Ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại phòng 225-A2 trường Đại học Thuỷ lợi, TTXS ACROSS có buổi trình bày giới thiệu về mục tiêu, các hoạt động chính, hình thức triển khai và đặc biệt là giới thiệu cơ hội làm việc và hợp tác nghiên cứu cho thầy cô trường Đại học Thuỷ lợi. Những cơ hội này được thực hiện theo đúng tinh thần của TTXS là nơi kết nối các chuyên gia trong nước và quốc tế, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý, điều hành để trao đổi và cùng nhau phát triển công cụ hỗ trợ quản lý, điều hành cho trường hợp nghiên cứu là hệ thống thuỷ lợi tại Việt Nam.
Dự án Trung tâm xuất sắc ACROSS gồm:
Hai đối tác chính: Trường Đại học Thuỷ lợi kết hợp với Viện Nghiên cứu Phát Triển IRD/ Pháp
Đối tác phối hợp: Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội, Trường Đại học Toulouse/ Pháp
Tên dự án: Nghiên cứu Tính toán nâng cao cho Khoa học bền vững (Advanced Computational Research onSustainability Science– viết tắt là ACROSS).
Với mục tiêu ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư như công nghệ mô hình hoá và mô phỏng, công nghệ thực tế ảo, công nghệ học máy, học sâu,… trong đó công nghệ mô hình hoá và mô phỏng đóng vai trò trung tâm, dự án nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, điều hành các hệ thống thuỷ lợi tại Việt Nam. Tiến tới thực hiện mục tiêu chính là xây dựng dự án thành trung tâm xuất sắc (Center of Excellence)- đóng vai trò kết nối các chuyên gia trong nước và quốc tế, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý, điều hành để trao đổi và cùng nhau phát triển công cụ hỗ trợ quản lý, điều hành hệ thống thuỷ lợi tại Việt Nam. Dự án đã lọt vào một trong 10 dự án xuất sắc nhất trên toàn thế giới.
PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường ĐHTL phát biểu tại buổi trình bày
Trong khuôn khổ chương trình chuyển đổi số quốc gia và chuyển đổi số trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt dự án thành dự án hỗ trợ kỹ thuật (ODA) của chính phủ Pháp. Điều này tạo điều kiện để dự án có thể mở rộng chuyển đổi số trong quản lý, điều hành cho nhiều hệ thống thuỷ lợi tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực quản lý, đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp.
Đại diện của Viện Nghiên cứu Phát Triển IRD/ Pháp phát biểu
Chiều 22-5, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã làm việc với Tổ Thông tin đáp ứng nhanh phòng, chống dịch Covid-19 (Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19). Tại đây, thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao tặng Bằng khen của Thủ tướng cho một số thành viên, tình nguyện viên, chuyên gia công nghệ thông tin, những người đã tự nguyện tham gia ngay từ những ngày đầu phòng, chống dịch Covid-19, từ công tác truy vết, xây dựng hệ thống an toàn Covid-19 (antoancovid.vn), đến phối hợp thực hiện khai báo y tế tại các vùng dịch, đánh giá nguy cơ dịch bệnh ở các địa phương.
Những cá nhân được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ đến từ nhiều đơn vị khác nhau nhưng có điểm chung là đều tự nguyện tham gia với mong muốn được cống hiến những hiểu biết, tri thức, công sức của mình cùng đất nước chiến thắng “giặc” Covid-19. Trong đó, có PGS.TS Nguyễn Ngọc Doanh (Phó trưởng Phòng Khoa học công nghệ, Trường Đại học Thủy lợi) đã xây dựng một số mô hình nhằm ước tính số ca nhiễm từ một hay nhiều ổ dịch, ước tính thời điểm xuất hiện F0; tính toán nguy cơ Covid-19 ở các mức độ và phạm vi khác nhau…; cựu sinh viên K43 khoa Công nghệ thông tin Trường Đại học Thủy lợi – Ông Lê Công Thành, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ chọn lọc thông tin (InfoRe) đã phát triển hệ thống hồ sơ dữ liệu phục vụ lưu trữ tập trung dữ liệu từ nhiều nguồn, hỗ trợ truy vết thông tin dịch tễ; mô hình hóa hiện trạng dịch bệnh để đánh giá rủi ro, phát hiện các cụm dịch tiềm năng dựa trên trí tuệ nhân tạo…
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao Bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho PGS.TS Nguyễn Ngọc Doanh – Phó trưởng Phòng Khoa học công nghệ, trường Đại học Thủy lợi
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao Bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho ông Lê Công Thành, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ chọn lọc thông tin (InfoRe)-cựu sinh viên K43 khoa Công nghệ thông tin Trường Đại học Thủy lợi
Minh hoạ tính toán nguy cơ Covid-19 ở phạm vi xã phường
Minh hoạ tính toán nguy cơ Covid-19 ở phạm vi quận huyện
Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng trao Bằng khen của Thủ tướng chính phủ cho Ông Nguyễn Thế Trung, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần công nghệ DTT đã tham gia thiết lập và tổ chức Tổ Thông tin đáp ứng nhanh; thiết kế và hỗ trợ triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin chống dịch: NCOVI, Khaibaoyte; thiết lập diễn đàn 300 nhà khoa học về dịch tễ và công nghệ thông tin, xây dựng các mô hình phân tích, dự báo, mô phỏng chống dịch; chủ trì báo cáo tính nguy cơ rủi ro về dịch của các tỉnh, thành trên toàn quốc.
Ông Nguyễn Việt Cường, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Tích hợp thông minh phụ trách việc ứng dụng công nghệ xử lý dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, mô hình hóa hiện trạng dịch bệnh để đánh giá rủi ro, phát hiện các cụm dịch tiềm năng… Đặc biệt, vợ ông Nguyễn Việt Cường là bà Nguyễn Thùy Linh, nghiên cứu sinh về khoa học máy tính cũng tham gia Tổ Thông tin từ những ngày đầu, đảm trách việc phân tích chi tiết các thông tin ca bệnh, chùm bệnh, đưa ra các biểu đồ phân tích hỗ trợ cho ra các quyết định liên quan đến giãn cách xã hội, khoanh vùng, dập dịch.
Ông Lý Tuấn Anh, chuyên gia dữ liệu và hệ thống (Công ty cổ phần Công nghệ DTT) là người chủ trì điều hành triển khai Dự án “An toàn với Covid-19” (antoancovid.vn) để đảm bảo chung sống an toàn với dịch Covid-19 tại các địa điểm công cộng như trường học, bệnh viện, khách sạn, phòng khám, trạm xá, địa điểm cách ly… trên toàn quốc.
Tiến sĩ Lê Chí Ngọc (Viện Toán ứng dụng và Tin học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) là người xây dựng mô hình tính toán xác định nguy cơ, hỗ trợ đưa ra các quyết định liên quan đến giãn cách xã hội, khoanh vùng, dập dịch.
Ngoài 7 cá nhân tiêu biểu lần này, Tổ Thông tin còn có sự tiếp sức liên tục của rất nhiều chuyên gia tình nguyện, có thể kể đến bà Đào Thị Hà, Tiến sĩ Toán học, người có thể nhớ đến từng ca bệnh và mối liên quan của hàng trăm ca bệnh. Ông Nguyễn Thanh Liêm, Tiến sĩ Xã hội học, người đưa ra các chỉ số tổng quát để thiết lập mô hình đánh giá nguy cơ, cũng như các cán bộ, chuyên gia của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Đại học Y Hà Nội, Đại học Y tế công cộng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội…
Lễ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện ngay tại nơi làm việc của Tổ Thông tin trong không khí trang nghiêm, xúc động, dù không có hoa, không có sân khấu. Ngay sau buổi lễ, những cá nhân được tuyên dương lại cùng với đồng nghiệp quay trở lại ngay với những việc đang đợi chờ từng phút, từng giây.
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa có Công văn gửi tới các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; một số trường đại học… về việc hướng dẫn tổ chức Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KH&CN) năm 2021.
Từ năm 2014 đến nay, Ngày KH&CN Việt Nam 18/5 đã trở thành ngày truyền thống, ngày hội quan trọng của những người làm công tác nghiên cứu khoa học, quản lý khoa học, của các doanh nghiệp có tinh thần đổi mới sáng tạo; là điểm hẹn thường niên để cộng đồng KH&CN cả nước tổ chức các sự kiện có ý nghĩa thiết thực, vừa để ghi nhận những nỗ lực, thành công của ngành KH&CN đóng góp cho kho tàng tri thức cũng như phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, vừa để thảo luận, định hướng hoạt động nhằm hướng đích các mục tiêu của ngành KH-CN nói riêng, của đất nước nói chung.
Ngày KH&CN Việt Nam 18/5 năm 2021 có chủ đề “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Khơi dậy khát vọng, kiến tạo tương lai”.
Ngày KH&CN Việt Nam 18/5 năm 2021 có chủ đề “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Khơi dậy khát vọng, kiến tạo tương lai”.
Theo đó, từ ngày 3/5 đến 19/5 sẽ có nhiều hoạt động chào mừng như: Tổ chức khen thưởng hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng các cá nhân xuất sắc, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển KH&CN của Bộ, ngành, địa phương, cơ quan nhân Ngày KH&CN Việt Nam; Tổ chức chuỗi sự kiện chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam, các chương trình gặp gỡ; giao lưu trực tiếp hoặc trực tuyến giữa các nhà quản lý KH&CN, nhà khoa học với học sinh, sinh viên, nhà sáng chế trên địa bàn của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương; Tổ chức buổi gặp mặt giữa lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với các trí thức, giáo sư đầu ngành, nhà khoa học tiêu biểu, các nhà khoa học trẻ tài năng thuộc ngành, lĩnh vực và địa phương quen thuộc…
Bộ KH&CN yêu cầu các hoạt động chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam năm 2021 được tổ chức ý nghĩa, thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối, lan tỏa các hoạt động chào mừng Ngày KH&CN Việt Nam năm 2021 trong phạm vi cả nước.
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu tăng 17 bậc
Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến tháng 1/2021, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng tăng từ 33,6% giai đoạn 2011 – 2015 lên 45,2% giai đoạn 2016 – 2020, tính chung 10 năm 2011 – 2020 đạt 39,0% (vượt mục tiêu 35%); Tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hoá tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020.
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu – GII tăng 17 bậc trong giai đoạn 2016 – 2020
Đặc biệt, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu – GII tăng 17 bậc trong giai đoạn 2016 – 2020, đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á, đứng đầu trong số các quốc gia ở mức thu nhập trung bình thấp.
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội, khi nhiều nước rơi vào suy thoái, Việt Nam nằm trong nhóm ít các quốc gia duy trì tăng trưởng dương, kiểm soát tốt dịch bệnh, đạt nhiều kết quả ấn tượng.
Với tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91%, Việt Nam thuộc nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Trong thành tựu chung đó, có đóng góp quan trọng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Số lượng doanh nghiệp KH&CN tăng nhanh
Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với các bộ, ban, ngành, địa phương triển khai hiệu quả các nhiệm vụ KH&CN quốc gia, các chương trình phát triển khoa học cơ bản, nhiệm vụ trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật – công nghệ.
Cơ cấu chi cho KH&CN đã có sự thay đổi theo xu hướng tích cực: Chi từ ngân sách nhà nước là 52%; từ doanh nghiệp tăng lên 48%.
Bộ KH&CN đã tập trung hướng dẫn triển khai cơ chế tự chủ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện, sắp xếp lại các tổ chức KH&CN; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nhân lực KH&CN. Nhiều dự án đầu tư lớn được triển khai tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Số vốn đăng ký và giá trị sản xuất của 03 khu công nghệ cao quốc gia đều tăng.
Các nhiệm vụ KH&CN đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết của địa phương.
Thị trường KH&CN tiếp tục được phát triển thông qua nhiều hoạt động xúc tiến như triển lãm chuyên ngành, xây dựng các điểm kết nối cung – cầu công nghệ, chợ công nghệ và thiết bị,…
Số lượng doanh nghiệp KH&CN tăng nhanh với hàng nghìn doanh nghiệp đang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp KH&CN.
Hậu kiểm đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí 820 tỉ đồng
Năm 2020, Việt Nam tiếp tục giữ vững thứ hạng 42/131 quốc gia, vùng lãnh thổ về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu và tiếp tục được xem là hình mẫu của các nước đang phát triển khác trong việc thiết lập đổi mới sáng tạo như một ưu tiên quốc gia.
Triển khai Nghị quyết số 50 năm 2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52 năm 2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều hoạt động đã được triển khai như xét duyệt các nhiệm vụ thuộc Chương trình hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tổ chức Ngày hội trí tuệ nhân tạo AI4VN2020; chuỗi sự kiện 3 tọa đàm online giúp doanh nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào sản xuất, kinh doanh.
Đã công bố 895 tiêu chuẩn quốc gia, tăng 127% so với 2019; thẩm định 148 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật địa phương, tăng 60% so với năm 2019. Cơ chế hậu kiểm đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí 820 tỉ đồng.
Đã xử lý 68.971 đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp (tăng 8,3% so với năm 2019). Cấp văn bằng bảo hộ cho 47.168 đối tượng sở hữu công nghiệp (tăng 15,6% so với năm 2019).
Công tác bảo đảm an toàn bức xạ và hạt nhân; đẩy mạnh ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình tập trung vào việc đảm bảo nguồn cung đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ cho các cơ sở y tế; trình Thủ tướng Chính phủ hồ sơ nhiệm vụ lập Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Hoạt động hợp tác quốc tế được triển khai có hiệu quả trong bối cảnh đại dịch Covid-19 thông qua các hình thức họp trực tuyến và làm việc từ xa. Đặc biệt, trong năm Việt Nam đảm nhiệm chức Chủ tịch ASEAN 2020, Bộ đã tích cực thúc đẩy hoạt động hợp tác về KHCN và đổi mới sáng tạo, chủ động triển khai các hoạt động trong danh mục sự kiện ASEAN 2020.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính được triển khai mạnh mẽ, đảm bảo cung cấp thông tin về thủ tục, dịch vụ công kịp thời, chính xác, thuận lợi cho doanh nghiệp.
Làm chủ công nghệ sản xuất bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 đạt tiêu chuẩn quốc tế
Các nhiệm vụ nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn đã đóng góp hiệu quả phục vụ điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong phát triển kinh tế – xã hội; phục vụ trực tiếp việc chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng.
Tháng 11/2020, Bộ KH&CN đã tiếp nhận bản thảo Bộ Lịch sử Việt Nam – là “bộ Quốc sử mang tính chất quốc gia chính thống” với 25 tập thông sử, 5 tập biên niên sự kiện lịch sử, do hơn 300 nhà khoa học thực hiện trong 5 năm. Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đây thực sự là kết tinh của hồn thiêng sông núi và sẽ sống mãi với thời gian.
Việt Nam làm chủ công nghệ sản xuất bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Về nông nghiệp, đã chọn tạo, công nhận chính thức 32 giống cây trồng, vật nuôi, 36 tiến bộ kỹ thuật, trong đó 2 giống lúa được sản xuất quy mô lớn. Nghiên cứu thành công việc sinh sản nhân tạo tôm mũ ni, hải sâm vú, trai tai tượng – là các nguồn gen thủy sản có giá trị kinh tế cao…
Các chương trình, nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được triển khai hiệu quả, góp phần duy trì xuất khẩu ở mức cao so với các năm trước những mặt hàng nông sản chủ lực trong đại dịch Covid-19.
Trong công nghiệp, đã chế tạo thành công nhiều thiết bị, dây chuyền sản xuất, chủng loại vật liệu mới phục vụ phát triển ngành cơ khí chế tạo, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp,…
Về y dược, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, Bộ KH&CN đã huy động các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ cấp bách với nhiều kết quả quan trọng như: Việt Nam là 1 trong 3 nước đầu tiên phân lập, nuôi cấy thành công vi rút; làm chủ công nghệ sản xuất bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 đạt tiêu chuẩn quốc tế; sản xuất vắc xin phòng Covid-19 bằng công nghệ protein tái tổ hợp và thuốc kháng thể đơn dòng điều trị đặc hiệu Covid-19, trong đó vắc xin Nanocovax đang thử nghiệm lâm sàng trên người tình nguyện; tổng hợp trên 1.700 công bố khoa học quốc tế về dịch bệnh; phát huy đề án Hệ tri thức việt số hóa trong truy vết người tiếp xúc; nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm thành công Robot vận chuyển, Robot khử khuẩn sàn nhà trong khu cách ly.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công quy trình ghép chi thể từ người cho chết não, ghép ruột từ người cho sống, phẫu thuật tách cặp trẻ bị dính liền cơ thể.
Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng phát biểu tại sự kiện
Giải thưởng nhằm tôn vinh thành tựu chuyển đổi số xuất sắc của những cá nhân, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan Nhà nước đã góp phần quan trọng thúc đẩy công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Giải thưởng được tổ chức thường niên dưới sự chủ trì của VDCA và sự bảo trợ của Bộ TT&TT.
Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng cho biết: Chính phủ đã ban hành Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia. Năm 2020 là năm khởi động chuyển đổi số quốc gia. Trong tiến trình này, chúng ta đã không chậm hơn thế giới về mặt nhận thức. Vì thế, tiếp theo, chúng ta cần không chậm hơn thế giới về mặt hành động. “Nếu năm 2020 là năm khởi động chương trình chuyển đổi số quốc gia thì năm 2021, chúng ta cần phải hành động nhiều hơn”, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nói.
Thứ trưởng cũng chỉ rõ, chuyển đổi số là dùng công nghệ số để thay đổi cách thức sống, cách thức làm việc, thay đổi mô hình kinh doanh, cung cấp dịch vụ mới, giải quyết các bài toán mà trước đây chưa có cơ hội giải quyết. Chuyển đổi số không chỉ là công nghệ số mà còn là thay đổi nhận thức, thay đổi thói quen, dám chấp nhận cái mới.
“Chuyển đổi số là công cuộc mang tính toàn dân, toàn diện. Bộ TT&TT kêu gọi các bộ, ngành, địa phương, hội, hiệp hội, doanh nghiệp và xã hội hãy cùng bắt tay vào hành động”, Thứ trưởng lưu ý.
Ông Nguyễn Minh Hồng – Chủ tịch VDCA, Trưởng Ban Tổ chức VDA 2021 cho biết, Giải thưởng Chuyển đổi Số Việt Nam tiếp tục được VDCA tổ chức thường niên nhằm góp phần thực hiện thành công nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như Chương trình Chuyển đổi số Quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, và nhiều chính sách khác của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số.
“Tôi tin tưởng rằng Giải thưởng sẽ tiếp tục phát hiện và tôn vinh những sản phẩm, dịch vụ, giải pháp công nghệ số tiêu biểu của Việt Nam, đặc biệt là những sản phẩm công nghệ Make in Vietnam để quảng bá tới các thị trường trong nước và quốc tế. Đồng thời, giải thưởng cũng sẽ tiếp tục cổ vũ và khuyến khích các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực mạnh dạn đầu tư, ứng dụng công nghệ số để chuyển đổi số thành công”- ông Nguyễn Minh Hồng khẳng định.
Toàn cảnh sự kiện
Lần thứ 4 tổ chức, VDA 2021 hứa hẹn nhiều đột phá với vai trò chủ trì tổ chức thực hiện của Tạp chí điện tử VietTimes – cơ quan ngôn luận của VDCA, sự phối hợp của Trung tâm Hợp tác Phát triển ICT và các đơn vị thuộc VDCA.
Hội đồng Giải thưởng gồm có ông Nguyễn Quân, Nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ làm Chủ tịch Hội đồng Chung khảo; Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Huy Dũng làm Chủ tịch Hội đồng Sơ tuyển và các thành viên Hội đồng là các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số, kinh tế số.
Ban Tổ chức sẽ tiến hành nhận hồ sơ đến hết tháng 7/2021, thông qua cổng tiếp nhận trực tuyến tại địa chỉ www.vda.com.vn. Sau đó, Hội đồng Sơ tuyển và Hội đồng Chung khảo sẽ làm việc để lựa chọn ra những cái tên xứng đáng nhất vinh danh trong lễ trao giải dự kiến được tổ chức vào cuối tháng 10/2021.
Lễ trao giải sẽ được tường thuật trực tiếp trên VTV, tiếp sóng trên nhiều kênh sóng và các nền tảng truyền thông khác. Những cá nhân, tổ chức tiêu biểu tham gia VDA 2021 cũng sẽ có cơ hội giới thiệu, quảng bá dịch vụ, sản phẩm và tìm kiếm đối tác, nhà đầu tư thông qua chuỗi sự kiện, hội thảo chuyển đổi số của VDA 2021.
Theo Ban Tổ chức, trong 3 năm tổ chức trước đó, Giải thưởng Chuyển đổi Số tiếp cận được hơn 10.000 đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước; thu hút gần 800 hồ sơ tham dự; vinh danh 200 sáng kiến chuyển đổi số tiêu biểu và tổ chức chuyển đổi số xuất sắc.
VDA 2021 sẽ có 4 hạng mục giải thưởng:
Hạng mục 1: Sản phẩm, Dịch vụ, Giải pháp chuyển đổi số tiêu biểu
Trao cho những cá nhân, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin – truyền thông sở hữu các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp công nghệ số tiêu biểu.
Hạng mục 2: Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp chuyển đổi số xuất sắc
Trao cho những doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực đã có quá trình ứng dụng công nghệ số để thay đổi mô hình quản lý, sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi số thành công.
Hạng mục 3: Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc
Trao cho cơ quan nhà nước ở tất cả các cấp có quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ từ mô hình truyền thống sang môi trường quản lý, làm việc dựa trên nền tảng công nghệ số.
Hạng mục 4: Sản phẩm, Giải pháp thu hẹp khoảng cách số
Trao cho những đơn vị, cá nhân có giải pháp chuyển đổi số phục vụ hiệu quả cho người khuyết tật, giúp người khuyết tật hoà nhập cuộc sống cộng đồng; những sản phẩm, giải pháp chuyển đổi số phục vụ người dân sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Nhóm nghiên cứu bao gồm các giảng viên Bộ môn Kỹ Thuật Tài Nguyên Nước-Trường Đại học Thủy Lợi do GS.TS. Trần Viết Ổn chủ trì thực hiện Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu giải pháp khoa học công nghệ thủy lợi, nông lâm kết hợp nhằm cải tạo và khai thác đất cát ven biển phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững vùng Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị)” bước sang năm thứ 3
Nhiệm vụ chính của đề tài nhằm giúp người dân các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị có thể sử dụng đất cát biển một cách hiệu quả và bền vững thông qua các giải pháp nông-lâm-thủy lợi kết hợp cải tạo đất phục vụ phát triển nông nghiệp ổn định, và bền vững. Sau hơn 2 năm thực hiện, Đề tài bước đầu đã cho những thành tựu nhất định trên vùng đất chỉ có nắng, gió và cát.
Mô hình của Ông Nguyễn Văn Vương ở Lệ Thuỷ – Quảng Bình nghiên cứu đối với cây ăn quả (Bưởi, cam và ổi) nhận thấy rõ sự khác biệt trong sự sinh trưởng của cây như: kích thước của cây, số nhánh cây tốt hơn, số lần tưới trong ngày, trong tuần và tháng giảm đáng kể, lượng phân bón cũng giảm đáng kể so với những phương pháp canh tác truyền thống của địa phương, những cây trồng trên vùng đất cát chưa được cải tạo.
Thực hiện Quyết định số 1679/QĐ-ĐHTL ngày 10 tháng 11 năm 2021 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi về việc thành lập Hội đồng khoa học nghiệm thu cấp cơ sở đề tài KH&CN cấp Nhà nước, ngày 26 tháng 11 năm 2021 tại Trường Đại học Thủy lợi, Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở đề tài: “Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo việc làm tại chỗ bền vững cho lao động nông thôn, đóng góp tích cực vào xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2030” – Chủ nhiệm: GS.TS. Trần Văn Hòe đã tiến hành họp đánh giá kết quả thực hiện đề tài.
Tham gia cuộc họp có GS.TS. Lô Quốc Hội – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Chủ tịch Hội đồng, TS. Nguyễn Văn Thịnh – Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới, TS. Vũ Hồng Phong – Trường Đại học Lao động – Xã hội, GS.TS. Nguyễn Văn Tiến – Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ, ThS. Lưu Văn Lượng – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, TS. Nguyễn Việt Cường – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, TS. Phùng Mai Lan – Trường Đại học Thủy lợi.
Hội đồng đã đánh giá toàn diện việc thực hiện đề tài theo quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Hội đồng kết luận: Đề tài đã đáp ứng đủ số lượng, khối lượng theo thuyết minh: Báo cáo cơ sở lý luận và thực tiễn của cơ chế, chính sách tạo việc làm tại chỗ bền vững cho lao động nông thôn trong xây dựng nông thôn mới; Báo cáo thực trạng việc làm tại chỗ và tính bền vững của việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam; Báo cáo hệ thống cơ chế chính sách hiện hành về tạo việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới; Báo cáo phân tích bối cảnh và dự báo khả năng tạo việc làm tại chỗ bền vững trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2030; Báo cáo bổ sung, hoàn thiện và đánh giá tính khả thi của cơ chế, chính sách tạo việc làm tại chỗ bền vững cho lao động nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2030; đăng 03 bài báo trên tạp chí khoa học trong nước; Hướng dẫn thành công 05 học viên cao học.
Các sản phẩm của đề tài đáp ứng được yêu cầu về mặt khoa học và thực tiễn. Chất lượng các sản phẩm đáp ứng yêu cầu theo quy đinh. Hội đồng thống nhất để đề tài được làm thủ tục nghiệm thu chính thức.
Một số hình ảnh buổi họp Hội đồng nghiệm thu:
PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại buổi nghiệm thu
Quyết định số 127/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/1/2021: Ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030
1. Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một lĩnh vực công nghệ nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, góp phần quan trọng tạo bước phát triển đột phá về năng lực sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững.
2. Kế thừa và phát huy những thành tựu mới nhất của nhân loại, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, phát triển khoa học và công nghệ; phát huy tiềm năng của doanh nghiệp, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực; từng bước nhận chuyển giao, làm chủ, tiến tới sáng tạo công nghệ.
3. Tập trung nguồn lực để tạo ra và phát triển các sản phẩm TTNT, dịch vụ TTNT quan trọng mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh; đầu tư có trọng điểm ứng dụng TTNT trong một số lĩnh vực liên quan tới quốc phòng an ninh, quản lý tài nguyên, môi trường và dịch vụ cho người dân; phát triển mạnh các doanh nghiệp ứng dụng TTNT, doanh nghiệp khởi nghiệp về TTNT.
Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT, đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT trong khu vực ASEAN và trên thế giới.
1. Mục tiêu đến năm 2025
a) Đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam
– Việt Nam nằm trong nhóm 5 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 60 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT;
– Xây dựng được 05 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực;
– Phát triển được 01 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao.
b) Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT
– Hình thành được 02 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT; gia tăng số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo về TTNT và tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực TTNT ở Việt Nam;
– Nâng cấp, hình thành mới được 10 cơ sở nghiên cứu và đào tạo trọng điểm về TTNT.
c) Góp phần xây dựng xã hội sáng tạo, chính phủ hiệu quả, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững
– TTNT được ứng dụng rộng rãi trong hành chính công, dịch vụ công trực tuyến giúp giảm thời gian xử lý công việc, nhân lực bộ máy, giảm thời gian chờ đợi và chi phí của người dân;
– Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý hành chính nhà nước trong phân phối, sử dụng nguồn lực xã hội, quản lý xã hội và quản lý đô thị, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
2. Mục tiêu đến năm 2030
a) Đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam
– Việt Nam nằm trong nhóm 4 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT;
– Xây dựng được 10 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực;
– Phát triển được 03 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao; kết nối được các hệ thống trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao trong nước tạo thành mạng lưới chia sẻ năng lực dữ liệu lớn và tính toán phục vụ TTNT;
– Hình thành được 50 bộ dữ liệu mở, liên thông và kết nối trong các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế – xã hội phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT.
b) Việt Nam là trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT mạnh
– Hình thành được 03 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT;
– Xây dựng được đội ngũ nhân lực chất lượng cao làm về TTNT bao gồm đội ngũ các chuyên gia và các kỹ sư triển khai ứng dụng TTNT. Tăng nhanh số lượng các công trình khoa học, đơn đăng ký sáng chế về TTNT của Việt Nam;
– Có ít nhất 01 đại diện nằm trong bảng xếp hạng nhóm 20 cơ sở nghiên cứu và đào tạo về TTNT dẫn đầu trong khu vực ASEAN.
c) Góp phần đẩy mạnh xã hội sáng tạo, chính phủ hiệu quả, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững
– Phổ cập được kỹ năng cơ bản về ứng dụng TTNT cho đội ngũ lao động trực tiếp, phục vụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân;
– Ứng dụng TTNT phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng an ninh, các hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai và ứng phó sự cố, dịch bệnh;
– Cùng với chuyển đổi số, ứng dụng TTNT góp phần thúc đẩy tăng trưởng một số ngành kinh tế.
Tạp chí ra đời với mục đích nhằm công bố, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, mô hình tổ chức quản lý điển hình của các nhà khoa học trong và ngoài trường, đồng thời tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và phát triển nông nghiệp nông thôn. Trải qua 17 năm hoạt động, Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường với xuất bản định kỳ 3 tháng/kỳ, Tạp chí đã ấn hành được 74 số (bao gồm cả số đặc biệt) với hơn 1500 bài báo.
Trong năm 2020, dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu và Hội đồng biên tập, Tạp chí đã có những kết quả đáng ghi nhận cụ thể về chất lượng bài báo. Uy tín của Tạp chí được nâng cao, ngày càng thu hút số lượng bài gửi cả trong và ngoài Trường.
Hội nghị Tổng kết Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường
Để nhìn lại một năm hoạt động, ngày 29/12, tại P225/A2 đã diễn ra lễ Tổng kết công tác năm 2020 của Tạp chí với sự tham dự của PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng – Tổng biên tập Tạp chí cùng các thành viên trong Hội đồng biên tập.
Hội nghị đã lắng nghe báo cáo tổng kết năm 2020 và phương hướng năm 2021, theo đó, Tạp chí KHKT Thủy lợi và môi trường nhận được văn bản số 2585/BTTTT-CBC của Bộ Thông tin và truyền thông ngày 14 tháng 7 năm 2020 về việc thay đổi thể thức xuất bản của Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường, đồng ý Tạp chí được tăng kỳ xuất bản, từ 04 kỳ/năm thành 05 kỳ/năm (trong đó 04 kỳ bằng tiếng Việt và 01 kỳ ngôn ngữ bằng tiếng Anh). Bắt đầu từ tháng 12 năm 2020, Tạp chí sẽ xuất bản số định kỳ bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Năm 2020, tạp chí đã tổ chức biên tập, xuất bản 03 số thường kỳ: 68, 69, 70, hiện đang hiệu đính và chuẩn bị in và phát hành số 71 và số tiếng Anh. Tổng số bài gửi đến nay là 104 bài, số bài đã đăng là 59 bài. Số lượng bài gửi của tác giả ngoài trường là 25/104 bài gửi, chiếm 25% tổng số bài gửi.
Theo PGS. TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng – Tổng biên tập Tạp chí, các bài báo gửi sẽ được thực hiện đúng theo Quy trình và được Ban biên tập đánh giá sơ bộ về chất lượng, nội dung khoa học, trước khi gửi phản biện. Các bài được đăng tải đều là những bài đạt quy chuẩn sau khi đã được các nhà khoa học thực hiện phản biện kín một cách nghiêm túc và được kiểm định sát sao theo đúng quy định của tạp chí.
PGS. TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng – Tổng biên tập Tạp chí phát biểu
Tại buổi lễ, GS. TS Phạm Ngọc Quý – Ủy viên hội đồng biên tập Tạp chí khẳng định về số lượng và chất lượng các bài đăng trong năm 2020 – một năm có nhiều biến động bởi thiên tai và ảnh hưởng của dịch Covid19. Các thành viên Hội đồng biên tập đã trao đổi sôi nổi về công tác đổi mới các chuyên trang, chuyên mục, cách thức trình bày, nâng cao chất lượng bài báo, xây dựng được hệ thống phản biện, tác giả chất lượng.
GS. TS Phạm Ngọc Quý – Ủy viên hội đồng biên tập Tạp chí phát biểu
Các thành viên Hội đồng biên tập Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường chụp hình lưu niệm
Bước sang năm mới 2021, Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường khẳng định sẽ tiếp tục duy trì 04 số tạp chí tiếng Việt và 01 số tiếng Anh. Thực hiện tốt công tác phản biện kín, tiến tới tăng thêm số lượng phản biện, xây dựng quy trình biên tập chặt chẽ, để nâng cao chất lượng Tạp chí. Trong công tác phát hành, mở rộng mạng lưới để đưa Tạp chí đến được nhiều cơ quan, nhà khoa học trong và ngoài nước. Xây dựng chế độ, chính sách phù hợp để thu hút được nhiều hơn các tác giả gửi bài. Đồng thời, không ngừng cải tiến Tạp chí, tiến tới đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Sáng ngày 23/12/2020 đã diễn ra buổi Hội thảo báo cáo các nội dung của Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang huyện Núi Thành phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và lân cận”. Đây là đề tài song phương, tổ chức thực hiện nhiệm vụ có sự tham gia của các thành viên Trường Đại học Thủy Lợi và Đại học Tohuku, Nhật Bản. Về phía Việt Nam do PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm làm chủ nhiệm, bên Nhật Bản do GS.TS. Hitoshi TANAKA chủ nhiệm. Do điều kiện dịch Covid-19 còn đang diến biến phức tạp nên phần trình bày của GT.TS. Hitoshi TANAKA được kết nối online.
Tham dự phát biểu từ phía trường Đại học Thủy lợi có Phó Hiệu trưởng GS.TS. Nguyễn Trung Việt. Bên cạnh đó, có sự tham gia của đại diện Văn phòng chương trình Quốc gia, ông Trần Anh Tuấn; các đại diện của tỉnh Quảng Nam như ông Văn Anh Tuấn (Sở GTVT tỉnh Quảng Nam), ông Lê Quang Hiếu (Ban QL khu KT Chu Lai), ông Trần Thanh Tuấn (Ban QL khu KT Chu Lai) …. Về phía khoa Công trình, Phó trưởng khoa PGS.TS. Trần Thanh Tùng cũng tham gia với vai trò chuyên gia và đại biểu. Các nhà khoa học từ các trường Đại học, Viện, Trung tâm cũng tham gia lắng nghe các nội dung của buổi Hội thảo.
Mục tiêu của đề tài: (1) làm rõ chế độ thủy thạch động lực và quá trình biến đổi hình tháo sông Trường Giang và vùng cửa sông ven biển; (2) Đề xuất được giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang, vùng cửa sông ven biển đáp ứng được nhu cầu thoát lũ, giao thông thủy và phát triển bền vững kinh tế khu vực lân cận.
Nội dung nghiên cứu đã được trình bày theo 5 nội dung chính như sau: (1) Thu thập tài liệu cơ bản và tổng quan về vấn đề nghiên cứu; (2) Điều tra, khảo sát phục vụ cho việc xây dựng mô hình toán và đề xuất phương án chỉnh trị; (3) Thiết lập công cụ mô hình toán hiện đại phục vụ nghiên cứu chế độ thạch động lực và diễn biến hình thái sông Trường Giang và khu vực Cửa Lở; (4) Phân tích, đánh giá các nguyên nhân, cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biên lòng dẫn sông Trường Giang và vùng Cửa Lở; (5) Nghiên cứu đề xuất giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang và vùng Cửa Lở đáp ứng yêu cầu thoát lũ và giao thông thủy, phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và vùng lân cận. Các thành viên của Đề tài đã lần lượt báo cáo các kết quả chính.
Về sản phẩm đạt được của Đề tài gồm 03 bài báo thuộc tạp chí chuyên ngành Quốc gia, 01 bài ở tạp chí quốc tế, 02 bài báo cáo tại các Hội thảo trong nước và quốc tế; sản phẩm KHCN liên quan đến đào tạo gồm 02 thạc sỹ ngành Xây dựng công trình thủy, công trình biển/môi trường, góp phần đào tạo tiến sỹ.
Như vậy, Đề tài đã xây dựng được bộ tiêu chí kỹ thuật tổng thế để bảo đảm ổn định vùng sông Trường Giang, nghiên cứu thiết kế chuẩn tắc đoạn luồng qua sông Trường Giang, đề xuất các phương án định hướng quy hoạch không gian công trình chỉnh trị sông Trường Giang. Hy vọng những kết quả của Đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học ứng dụng nhằm hạn chế những thiệt hại do thiên tai, đào tạo sinh viên/học viên mà còn có thể ứng dụng trong phát triển bền vững kinh tế ở vùng sông Trường Giang và vùng Cửa Lở, tỉnh Quảng Nam.
“…Mạng phức tạp nói riêng và hệ phức tạp nói chung là một trong các hướng nghiên cứu quan trọng của Toán học…”. Đó là phát biểu đánh giá của PGS.TS. Lê Minh Hà, Giám đốc điều hành Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Về Toán tại buổi khai mạc Trường Đông về “Mạng phức tạp và ứng dụng” do Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Về Toán và Trường Đại học Thuỷ lợi đồng tổ chức đã diễn ra từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 12 năm 2020 tại Trường Đại học Thuỷ lợi, Hà Nội.
Cụ thể là, theo một nghiên cứu dự báo của Hội Toán học Hà Lan, 5 thách thức lớn của Toán học trong tương lai là: Chương trình Langlands (Langlands program), Các hệ phức tạp (Complex systems), Mô hình ngẫu nhiên (Stochastic Modelling), Tính toán hiệu quả (Efficient computing) và Khoa học dữ liệu (Data Science). Bởi thế, trường Đông về Mạng phức tạp và ứng dụng với các công cụ nghiên cứu và ứng dụng liên ngành là một hoạt động khoa học rất bổ ích và thời sự. Đây là một hoạt động khoa học nằm trong khuôn khổ của Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020, do Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán và Trường Đại học Thủy Lợi phối hợp tổ chức.
Trường Đông về Mạng phức tạp và ứng dụng nhằm trang bị một số kiến thức cơ bản và nâng cao về mạng phức tạp và ứng dụng. Trường gồm ba khoá học ngắn song song diễn ra trong ba ngày gồm cả nội dung lý thuyết và thực hành ứng dụng. Khóa học thứ nhất là về Một số bài toán và thuật toán tìm kiếm cộng đồng trong mạng Liên kết do PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương (Viện Toán học/Viện dữ liệu lớn VinBigdata) giảng dạy, khóa học thứ hai về Lý thuyết mạng phức tạp và ứng dụng do TS. Lê Chí Ngọc (Trường Đại học Bách Khoa) giảng dạy và khoá học thứ ba là về Sự lan truyền dịch bệnh trong mạng phức tạp với các ví dụ tập trung vào dịch Covid-19 trên thế giới và tại Việt Nam do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Doanh (Trường Đại học Thuỷ lợi) giảng dạy.
Trường Đông đã được thu hút gần 80 học viên, được chia thành hai phần: phần bài giảng lý thuyết diễn ra song song tại Room 9, Room 10, khu hội thảo quốc tế K1 trong buổi sáng các ngày 16-18/12/2020 và phần thảo luận nhóm/thực hành diễn ra tại không gian nghiên cứu tầng 5 nhà A1 vào các buổi chiều 16-17/12/2020. Chủ đề thảo luận của các nhóm là các mạng phức tạp liên quan đến các khía cạnh khác nhau của dịch Covid-19 tại Việt Nam như: tìm hiểu đề xuất cách xây dựng mô hình rừng (có trọng số) cho mạng lưới Covid 19 tại Việt Nam, xây dựng mô hình SIR trên mạng các phường mô tả sự lan truyền Covid 19 tại một số thành phố ở Việt Nam, xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ các F1 trên mạng lưới các cụm dịch tại Việt Nam.