến Hội nghị một số sản phẩm KHCN tiêu biểu có ứng dụng công nghệ số, AI, một số poster sản phẩm KHCN đã được cấp bằng sáng chế, sở hữu trí tuệ. Lãnh đạo Bộ và nhiều đại biểu đã quan tâm đến tham quan, giao lưu tìm cơ hội hợp tác với Nhà trường.

    Lãnh đạo Nhà trường cùng Lãnh đạo Bộ tham gia phiên họp chuyên ngành Thủy lợi, Phòng chống thiên tai và BĐKH

    Thứ trưởng Phùng Đức Tiến và Đoàn Lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ tham quan các sản phẩm KHCN của Trường Đại học Thủy lợi.

    Tại phiên họp chuyên ngành lĩnh vực Thủy lợi, phòng chống thiên tai, Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, TS. Tạ Quang Chiểu, Phó trưởng Khoa CNTT đã thay mặt Trường ĐHTL trình bày báo cáo tham luận “Định hướng nghiên cứu, ứng dụng trí thuệ nhân tạo trong lĩnh vực thủy lợi, môi trường và phòng chống thiên tai tại ĐHTL”, trong đó đã đề xuất tăng cường đầu tư nghiên cứu liên ngành, ứng dụng công nghệ mới và xây dựng cơ sở dữ liệu mở, đào tạo nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế để thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên và phòng chống thiên tai.

    TS. Tạ Quang Chiểu, Phó trưởng Khoa CNTT trình bày báo cáo tham luận tại Hội nghị.

    Thông qua hội nghị, chúng ta đã đạt được mục tiêu chung là đề xuất, kiến tạo thể chế, chính sách để thúc đẩy KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường theo tinh thần NQ số 57. Đồng thời đề xuất các giải pháp nghiên cứu, phát triển, chuyển giao các sản phẩm KHCN, chuyển đổi số, áp dụng vào thực tiễn quản lý, chỉ đạo điều hành phát triển sản xuấ kinh doanh nhanh nhất và hiệu quả nhất.

    Trên cơ sở tổng hợp nội dung các báo cáo tham luận, 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm mà toàn ngành nông nghiệp và môi trường cần tập trung triển khai thực hiện ngay sau hội nghị

    1. Hoàn thiện thể chế, chính sách: Rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định không còn phù hợp để thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; bổ sung cơ chế hỗ trợ khu vực tư nhân, hợp tác công – tư; điều chỉnh tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp thông lệ quốc tế.

    2. Ưu tiên nghiên cứu đột phá: Tập trung đầu tư vào công nghệ sinh học, gen, giống cây – con, vacxin, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn; chú trọng bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả, phát triển hạ tầng thủy lợi và công nghệ phòng chống thiên tai.

    3. Cải tổ tổ chức KHCN: Tái cấu trúc các đơn vị sự nghiệp KHCN theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tự chủ; đẩy mạnh xã hội hóa, kết nối doanh nghiệp, đổi mới cơ chế đặt hàng, xét duyệt nhiệm vụ KHCN theo hướng minh bạch, cạnh tranh, xuất phát từ thực tiễn.

    4. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Hợp tác đào tạo với các trường, viện nghiên cứu; xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến; thu hút chuyên gia trong và ngoài nước, đặc biệt từ khu vực tư để xây dựng hệ sinh thái nhân lực đổi mới sáng tạo.

    5. Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện: Xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, bản đồ số, hệ thống cảnh báo thông minh, liên thông dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường; nghiên cứu mô hình sàn giao dịch công nghệ số để kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp và nhà đầu tư.

    Hội nghị Nghị quyết 57-NQ/TW tại Bắc Ninh không chỉ khẳng định vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển bền vững mà còn ghi dấu ấn của Trường Đại học Thủy lợi trong hành trình tiên phong ứng dụng AI, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số quốc gia./.

    Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế

    Ảnh: Đoàn công tác

    1. Một số ảnh Đoàn Công tác của Nhà Trường tham gia Hội nghị

    Đoàn đại biểu của ĐHTL tham dự Hội nghị tại tỉnh Bắc Ninh

    Đại biểu đến tham quan sản phẩm KHCN của Trường ĐHTL trưng bày tại Hội nghị.​

    2. Một số sản phẩm KHCN tiêu biểu Trường ĐHTL đã triển khai lĩnh vực trong nông nghiệp và môi trường được trình diễn tại Hội nghị.

    2.1. Hệ thống thực tế ảo phục vụ khách tham quan khuôn viên Trường ĐHTL

    Hệ thống không gian 3D thực tế ảo toàn cảnh Trường Đại học Thủy lợi từ giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm đến khu ký túc xá, khu thể thao và cơ sở nghiên cứu – tất cả đều được số hóa chi tiết, cho phép người dùng tương tác với hệ thống.

    2.2. Hệ thống quản lý bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhật Lệ ở Quảng Bình:

    Sản phẩm đề tài cấp Bộ (NN&MT) ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phục vụ cảnh báo lũ trên lưu vực sông Nhật Lệ – tỉnh Quảng Bình. SP đã được Chi cục Thủy lợi tỉnh Quảng Bình vận hành từ mùa lũ năm 2024.

    • Tích hợp số liệu quan trắc tự động của các trạm mưa, mực nước trên địa bàn tỉnh QB;
    • Hiển thị thông tin về lũ lụt lịch sử đã xảy ra trên địa ban tỉnh QB: PHạm vi ngập, dộ sâu ngập, vết lũ, mốc báo lũ; Hiển thị kết quả mô phỏng ngập lụt dựa trên kết quả tính toán.  

    – Sử dụng AI để dự báo và cảnh báo mực nước trên sông và mức độ ngập lụt trên các lưu vực sông ở Quảng Bình.

    2.3. Hệ thống WebGIS cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở vùng Trung Trung Bộ (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam) dựa trên ngưỡng mưa phát sinh lũ quét, ngưỡng mưa phát sinh trượt lở đất.

    – Sản phẩm thuộc đề tài cấp Bộ (NN&MT) nhằm Nghiên cứu xây dựng công nghệ cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất vùng Trung Trung bộ.

    – Là hệ thống có khả năng tính toán và hiển thị nguy cơ SLĐ và cảnh báo LQ theo thời gian thực phục vụ công tác dự báo, cảnh báo thiên tai trên địa bàn 3 tỉnh Quảng Trị, Huế, Quảng Nam.

    – Hệ thống cảnh báo sớm LQ-SLĐ hoàn chỉnh trên nền WebGIS có khả năng hiển thị các yếu tố cần thiết về thông tin lũ như lượng mưa; ngưỡng cảnh báo; tình trạng lũ lụt; xuất bản tin cảnh báo.

    2.4. Sản phẩm ứng dụng thực tế ảo (VR) trong Trường học từ Dự án SIMPLE – Trung tâm ACROSS

    Sản phẩm do Trung tâm Nghiên cứu Xuất sắc ACROSS (Trường Đại học Thủy lợi phối hợp với Cơ quan hợp tác Phát triển Pháp-IRD thành lập) phát triển mô hình thực tế ảo về quản lý  Lũ lụt: Mô hình Lũ lụt VR là một mô hình tích hợp về tình huống ngập lụt đô thị tại thành phố Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình), được xây dựng trên nền tảng GAMA (https://gama-platform.org) và kết hợp với trò chơi thực tế ảo, được phát triển trong khuôn khổ dự án SIMPLE (https://project-simple.eu).

    Sản phẩm góp phần nâng cao nhận thực thông qua hệ thống thực tế ảo VR:

    – Giảm thiểu gián đoạn do các đợt lũ sông gây ra tại các khu vực đô thị.

    – Phát huy hiệu quả đê điều và hồ điều hòa trong các kịch bản lũ lụt khác nhau, đảm bảo hiệu quả trong việc bảo vệ người dân trước hậu quả của lũ lụt.

    – Mô hình này cho phép người dùng trải nghiệm một cách chân thực và nâng cao nhận thức về các tác động đa dạng của lũ lụt, đồng thời thử nghiệm các giải pháp chiến lược và phương án hạ tầng khác nhau nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

  • Lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất theo thời gian thực tại Huế

    Lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất theo thời gian thực tại Huế

    Nhằm giảm thiệt hại do thiên tai và nâng cao năng lực chủ động ứng phó cho cộng đồng, dự án SATREPS được triển khai tại TP Huế trong giai đoạn 2026-2031.

    Trọng tâm của dự án là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu số và bản đồ chi tiết nguy cơ trượt lở đất, nhất là tại các khu vực dân cư sinh sống tập trung, nơi có nguy cơ cao về sạt lở và lũ bùn đá.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu khai mạc. Ảnh: Bảo Thắng.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu khai mạc. Ảnh: Bảo Thắng.

    SATREPS, một sáng kiến nghiên cứu khoa học công nghệ quốc tế do Chính phủ Nhật Bản khởi xướng nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu thông qua hợp tác giữa các nhà khoa học Nhật Bản và các nước đang phát triển; tập trung vào 4 lĩnh vực nghiên cứu chính: môi trường – năng lượng, tài nguyên sinh học, phòng chống thiên tai và kiểm soát bệnh truyền nhiễm.

    Việt Nam đã có 14 dự án SATREPS được triển khai. Dự án sắp tới – Tích hợp đánh giá rủi ro và cộng đồng số hóa dựa trên hệ thống cảnh báo sớm trượt lở đất và lũ bùn đá khu vực miền Trung Việt Nam – là kết quả phối hợp giữa Trường Đại học Thủy lợi và các tổ chức của Nhật Bản gồm: Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST), với tổng kinh phí tài trợ 350 triệu yên (khoảng 2,5 triệu USD).

    Dự án kéo dài 5 năm, từ tháng 6/2026 đến tháng 6/2031, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan chủ quản. Mục tiêu cốt lõi là hoàn thiện cơ sở dữ liệu về các loại hình thiên tai trượt lở đất và lũ bùn đá, nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo và thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả, phục vụ cộng đồng tại các khu vực có nguy cơ cao.

    Bản đồ nguy cơ trượt lở đất tỷ lệ lớn (1:5000) cho các vùng trọng điểm, nơi mật độ dân cư cao, nhằm phục vụ trực tiếp cho công tác dự báo và ứng phó sớm là đầu ra quan trọng của dự án. Dữ liệu nền xây dựng bản đồ sẽ dựa trên điều tra thực địa, kết hợp ảnh viễn thám, các mô hình số và thông tin quan trắc từ trạm đo mưa, radar mưa, vệ tinh,…

    Hệ thống cảnh báo sớm không chỉ giúp các cơ quan chức năng ra quyết định kịp thời, mà còn được số hóa nhằm tăng cường khả năng truyền tải thông tin trực tiếp đến người dân địa phương.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ: 'Dự án SATREPS có giá trị đặc biệt về phòng chống thiên tai'. Ảnh: Bảo Thắng.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ: “Dự án SATREPS có giá trị đặc biệt về phòng chống thiên tai”. Ảnh: Bảo Thắng.

    Dự án cũng tích hợp các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế – xã hội, tình trạng sử dụng đất nông nghiệp vào bản đồ nguy cơ trượt lở đất thời gian thực, nhằm đưa ra các phân tích đa chiều và đánh giá hiệu quả kinh tế của hệ thống cảnh báo nhằm tối ưu hóa chính sách đầu tư phòng tránh thiên tai.

    Đặc biệt, dự án sẽ xây dựng phòng thí nghiệm chuyên dụng phục vụ khảo sát, đo đạc, lấy mẫu và thực hiện các thí nghiệm trong phòng và ngoài thực địa liên quan đến trượt lở đất. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá rủi ro thiên tai.

    Bộ tài liệu hướng dẫn lập bản đồ và đánh giá rủi ro trượt lở đất bằng công nghệ viễn thám cũng được biên soạn nhằm phục vụ các địa phương trong việc nhân rộng mô hình ra toàn vùng miền Trung và cả nước, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng gia tăng.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, khẳng định đây là bước tiến quan trọng trong chiến lược quốc tế hóa nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường.

    “Với tỷ trọng nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đầu tư hiện chiếm trên 50% tổng doanh thu, Trường Đại học Thủy lợi là một trong số ít cơ sở đào tạo kỹ thuật có hoạt động nghiên cứu mạnh và hiệu quả”, ông cho biết.

    Dự báo về lượng mưa trong khu vực vùng dự án sẽ được thông báo theo thời gian thực. Ảnh: TLU.

    Dự báo về lượng mưa trong khu vực vùng dự án sẽ được thông báo theo thời gian thực. Ảnh: TLU.

    Theo lãnh đạo Trường, Dự án SATREPS là một trong những chương trình có tính cạnh tranh cao nhất hiện nay. Trong năm 2025, khoảng 80 đề xuất được các quốc gia gửi tới đăng ký, nhưng chỉ có 10 đề tài được phía Nhật Bản đồng ý triển khai.

    Việc Trường Đại học Thủy lợi được tuyển chọn tham gia cùng một số trường khác như Đại học Xây dựng và các viện nghiên cứu trong nước là minh chứng cho năng lực và uy tín của các nhà khoa học Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ nhấn mạnh, dự án SATREPS có giá trị đặc biệt khi tập hợp được mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học quốc tế cùng tham gia triển khai. Thành công của dự án sẽ góp phần nâng cao vị thế khoa học Việt Nam, mở rộng cơ hội công bố quốc tế và thúc đẩy ứng dụng thực tiễn vào các chương trình cảnh báo sớm, giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Việt Nam.

    Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi cũng gửi lời cảm ơn tới các chuyên gia, các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước đã đồng hành trong quá trình chuẩn bị hồ sơ, tổ chức thẩm định, và cam kết phối hợp chặt chẽ để triển khai dự án đúng tiến độ, đạt chất lượng, xứng đáng với niềm tin mà các đối tác quốc tế đã dành cho Việt Nam.

    GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết, sạt lở đất nguy hiểm nhất khi có lũ quét. Lớp đất không thấm, nằm cách mặt đất khoảng 2-3m, là đáng ngại nhất bởi khi có mưa lớn trong vài ba ngày, lớp đất này sẽ bị trượt, gây sạt lở trên diện tích lớn.

    Huế, với địa hình đồi núi phức tạp và khí hậu đặc trưng mưa nhiều, thường xuyên hứng chịu sạt lở đất và lũ bùn đá, là địa phương rất phù hợp để triển khai các nghiên cứu về cảnh báo sớm thiên tai. Nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT đề nghị cán bộ dự án có thể thu thập thêm số liệu ở các tỉnh miền núi phía Bắc để đưa ra nhiều dự báo hơn nữa cho người dân. 

    Tin liên quan:

    Báo Nông nghiệp và MT: https://nongnghiepmoitruong.vn/lap-ban-do-nguy-co-truot-lo-dat-theo-thoi-gian-thuc-tai-hue-d750848.html

    Báo Lao động: https://laodong.vn/giao-duc/xay-dung-he-thong-canh-bao-som-va-nang-cao-nang-luc-ung-pho-thien-tai-1499365.ldo

    Báo Giáo dục và Thời đại: https://giaoducthoidai.vn/truong-dh-thuy-cong-bo-du-an-satreps-post729281.html

    VOV2 : https://vov2.vov.vn/giao-duc-dao-tao/ung-dung-cong-nghe-giam-nhe-thiet-hai-do-sat-lo-dat-va-lu-bun-o-thua-thien-hue

    Thông tin về dự án (dự kiến) sẽ chiếu trong Chương trình Môi trường và cuộc sống phát sóng trên kênh VTV2- Đài truyền hình Việt Nam vào lúc 20h45 Thứ ba ngày 6/5