Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Giới thiệu một số sách tham khảo mới được cập nhật


































    Khảo sát địa chất để thiết kế các loại công trình /Nguyễn Uyên.- Hà Nội : Xây dựng, 2006.- 383tr. : bảng, hình vẽ ; 27cm.


    Tóm tắt: Giới thiệu các phương pháp khảo sát địa chất công trình.Dựa trên những nguyên lý cơ bản về điều kiện địa chất để thiết kế các loại công trình khác nhau như đô thị, cầu đường, công trình ngầm, sân bay, thuỷ lợi.
    Ký hiệu xếp giá: TK/000630-34
    Số định danh: 624



    Tổ chức thi công các kết cấu bê tông và bê tông cốt thép /Nguyễn Văn Phiêu, Nguyễn Văn Chánh.- Hà Nội : Xây dựng, 2007.- 367tr. : bảng, hình vẽ, minh hoạ ; 27cm.


    Tóm tắt: Cung cấp những kiến thức cơ bản về các cấu kiện bê tông và bê tông cốt thép, vật liệu, số liệu tiêu hao vật liệu, thiết bị công nghệ và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong thi công sản xuất các cấu kiện và kết cấu bê tông cốt thép 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000625-29
    Số định danh: 624



    Trang thiết bị kỹ thuật công trình xây dựng /Phạm Việt Anh, Nguyễn Lan Anh.- Hà Nội : Xây dựng, 2006.- 205tr. : hình vẽ, minh hoạ ; 27cm.


    Tóm tắt: Cung cấp các kiến thức cơ bản của các hệ thống trang thiết bị kỹ thuật công trình, các không gian kỹ thuật cần thiết trong thiết kế xây dựng nhà như hệ thống cấp thoát nước, điện, điều hoà không khí, thông gió, thang máy.. 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000620-24
    Số định danh: 690



    Cơ sở cơ học môi trường liên tục và một vài mô hình ứng dụng /Nguyễn Đình Chiều.- Hà Nội : Xây dựng, 2006.- 178tr. : hình vẽ ; 27cm.


    Tóm tắt: Nghiên cứu chuyển động vĩ mô của môi trường ở thể rắn, lỏng và khí. Ứng dụng lý thuyết đàn hồi và cơ học chất lỏng trong thực tiễn xây dựng giao thông thuỷ lợi 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000615-19
    Số định danh: 620



    Xử lý các hiện tượng địa chất trong xây dựng /Nguyễn Uyên.- Hà Nội : Xây dựng, 2006.- 268tr. : hình vẽ, minh hoạ ; 27cm.


    Tóm tắt: Nghiên cứu các hiện tượng địa chất động lực công trình và các yếu tố ảnh hưởng như nước mặt, nước ngầm, động đất và trọng lực công trình trong các hoạt động xây dựng và các biện pháp xử lý 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000610-14
    Số định danh: 624




    Lập và thẩm định dự án đầu tư xây dựng /Nguyễn Thống.- Hà Nội : Xây dựng, 2007.- 267tr. : hình vẽ, bảng ; 27cm.


    Tóm tắt: Cung cấp các kiến thức và kỹ năng tính toán trong quá trình lập một dự án đầu tư. Quy trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000605-09
    Số định danh: 624



    Giáo trình thí nghiệm vật liệu xây dựng /Nguyễn Cao Đức…[và những người khác].- Hà Nội : Xây dựng, 2006.- 98tr. : hình vẽ, bảng ; 27cm.


    Tóm tắt: Hướng dẫn trình tự tiến hành thí nghiệm và các thức thu thập những chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng của mỗi loại vật liệu xây dựng 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000600-04
    Số định danh: 620



    Giáo trình lập định mức xây dựng /Nguyễn Bá Vỵ, Bùi Văn Yêm.- Hà Nội : Xây dựng, 2007.- 186tr. : bảng ; 27cm.


    Tóm tắt: Cung cấp các kiến thức về định mức để sinh viên có khả năng lập được các định mức xây dựng mới dựa trên những kỹ thuật công nghệ mới phục vụ cho việc quản lý đầu tư xây dựng 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000595-99
    Số định danh: 338




    Sổ tay số liệu thi công xây dựng
    /Nguyễn Đăng Sơn.- Hà Nội : Xây dựng, 2006.- 304tr. : bảng ; 24cm.


    Tóm tắt: Tập hợp các số liệu cơ bản được lấy từ các văn bản pháp quy kỹ thuật, các tiêu chuẩn được công bố trong và ngoài nước phục vụ cho việc kiểm định vật liệu xây dựng và công trình xây dựng 
    Ký hiệu xếp giá: TK/000590-94
    Số định danh: 624



    Chọn lũ thiết kế
    /Phạm Thái Vinh.- Hà Nội : Xây dựng, 2007.- 170tr. : hình vẽ ; 27cm.


    Tóm tắt: Hướng dẫn việc chọn mô hình, các sai số lấy mẫu và giới hạn áp dụng các định luật thống kê nhằm xác định được tần suất lũ thiết kế để xác định công suất công trình tháo lũ đảm bảo mục tiêu an toàn tuyệt đối cho người và tài sản
    Ký hiệu xếp giá: TK/000585-89
    Số định danh: 551


  • Sách mới tháng 4/2007








































    The world’s water: The biennial report on freshwater resources. – Washington, D.C.: Island Press, c1998-. – v.: minh hoạ, bản đồ; 28 cm
    Latest issue consulted: 2004/2005
    Prepared by: Peter H. Gleick
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559635924



    Coastal waters of the world: Trends, threats, and strategies / Don Hinrichsen. – Washington, D.C. : Island Press, c1998. – xxiii, 275 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 26 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559633832



    Rocky Mountain futures: An ecological perspective / edited by Jill S. Baron ; foreword by Paul R. Ehrlich. – Washington : Island Press, [2002]. – xxviii, 325 tr. : minh hoạ, bản đồ màu; 24 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559639547, 1559639547 (pbk. : acid-free paper)



    The wilderness from Chamberlain Farm: A story of hope for the American wild / Dean B. Bennett ; foreword by Stewart L. Udall. – Washington, DC: Island Press/ Shearwater Books, c2001. – xxiii, 440 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559637293 (cloth : alk. paper), 1559637307 (pbk. : alk. paper)



    The whaling season: An inside account of the struggle to stop commercial whaling / Kieran Mulvaney. – Washington, DC : Island Press/Shearwater Books, 2003. – xvii, 348 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559639784 (hardcover : alk. paper)



    Lost landscapes and failed economies: The search for a value of place / Thomas Michael Power. – Washington, D.C. : Island Press, c1996. – xiii, 304 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559633689 (cloth : acid-free paper)



    Making sense of intractable environmental conflicts : Frames and cases / Edited by Roy J. Lewicki, Barbara Gray, Michael Elliott. – Washington, DC : Island Press, c2003. – ix, 469 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559639318



    The future of U.S. ocean policy: Choices for the new century / Biliana Cicin-Sain and Robert W. Knecht. – Washington, D.C. : Island Press, c2000. – xv, 398 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    “Center for the Study of Marine Policy Graduate College of Marine Studies, University of Deleware.”
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559636769 (paper)



    Modeling in natural resource management: Development, interpretation, and application / Edited by Tanya M. Shenk and Alan B. Franklin. – Washington, DC : Island Press, c2001. – xiii, 223 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559637404 (paper : alk. paper)


    Practical approaches to the conservation of biological diversity / Edited by Richard K. Baydack, Henry Campa III, and Jonathan B. Haufler. – Washington, D.C. : Island Press, c1999. – xiv, 313 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    “Papers presented at the Second Annual Conference of the Wildlife Society in Portland, Oregon from September 12 to 17, 1995”–Pref
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 1559635436 (cloth : alk. paper)


    National parks and rural development: Practice and policy in the United States / Edited by Gary E. Machlis and Donald R. Field. – Washington, D.C. : Island Press, c2000. – xii, 323 tr. : minh hoạ, bản đồ ; 24 cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 155963815X (paper : acid-free paper)


    Return of the wild: The future of our natural lands / Edited by Ted Kerasote. – Washington, D.C. : Pew Wilderness Center : Island Press, c2001. – 257tr. : bản đồ, ảnh màu, ảnh đen trắng ; 24cm
    Sách do Quỹ châu Á tặng
    ISBN: 155963927X

  • Giới thiệu sách mới trong tháng 6(tiếp theo)









    14. Giáo trình tiếp cận bền vững trong các dự án phát triển nông thôn / Nguyễn Quang Kim(chủ biên), Bùi Hiếu, Phạm Ngọc Hải, Phạm VIệt Hoà .- H.: Nông Nghiệp, 2005 .- 202tr.; 27cm



    Tóm tắt:


    Nghiên cứu các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường, tổ chức và thể chế trong thực thi các dự án phát triển nông thôn. Các tiếp cận trong thông tin, giáo dục  truyền thông và sự tham gia của cộng đồng. Các vấn đề về thể chế và tài chính trong dự án phát triển nông thôn.


     


    Kí hiệu: VĐL 1977 – 1978 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá ngành Thuỷ nông tại kho Mở tầng 3








    15. Giáo trình quy hoạch và thiết kế hệ thống thuỷ lợi: Tập 1 / Phạm Ngọc Hải, Tống Đức Khang, Bùi Hiếu, Phạm Việt Hoà .- H.: Nông nghiệp, 2006 .- 388tr.: hình ảnh, bảng biểu; 27cm



    Tóm tắt:


    Phân tích quan hệ đất – nước và cây trồng. Các chế độ tưới và yêu cầu tưới – tiêu của các loại cây trồng. nhu cầu dùng nước của các ngành để tính toán quy hoạch hệ thống thuỷ lợi & cách bố trí hệ thống thuỷ lợi, kênh tưới tiêu. Tính toán phối hợp nguồn nước công trình đầu mối và giới thiệu sử dụng phần mềm ARCVIEW – GIS trong quy hoạch thuỷ lợi


     


    Kí hiệu: VĐL 1979 – 1980 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá ngành Thuỷ nông tại kho Mở tầng 3









    16. Giáo trình quy hoạch và thiết kế hệ thống thuỷ lợi: Tập 2 / Phạm Ngọc Hải, Tống Đức Khang, Bùi Hiếu, Phạm Việt Hoà .- H.: Nông nghiệp, 2006 .- 388tr.: hình ảnh, bảng biểu; 27cm


     


    Tóm tắt:


    Các biện pháp thuỷ lợi ở những vùng đặc trưng, thuỷ lợi vùng đồi núi, vùng đất mặn, vùng có ảnh hưởng thuỷ triều, vùng ngập úng và việc sử dụng nước thải để tưới ruộng


     


    Kí hiệu: VĐL 1981 – 1982 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá ngành Thuỷ nông tại kho Mở tầng 3











    17. Giáo trình kỹ thuật viễn thám và hệ thông tin địa lý / Lê Văn Nghinh, Vũ Hoàng Hoa, Phạm Xuân Hoà, Hoàng Thanh Tùng .-H.: Nông Nghiệp , 2006 .- 249tr.: hình ảnh; 27cm


     


    Tóm tắt:


    Các vấn đề cơ bản về kỹ thuật viễn thám và xử lý thông tin viễn thám. Ứng dụng kỹ thuật viễn thám trong tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Giới thiệu về hệ thông tin địa lý. Thu thập số liệu, phân tích xử lý thông tin, hiển thị thông tin, hệ toạ độ dùng trong hệ thông tin địa lý.


     


    Kí hiệu: VĐL 1983 – 1984 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá ngành Thuỷ văn tại kho Mở tầng 3








    18. Giáo trình thiết bị phụ trợ của nhà máy thuỷ điện / Võ Tiến Tân.- H.: Nông Nghiệp, 2006 .- 103tr.: hình ảnh; 27cm


     


    Tóm tắt:


    Cấu tạo và sơ đồ nguyên lý của các thiết bị cung cấp dầu, khí nén cấp tháo nước kỹ thuật và thiết bị cứu hoả, đo lường thuỷ lực và van tua bin. Giới thiệu các phương án bố trí các thiết bị phụ trong nhà máy thuỷ đi


     


    Kí hiệu: VĐL 1987 – 1988 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá ngành Thuỷ điện tại kho Mở tầng 3









    19. Thuỷ lực : Tập 1 / Nguyễn Cảnh Cầm, Vũ Văn Tảo .- Tái bản lần thứ 3 có chỉnh lý và bổ sung.- H.: Nông Nghiệp ,2006 .- 423tr.; 27cm


     


    Tóm tắt:


    Khái niệm, định nghĩa, phạm vi nghiên cứu của môn học thuỷ lực. Các vấn đề của thuỷ lực tĩnh học, động lực học chất lỏng, tổn thất cột nước trong dòng chảy, dòng chảy ổn định trong ống có áp. Hiện tượng nước va, sự dao động của nước trong tháp điều áp


     


    Kí hiệu: VĐL 1985 – 1986 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá cơ học chất lỏng tại kho Mở tầng 3


     








    20. Sóng gió / Vũ Thanh Ca .- H., 2005 .-287tr.: hình ảnh;29cm


    Trường Đại học Thuỷ lợi


     


    Tóm tắt:


    Các vấn đề liên quan sóng gió, các phương trình cơ bản của cơ học chất lỏng. Lý thuyết tuyến tính và phi tuyến tính cho sóng bề mặt trong vùng có độ sâu không đổi. Các đặc trưng và cơ chế tạo sóng do gió. Đặc trưng thống kê của sóng gió các dự báo sóng gió đại dương


     


    Kí hiệu: VĐL 1989 – 1990 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá kĩ thuật bờ biển tại kho Mở tầng 3










    21. Bài giảng sinh thái biển và ven bờ / Lê Đình Thành; Jemen Wijsman, Mindert de Vries .- H., 2006 .- 201tr.; 29cm


    Trường Đại học Thuỷ lợi – Viện nghiên cứu thuỷ lực Delft


     


    Tóm tắt:


    Giới thiệu những kiến thức về sinh thái bờ biển, chức năng sinh thái của các loài như : thực vật phù du, động vật nổi, mạng lưới thức ăn và cộng đồng sinh vật đáy. Mối quan hệ giữa sinh vật & các điều kiện môi trường. Tác động và ảnh hưởng của các hoạt động của con người trong bảo tồn hệ sinh biển và môi trường ven biển ở Việt Nam


     


    Kí hiệu: VĐL 1991 – 1992 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá kĩ thuật bờ biển tại kho Mở tầng 3









    22, Hình thái bờ biển / Trần Thanh Tùng; Janvan de Graaff .- H., 2006.- 225tr.; 29cm


    Trường Đại học Thuỷ lợi – Dự án nâng cao năng lực đào tạo ngành kỹ thuật bờ biển tại trường ĐHTL


     


    Tóm tắt:


    Cung cấp những kiến thức cơ sở về hình thái bờ biển, hiện tượng diễn biến do tác động của sóng , mực nước. Dòng chảy vùng ven biển và các tính toán vận chuyển bùn cát, phương pháp đo mặt cắt ngang bãi biển. Nguyên nhân gây xói lở và các giải pháp ổn định bờ biển


     


    Kí hiệu: VĐL 1993 – 1994 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá kĩ thuật bờ biển tại kho Mở tầng 3









    23. Lập quy hoạch và ra quyết định / Lê Xuân Roanh .- H., 2005 .- 253tr.; 29cm


    Trường Đại học Thuỷ lợi – Dự án nâng cao năng lực đào tạo ngành kỹ thuật bờ biển tại trường ĐHTL


     


    Tóm tắt:


    Phân tích các hoạt động kinh tế, quá trình thay đổi tự nhiên về điều kiện vật lý hoá học, môi trường sinh thái, chính sách xã hội… cho công tác chuẩn bị kế hoạch đầu tư xây dựng dự án khu ven biển. Quy trình, phương pháp và kỹ thuật lập quy hoạch, quản lý và điều chỉnh quy hoạch.


    Quy trình, phương pháp lập quyết định, công cụ trợ giúp trong quá trình ra quyết định


     


    Kí hiệu: VĐL 1995 – 1996 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá kĩ thuật bờ biển tại kho Mở tầng 3








    24. Quản lý tổng hợp vùng bờ
    / Nguyễn Bá Quỳ ; K.J Verhagen cố vấn .- H., 2002 .- 146tr.: hình ảnh; 29cm


    Trường Đại học Thuỷ lợi – Delft University of technology


                        


     Tóm tắt:


    Phân tích hệ thống tự nhiên bao gồm: nước, bùn cát, chất hữu cơ, hình thái bờ biển. Môi trường vật lý, môi trường sinh thái và các nguồn tài nguyên phi sinh vật, tài nguyên sống. Phân tích kinh tế xã hội, phát triển kinh tế, du lịch, ngư nghiệp với việc bảo tồn thiên nhiên. Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác sử dụng và phát triển tài nguyên vùng ven biển


     


    Kí hiệu: VĐL 1997 – 1998 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá kĩ thuật bờ biển tại kho Mở tầng 3








     
    25. Giáo trình lý thuyết tài chính – tiền tệ
    / Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Thị Bất, Đào Đăng Hùng, Vũ Duy Hào, Phạm Quang Trung, Đặng Ngọc Đức .- H.: Thống Kê, 2002 .- 324tr.; 21cm


     


    Tóm tắt:


    Đại cương về tài chính và tiền tệ. Tổng quan về hệ thống tài chính, ngân sách nhà nước, tài chính doanh nghiệp, thị trường tài chính. Một số vấn đề cơ bản về lãi xuất, quá trình cung ứng tiền tệ


     


    Kí hiệu: VĐN 1196 – 1997 mượn tại phòng TLTK tầng 2


    Tìm sách trên giá Kinh tế tại kho Mở tầng 3


  • So sách chương trình giáo dục Đại học ở Mỹ và Việt Nam

     

    1. Chương trình học ở Việt Nam quá dài

    Thời gian học 4 năm ở lớp tại Việt Nam là 2183 giờ so với 1380 giờ ở Mỹ. Như vậy chương trình ở Việt Nam dài hơn gần 60%. Điều này có thể là do thiếu sách vở nên thầy phải vào lớp đọc cho trò chép hoặc là quán tính từ quá khứ để lại. Với thời gian ngồi lớp như vậy, học sinh sẽ còn ít thì giờ để tự học, nghiên cứu.

    2. Chương trình ở Việt Nam không phải là dậy nghề cũng không phải là đào tạo một người có kiến thức sâu và tính sáng tạo

    Chương trình học kinh tế đòi hỏi 1451 giờ học kinh tế so với ở Mỹ chỉ đòi hỏi tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình đại học), như vậy đòi hỏi học các môn kinh tế gấp 3 lần số giờ ở đại học Mỹ. Nhìn chương trình giảng dậy ở Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh ta thấy, học sinh trong 4 năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về kinh tế mà nhà trường có thể nghĩ ra được, từ các môn cơ bản như kinh tế vi mô và vĩ mô, đến các môn như kinh tế lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý kinh tế, luật kinh tế, dân số họ, chính sách thương mại, kinh tế tài nguyên và môi trường, phân tích dự án kinh tế, thị trường chứng khoán, v.v. Đây là những môn ít khi dậy ở cấp đại học 4 năm và có dậy thì chỉ là những môn để học sinh có thể chọn lựa, và đây cũng là những môn mà trường đại học có thầy đã và đang nghiên cứu chuyên sâu. Đòi hỏi mỗi thứ một tí, học sinh không có khả năng hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói lại mà không hiểu thầy có hiểu không nữa. Theo các tài liệu giáo khoa của trường thì nội dung rất là rất nặng lý thuyết mà nhiều phần học sinh ở Mỹ chỉ học trong chương trình sau cử nhân. Như vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết kinh tế mà sự phân chia chi li các lớp học thì có vẻ thực dụng như dậy nghề.

    3. Chương trình ở Việt Nam không trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và toàn diện khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương và nghệ thuật; không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luận văn

    Chương trình ở Mỹ (các đại học danh tiếng) đòi hỏi học sinh phải học một chương trình cơ bản dù là học ngành gì khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn. Đây chính là chương trình thể hiện mục đích đào tạo những cá nhân có tri thức cơ bản, có phương pháp suy nghĩ và phân tích các vấn đề, có khả năng viết luận văn nghiên cứu (coi thêm phụ lục I). Chương trình cơ bản bắt buộc này cũng chiếm 1/3 thời gian học 4 năm như thời gian tối thiểu dành cho ngành học chính.

    Chúng gồm có những môn như sau:

    Chương trình kiến thức cơ bản bắt buộc ở đại học Mỹ

     

    Tín chỉ (theo chương trình 3 kỳ học một năm)

    Thời gian học (giờ)

    Hội thảo về phương pháp suy luận, phân tích, nghiên cứu và viết luận văn

    2

    60

    Ngoại ngữ hoặc qua kỳ thi sát hạch*

    6

    180

    Viết tiếng Anh hoặc qua kỳ thi sát hạch*

    2

    60

    Kiến thức cơ bản

     

    180

    – Khoa học tự nhiên

    1

     

    – Qui tắc và phương pháp logic

    1

     

    – Khoa học xã hội và hành vi

    1

     

    – Sử học

    1

     

    – Giá trị (triết học, tôn giáo hoặc đạo đức học)

    1

     

    – Văn học và nghệ thuật

    1

     

    Tổng chương trình cơ bản

    16

    480

    Tổng chương trình 4 năm

    45-46

    1380

     

    Nguồn: dựa vào chương trình của Northwestern University

    * Nếu qua được ký thi sát hạch, học sinh có thể học ở những lớp cao hơn hoặc học về văn học nước ngoài dạy bằng tiếng nước ngoài, hoặc văn chương tiếng Anh để thay thế.

    4. Ở đại học Việt Nam tất cả các môn có tính bắt buộc, học sinh không có quyền tự chọn, ngược lại ở Mỹ học sinh có quyền tự chọn đến 1/3 thời gian học dù học bất cứ ngành chính nào (như toán, vật lý, hoá học, kinh tế, tâm lý, văn chương, vv.)

    Việc tự chọn là rất quan trọng để học sinh mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhau. Việc hiểu biết liên ngành này cho phép học sinh hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cục diện, bó hẹp vào chuyên môn của mình. Học sinh đại học với quyền tự chọn có thể chọn hai ngành chuyên môn, hoặc một ngành chính và một ngành phụ 3. Sau khi ra trường, họ có thể làm việc ở nhiều chuyên môn khác nhau chứ không bị bó vào ngành chuyên môn duy nhất mà mình học ở trường, kể cả thay đổi hoàn toàn để theo một ngành khác. Triết lý giáo dục ở Mỹ cho phép và trang bị cho sinh viên thực hiện việc đổi ngành mà không bị hụt hẫng.


    Chương trình 4 năm đại học ở Mỹ

    Kiến thức cơ bản bắt buộc (trong đó có những lớp bắt buộc và những lớp tự chọn trong những ngành bắt buộc)

    1/3 chương trình

    680 giờ

    Ngành chính

    1/3 chương trình

    680 giờ

    Phần bắt buộc học

    1/6 chương trình

     

    Phần tự chọn trong ngành chính

    1/6 chương trình

     

    Phần tự chọn trong các ngành khác, học sinh có thể lấy thêm một ngành chính khác, hoặc 1 ngành phụ và những lớp tự chọn thêm trong ngành chính

    1/3 chương trình

    660 giờ

    Tổng

     

    1380 giờ

     

    5. Trong ngành học chính (như toán, vật lý, hoá học, kinh tế, tâm lý, văn chương, vv.), ngoài các lớp cơ bản phải học, học sinh cũng có quyền tự chọn các lớp trong ngành chính, ngược lại học sinh ở Việt Nam phải học tất cả mọi thứ mà nhà trường đã quyết định sẵn

    Trong ngành chính (major), chẳng hạn như kinh tế, phần bắt buộc học cũng chỉ khoảng 1/2. Học sinh sẽ tự chọn những môn trong ngành kinh tế mà họ thích. Thí dụ về kinh tế, học sinh bị đòi hỏi học những môn sau:

    Chương trình bắt buộc trong ngành chính, như môn kinh tế ở Mỹ

     

    Tín chỉ

    Giờ

    Kinh tế vi mô nhập môn

    1

    30

    Kinh tế vĩ mô nhập môn

    1

    30

    Toán calculus nhập môn

    1

    30

    Thống kê cho ngành xã hội nhân văn

    1

    30

    Kinh trắc học nhập môn

    1

    30

    Kinh tế vi mô trung cấp

    1

    30

    Kinh tế vĩ mô trung cấp

    1

    30

    Tổng giờ học ngành chính bắt buộc

     

    210

    Giờ học ngành chính tự lựa chọn

     

    270

    Tổng giờ học trong ngành chính

     

    480

     

    6. Chương trình về chủ nghĩa Marx – Lenin, chính trị chủ nghĩa xã hội, lịch sử Đảng chiếm 203 giờ, bằng 9% chương trình, quá nặng và cũng là lý do làm tăng số giờ ười với số giờ giảng dậy lên tới 2184

    So với tổng giờ học thì việc dạy chính trị Marx – Lenin bằng 9%, không phải là quá nhiều, nếu như đấy là triết học, chính trị học, luân lý, xã hội học và mỹ học duy nhất cần biết. Nhưng nếu học sinh cần được trang bị thêm về chính trị và triết học khác thì số giờ có thể cắt bớt. Nếu giả thử nhà nước không muốn cắt thì việc canh tân chương trình vẫn có thể thực hiện được.

     

    Bốn năm đại học kinh tế ở Việt Nam (giờ)

    Tổng 4 năm

    2183

    Kinh tế

    1451

    Chính trị

    203

    Ngoại ngữ

    293

    Toán, tin học

    169

    Môn khác

    68

    Tỷ lệ giờ học kinh tế

    66%

    Tỷ lệ giờ học chính trị

    9%

    Tỷ lệ giờ học ngoại ngữ

    13%

    Tỷ lệ giờ học môn khác

    11%

     

    7.  Về chương trình canh tân

    Do chương trình giảng dậy ở Việt Nam quá dài, vấn đề cắt bớt là cần thiết nhằm tạo thì giờ cho học sinh và thày giáo nghiên cứu và tự học. Chương trình cắt bớt này có thể cắt bớt hoặc vẫn giữ nguyên giờ học về chủ nghĩa Marx – Lenin. Nếu áp dụng đúng số giờ ở Mỹ thì tổng giờ học sẽ là 1380, trong đó chỉ có 208 là môn học tự chọn (coi bảng sau). Nếu đưa tổng số giờ cho các môn tự chọn lên bằng ở Mỹ thì tổng số giờ học sẽ lên tới 1640 giờ, cũng chỉ hơn Mỹ 20%, như vậy là giảm được 25% so với hiện nay.

    Thời gian theo mô hình Mỹ nhưng giữ nguyên thời gian dậy chính trị như hiện nay

     

    Giờ học 4 năm

    Chương trình cơ bản

    480

    Ngành chính (có thể là toán, vật lý, kinh tế,…)

    480

    Chủ nghĩa Marx – Lenin

    200

    Tự chọn

    208

    Tổng

    1380

     

    8. Khả năng canh tân chương trình ở Việt Nam

    Khả năng canh tân chương trình ở Việt Nam hiện nay bị giới hạn bới mô hình tổ chức đại học ở Việt Nam.

    Trước tiên để hiểu những hạn chế gặp phải cần hiểu về những yếu kém của đại học Việt Nam, và do đó trước tiên cần biết qua về mô hình đại học Mỹ mà các nước trên thế giới hiện nay đang noi theo, kể cả đại học ở Pháp.

    Đại học Mỹ có thể chia làm hai loại: university và college (hoặc có khi gọi là faculty). Thí dụ đại học Northwestern có nhiều trường (college) như:

    – Trường khoa học tự nhiên và nhân văn (school of arts and science, đây là chữ thường dùng cho trường liberal arts như đã nói ở đoạn đầu, tức là gồm các ngành khoa học cơ bản như toán, vật lý, hoá học, và khoa học nhân văn như sử, kinh tế, chính trị, tâm lý, v.v.

    – Trường thương mại (school of business)

    – Trường sư phạm (school of education)

    – Trường kỹ sư (school of engineering)

    – Trường luật

    – Trường y khoa

    – Trường âm nhạc

    v.v.

    Khi gọi là university thì đại học gồm các trường như trên cộng thêm với trường sau cử nhân về khoa học tự nhiên và nhân văn (thường được gọi là graduate school of arts and science. Hầu hết các đại học gọi là university cấp thêm ít nhất là bằng cao học (MA) và thường là cấp cả bằng tiến sĩ (PhD). Các trường chỉ cho bằng cử nhân thì thường gọi là college

    Trường college of arts and science chính là Trường khoa học tự nhiên và nhân văn, ở cấp cử nhân (BA). Các trường khác hiện nay được tổng hợp vào một đại học, nhưng trước kia được coi là trường chuyên nghiệp, nếu không nói là trường dậy nghề. Tuy nhiên, học sinh các trường chuyên nghiệp như vậy hiện nay cũng phải học chương trình kiến thức cơ bản, mặc dù có khi được châm chước giảm thiểu hơn một chút. Nhiều trường chuyên nghiệp chỉ có ở dạng sau cử nhân, tức là học sinh phải học xong Trường khoa học tự nhiên và nhân văn rồi mới được nhận vào: đây là trường luật, y khoa, và nhiều nơi là trường thương mại với chương trình MBA.

    Với tổ chức như trên Trường khoa học tự nhiên và nhân văn là linh hồn của giáo dục đại học, vì ở đây có thể dễ dàng thực hiện chương trình kiến thức cơ bản, học sinh các ngành khác nhau có thể học chung và có thể lấy những lớp ở những trường hoặc phân khoa (ngành chính) khác trong cùng trường cho chương trình tự chọn không thuộc ngành chính.

    Đại học Việt Nam hiện nay vẫn được tổ chức như là những ốc đảo, ốc đảo về tổ chức và ốc đảo về địa lý (theo nghĩa trường nhân văn ở một nơi, trường luật ở một nơi, trường khoa học tự nhiên (như toán, vật lý, hoá học, sinh học) ở một nơi khác). Khi đại học Việt Nam được tổ chức lại thành các đại học quốc gia như Đại học thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội thì việc tổ chức lại chỉ là cái tên, với một lớp quản lý cao hơn ở phía trên, chương trình của đại học đã không tổng hợp lại, học sinh ở trường này không thể lấy lớp ở trường khác và địa dư khác biệt cũng làm cho việc lấy lớp khó khăn. Ốc đảo về tổ chức cũng không cho phép thày giáo kết hợp, trao đổi và nghiên cứu chung. Việc tổ chức ốc đảo này tiếp tục vì triết lý giáo dục tổng hợp không được thể hiện trong chương trình giảng dậy ở mỗi trường. Mới đây trường kinh tế rút ra khỏi trường đại học quốc gia thành một trường độc lập. Do đó việc học toán chẳng hạn ở những thày dậy kinh tế thì rõ ràng là học từ một người biết sơ về toán. Ngược lại muốn dạy về kinh tế môi trường mà không biết gì về hoá học hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc không có cơ hội giao lưu với những người ở những ngành này thì mục đích cũng chẳng khác gì nhằm tạo ra những người khiếm thị.

    Dù với những trở ngại này, vẫn có thể canh tân chương trình nếu như lấy triết lý giáo dục đại học là đào tạo ra những người có kiến thức cơ bản.

    Tác giả: GS. Vũ Quang Việt

    Bấm vào đây để download bài viết này (bao gồm cả các phụ lục)

     

  • Tổng kết công tác quảng bá hình ảnh trường tại các Trường THPT thuộc các tỉnh thành khu vực phía Bắc

    Thực hiện kế hoạch quảng bá trường quy mô lớn trước mùa tuyển sinh 2007, trong thời gian từ 10-20/3/2007, Trường Đại học Thuỷ lợi đã tổ chức 12 đoàn công tác đi quảng bá trực tiếp hình ảnh Trường Đại học Thuỷ lợi tại 17 tỉnh thành khu vực phía Bắc. Đến nay công tác quảng bá Trường đã hoàn tất. Ngày 30/03/2007, buổi họp tổng kết công tác quảng bá hình ảnh trường đã được tổ chức nhằm đánh giá kết quả đã đạt được và rút kinh nghiệm cho những lần quảng bá sau đạt hiệu quả cao.

    Các đại biểu tham dự cuộc họp đến từ các đoàn quảng bá đã được nghe báo cáo tổng kết sau thời gian công tác: 12 đoàn đã làm việc với 17 Sở Giáo dục và Đào tạo, phát được 24.518 tờ rơi trong đó:  5000 tờ rơi được gửi qua đường bưu điện đến 2500 trường THPT trên toàn quốc, trực tiếp đến 157 trường THPT để quảng bá, gửi 13.400 tờ rơi, nhờ Sở GD&ĐT chuyển hộ đến 317 trường THPT 4408 tờ.

    Chương trình Tư vấn mùa thi do Báo Thanh niên tổ chức –
    (Tại Hải Phòng)

    Trong đợt vừa qua, các đoàn đã áp dụng nhiều phương pháp quảng bá như: giới thiệu chiến lược phát triển Trường, trong đó giới thiệu Khoa, các ngành đào tạo (mới), chương trình hình thức và thời gian đào tạo, cơ hội học bổng và việc làm, giải đáp thắc mắc cho học sinh, phát tờ rơi giới thiệu về Trường và sử dụng sinh viên đang theo học tại trường quảng bá cho trường.

    Buổi họp tổng kết đánh giá các đoàn đã hoàn thành tốt, đồng bộ nhiệm vụ quảng bá hình ảnh Trường tại các địa phương, nhiều trường, nhiều học sinh biết thêm thông tin và có nguyện vọng đăng ký dự thi, đồng thời tạo được mối quan hệ tốt giữa các đoàn đi quảng bá và lãnh đạo các sở, phòng giáo dục. Đây là những thông tin cơ bản và cần thiết để học sinh PTTH chọn trường và chọn ngành phù hợp với khả năng và nguyện vọng.

    Đại diện các đoàn quảng bá góp ý về những vấn đề cần rút kinh nghiệm tập trung vào các nội dung: thời điểm quảng bá, hình thức và phương pháp quảng bá và nội dung thông tin cần quảng bá.

    Linh Ngọc

  • Đoàn Trường ĐH Thuỷ lợi và Hội đập lớn Việt Nam thăm Cộng hoà Hồi giáo Iran

     

    Nhận lời mời của Viện quản lý nước và đào tạo IMRE thuộc Bộ Năng lượng và Môi trường Cộng hoà Hồi giáo IRAN, đoàn Trường Đại học Thuỷ Lợi gồm: PGS. TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng Trường làm trưởng đoàn và Phó chủ tịch Hội đập lớn Việt Nam GS. TS Lê Kim Truyền cùng các ông: PGS. TS Hồ Sỹ Dự trưởng Khoa Thuỷ điện, TS. Hoàng Thái Đại – Trưởng phòng KHCN, ThS. Đỗ Khắc Phương – Trường Đại học Thuỷ lợi đã thăm IRAN từ ngày 27/12/2006 đến 03/01/2007.









    Đoàn công tác làm việc với Tiến sỹ Dariani – Thứ trưởng Bộ Năng lượng nước CH Hồi Giáo Iran

        Trong thời gian ở IRAN đoàn đã làm việc trao đổi kinh nghiệm và thăm các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học của một số viện nghiên cứu và đã thăm trường Đại học Tehran. Đoàn đã được Thứ trưởng phụ trách công tác Thuỷ lợi Dr. Zagar và Thứ trưởng phụ trách Nhân lực Dr. Dariani tiếp và trao đổi kinh nghiệm về công tác thuỷ lợi, đào tạo quản lý nhân lực. Theo thứ trưởng Dr. Zagar: Iran là nước có lịch sử xây dựng công trình thuỷ lợi lâu đời cách đây hơn 2500 năm.


    Nhà nước Iran rất quan tâm đến công tác thuỷ lợi, hàng năm đầu tư gần 3 tỷ USD cho thuỷ lợi. IRAN hiện có trên 300 đập lớn đã xây dựng và đang xây dựng 85 đập bảo đảm tưới thường xuyên chủ động cho 1,5 triệu ha đất canh tác. Tuy là nước có nguồn khí ga dầu mỏ lớn nhưng IRAN cũng rất chú ý đến thuỷ điện, hiện thuỷ điện có 6.000MW đang sử dụng và sắp tới sẽ đưa vào 2.000MW vào sử dụng.


    IRAN là nước có số đập lớn thứ 3 trên thế giới và kỹ thuật công nghệ xây dựng xếp thứ 10 thế giới.


    Tháng 06/2007 Iran sẽ tổ chức Hội nghị đập lớn thế giới và là chủ tịch Hội đập lớn thế giới trong 2 năm 2007-2008.


    Hai bên đã ký kết bản ghi nhớ trao đổi học thuật trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực trong thời gian tới.


     


    NGND. GS. TS Lê Kim Truyền

  • Hội nghị Tổng kết công tác nữ năm học 2005 -2006

    “Không ai trong chúng tôi lại không có một giờ phút nào không nghĩ về những người phụ nữ, đem sự quan tâm, ánh mắt yêu thương dành cho họ. Có nhiều cách bộc lộ khác nhau và ngày 8/3, 20/10 hàng năm là những dịp để chúng tôi bày tỏ lòng mình với các bà, các chị, các em….”


    Đó là tình cảm của PGS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Nhà trường trong những giờ phút xúc động trước vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam và vẻ đẹp của những nữ cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường Đại học Thuỷ Lợi, nhân kỷ niệm 76 năm thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20/10/1930 – 20/10/2006 và tổng kết phong trào “Giỏi việc Trường – Đảm việc Nhà” năm 2005 – 2006 của nữ cán bộ Nhà trường diễn ra tại Hội trường T35 vào ngày 20/10 vừa qua.







    Đến dự Hội nghị có PGS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Nhà trường; PGS.TS Vũ Thanh Te, PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường; đại diện của Công đoàn, Hội SV, các phòng, khoa, ban….cùng toàn thể khối nữ cán bộ giáo viên, công nhân viên và ban nữ sinh trong trường.


    Hội nghị đã được nghe báo cáo Tổng kết công tác nữ năm học 2005 – 2006 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2006 – 2007, do bà Nguyễn Phương Mai – Trưởng Ban nữ công trình bày. Báo cáo tổng kết đề cập đến vai trò của người phụ nữ trong thời kỳ mới, trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, góp phần vào thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Báo cáo những kết quả mà nữ công trong trường đạt được trong năm học vừa qua, đồng thời cũng đưa ra những mặt còn tồn tại trong hoạt động của nữ công, với mong muốn những tồn tại này sẽ được khắc phục trong năm học mới, năm học 2006 – 2007, cùng chung sức xây dựng Nhà trường, xứng với danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ mới.


                Bên cạnh đó, Hội nghị còn được nghe một số ý kiến tham luận của đại diện khối cán bộ công nhân viên, khối giáo viên và nữ sinh. Các ý kiến là sự tập trung của những kết quả và tồn tại trong hoạt động nữ công trong một năm qua ở từng vị trí và chức năng nhiệm vụ khác nhau của các tổ nữ công, phương hướng nhiệm vụ và lời hứa quyết tâm cho một năm hoạt động mới gặt nhiều thành tích hơn.


                Hội nghị cũng đã tiến hành trao bằng khen cho những cá nhân và tập thể đạt các danh hiệu “ Giỏi việc trường – Đảm việc nhà” năm học 2005 – 2006, đã có 7 tập thể và 129 cá nhân đạt danh hiệu cao quý này. Kết quả của cuộc thi “Tìm hiểu kiến thức gia đình, kiến thức giới trong nữ công nhân viên chức lao động thủ đô” năm 2006 cũng đã được trao cho 6 cá nhân, trong đó có hai giải Nhì, hai giải Ba và hai giải Khuyến khích.

    NVA


                Một số hình ảnh kỷ niệm ngày phụ nữ Việt Nam 20-10:












       


    Chương trình văn nghệ chào mừng ngày phụ nữ Việt Nam 20-10

    PGS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, phó Hiệu trưởng Nhà trường tặng lãng hoa cho Ban nữ công











       

     


    ThS Đặng Hương Giang – Phó trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên công bố Quyết định khen thưởng GV. Nguyễn Phương Mai – Trưởng Ban nữ công tổng kết công tác trong năm học 2005 – 2006











       

     

    Ý kiến thảo luận của Ban nữ công Phòng Tổ chức cán bộ + Công đoàn + Y tế









      

     

     


    PGS.TS Vũ Thanh Te – Phó Hiệu trưởng Nhà trường trao khen thưởng cho nữ cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm học 2005 – 2006












       


    PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường trao khen thưởng cho cá nhân nữ sinh có thành tích xuất sắc trong năm học 2005 – 2006

    Nữ cán bộ và sinh viên chụp ảnh lưu niệm cùng các thầy trong Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường

  • Gặp mặt cán bộ, giáo viên nghỉ hưu năm 2005


    Ngày 12-11, Ban Giám Hiệu gặp mặt cán bộ, giáo viên nghỉ hưu 6 tháng cuối năm 2005 gồm các thầy, cô:


    1.       Thầy Đặng Văn Ba, giảng viên Bộ môn Thủy lực


    2.       Thầy Hoàng Tư An, giảng viên Bộ môn Thủy lực


    3.       Thầy Nguyễn Văn Bảo, giảng viên Bộ môn Hóa


    4.       Thầy Thái Bá Thịnh, giảng viên Bộ môn Thủy nông


    5.       Đ/C Hoàng Xuân Hiệp, cán bộ VP Tư vấn


    6.       Cô Nguyễn Thị Tâm Toán, giảng viên Ban Ngoại ngữ


    7.       Đ/C Trần Sỹ Dũng, cán bộ phòng Bảo vệ


    8.       Thầy Trần Ngọc Hòa, giảng viên Bộ môn Vật lý


    9.       Đ/C Trần Thanh Tỉnh, cán bộ trạm Y tế


    10.   Đ/c Phùng Thị Quý, cán bộ Xưởng cơ khí


    11.   Đ/c Nguyễn Thanh Tám, cán bộ quản lý KTX


    12.   Đ/C Lê Thị Châm, giảng viên Ban Ngoại ngữ


    Một số hình ảnh trong buổi gặp mặt:



    Thầy Phan Văn Yên-Phó Trưởng phòng Tổ chức Cán bộ giới thiệu đại biểu



    PGS.TS Phạm Ngọc Quý-Bí thư Đảng Ủy, Phó Hiệu trưởng



    PGS.TS Lê Đình Thành, Phó Hiệu trưởng























  • Qui định về tuyển dụng, đào tạo giảng viên trẻ






    BỘ NN & PTNT
    Trường Đại học Thủy Lợi


    ——————


    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—


     


    QUI ĐỊNH VỀ TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO VÀ SỬ  DỤNG GIẢNG VIÊN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    (Ban hành theo Quyết định số 953 /QĐ-ĐHTL-TCCB ngày 11 /8/2006 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi)


     


    CHƯƠNG I


     TUYỂN DỤNG


     


    Điều 1: Việc tuyển dụng viên chức giảng dạy ở Trường Đại học Thuỷ lợi được thực hiện theo qui định chung của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 (sau đây gọi tắt là Nghị định 116) của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; Thông tư số 10/2004/TT-BNV ngày 19/2/2004 và Thông tư số 74/2005/TT-BNV ngày 26/7/2005 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 116/2003/NĐ-CP; các văn bản hiện hành về tuyển dụng giảng viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường cụ thể hóa một số điểm trong các văn bản trên và các yêu cầu riêng của trường trong bản quy định này.


     


    Điều 2: Việc tuyển dụng giảng viên thực hiện theo các nguyên tắc sau:


    – Có chỉ tiêu biên chế lao động được phân bổ cho từng đơn vị chuyên môn theo kế hoạch tuyển dụng hàng năm, thuộc qui hoạch sử dụng cán bộ, viên chức của Trường và được thông báo công khai rộng rãi.


    – Việc tuyển dụng được tiến hành công khai, dân chủ, đúng quy trình và tiêu chuẩn quy định để đảm bảo tuyển được những người thực sự có năng lực cao đáp ứng yêu cầu của công tác giảng dạy – nghiên cứu.


     


    Điều 3: Quy trình và tiêu chuẩn tuyển dụng giảng viên:


    Công tác tuyển dụng giảng viên do Hội đồng Tuyển dụng của trường thực hiện giúp việc cho Hiệu trưởng, được tiến hành theo các bước và tiêu chuẩn sau đây (ngoài tiêu chuẩn chung theo quy định tại Nghị định 116):


    3.1. Sơ tuyển hồ sơ và xét duyệt người được dự tuyển


    Việc xét duyệt hồ sơ và sơ duyệt người đựơc dự tuyển được tiến hành theo các tiêu chí ưu tiên theo thứ tự sau đây:


    1.        Người tốt nghiệp đại học chính quy lọai xuất sắc, giỏi, có trình độ Tiến sĩ (ưu tiên tốt nghiệp tiến sĩ ở các nước tiên tiến, phát triển)


    2.        Người tốt nghiệp đại học chính quy lọai khá, có trình độ Tiến sĩ (ưu tiên tốt nghiệp tiến sĩ ở các nước tiên tiến, phát triển)


    3.        Người tốt nghiệp đại học chính quy lọai xuất sắc, giỏi, hoặc loại khá nhưng phải có điểm học tập trung bình toàn khóa ³ 7.5, có trình độ Thạc sĩ (ưu tiên tốt nghiệp thạc sĩ ở các nước tiên tiến, phát triển)


    4.        Người tốt nghiệp đại học chính quy lọai xuất sắc, giỏi hoặc loại khá nhưng phải có điểm học tập trung bình toàn khóa ³ 7.5 (ưu tiên  những người đạt giải thi olimpic cấp Quốc gia, giải Loa Thành, giải nghiên cứu khoa học sinh viên) được dự tuyển nhưng ứng viên phải có cam kết tự học tập để đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ (chủ yếu học ở nước ngoài đối với những chuyên ngành khoa học cơ sở và chuyên ngành) trong thời gian sớm nhất.


            Người dự tuyển phải có chuyên môn đào tạo phù hợp với yêu cầu vị trí tuyển dụng; có phẩm chất đạo đức tốt, có ngoại hình cân đối, không nói lắp, nói ngọng, sức khoẻ tốt, có khả năng làm công tác giảng dạy và nghiên cứu tốt.


             Tuỳ theo số lượng thí sinh xin dự tuyển và chỉ tiêu tuyển dụng, trường sẽ xét duyệt quyết định số lượng các thí sinh được tham gia dự tuyển. 


             3.2. Thi tuyển và xét tuyển


             Các ứng viên được xét duyệt ở mục 3.1 phải dự kỳ thi tuyển dụng theo quy định về thi tuyển ngạch giảng viên của Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành.


             Việc xét duyệt người trúng tuyển được căn cứ trên kết quả điểm thi tuyển và các điểm ưu tiên (nếu có) theo quy định của Nghị định 116 của Chính phủ và của Bộ Giáo dục và đào tạo. Thí sinh có điểm các môn thi đạt từ 50 điểm (thang điểm 100) trở lên sẽ được xem xét. Căn cứ vào tổng điểm xét tuyển, người trúng tuyển lấy từ người có số điểm cao nhất trở xuống cho đến hết chỉ tiêu được tuyển dụng. Nếu có nhiều thí sinh cùng điểm xét tuyển, thì xem xét thêm các các thành tích học tập, nghiên cứu khoa học và các thành tích phấn đấu khác.


                   


            Điều 4: Hợp đồng tuyển dụng ngạch giảng viên


             Những người được xét duyệt tuyển dụng ở mục 3.2, sẽ được Trường ký hợp đồng làm việc theo quy định của Nghị định 116 của Chính phủ theo các hình thức và thứ tự sau đây:


             4.1. Hợp đồng thử việc có thời hạn 12 tháng


             4.2. Hợp đồng lao động có thời hạn 3 năm (36 tháng) lần thứ nhất


             Người đựơc hợp đồng thử việc lần đầu ở mục 4.1, sau khi hết thời hạn thử việc 12 tháng, hoàn thành tốt nhiệm vụ và có đầy đủ các điều kiện quy định trong điều 5, sẽ được xem xét ký tiếp hợp đồng làm việc có thời hạn 3 năm lần thứ nhất. Những người không hoàn thành đầy đủ các điều kiện quy định trên sẽ phải chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc chuyển làm công việc khác.


             4.3. Hợp đồng lao động có thời hạn 3 năm (36 tháng) lần thứ hai


             Người đựơc hợp đồng có thời hạn lần thứ nhất ở mục 4.2, sau khi hết thời hạn hợp đồng, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ và đầy đủ các điều kiện quy định trong điều 6, sẽ được xem xét ký tiếp hợp đồng làm việc có thời hạn 3 năm lần thứ hai. Những người không hoàn thành đầy đủ các điều kiện quy định trên sẽ phải chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc chuyển làm công việc khác phù hợp.


           


     4.4. Hợp đồng lao động không có thời hạn


             Người đựơc hợp đồng có thời hạn lần thứ hai ở mục 4.3, sau khi hết thời hạn hợp đồng, hoàn thành tốt nhiệm vụ và đầy đủ các điều kiện quy định trong điều 7, sẽ được xem xét để ký tiếp hợp đồng làm việc có hoặc không có thời hạn. Những người không hoàn thành đầy đủ các điều kiện quy định trên sẽ phải chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc chuyển làm công việc khác.


     


    CHƯƠNG 2


     ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG


     


    Điều 5. Lao động thử việc


    Người được trúng tuyển trong kỳ thi tuyển dụng được ký hợp lao động thử việc trong thời gian 12 tháng.


    Trong thời gian thử việc, người thử việc phải xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch công tác theo chức năng, nhiệm vụ của giảng viên dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của đơn vị và của cán bộ được phân công hướng dẫn. Những nhiệm vụ chính và kết quả phải đạt được đối với người thử việc là:


    – Nghiên cứu tài liệu, sách, giáo trình, thí nghiệm, thực hành, thực tập,… thuộc chuyên môn phụ trách và liên quan. Chuẩn bị và tập sự công tác giảng dạy (dự giờ, làm đáp án các đề thi,…) và  những công việc liên quan.


    – Học tập nắm vững các quy chế về giáo dục đào tạo, lý luận giáo dục đại học và sử dụng thành thạo các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại.


    – Nghiên cứu khoa học, học tập chuyên môn và ngoại ngữ.  Đối với người chưa đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, phải phấn đấu chuẩn bị tốt kiến thức chuyên môn và ngoại ngữ, để đi học trên đại học (chủ yếu ở nước ngoài) trong thời gian sớm nhất.


    Đơn vị sử dụng phân công một cán bộ giảng dạy có trình độ và kinh nghiệm hướng dẫn người thử việc. Trong thời gian hướng dẫn, cán bộ hướng dẫn thử việc được hưởng quyền lợi theo quy định hiện hành của nhà nước và của trường.


    Hết thời gian thử việc, người thử việc phải làm báo cáo tự đánh giá chi tiết kết quả thực hiện công tác trong thời gian thử việc. Cán bộ hướng dẫn lập báo cáo đánh giá chi tiết kết quả thực hiện các mặt công tác và rèn luyện của người thử việc (Phẩm chất đạo đức; năng lực, trình độ, kết quả làm việc và học tập; ý thức tổ chức chấp hành kỷ luật, nội quy, quy chế của cơ quan; chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tinh thần hợp tác và phối hợp với đồng nghiệp trong công việc). Đơn vị sử dụng họp đánh giá kết quả và mức độ hoàn thành công tác thử việc và làm văn bản đề nghị Trường xét công nhận hoặc không công nhận hoàn thành thử việc của người lao động.


    Hội đồng tuyển dụng trường xét duyệt và kiến nghị với Hiệu trưởng quyết định bổ nhiệm vào ngạch giảng viên và ký tiếp hợp đồng lao động có thời hạn lần thứ nhất đối với những người hoàn thành đạt yêu cầu thử việc, quyết định chấm dứt tuyển dụng đối với những người không đạt yêu cầu thử việc.


     


    Điều 6. Hợp đồng lao động có thời hạn lần thứ nhất


    Trong thời gian hợp đồng lao động có thời hạn 3 năm lần thứ nhất, giảng viên phải xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch công tác theo chức năng, nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của đơn vị. Những nhiệm vụ chính và kết quả phải đạt được trong thời gian này là:


    Đối với người có trình độ tiến sĩ:


    – Nghiên cứu tài liệu, sách, giáo trình, thí nghiệm, thực hành, thực tập… thuộc chuyên môn phụ trách. Thực hiện công tác giảng dạy và các công việc liên quan.


    – Tích cực nghiên cứu khoa học, học tập chuyên môn và ngoại ngữ để  nâng cao trình độ.


             – Chậm nhất, sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ nhất, phải đảm nhiệm tốt công tác giảng dạy đại học và đảm nhiệm được tối thiểu một phần công tác giảng dạy sau đại học; có công trình, bài báo khoa học hoặc sách được công bố.


    Đối với người có trình độ thạc sĩ:


    – Nghiên cứu tài liệu, sách, giáo trình, thí nghiệm, thực hành, thực tập… thuộc chuyên môn phụ trách. Thực hiện công tác trợ giảng hoặc giảng dạy và các công việc liên quan.


    – Tích cực nghiên cứu khoa học, học tập chuyên môn và ngoại ngữ để nâng cao trình độ.


             – Sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ nhất, phải đảm nhiệm được công tác giảng dạy đại học; tối thiểu đủ điều kiện (bài báo khoa học, chuyên môn và tiếng Anh IELTS ³ 5.5 hoặc TOEFL ³ 500, hoặc có trình độ tương đương với các ngoại ngữ khác) và chuẩn bị dự tuyển nghiên cứu sinh (chủ yếu ở nước ngoài đối với  các chuyên ngành khoa học cơ sở và chuyên môn).


    Đối với người có trình độ đại học:


    – Nghiên cứu tài liệu, sách, giáo trình, thí nghiệm, thực hành, thực tập… thuộc chuyên môn phụ trách. Thực hiện công tác trợ giảng hoặc giảng dạy và các công việc liên quan;


    – Tích cực nghiên cứu khoa học, học tập chuyên môn và ngoại ngữ để nâng cao trình độ.


             – Sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ nhất, tối thiểu phải đảm nhiệm được công tác trợ giảng bậc đại học; tối thiểu đủ điều kiện (chuyên môn và tiếng Anh IELTS ³ 5.0 hoặc TOEFL ³ 450, hoặc có trình độ tương đương với các ngoại ngữ khác) và chuẩn bị dự tuyển cao học hoặc nghiên cứu sinh (chủ yếu đi học ở nước ngoài đối với các chuyên ngành khoa học cơ sở và chuyên môn).


             Ngoài ra, sau 4 năm làm việc, các giảng viên tối thiểu phải nắm vững toàn bộ nội dung của môn học bậc đại học (lý thuyết, bài tập, thí nghiệm, thực hành, thực tập, tham quan,…) và phương pháp giảng dạy. Trường sẽ tiến hành kiểm tra đánh giá định kỳ hoặc đột xuất về trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy.


    Đối với giáo viên giảng dạy ngoại ngữ:


             – Sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ nhất, phải đảm nhiệm được công tác dịch thuật cả nói và văn bản các các tài liệu thông thường ở mức độ khó kể cả diễn văn hoặc hội thảo; có thể hướng dẫn chuyên gia tham gia các hoạt đông chung của Trường; tối thiểu đủ điều kiện tiếng Anh IELTS ³7.0 hoặc TOEFL ³ 650 và thi đỗ cao học hoặc nghiên cứu sinh.


             Ngoài ra, sau 4 năm làm việc, các giảng viên tối thiểu phải nắm vững toàn bộ nội dung của môn học bậc đại học và phương pháp giảng dạy. Trường sẽ tiến hành kiểm tra đánh giá định kỳ hoặc đột xuất về trình độ chuyên môn và phương pháp giảng dạy.


    Hết thời hạn hợp đồng 3 năm, các giảng viên phải làm kiểm điểm tự đánh giá chi tiết kết quả thực hiện công tác theo các tiêu chí đã nêu trên để Bộ môn, Khoa và Trường xem xét ký hợp đồng tiếp.


    Điều 7. Hợp đồng lao động có thời hạn lần thứ hai


    Trong thời gian hợp đồng lao động có thời hạn 3 năm lần thứ hai, giảng viên phải xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch công tác nâng cao của ngạch giảng viên dưới sự lãnh đạo, hướng dẫn của đơn vị. Những nhiệm vụ chính và kết quả phải đạt được trong giai đoạn này là:


    Đối với người có trình độ tiến sĩ:


    – Thực hiện tốt công tác giảng dạy đại học và sau đại học;


    – Tích cực nghiên cứu khoa học, không ngừng học tập chuyên môn và ngoại ngữ để nâng cao trình độ;


             – Sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ hai, phải đảm nhiệm tốt công tác giảng dạy đại học và sau đại học trong nước; có công trình, bài báo khoa học hoặc sách được công bố. Có hoạt động giảng dạy, hội thảo khoa học, trao đổi học thuật hoặc hợp tác nghiên cứu khoa học với nước ngoài trực tiếp bằng ngoại ngữ.


    Đối với người có trình độ thạc sĩ:


    – Thực hiện tốt công tác giảng dạy đại học; 


    – Tích cực nghiên cứu khoa học, không ngừng học tập chuyên môn, ngoại ngữ đạt trình độ đi học sau đại học ở nước ngoài (Tiếng Anh IELTS ³ 6.0 hoặc TOEFL ³ 550 , hoặc có trình độ tương đương với các ngoại ngữ khác);


             – Chậm nhất, sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ hai, phải đảm nhiệm tốt công tác giảng dạy đại học; có công trình hoặc bài báo khoa học được công bố; chậm nhất phải là nghiên cứu sinh (chủ yếu ở nước ngoài đối với các chuyên ngành khoa học cơ sở và chuyên ngành).


    Đối với người có trình độ đại học:


    – Tham gia công tác giảng dạy đại học;


    – Tích cực nghiên cứu khoa học, không ngừng học tập chuyên môn, ngoại ngữ đạt trình độ đi học sau đại học ở nước ngoài (tiếng Anh IELTS ³ 6.0 hoặc TOEFL ³ 550 hoặc có trình độ tương đương với các ngoại ngữ khác);


             – Chậm nhất, sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ hai, phải đảm nhiệm tốt công tác giảng dạy đại học; có công trình hoặc bài báo khoa học được công bố; phải có bằng thạc sĩ hoặc là nghiên cứu sinh (chủ yếu ở nước ngoài đối với các chuyên ngành khoa học cơ sở và chuyên môn).


    Đối với giáo viên giảng dạy ngoại ngữ:


             – Chậm nhất, sau 3 năm kể từ khi ký hợp đồng làm việc lần thứ hai, phải đảm nhiệm tốt công tác giảng dạy đại học; có thể đọc, dịch các tài liệu chuyên ngành; phải có bằng thạc sĩ hoặc là nghiên cứu sinh.


            Điều 8. Những giảng viên được trường cử đi học tập đào tạo phải có cam kết phục vụ cho trường sau khi trở về, nếu tự ý đi nơi khác mà không được sự cho phép của trường, thì phải bồi hoàn kinh phí đào tạo và các chi phí liên quan.


             Điều 9. Đối  với  những người là tiến sĩ có thành  tích xuất sắc hoặc những cán bộ khoa học đã có kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu, giảng dạy tốt sẽ xem xét riêng và đề nghị cấp trên cho đặc cách tuyển dụng hoặc ký hợp đồng làm  việc.


     


    CHƯƠNG 3


    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH


     


    Điều 10: Bản Qui định này được áp dụng thống nhất về việc tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ giảng dạy – nghiên cứu ngạch giảng viên của Trường Đại học Thuỷ lợi và có hiệu lực theo quyết định ban hành.


    Tất cả những giảng viên đã và sẽ tuyển dụng, còn trong độ tuổi và trình độ phải đào tạo đều phải tuân thủ áp dụng theo quy định này. Đối với những giảng viên đã tuyển dụng từ năm 2004 trở về trước và tính đến nay chưa quá 7 năm, trường sẽ xem xét gia hạn thêm thời gian từ 1 đến không quá 3 năm, để giảng viên thực hiện những tiêu chí trong quy định./.


     


    Nơi nhận:                                    HIỆU TRƯỞNG


    – Bộ NN & PTNT,
    Bộ GD & ĐT (để b/c);


    – ĐU, BGH, CĐ, ĐTN;                        (đã ký)


    – Các P, K, B,…;


    – Các Bộ môn;


    – Lưu HCTH, TCCB.


                                        GS.TS Đào Xuân Học


     

  • Tuyển giảng viên giảng dạy các môn kỹ năng

    Theo thông báo số 615/TB-ĐHTL của Trường Đại học Thuỷ Lợi ngày ngày 11 tháng 6 năm 2007


     


    THÔNG BÁO


    Về việc tuyển giảng viên giảng dạy các môn kỹ năng


    Thực hiện kế hoạch xây dựng đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn kỹ năng của Trường, được sự ủy quyền của Hiệu trưởng, Phòng Tổ chức cán bộ xin thông báo:


    Trường Đại học Thủy lợi cần tuyển dụng một số giảng viên giảng dạy các môn kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng bình luận, phê bình; …


    Yêu cầu: Tốt nghiệp đại học loại khá trở lên; chuyên môn phù hợp; có khả năng giao tiếp, sư phạm tốt; Tiếng Anh trình độ C trở lên. Ưu tiên người có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực trên.


    Trường thông báo để các đơn vị giới thiệu ứng viên hoặc các cá nhân có nguyện vọng nộp đơn dự tuyển (kể cả các giảng viên đang biên chế hoặc hợp đồng của Trường).


    Văn bản giới thiệu của các đơn vị hoặc đơn  dự tuyển của ứng viên xin gửi về Phòng Tổ chức cán bộ chậm nhất vào ngày 30/6/2007 (có thể gửi bằng văn bản hoặc qua email: [email protected]).



    TL HIỆU TRƯỞNG


    TRƯỞNG PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ



    (đã ký)

    TRẦN VŨ HỢP