Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Hồ Kẻ Gỗ – Một bản tình ca

    Hồ Kẻ Gỗ – Một bản tình ca

    “Kẻ Gỗ là đây bao năm đợi tháng chờ, này vùng Đá Bạc đồi núi lô nhô…”, đã hơn ba mươi năm nay lời ca trong sáng, trữ tình ấy vang lên từ mảnh đất một thời mỏi mắt ngóng trông dòng nước. Đến hôm nay, chúng tôi mới có dịp tận mắt chiêm ngưỡng một khung cảnh hữu tình: Hồ Kẻ Gỗ.

    Từ Hà Nội dọc theo quốc lộ 1, qua Thành phố Hà Tĩnh chúng ta bắt gặp những đồi cây, ruộng lúa, luống khoai xanh ngắt và một biển nước giữa rừng thuộc xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên. Không còn “Những dòng suối nhỏ theo sông về với biển; bỏ đồi hoang lại trong nắng, trong mưa; để người thêm khổ như đất kia cằn khô…” thủa nào. Tất cả nhờ có Hồ Kẻ Gỗ.

    Hồ Kẻ Gỗ được quy hoạch từ đầu thế kỷ 20, đến ngày 26/3/1976 khởi công xây dựng, năm 1980 cơ bản hoàn thành, đến năm 1983 chính thức đưa vào sử dụng toàn bộ hệ thống.

    Diện tích lưu vực 223 km2, đã tạo nên hồ dài 29 Km, diện tích mặt hồ ứng với MNDBT khoảng 30 km2, Hồ có nhiệm vụ cấp nước tưới cho 21.136 ha; cấp nước sinh hoạt với lưu lượng 1,6 m3/s; nuôi cá, phòng lũ, cải tạo môi trường khí hậu, tạo cảnh quan du lịch hấp dẫn.

    Cụm công trình đầu mối gồm: Một đập chính; 3 đập phụ; một tràn xả lũ chính, một công trình lấy nước, một tràn sự cố.

    Đập chính là đập đất đồng chất. Cao trình đình đập là +35,4m (cao trình đáy đập là -2,0 m), tường chắn sóng trên đỉnh đập bằng bê tông cốt thép có cao trình đỉnh là +36,4 m. Chiều cao đập lớn nhất là 37,4m, chiều dài đỉnh đập là 1004 m, mái thượng lưu của hồ được bảo vệ bởi những tấm bê tông có kích thước b x l x h = 1 x 1 x 0,2 (m).

    Tràn chính (còn gọi là Tràn Dốc Miếu) đặt ở eo núi bên trái hồ có ngưỡng thực dụng, cao trình ngưỡng tràn ở + 26,5 m. Tràn gồm 2 cửa, mỗi cửa rộng 10m; van cung; cột nước tràn lớn nhất là 8,11 m; lưu lượng xả lớn nhất 910 m3/s. Nối tiếp sau ngưỡng là dốc nước và tiêu năng mũi phun.

    Ảnh 1: Nhìn từ thượng lưu tràn chính

    Ảnh 2: Sinh viên Trường Đại học Thủy lợi chụp ảnh  ở hạ lưu tràn chính

    Cống lấy nước đặt ở bờ phải hồ, kích thước b x h = 3 x 3 m. Đáy cửa vào ở cao trình +10,5. Đoạn cuối cống nối với 6 đường ống đường kính 1600 mm, 3 ống dẫn vào nhà máy thủy điện (hiện đã hỏng), 3 ống dẫn ra kênh tưới.

    Ảnh 3: Tháp cống lấy nước

    Một hạng mục công trình mới xuất hiện từ năm 2001, đó là tràn sự cố. Hồ Kẻ Gỗ sau khi đi vào hoạt động đã nảy sinh một vấn đề: Lượng mưa thực tế vượt lượng mưa thiết kế hơn 15%. Để đảm bảo an toàn cho cả cụm công trình đầu mối, đã tiến hành xây dựng tràn sự cố. Cao trình ngưỡng tràn là +31,5 m, cột nước tràn lớn nhất: 3,89 m. Trên ngưỡng tràn có đập đất tạm bố trí các lỗ mìn . Khi lũ đến vượt thiết kế, cho nổ mìn phá đập tạm trên ngưỡng và tràn sự cố thực thụ làm việc. Nối tiếp sau tràn sự cố là dốc đất tự nhiên và năng lượng thừa tự tiêu hao.

    Ảnh 4: Tràn sự cố kiểu đập đất nổ mìn gẫy vỡ

    Bằng ấy công trình đã tạo nên một hồ chứa có:

                Mực nước chết (MNC) = + 14,7 m

    Dung tích chết Vc = 25 triệu m3

    Mực nước dâng bình thường (MNDBT) = +32,5 m

                Dung tích hữu ích Vh = 320 triệu m3

                Dung tích hồ ứng với MNDBT: Vh = 320 triệu m3

                Mực nước lũ ứng với p = 0,5% là +34,61 m.

    Và cùng với gần một nghìn km kênh mương các loại, hàng trăm công trình trên kênh khác nhau đã tạo nên “từng đàn cá lội, cây lúa thêm nặng bông” trong mỗi cánh đồng, trong từng thôn xóm của các huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà -Hà Tĩnh.

    Trước mắt chúng tôi đan xen giữa “mặt hồ lay động nên sóng mênh mông” hôm nay, với những cảnh công trường tấp nập, vất vả nhưng nên thơ ngày nào:

                                     Tay anh phá núi, tay em đào sỏi

                                     Ngồi trong xe ủi, anh nhớ những ngày hè

                                    Chân lội qua khe, em nhớ mùa đông giá

                                    Ta nghe trong gió bao nhiêu là chuyện lạ

                                    Ngày ta đi học em nói thích nghề gì

                                   Nay da em nâu tươi mầu suy nghĩ

                                   Thấy mùa phượng vĩ ta ngỡ gặp mùa thi

                                   Cũng ngày phượng nở, hai đứa mình ra đi

    Quả thực, nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý đã có tác phẩm “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ” quá hay, làm say đắm hàng triệu con tim. Người Thủy lợi tự hào cội nguồn của những giai điệu trữ tình ấy, cái cốt lõi làm bật lên những ca từ trong sáng và mênh mang ấy chính là thành quả lao động của mọi người đã tạo dựng nên Hồ Kẻ Gỗ. Rất khiêm tốn và thật công bằng khi chúng ta nói rằng: “Hồ Kẻ Gỗ – một bản tình ca”.

    Việt Bắc

  • Nghị định 32/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo

    Tóm tắt nội dung


    * Tổ chức bộ máy giáo dục đào tạo – Ngày 19/3/2008, Chính phủ đã ban hhành Nghị định số 32/2008.NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo.


    Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo có nhiệm vụ trình Thủ tướng phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm của toàn ngành; các chiến lược, quy hoạch vùng trọng điểm; các đề án, dự án và chương trình quốc gia về lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc phạm vi quản lý của Bộ.


    Bộ có thẩm quyền ban hành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; chương trình khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học; khung chương trình, khối lượng kiến thức đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ; chỉ đạo việc đổi mới chương trình giáo dục các cấp, bậc học.


    Tiêu chí phát triển giáo dục; tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; quy định về công nhận đạt phổ cập giáo dục cũng do Bộ ban hành. Ngoài ra, Bộ quy định việc biên soạn, thẩm định, duyệt, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; chỉ đạo việc xây dựng giáo trình điện tử, thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu cấp quốc gia.


    Ban hành các quy chế thi và tuyển sinh, chế độ cử tuyển; quy định chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục ở từng cấp học và trình độ đào tạo; chỉ đạo kiểm định chất lượng giáo dục cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Bộ Giáo dục và Đào tạo.


    Về quản lý đào tạo với nước ngoài, Bộ chịu trách nhiệm ban hành các quy chế quản lý học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh Việt Nam học tập tại nước ngoài; tổ chức các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ việc liên doanh, liên kết giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của nước ngoài với các cơ sở của Việt Nam.


    Nghị định này có hiẹu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo


    Chi tiết nghị định


  • Thông báo tuyển sinh ngoại ngữ

    Thông báo tuyển sinh ngoại ngữ











    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    TRUNG TÂM ĐT NGOẠI NGỮ


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 




    Hà Nội, ngày 21  tháng 3  năm 2008


     


    THÔNG BÁO TUYỂN SINH NGOẠI NGỮ


     


     


    I.                    Các lớp tuyển sinh :


    Để đáp ứng nhu cầu của sinh viên khoá 46 còn nợ các học phần theo giáo trình   KẺRNEL LESSONS , trung tâm đào tạo Ngoại ngữ tuyển sinh :


     


     


                Tiếng Anh chương trình KERNEL LESSONS


     


     (Tương đương với học phần  3, 4 của khoá 46):        Thời gian học 30 buổi


                         


                Học phí:   400.000 đ     Đối với cán bộ, Sinh viên Trường Đại học Thuỷ Lợi


     


     


       II. Thời gian đăng ký: Từ ngày   21 – 3 – 2008


                                          Buổi sáng: Từ   8h30   – 11h30


                     Khai giảng: Ngày 02 tháng 4 năm 2008


     


       III. Thời gian học : Thứ 2, 4 trong tuần 


           


          Kíp I  : Từ  19h00– 20h45


     


    ( Thời gian có thể thay đổi theo thoả thuận giữa  giáo viên và học viên sau khi khai giảng lớp )


     


     


    TRUNG TÂM ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ


                                                                Phòng 105 – Nhà B1


                                                    Trường Đại học Thuỷ Lợi


                                                175 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội


                                                       Điện thoại:   048522816


              


     


    Rất hân hạnh được đón tiếp!


     


     


     


     

  • Những điều cần biết tuyển sinh 2008 – Đại học Thủy lợi

    Những điều cần biết tuyển sinh 2008 – Đại học Thủy lợi

    Trường Đại học Thủy Lợi thông báo Những điều cần biết về tuyển sinh Đại học, Cao đẳng hệ chính quy của Trường năm 2008. Nhấn chuột vào link sau để biết thông tin chi tiết:

    Những điều cần biết Tuyển sinh 2008 – Đại học Thủy Lợi

  • Học phí ĐH sẽ tăng gấp đôi

    Học phí ĐH sẽ tăng gấp đôi

    SV nộp học phí đầu năm học mới.
    Dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân, ngày 9-1 tại Hà Nội, Bộ GD-ĐT tổ chức hội nghị kế hoạch ngân sách năm 2008 của các đơn vị trực thuộc bộ. Thêm một lần nữa, tăng học phí lại trở thành vấn đề nóng.

    Các trường đồng loạt đề xuất tăng học phí

    Theo ông Trần Văn Ninh, Hiệu trưởng Trường ĐH Nông Lâm (ĐH Huế), bức tranh tài chính của ngành giáo dục hiện nay vẫn chưa có thay đổi lớn, thậm chí đầu tư còn có mặt giảm so với trước. Như vậy làm sao có chất lượng tốt được?

    Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Hùng, Hiệu trưởng Trường ĐH Xây dựng, gay gắt nói rằng Bộ GD-ĐT chính là bộ bao cấp nặng nề nhất. Với nguồn ngân sách như thế này, nếu không cẩn thận sẽ mất dần nguồn nhân lực. Cần phải tạo ra nguồn thu hợp lý và chính đáng, cần có cuộc cách mạng về nguồn thu.

    Cũng thống nhất quan điểm phải tăng học phí, theo ông Nguyễn Ngọc Hợi, Hiệu trưởng Trường ĐH Vinh, chúng ta đang còn tư tưởng bao cấp rất lớn, cần phải tạo tự chủ, thông thoáng cho các trường. ĐH Vinh có gần 4.000 sinh viên miễn giảm học phí, tổng số tiền này khoảng 6 tỷ đồng nên trường phải lấy chỗ nọ bù chỗ kia. Ông Hợi khẳng định trường thiệt thì sinh viên cũng thiệt. Ví dụ, để bảo đảm lương cao, thí nghiệm sẽ ít hóa chất đi, làm ảnh hưởng tới chất lượng học tập, khiến 50% sinh viên ra trường phải đào tạo lại. Số đối tượng miễn giảm nhiều nhưng nhiều năm rồi, trường chưa được bù lỗ. Trong khi đó, một bộ phận sinh viên muốn đầu tư cao vào việc học lại không được.

    Ông Bùi Văn Ga, Hiệu trưởng Trường ĐH Đà Nẵng, cho biết: ĐH Đà Nẵng dành đến 80% học phí của sinh viên chính quy cho việc chi lương và học bổng… Mỗi năm, các giảng viên của trường có khoảng 250.000 tiết giảng vượt giờ, nếu lấy từ học phí chính quy sang thì mỗi tiết dạy chỉ được trả khoảng 4.000 đồng, một con số mà nếu nhắc đến sẽ làm buồn lòng hết thảy những người đi dạy. Cũng theo ông Ga, may mà trường còn có nguồn thu từ học phí của hệ vừa học vừa làm, nếu không có “nồi cơm” này thì trường không có nguồn thu nào khác. Theo tính toán của ông Ga, nếu học phí tăng lên 130% so với hiện nay, tức là học phí không tăng so với cách đây 10 năm. Và nếu không tăng từ hai đến ba lần so với hiện nay, Nhà nước phải cấp kinh phí tăng hơn 50% so với hiện nay thì trường mới đủ khả năng tài chính để hoạt động.

    Trường chất lượng cao – học phí cao

    Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân gợi ý: Để tăng chất lượng giảng dạy, các trường nên thí điểm phương án hiệu trưởng quyết định trả lương cho giảng viên. Nếu trả theo mức lương thông thường thì khó giữ chân những giảng viên giỏi.

    Trước những bức xúc của lãnh đạo các trường, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân khẳng định: Sau khi thực hiện việc cho sinh viên vay tiền đi học, sẽ tính đến việc tăng học phí. Bốn tháng qua, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho vay hơn 2.000 tỷ đồng, dự kiến sau tám năm, quỹ xoay vòng cho vay này sẽ vào khoảng 25.000 tỷ đồng. Ở lần tăng này, học phí bậc ĐH sẽ tiến tới bảo đảm chi phí thường xuyên, có nghĩa là không thể ở mức 200.000 đồng/tháng mà phải là 400.000 đồng/tháng.

    Phó Thủ tướng nhấn mạnh học phí mới được xây dựng trên quan điểm: Trường chất lượng cao được thu tiền cao. Song song với việc tăng học phí, bộ cũng sẽ tiến hành kiểm định chất lượng để phân loại các trường. Bộ GD-ĐT rất khuyến khích các trường vươn lên chất lượng cao để có thể thu học phí ở mức tương xứng.

    Theo Người lao động

  • Thông báo về việc đăng ký học lại lớp riêng kỳ I năm học 2007-2008







    BỘ NN VÀ PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC
    THỦY LỢI


    Số:   1094    TB/CTCT&QLSV


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Hà nội, ngày 18 tháng 9 năm 2007





    THÔNG BÁO


    “V/v đăng ký học lại lớp riêng  kỳ I năm học 2007-2008”


    Học kỳ I năm học 2007-2008 Nhà trường chủ yếu cho những sinh viên trong diện bắt buộc phải học lại (môn học có điểm 00) được đăng ký học lại với các lớp Khoá sau có cùng chương trình. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế còn một số sinh viên chưa đủ điều điều kiện dự thi kết thúc học phần của những môn học mà không học lại được do các lý do khách quan khác nhau. Do đó, Nhà trường tổ chức lớp học lại riêng cho các sinh viên chưa đủ điều kiện dự thi (môn học có điểm 00) một số môn học trong điều kiện cụ thể sau đây:


    – Môn học đó không còn trong chương trình đào tạo của các khoá sau;


    – Các khoá sau không còn lớp của ngành học đó (các lớp ngành NC);


    – Môn học bị trùng lịch học mà sinh viên không thể theo học được (kể cả môn học lệch chương trình);


    – Sinh viên chuẩn bị làm Đồ án tốt nghiệp chưa kịp đăng ký học lại với các lớp khoá sau.


    Kế hoạch triển khai như sau:


    1.    Sinh viên viết đơn tự nguyện xin học lại lớp riêng và đăng ký tại Bộ phận tư vấn sinh viên – Phòng CTCT và QLSV từ ngày 20/9/2007 đến 5/10/2007.


    2.    Kinh phí học lại do sinh viên đóng góp đủ để chi phí cho lớp học với mức thanh toán cho Giáo viên giảng dạy ngoài giờ 30.000 đồng/ 1tiết. Khi sinh viên đăng ký, Phòng CTCT và QLSV tạm thu mỗi sinh viên phần kinh phí đủ để chi cho lớp học, khi tổ chức lớp học ổn định, tuỳ theo số sinh viên của lớp để tính toán kinh phí cho từng sinh viên và trả lại tiền (nếu còn thừa).


    3.    Phòng CTCT và QLSV lập danh sách lớp học, gửi về các Bộ môn, làm việc cụ thể với Bộ môn để lên kế hoạch học lại và thông báo cho sinh viên.


    4.    Các Bộ môn cử Giáo viên giảng dạy theo nhu cầu của sinh viên.


    5.    Thời gian học lại và thi kết thúc môn học trước ngày 20/11/2007.


    Nhận được thông báo này, đề nghị các đơn vị thực hiện nghiêm túc.







    Nơi nhận:


    – ĐU,BGH,HĐT (b/c)


    – Các Khoa, các Bộ môn


    – Các lớp trong toàn trường


    – Bộ phận TV sinh viên   


    – Lưu VT, P7,P1,P3,P4


    KT. HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)



    PGS. TS Lê Đình Thành


  • Nghị quyết của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông







    CHÍNH PHỦ


    __________


    Số: 32/2007/NQ-CP


     


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    ______________________________________


    Hà Nội, ngày  29  tháng 6  năm 2007


     


    NGHỊ QUYẾT


    Về một số giải pháp cấp bách


    nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông


    ______


     


    Thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 24 tháng 02 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, từ năm 2003 đến năm 2005 đã thực hiện được mục tiêu kiềm chế tai nạn giao thông. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay tình hình trật tự an toàn giao thông lại có những diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông tăng so với những năm trước.


    Tai nạn giao thông, đặc biệt tai nạn giao thông đường bộ đã gây ra những thiệt hại to lớn về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, đang là vấn đề xã hội hết sức bức xúc, nghiêm trọng đòi hỏi Nhà nước, Chính phủ phải tập trung hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các giải pháp đồng bộ để nhanh chóng kiềm chế tai nạn giao thông.


    Một trong những nguyên nhân dẫn tới tai nạn giao thông tăng trong thời gian qua là do sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông từ Trung ương đến địa phương chưa thật tập trung và chưa có trọng điểm, có lúc điều hành thiếu quyết liệt hoặc chưa liên tục; chính quyền cơ sở ở một số địa phương chưa quan tâm đúng mức, còn thờ ơ hoặc đứng ngoài cuộc; ý thức chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông của người tham gia giao thông kém, nhiều người vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông rất ngang nhiên mà không bị xử lý hoặc xử lý không nghiêm.


    Để kiềm chế gia tăng tai nạn giao thông, đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội, nhất là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương, chính quyền các cấp, các tổ chức, các đoàn thể và mỗi người tham gia giao thông đều phải có trách nhiệm tham gia bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Chỉ có như vậy thì các quy định của pháp luật trật tự an toàn giao thông mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực.


    Trên cơ sở “Đề án bảo đảm trật tự an toàn giao thông Quốc gia đến năm 2010”, Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, các địa phương tập trung thực hiện quyết liệt và liên tục các giải pháp cấp bách sau đây:


    1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trật tự an toàn giao thông.


    a) Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật trật tự an toàn giao thông cho mọi đối tượng tham gia giao thông để mọi người tự giác chấp hành là biện pháp quan trọng hàng đầu; yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể, các cơ quan thông tin, báo chí phải đặc biệt quan tâm, thực hiện thường xuyên, kiên trì và liên tục.


    b) Thủ trưởng các cơ quan nhà nước, các tổ chức, các đoàn thể, các doanh nghiệp có trách nhiệm giáo dục cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các thành viên trong tổ chức của mình gương mẫu chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông; phải có chương trình thường xuyên phổ biến các quy định của pháp luật trật tự an toàn giao thông cho mọi thành viên của cơ quan, tổ chức, đơn vị; ban hành quy chế khen thưởng, biểu dương gương người tốt, việc tốt trong lĩnh vực bảo đảm trật tự an toàn giao thông và không xét các danh hiệu thi đua và khen thưởng với mọi hình thức đối với những người vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông.


    c) Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:


    – Ban hành chương trình giáo dục trật tự an toàn giao thông phù hợp trong nhà trường, tăng thời lượng giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa về trật tự an toàn giao thông. Thực hiện chương trình giảng dạy trật tự an toàn giao thông mới từ niên học 2008 – 2009 ở tất cả các cấp học;


    – Chỉ đạo Hiệu trưởng các trường phổ thông, các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên về chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông; thường xuyên nhắc nhở, đưa thông tin liên quan đến trật tự an toàn giao thông vào nội dung sinh hoạt đầu tuần, lễ chào cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đoàn, Đội; quy định việc đánh giá đạo đức đối với học sinh, sinh viên vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông. Từ ngày 01 tháng 9 năm 2007 kiên quyết xử lý nghiêm đối với học sinh, sinh viên chưa đủ tuổi, không có Giấy phép lái xe điều khiển mô tô, xe gắn máy; Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định trách nhiệm của Hiệu trưởng các trường không tổ chức thực hiện nghiêm túc những quy định trên.


    d) Bộ Công an ban hành quy định việc thông báo về cơ quan, trường học, phường, xã, tổ dân phố, cụm dân cư những cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và người vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông để kiểm điểm, giáo dục.


    đ) Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Thanh niên Việt Nam, Hội đồng Đội Trung ương quy định việc phổ biến nội dung pháp luật trật tự an toàn giao thông trong các buổi sinh hoạt thường kỳ, biểu dương người tốt, việc tốt, phê phán các cá nhân vi phạm; nêu cao hơn nữa vai trò của Đoàn, Hội, Đội trong việc giáo dục ý thức tự giác chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông.


    e) Bộ Văn hóa – Thông tin chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức, chỉ đạo và huy động các cơ quan thông tin, báo chí, tuyên truyền nêu cao vai trò, trách nhiệm, tích cực tham gia vào công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông cho mọi tầng lớp nhân dân và thực hiện Nghị quyết này; cần chú ý cùng với việc phê phán những cá nhân, tổ chức, đơn vị vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông, còn phải nêu gương người tốt, việc tốt, tổ chức, đơn vị làm tốt công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Mỗi tờ báo phải có chuyên đề tuyên truyền về an toàn giao thông.


    2. Kiên quyết cưỡng chế thi hành pháp luật trật tự an toàn giao thông và nâng cao năng lực cho lực lượng cảnh sát, thanh tra giao thông vận tải.


    a) Đi đôi với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trật tự an toàn giao thông phải kiên quyết xử lý nghiêm những người vi phạm các quy định của pháp luật trật tự an toàn giao thông. Để tạo được chuyển biến tích cực về công tác này cần phải áp dụng ngay các biện pháp sau đây:


    – Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đình chỉ lưu hành ô tô đã hết niên hạn sử dụng, xe công nông, xe tự chế 3, 4 bánh. Trường hợp cố tình vi phạm sẽ bị tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ;


    – Thực hiện đình chỉ lưu hành các phương tiện cơ giới đường bộ vi phạm các quy định về bảo đảm trật tự an toàn giao thông bằng hình thức tạm giữ phương tiện hoặc tạm giữ đăng ký phương tiện, biển số đăng ký, sổ chứng nhận bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo thời hạn quy định của pháp luật hiện hành;


    – Từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, đình chỉ hoạt động các phương tiện thủy nội địa không đăng ký, không đăng kiểm an toàn kỹ thuật theo quy định của pháp luật;


    – Đình chỉ hoạt động các cơ sở lắp ráp, tự chế các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và đường thủy nội địa trái phép, nếu cố tình vi phạm có thể tịch thu trang thiết bị trực tiếp sản xuất của cơ sở đó;


    – Tạm giữ mô tô, xe gắn máy 30 ngày trở lên nếu người điều khiển vi phạm một trong các quy định sau: chở quá số người cho phép, đi vào đường ngược chiều, đường cấm, lạng lách đánh võng, vượt đèn đỏ, không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát giao thông; 


    – Tạm giữ mô tô, xe gắn máy 90 ngày không phân biệt sở hữu đối với trường hợp học sinh, sinh viên chưa đủ tuổi hoặc không có Giấy phép lái xe điều khiển mô tô, xe gắn máy.


    b) Lực lượng tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm phải xử lý công khai và đúng pháp luật, không phân biệt người vi phạm đi bộ, đi xe đạp, đi mô tô hay lái ô tô; người có thẩm quyền xử lý vi phạm mà cố tình không xử lý sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định.


    c) Bộ Công an đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; sớm trình Chính phủ Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy”; từng bước áp dụng công nghệ mới trong tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm, giám sát việc chống tiêu cực trong lực lượng cảnh sát; bất kỳ cán bộ, chiến sĩ cảnh sát nào có hành vi tiêu cực đều bị xử lý kỷ luật, nếu hành vi nhận hối lộ, hành vi vi phạm pháp luật đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự; có chế độ khen thưởng kịp thời những cán bộ chiến sĩ mẫn cán và hoàn thành nhiệm vụ, kỷ luật thích đáng cán bộ, chiến sĩ thiếu tinh thần trách nhiệm.


    d) Trong quý I năm 2008, Bộ Giao thông vận tải trình Chính phủ Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị cho lực lượng Thanh tra giao thông vận tải”.


    3. Về kết cấu hạ tầng giao thông


    a) Giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:


    – Chỉ đạo các cơ quan chức năng tổ chức giải tỏa dứt điểm trước ngày 30 tháng 3 năm 2009 các trường hợp lấn chiếm đất hành lang an toàn giao thông đường bộ các quốc lộ trên địa bàn trong phạm vi đã được đền bù, xử lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải chịu trách nhiệm về việc cưỡng chế, phá dỡ các công trình trái phép trên hành lang an toàn quốc lộ; xử lý kỷ luật Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nếu để tái lấn chiếm hành lang an toàn giao thông; những trường hợp cố tình vi phạm phải truy cứu trách nhiệm hình sự;


    – Trong năm 2008 hoàn thành việc quy hoạch hệ thống đường gom ngoài hành lang an toàn hệ thống quốc lộ và thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải các vị trí đấu nối vào hệ thống quốc lộ phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn đến năm 2010;


    – Tổ chức phân làn riêng cho mô tô, gắn máy trên những tuyến đường, tuyến phố đủ điều kiện để khắc phục tình trạng lưu thông hỗn hợp;


    – Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp có biện pháp ngăn chặn việc mở đường ngang trái phép vượt qua đường sắt, đồng thời xóa bỏ khoảng 50% số đường ngang trái phép trong năm 2009; giải tỏa công trình vi phạm hoặc các vật cản khác làm hạn chế tầm nhìn của người lái tầu.


    b) Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm:


    – Tổ chức thống kê, phân loại và xử lý các đường đấu nối trái phép vào hệ thống quốc lộ; xoá bỏ khoảng 50% số đường đấu nối trái phép trước ngày 30 tháng 3 năm 2009; tiếp tục thực hiện các giải pháp khắc phục triệt để tình trạng đấu nối trái phép trước năm 2011;       


    – Hoàn thành việc cải tạo các “điểm đen” về tai nạn giao thông đã phát hiện trên hệ thống quốc lộ trước ngày 30 tháng 11 năm 2007. Từ năm 2008 những “điểm đen” về tai nạn giao thông được phát hiện phải xử lý xong trong khoảng 90 ngày kể từ ngày hoàn tất hồ sơ;


    – Hết quý II năm 2008 phải hoàn thành việc bổ sung đầy đủ các công trình phụ trợ phòng ngừa và hạn chế thiệt hại do tai nạn giao thông tại các khu vực đèo, dốc nguy hiểm trên hệ thống quốc lộ;


    – Rà soát, phân loại các điểm giao cắt đường bộ với đường sắt để thiết lập đường ngang có phòng vệ phù hợp với quy định hiện hành; xây dựng rào chắn ngăn cách quốc lộ với đường sắt ở những đoạn quốc lộ chạy sát đường sắt; đến năm 2010 xây dựng xong hàng rào ngăn cách đường sắt với các khu dân cư;


    – Bổ sung đầy đủ các biển báo hiệu, gờ giảm tốc và các điều kiện cảnh báo khác tại các điểm giao cắt đường bộ với đường sắt chưa đủ tiêu chuẩn xây dựng gác chắn hoặc cảnh báo tự động;


    – Quy định khi xây dựng mới quốc lộ, các tuyến phố mới phải tổ chức phân làn riêng cho xe mô tô, xe gắn máy, lắp đặt các hệ thống giám sát an toàn.


    c) Bộ Công an chỉ đạo việc xử lý nghiêm minh đối với cá nhân có hành vi xâm hại công trình giao thông, cản trở giao thông, nếu hành vi xâm hại công trình giao thông, cản trở giao thông có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.


    4. Tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng an toàn kỹ thuật của phương tiện giao thông vận tải.


    a) Bộ Công an phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư pháp quy định việc đăng ký, cấp biển số cho phương tiện cơ giới của thương binh và người khuyết tật; thu hồi biển số đăng ký của phương tiện giao thông đã hết niên hạn sử dụng.


    b) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương quản lý chặt chẽ các bến đò khách, đò chở khách trên địa bàn quản lý; kiên quyết đình chỉ hoạt động các bến đò, các đò không đủ tiêu chuẩn an toàn, thiếu trang bị cứu sinh theo quy định. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn để xẩy ra tai nạn giao thông do bến đò hoặc đò không đủ các điều kiện an toàn sẽ bị xử lý kỷ luật, nếu tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị cách chức, bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.  


    c) Bộ Tài chính xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển vận tải khách công cộng bằng xe buýt; nghiên cứu việc tăng lệ phí trước bạ, tăng lệ phí đăng ký mô tô và xe gắn máy ở các thành phố lớn.


    d) Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh quy định việc cấm mô tô và xe gắn máy lưu thông trên một số tuyến đường trong khoảng thời gian phù hợp nhằm giảm ùn tắc giao thông đô thị.


    đ) Bộ Giao thông vận tải xây dựng các giải pháp tăng cường chất lượng công tác kiểm định an toàn kỹ thuật đối với phương tiện cơ giới đường bộ và đường thủy, chú trọng việc nâng cao chất lượng kỹ thuật của phương tiện thuỷ nội địa đang lưu hành; chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra các tiêu chuẩn an toàn bay nhằm hạn chế phát sinh các vụ việc gây ra chậm chuyến bay hoặc phải huỷ chuyến bay.


    5. Giải pháp đối với người điều khiển phương tiện.


    a)  Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thường xuyên kiểm tra chất lượng đào tạo lái xe cơ giới đường bộ; thu hồi có thời hạn hoặc thu hồi vĩnh viễn Giấy phép những cơ sở đào tạo lái xe không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định hoặc bị phát hiện có tiêu cực, cắt giảm chương trình đào tạo lái xe.


    b) Bộ Giao thông vận tải ban hành các quy định nhằm nâng cao chất lượng công tác sát hạch, hoàn thiện các thủ tục cấp, đổi Giấy phép lái xe theo hướng đơn giản về thủ tục nhưng vẫn quản lý chặt chẽ; kiên quyết xử lý nghiêm khắc các hành vi tiêu cực, có thể xử lý đến mức buộc thôi việc những cán bộ, công chức có hành vi tiêu cực trong lĩnh vực này, lãnh đạo của đơn vị có hành vi tiêu cực phải chịu trách nhiệm liên đới; quy định về tiêu chuẩn tay nghề đối với lái xe khách chuyên nghiệp, lái taxi, lái xe tải đường dài.


    c) Thực hiện việc bắt buộc học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ trước khi nhận lại Giấy phép lái xe đối với những lái xe vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông đến mức bị tạm giữ Giấy phép lái xe từ 60 ngày trở lên; thu hồi không thời hạn Giấy phép lái xe của lái xe khách chuyên nghiệp các loại D, E để xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng hoặc chở khách quá 100% số khách quy định.


    d) Thu hồi không thời hạn Giấy phép lái xe của những lái xe nghiện ma túy.


    đ) Trong năm 2007, Bộ Y tế bổ sung, sửa đổi quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển từng loại phương tiện cơ giới, quy định hình thức kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ sức khỏe của lái xe thay thế các quy định hiện hành không còn phù hợp.


    6. Giải pháp giảm thiểu thiệt hại do tai nạn giao thông


    a) Từ ngày 15 tháng 9 năm 2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên các quốc lộ bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm.


    b) Từ ngày 15 tháng 12 năm 2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm.


    c) Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định hướng dẫn tổ chức hoạt động cứu hộ, cứu nạn giao thông đường bộ bảo đảm ứng cứu kịp thời, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả do tai nạn giao thông gây ra.


    d) Bộ Y tế ban hành quy định việc thành lập các trạm cấp cứu tai nạn giao thông trên các quốc lộ trọng điểm với khoảng cách giữa các trạm hợp lý và theo quy định; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức cấp cứu tai nạn giao thông cho các đối tượng liên quan đến cứu hộ, cứu nạn và giải quyết tai nạn giao thông.


    đ) Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định mức phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, có tăng hoặc giảm tuỳ theo mức độ tai nạn của mỗi chủ xe nhằm khuyến khích việc ngăn ngừa tai nạn đối với chủ xe và lái xe; đồng thời tiếp tục đổi mới các thủ tục tham gia bảo hiểm và điều kiện bồi thường thiệt hại; nghiên cứu nâng mức phí bảo hiểm bắt buộc để mức bồi thường bảo hiểm có thể bù đắp được thiệt hại; hướng dẫn sử dụng một phần kinh phí từ nguồn bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới để đầu tư lại cho công tác phòng ngừa tai nạn giao thông.


    e) Bộ Công an phối hợp với Bộ Tài chính quy định chế độ phối hợp giữa cơ quan công an với cơ quan bảo hiểm công tác giám sát và kiểm tra các chủ xe cơ giới; xử lý nghiêm các doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe vi phạm chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.


    7. Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước


    a) Trong năm 2007, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia trình Chính phủ phương án kiện toàn Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia và Ban An toàn giao thông ở địa phương theo hướng nâng cao trách nhiệm, quyền hạn trong tổ chức phối hợp và tính chuyên nghiệp của bộ máy này.


    b) Bộ Giao thông vận tải xây dựng và trình Chính phủ trong năm 2007 phương án kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về an toàn giao thông của Bộ và các Sở Giao thông vận tải (Sở Giao thông công chính).


    8. Tổ chức thực hiện


    a) Chính phủ đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo các cấp ủy Đảng kiểm điểm việc thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 24 tháng 02 năm 2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong thời gian qua, xây dựng kế hoạch lãnh đạo của các cấp ủy Đảng mạnh mẽ hơn đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong thời gian tới.


    b) Các Bộ, ngành, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch hành động cụ thể của Bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư, các giải pháp quy định tại Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP và Nghị quyết này của Chính phủ.


    c) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động tổ chức thực hiện và phối hợp chặt chẽ với các Bộ trong việc triển khai các giải pháp mạnh nêu trên.


    d) Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và các địa phương thực hiện Đề án bảo đảm trật tự an toàn giao thông quốc gia đến năm 2010, các Nghị quyết của Chính phủ về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; hàng quý tổ chức giao ban với các Bộ, các địa phương theo khu vực nhằm kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết này ở từng ngành, từng địa phương và báo cáo Thủ tướng Chính phủ những kết quả đạt được.


    9. Hiệu lực thi hành: Nghị quyết này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo./.


     


    TM. CHÍNH PHỦ


     THỦ TƯỚNG 


    (đã ký)


    Nguyễn Tấn Dũng


  • Quyết định v/v Thành lập Hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007

    Quyết định v/v Thành lập Hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007

    Theo quyết định số 357 ĐHTL-KHCN/QĐ ngày 14/5/2007 của Trường Đại học Thuỷ lợi


     


    QUYẾT ĐỊNH CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    V/v: Thành lập Hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007
     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI



    –          Căn cứ quyết định số 351-QĐ/TL ngày 26/4/1962 của Bộ Thuỷ lợi cũ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trường Đại học Thuỷ lợi;


    –          Căn cứ quyết định số 901-QĐ/TC ngày 04/8/1989 của Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) qui định chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy NCKH-PVXS trong các trường đại học;


    –          Xét yêu cầu công tác và khả năng cán bộ;


    –          Theo đề nghị của các ông Trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Trưởng phòng TCCB,



    QUYẾT ĐỊNH 


    Điều 1:  Nay thành lập các hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007 gồm các ông, bà có tên trong danh sách kèm theo. Quyết định này thay cho quyết định 323 ĐHTL – KHCN/ QĐ ký ngày 4/ 5/ 2007.


    Điều 2: Các hội đồng có nhiệm vụ tổ chức cho sinh viên bảo vệ đề tài, đánh giá các đề tài NCKH của sinh viên và gửi kết quả đánh giá về Hội đồng đánh giá NCKHSV cấp Trường (qua P9) vào sáng ngày 16/5/2007.


    Điều 3: Các ông (bà) Trưởng phòng Khoa học Công nghệ, phòng Tổ chức Cán bộ, phòng Tài vụ và các ông, bà có tên trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.



    KT HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    PGS.TS Vũ Thanh Te


     


     DANH SÁCH THÀNH VIÊN CÁC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ CẤP KHOA


    HỘI NGHỊ SVNCKH – NĂM HỌC 2006 – 2007