Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Luật phòng chống tác hại của thuốc lá

    QUỐC HỘI

          Luật số: 09/2012/QH13

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     
    LUẬT

    PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

    Quốc hội ban hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    CHƯƠNG I
    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Luật này quy định về các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá và điều kiện bảo đảm để phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    Điều 2. Giải thích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

    1. Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác.

    2. Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá.

    3. Nguyên liệu thuốc lá là lá thuốc lá dưới dạng rời, tấm đã sơ chế tách cọng, sợi thuốc lá, cọng thuốc lá và nguyên liệu thay thế khác dùng để sản xuất thuốc lá.

    4. Tác hại của thuốc lá là ảnh hưởng có hại của việc sản xuất, sử dụng thuốc lá gây ra cho sức khỏe con người, môi trường và sự phát triển kinh tế – xã hội.

    5. Cảnh báo sức khoẻ là thông tin bằng chữ và hình ảnh mô tả hoặc giải thích về ảnh hưởng có hại tới sức khỏe con người do việc sử dụng thuốc lá.

    6. Kinh doanh thuốc lá là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ sản xuất, nhập khẩu đến tiêu thụ thuốc lá trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

    7. Địa điểm công cộng là nơi phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người.

    8. Nơi làm việc là nơi được sử dụng cho mục đích lao động.

    9. Trong nhà là nơi có mái che và có một hay nhiều bức tường chắn hoặc vách ngăn xung quanh.

    Điều 3. Nguyên tắc phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Tập trung thực hiện các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá kết hợp với biện pháp kiểm soát để từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá.

    2. Chú trọng biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông để nâng cao nhận thức về tác hại của thuốc lá nhằm giảm dần tỷ lệ sử dụng thuốc lá và tác hại do thuốc lá gây ra.

    3. Thực hiện việc phối hợp liên ngành, huy động xã hội và hợp tác quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    4. Bảo đảm quyền của mọi người được sống, làm việc trong môi trường không có khói thuốc lá và được thông tin đầy đủ về tác hại của thuốc lá.

    Điều 4. Chính sách của Nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Xã hội hóa các nguồn lực để thực hiện công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    2. Áp dụng chính sách thuế phù hợp để giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá.

    3. Quy hoạch kinh doanh thuốc lá phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá, phù hợp với việc giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá.

    4. Khuyến khích, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn, cai nghiện thuốc lá; nghiên cứu về tác hại của thuốc lá, các phương pháp cai nghiện thuốc lá; nghiên cứu và sản xuất thuốc cai nghiện thuốc lá; hợp tác, tài trợ cho phòng, chống tác hại của thuốc lá; người sử dụng thuốc lá tự nguyện cai nghiện thuốc lá.

    5. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trồng cây thuốc lá, sản xuất thuốc lá, chế biến nguyên liệu thuốc lá chuyển đổi ngành, nghề.

    6. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    Điều 5. Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    2. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    a) Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, kế hoạch về phòng, chống tác hại của thuốc lá, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá;

    b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, kế hoạch về phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    c) Tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    d) Tổ chức bồi dưỡng và tăng cường nhân lực tham gia phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    đ) Tổ chức nghiên cứu, tư vấn, phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị nghiện thuốc lá;

    e) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong phòng, chống tác hại của thuốc lá theo thẩm quyền;

    g) Hằng năm, tổng hợp, báo cáo Chính phủ về kết quả phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    h) Hợp tác quốc tế về phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    3. Các bộ, cơ quan ngang bộ khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chủ động thực hiện nhiệm vụ về phòng, chống tác hại của thuốc lá; phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    4. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá; chủ trì tổ chức, chỉ đạo và chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về địa điểm cấm hút thuốc lá tại địa phương.

    Điều 6. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương trong phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Đưa nội dung phòng, chống tác hại của thuốc lá vào kế hoạch hoạt động hằng năm, quy định không hút thuốc lá tại nơi làm việc vào quy chế nội bộ.

    2. Đưa quy định về việc hạn chế hoặc không hút thuốc lá trong các đám cưới, đám tang, lễ hội trên địa bàn dân cư vào hương ước.

    3. Gương mẫu thực hiện và vận động cơ quan, tổ chức, địa phương thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    Điều 7. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Được sống, làm việc trong môi trường không có khói thuốc lá.

    2. Yêu cầu người hút thuốc lá không hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá.

    3. Vận động, tuyên truyền người khác không sử dụng thuốc lá, cai nghiện thuốc lá.

    4. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá.

    5. Phản ánh hoặc tố cáo cơ quan, người có thẩm quyền không xử lý hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá.

    Điều 8. Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng, chống tác hại của thuốc lá với các nước, tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, phù hợp với pháp luật mỗi nước, pháp luật và thông lệ quốc tế.

    2. Nội dung hợp tác quốc tế bao gồm:

    a) Hợp tác trong phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả;

    b) Hợp tác trong việc cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá xuyên biên giới;

    c) Hợp tác trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và trao đổi thông tin liên quan đến phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm

    1. Sản xuất, mua bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá giả, sản phẩm được thiết kế có hình thức hoặc kiểu dáng như bao, gói hoặc điếu thuốc lá; mua bán, tàng trữ, vận chuyển nguyên liệu thuốc lá, thuốc lá nhập lậu.

    2. Quảng cáo, khuyến mại thuốc lá; tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng dưới mọi hình thức.

    3. Tài trợ của tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá, trừ trường hợp quy định tại Điều 16 của Luật này.

    4. Người chưa đủ 18 tuổi sử dụng, mua, bán thuốc lá.

    5. Sử dụng người chưa đủ 18 tuổi mua, bán thuốc lá.

    6. Bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi.

    7. Bán thuốc lá bằng máy bán thuốc lá tự động; hút, bán thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm.

    8. Sử dụng hình ảnh thuốc lá trên báo chí, xuất bản phẩm dành riêng cho trẻ em.

    9. Vận động, ép buộc người khác sử dụng thuốc lá.

    CHƯƠNG II

    CÁC BIỆN PHÁP GIẢM NHU CẦU SỬ DỤNG THUỐC LÁ

    Điều 10. Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1.  Thông tin, giáo dục, truyền thông phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

    a) Cung cấp thông tin một cách công khai, khoa học, chính xác, khách quan về thuốc lá và tác hại của thuốc lá;

    b) Đa dạng hóa nội dung, hình thức và kênh thông tin phù hợp với đối tượng được thông tin, giáo dục, truyền thông.

    2.  Thông tin, giáo dục, truyền thông bao gồm các nội dung sau đây:

    a) Chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    b) Tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ của người sử dụng, trẻ em, phụ nữ mang thai, người khác chịu ảnh hưởng của khói thuốc lá, môi trường sống và kinh tế – xã hội;

    c) Tác hại của việc sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng thuốc lá giả và mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng thuốc lá nhập lậu đối với sức khỏe người sử dụng và kinh tế – xã hội;

    d) Các biện pháp cai nghiện thuốc lá, lợi ích của việc cai nghiện thuốc lá và môi trường sống không có khói thuốc lá;

    đ) Quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của thuốc lá.

    3.  Trách nhiệm trong thông tin, giáo dục, truyền thông được quy định như sau:

    a) Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức, cung cấp thông tin khoa học về tác hại của thuốc lá; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    b) Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông thực hiện hoạt động thông tin, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    c) Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm tổ chức đưa thông tin, tuyên truyền về phòng, chống tác hại của thuốc lá và các biện pháp hạn chế sử dụng thuốc lá vào trong các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và đời sống gia đình; quy định việc hạn chế sử dụng hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trong  tác phẩm điện ảnh, sân khấu, truyền hình;

    d) Bộ Công thương có trách nhiệm tổ chức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả;

    đ) Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm xây dựng nội dung về phòng, chống tác hại của thuốc lá và lồng ghép vào chương trình giáo dục phù hợp với các cấp học;

    e) Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá tại địa phương;

    g) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm thông tin, tuyên truyền, vận động các thành viên trong tổ chức mình và toàn xã hội không sử dụng thuốc lá, tích cực tham gia phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    h) Cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá theo quy định của Luật này.

    Điều 11. Địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn

    1. Địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà và trong phạm vi khuôn viên bao gồm:

    a) Cơ sở y tế;

    b) Cơ sở giáo dục, trừ các cơ sở quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

    c) Cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em;

    d) Cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao.

    2. Địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà bao gồm:

    a) Nơi làm việc;

    b) Trường cao đẳng, đại học, học viện;

    c) Địa điểm công cộng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 1 Điều 12 của Luật này.

    3. Phương tiện giao thông công cộng bị cấm hút thuốc lá hoàn toàn bao gồm ô tô, tàu bay, tàu điện.

    Điều 12. Địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá

    1. Địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá bao gồm:

    a) Khu vực cách ly của sân bay;

    b) Quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch;

    c) Phương tiện giao thông công cộng là tàu thủy, tàu hỏa.

    2. Nơi dành riêng cho người hút thuốc lá phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

    a) Có phòng và hệ thống thông khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá;

    b) Có dụng cụ chứa các mẩu, tàn thuốc lá; có biển báo tại các vị trí phù hợp, dễ quan sát;

    c) Có thiết bị phòng cháy, chữa cháy.

    3. Khuyến khích người đứng đầu địa điểm quy định tại khoản 1 Điều này tổ chức thực hiện việc không hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà.

    4. Chính phủ quy định chuyển địa điểm tại khoản 1 Điều này thành địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà phù hợp với từng thời kỳ.

    Điều 13. Nghĩa vụ của người hút thuốc lá

    1. Không hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm hút thuốc lá.

    2. Không hút thuốc lá trong nhà khi có trẻ em, phụ nữ mang thai, người bệnh, người cao tuổi.

    3. Giữ vệ sinh chung, bỏ tàn, mẩu thuốc lá đúng nơi quy định khi hút thuốc lá tại những địa điểm được phép hút thuốc lá.

    Điều 14. Quyền và trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc lá

    1. Người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc lá có các quyền sau đây:

    a) Buộc người vi phạm chấm dứt việc hút thuốc lá tại địa điểm cấm hút thuốc lá; xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

    b) Yêu cầu người vi phạm quy định cấm hút thuốc lá ra khỏi cơ sở của mình;

    c) Từ chối tiếp nhận hoặc cung cấp dịch vụ cho người vi phạm quy định cấm hút thuốc lá nếu người đó tiếp tục vi phạm sau khi đã được nhắc nhở.

    2. Người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc lá có trách nhiệm sau đây:

    a) Thực hiện quy định tại Điều 6 của Luật này;

    b) Tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc mọi người thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại địa điểm thuộc quyền quản lý, điều hành; treo biển có chữ hoặc biểu tượng cấm hút thuốc lá tại địa điểm cấm hút thuốc lá.

    Điều 15. Ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá

    1. Thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá.

    2. Việc ghi nhãn đối với thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải được thực hiện bằng tiếng Việt, theo đúng quy định của pháp luật về nhãn hàng hoá và bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) In cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh bảo đảm rõ ràng, dễ nhìn, dễ hiểu;

    b) Dán tem hoặc in mã số, mã vạch; ghi ngày sản xuất, ngày hết hạn sử dụng;

    c) Ghi rõ số lượng điếu đối với bao thuốc lá dạng điếu hoặc trọng lượng đối với các loại thuốc lá khác;

    d) Không được sử dụng từ, cụm từ làm người đọc, người sử dụng hiểu thuốc lá là ít có hại hoặc hiểu sai về tác hại của thuốc lá và khói thuốc lá đối với sức khoẻ con người.

    3. Nội dung cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá phải mô tả cụ thể tác hại của việc sử dụng thuốc lá đối với sức khỏe và thông điệp thích hợp khác, phải được thay đổi theo định kỳ 02 năm một lần.

    4. Cảnh báo sức khỏe quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải chiếm ít nhất 50% diện tích của mỗi mặt chính trước và mặt chính sau trên bao, tút, hộp thuốc lá. 

    5. Việc ghi nhãn trên bao bì thuốc lá xuất khẩu được thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu.

    6. Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công thương quy định cụ thể về ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe đối với thuốc lá quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

    7. Chính phủ quy định cụ thể mức tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe phù hợp với từng thời kỳ.

    Điều 16. Hoạt động tài trợ

    Tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá chỉ được tài trợ nhân đạo cho chương trình xóa đói, giảm nghèo; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, thảm họa; phòng, chống buôn lậu thuốc lá và không được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc tài trợ đó.

    Điều 17. Cai nghiện thuốc lá

    1. Việc cai nghiện thuốc lá được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được tổ chức các hoạt động hoặc thành lập các loại hình cơ sở để tư vấn, cai nghiện thuốc lá.

    3. Cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc cai nghiện thuốc lá và cơ sở tư vấn, cai nghiện thuốc lá được hưởng mức thuế ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế.

    4. Chính phủ quy định điều kiện thành lập và tổ chức hoạt động cai nghiện, tư vấn cai nghiện thuốc lá quy định tại khoản 2 Điều này.

    Điều 18. Trách nhiệm trong hỗ trợ cai nghiện thuốc lá

    1. Bộ Y tế có trách nhiệm sau đây:

    a) Hướng dẫn quy trình cai nghiện thuốc lá;

    b) Chỉ đạo việc cai nghiện thuốc lá và nghiên cứu, tư vấn về cai nghiện thuốc lá;

    c) Chỉ đạo việc tổ chức tập huấn cho các nhân viên y tế, nhân viên tư vấn cai nghiện thuốc lá về hoạt động tư vấn, phương pháp cai nghiện thuốc lá.

    2. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động cai nghiện và tư vấn cai nghiện thuốc lá.

    3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm vận động người sử dụng thuốc lá trong cơ quan, tổ chức và gia đình tự nguyện cai nghiện thuốc lá.

    CHƯƠNG III
    CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT NGUỒN CUNG CẤP THUỐC LÁ

    Điều 19. Quản lý kinh doanh thuốc lá

    1. Kinh doanh thuốc lá là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Tổ chức, cá nhân mua bán, chế biến, nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá; sản xuất, mua bán, nhập khẩu thuốc lá phải có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

    2. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định giá bán tối thiểu đối với thuốc lá điếu tiêu thụ tại Việt Nam.

    3. Chính phủ quy định cụ thể việc cấp giấy phép mua bán, chế biến, nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá; sản xuất, mua bán, nhập khẩu thuốc lá quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 20. Quy hoạch kinh doanh thuốc lá

    1. Quy hoạch kinh doanh thuốc lá phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá để từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá, phù hợp với việc giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá và có giải pháp để từng bước chuyển đổi ngành, nghề cho người trồng cây thuốc lá, công nhân sản xuất thuốc lá.

    2. Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch kinh doanh thuốc lá của cả nước, bao gồm quy hoạch vùng nguyên liệu thuốc lá, quy hoạch sản xuất thuốc lá, quy hoạch mạng lưới mua bán thuốc lá.

    3. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng nguyên liệu thuốc lá, quy hoạch mạng lưới mua bán thuốc lá của địa phương phù hợp với quy hoạch kinh doanh thuốc lá quy định tại Điều này.

    Điều 21. Kiểm soát đầu tư sản xuất thuốc lá

    1. Việc đầu tư trồng cây thuốc lá, chế biến nguyên liệu và sản xuất thuốc lá phải phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

    2. Việc đầu tư xây dựng mới, đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất của cơ sở sản xuất thuốc lá để tiêu thụ trong nước không được vượt quá tổng sản lượng được phép sản xuất của toàn ngành thuốc lá trước ngày Luật này có hiệu lực.

    3. Dự án có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất thuốc lá phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

    a) Liên doanh, hợp tác với doanh nghiệp đã có giấy phép sản xuất thuốc lá;

    b) Nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối trong vốn điều lệ của doanh nghiệp;

    c) Đáp ứng các điều kiện sản xuất thuốc lá theo quy định của Chính phủ.

    4. Hợp đồng nhượng quyền sở hữu công nghiệp sản xuất thuốc lá chỉ được thực hiện tại doanh nghiệp đã có giấy phép sản xuất thuốc lá sau khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý bằng văn bản.

    5. Hợp đồng sản xuất thuốc lá xuất khẩu, gia công thuốc lá xuất khẩu không tính vào sản lượng thuốc lá được phép sản xuất tiêu thụ trong nước và chỉ được thực hiện tại doanh nghiệp đã có giấy phép sản xuất thuốc lá sau khi được Bộ trưởng Bộ Công thương đồng ý bằng văn bản.

    6. Việc đầu tư sản xuất, gia công thuốc lá để xuất khẩu vượt quá sản lượng được phép sản xuất của cơ sở phải được Bộ trưởng Bộ Công thương đồng ý bằng văn bản.

    Điều 22. Kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước

    1. Kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước bao gồm các biện pháp sau đây:

    a) Quản lý sản lượng thuốc lá được phép sản xuất và nhập khẩu;

    b) Dán tem hoặc in mã số, mã vạch trên bao bì thuốc lá;

    c) Quản lý năng lực máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá;

    d) Quản lý nguyên liệu thuốc lá và giấy cuốn điếu thuốc lá;

    đ) Quản lý nguồn gốc, sự di chuyển và tính hợp pháp của thuốc lá.

    2. Bộ trưởng Bộ Công thương công bố công khai sản lượng được phép sản xuất và nhập khẩu thuốc lá để tiêu thụ trong nước của từng doanh nghiệp phù hợp với năng lực sản xuất và nhu cầu của thị trường.

    3. Chính phủ quy định cụ thể biện pháp quản lý máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá, nguyên liệu và giấy cuốn điếu thuốc lá.

    Điều 23. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá

    1. Thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam phải bảo đảm tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá và tiêu chuẩn cơ sở về thuốc lá mà nhà sản xuất đã công bố.

    2. Cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá phải tuân thủ các yêu cầu sau đây:

    a) Công bố tiêu chuẩn cơ sở về thuốc lá;

    b) Bảo đảm thuốc lá do cơ sở sản xuất, nhập khẩu phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá và tiêu chuẩn cơ sở về thuốc lá mà nhà sản xuất đã công bố;

    c) Thường xuyên kiểm tra và chịu trách nhiệm về sự phù hợp của thuốc lá do cơ sở sản xuất, nhập khẩu với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn cơ sở đã công bố.

    3. Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc lá điếu.

    Điều 24. Số lượng điếu thuốc lá trong bao, gói

    Sau 03 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, số lượng điếu thuốc lá đóng gói trong 01 bao thuốc lá không được ít hơn 20 điếu, trừ thuốc lá xì gà và thuốc lá được sản xuất để xuất khẩu.

    Điều 25. Bán thuốc lá

    1. Việc bán thuốc lá phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

    a) Doanh nghiệp, đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá phải có giấy phép bán thuốc lá theo quy định của Chính phủ;

    b) Người chịu trách nhiệm tại điểm bán của đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá phải treo biển thông báo không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi; đại lý bán lẻ, điểm bán lẻ thuốc lá không được trưng bày quá một bao, một tút hoặc một hộp của một nhãn hiệu thuốc lá.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được tổ chức, cho phép hoặc bán thuốc lá tại các địa điểm quy định tại Điều 11, Điều 12, trừ điểm a khoản 1 Điều 12 của Luật này; không được bán thuốc lá phía ngoài cổng nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học, viện nghiên cứu y học, bệnh viện, nhà hộ sinh, trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế xã, phường, thị trấn trong phạm vi 100 mét (m) tính từ ranh giới khuôn viên gần nhất của cơ sở đó.

    Điều 26. Các biện pháp phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả

    1. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức để người dân không tham gia buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    2. Tổ chức và bảo đảm đủ nhân lực, kinh phí, phương tiện cho lực lượng phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    3. Định kỳ, thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    4. Tịch thu, tiêu hủy thuốc lá giả; tịch thu, tiêu hủy các loại máy, thiết bị dùng để sản xuất thuốc lá giả. Việc tiêu hủy phải sử dụng các biện pháp bảo đảm an toàn đối với môi trường. Kinh phí tiêu hủy do cá nhân, tổ chức vi phạm chịu trách nhiệm chi trả. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm thì kinh phí tiêu hủy do ngân sách nhà nước chi trả.

    5. Việc xử lý đối với thuốc lá nhập lậu được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    6. Khuyến khích về vật chất và tinh thần cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã phát hiện và tố giác, tố cáo các hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    7. Phối hợp ở cấp tỉnh, cấp quốc gia với các nước có chung đường biên giới và các nước có liên quan trong phòng, chống kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    Điều 27. Trách nhiệm phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả

    1. Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Y tế trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức công tác phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    2. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tại địa phương tổ chức, chỉ đạo, bố trí lực lượng và phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan liên quan thực hiện công tác phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    3. Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho công tác phòng, chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả.

    CHƯƠNG IV

    CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM ĐỂ
    PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ

    Điều 28. Thành lập Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Quỹ phòng, chống tác hại của thuốc lá (sau đây gọi chung là Quỹ) là quỹ quốc gia, trực thuộc Bộ Y tế và chịu sự quản lý nhà nước về tài chính của Bộ Tài chính. Quỹ là tổ chức tài chính nhà nước có tư cách pháp nhân, có con dấu và có tài khoản riêng.

    2. Quỹ được quản lý bởi Hội đồng quản lý liên ngành. Hội đồng quản lý liên ngành gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên. Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Y tế, Phó Chủ tịch là lãnh đạo Bộ Tài chính, các ủy viên là đại diện lãnh đạo Bộ Công thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông và đại diện các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác.

    3. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ.

    4. Định kỳ 02 năm một lần, Chính phủ báo cáo Quốc hội về kết quả hoạt động và việc quản lý sử dụng Quỹ.

    Điều 29. Mục đích và nhiệm vụ của Quỹ

    1. Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng huy động, cung cấp và điều phối nguồn lực tài chính của Quỹ cho các hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá trên phạm vi toàn quốc.

    2. Quỹ có nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động sau đây:

    a) Truyền thông về tác hại của thuốc lá và phòng, chống tác hại của thuốc lá phù hợp với từng nhóm đối tượng;

    b) Xây dựng, triển khai các mô hình điểm về cộng đồng, cơ quan, tổ chức không có khói thuốc lá; phát triển và nhân rộng các mô hình có hiệu quả;

    c) Tổ chức các chiến dịch, sáng kiến về phòng, chống tác hại của thuốc lá dựa vào cộng đồng; tư vấn việc tổ chức nơi dành riêng cho người hút thuốc lá tại các địa điểm công cộng;

    d) Tổ chức cai nghiện thuốc lá;

    đ) Xây dựng, triển khai các mô hình điểm về cai nghiện thuốc lá dựa vào cộng đồng và phát triển, nhân rộng các mô hình có hiệu quả;

    e) Nghiên cứu đưa ra những bằng chứng phục vụ cho công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    g) Xây dựng, hỗ trợ hoạt động, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho mạng lưới cộng tác viên làm công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá;

    h) Xây dựng nội dung và tổ chức đưa giáo dục về tác hại và phòng, chống tác hại của thuốc lá vào chương trình giáo dục phù hợp với các cấp học;

    i) Thực hiện các giải pháp chuyển đổi ngành, nghề cho người trồng cây thuốc lá, chế biến nguyên liệu thuốc lá, sản xuất thuốc lá.

    Điều 30. Nguồn hình thành và nguyên tắc sử dụng Quỹ

    1. Quỹ được hình thành từ các nguồn sau đây:

    a) Khoản đóng góp bắt buộc của cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt theo lộ trình: 1,0% từ ngày 01 tháng 5 năm 2013; 1,5% từ ngày 01 tháng 5 năm 2016; 2,0% từ ngày 01 tháng 5 năm 2019. Khoản đóng góp bắt buộc được khai, nộp cùng với thuế tiêu thụ đặc biệt do cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá tự khai, tự tính, tự nộp vào tài khoản của Quỹ;

    b) Nguồn tài trợ, đóng góp tự nguyện của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước;

    c) Nguồn thu hợp pháp khác.

    2. Quỹ được sử dụng theo các nguyên tắc sau đây:

    a) Quỹ chỉ được sử dụng cho các nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này và điểm e khoản này;

    b) Nội dung chi của Quỹ căn cứ vào kế hoạch hoạt động hằng năm, chương trình, chiến lược ngắn hạn, dài hạn, mục tiêu ưu tiên trong từng giai đoạn đã được Hội đồng quản lý liên ngành phê duyệt;

    c) Quỹ được thực hiện kiểm toán hằng năm theo quy định của pháp luật;

    d) Công khai, minh bạch;

    đ) Bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn tài chính của Quỹ;

    e) Chi phí quản lý hành chính theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

    Điều 31. Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; cá nhân vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

    2. Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tác hại của thuốc lá được thực hiện theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

    Điều 32. Trách nhiệm xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá

    1. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện kịp thời và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá; nếu dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng quy định thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    2. Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức việc xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm và hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách.

    3. Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức việc xử lý vi phạm đối với hành vi hút thuốc lá tại địa điểm cấm hút thuốc lá và hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách.

    4. Bộ Công thương có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức việc xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách.

    5. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức việc xử lý vi phạm đối với hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả thuộc khu vực biên giới và lĩnh vực được phân công phụ trách.

    6. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan tổ chức việc xử lý vi phạm hành chính về phòng, chống tác hại của thuốc lá thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách.

    7. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để tổ chức, chỉ đạo, bố trí lực lượng và phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm, kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chủ trì, tổ chức việc xử phạt đối với hành vi hút thuốc lá tại địa điểm công cộng có quy định cấm thuộc địa bàn quản lý.

    8. Cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá quy định tại các khoản 2, 4, 6 và 7 Điều này, nếu phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển cơ quan tiến hành tố tụng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

    CHƯƠNG V
    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 33. Hiệu lực thi hành

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2013.

    Điều 34. Điều khoản chuyển tiếp

    Bao, tút, hộp thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam theo quy định tương ứng của pháp luật về ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trước ngày Luật này có hiệu lực sẽ không được sử dụng sau 06 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

    Điều 35. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

    Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.

    ______________________________________________________________________________________________

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012.

     

    CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

     

    (Đã ký)

    Nguyễn Sinh Hùng

  • Công trình thủy điện Hàm Thuận

    Công trình thủy điện Hàm Thuận

    Công trình thủy điện Hàm Thuận nằm trên sông La Ngà – một nhánh của hệ thống sông Đồng Nai. Đây là bậc thang trên của dự án thủy điện bậc thang liên lưu vực để chuyển nước từ thượng nguồn sông La Ngà về sông Đa My.

    Nhà máy thủy điện Hàm Thuận đặt tại xã La Ngâu, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận có công suất 300 MW gồm 2 tổ máy. Công trình đầu mối và phần lớn hồ chứa cũng thuộc huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, chỉ có một phần hồ phía Tây- Bắc thì thuộc huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng. Nguồn vốn xây dựng công trình này là do JIBIC (nay là JICA – Nhật Bản) tài trợ thông qua hiệp định vay vốn giữa 2 chính phủ Việt Nam và Nhật Bản. Công trình khởi công xây dựng năm 1997.   

            Nhiệm vụ của công trình Hàm Thuận:

                + Phát điện với công suất 300.000KW

                + Chống lũ cho hạ lưu

                + Cấp nước tưới cho hạ lưu sông La Ngà

                + Cải thiện khí hậu trong vùng và tạo cảnh quan môi trường

           Các thông số cơ bản của hồ chứa:

                + Diện tích lưu vực 1280 km2

                + MNC = +575 m, Dung tích chết Vc = 172,73 triệu m3                                      

                + MNDBT = + 605 m, Dung tích hữu ích Vh = 522,5 triệu m3

                + Mực nước lũ thiết kế (p = 0,1%): MNLTK = +606,7 m

                + Mực nước lũ kiểm tra (p = 0,05%): MNLKT = +607,5 m

    Lòng hồ Hàm thuận

    Đầu mối có các công trình: đập chắn (1 đập chính, 4 đập phụ), tràn xả lũ, cửa nhận nước, đường hầm dẫn nước dài 7.765 mét và nhà máy thủy điện kiểu đường dẫn.

          Đập chính là đập đá đổ, lõi chống thấm .

                           – Cao trình đỉnh đập +609,5 m

                            – Chiều dài đỉnh đập L = 686m

                            – Chiều cao đập lớn nhất Hmax = 93,5m

                            – Mái thượng lưu m=2,0; mái hạ lưu m=1,8

          Tràn xả lũ là loại đập tràn cao 23,5 mét, có cửa van

                           – Cao trình ngưỡng tràn là +594,0m thấp hơn MNDBT 11 mét

                          – Tràn có 5 cửa, van cung, kích thước mỗi cửa van là b x h = 11 x 11,6 (m).

                          – Cột nước tràn lớn nhất thiết kế Hmax = 12,7m

                          – Nối tiếp sau ngưỡng tràn là dốc nước. Cuối dốc nước là tiêu năng phóng xa.

                    Tràn xả lũ nhìn từ hạ lưu

                                        Phòng điều khiển trung tâm của nhà máy Thủy điện Hàm Thuận                                 

    Hệ thống công trình Hàm Thuận khánh thành, đưa vào sử dụng năm 2001 góp phần ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của một vùng lớn thuộc tỉnh Bình Thuận – nơi còn nhiều vùng đang thiếu nước, nơi mà lượng mưa năm vào loại ít nhất Việt nam. Hiệu quả đó càng thấy rõ hơn trong những ngày hạn hán đang diễn ra ở miền Trung trong tháng ba, tháng tư này.

    Tin và ảnh: Việt Bắc (ĐHTL)

     

     

     

  • Gặp mặt các đội tuyển dự thi Olympic Quốc gia môn Vật lý và các môn cơ học

    Ngày 12/4/2013, tại hội trường 223, trường ĐH Thủy Lợi đã diễn ra buổi gặp mặt thân mật giữa Nhà trường và các đội tuyển dự thi Olympic Quốc gia môn Vật lý và các môn cơ học. Tham dự có PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó hiệu trưởng Nhà trường, đại diện các phòng khoa ban trong trường, các thầy cô hướng dẫn các đội tuyển và các bạn sinh viên thuộc 8 đội tuyển dự thi Olympic Vật Lý và các môn cơ học toàn quốc năm 2013.

     ThS Nguyễn Ngọc Ánh – Phó trưởng phòng CTTT&QLSV đọc tóm tắt công tác thi Olympic toàn quốc các năm gần đây

    và đọc Quyết định thành lập các đội dự thi Olympic toàn quốc lần thứ XII

    Thi Olympic là một phong trào lớn của sinh viên trường ta từ nhiều năm nay, đặc biệt là thi Olympic Vật Lý và các môn cơ học. Sinh viên ĐH Thủy Lợi nhiều năm tham gia các kỳ thi Olympic và đạt được những thành tích cao. Năm 2012, trường ta đạt 15 giải cá nhân trong đó có 2 giải nhất (môn vật lý), 4 giải nhì (môn vật lý và toán học), 5 giải ba, 4 giải khuyến khích và 1 giải nhì đồng đội môn vật lý.

     Đại diện sinh viên dự thi Olympic toàn quốc các môn cơ học phát biểu

    Đến với kỳ thi Olympic các môn cơ học lần này, Thầy Hùng (bộ môn Thủy Lực) chia sẻ: năm nay sinh viên dự thi môn Thủy Lực đông hơn, chất lượng đồng đều và tốt hơn mọi năm. Tuy nhiên đợt này các bạn sinh viên khóa 52 đang vướng vào kỳ thi học kỳ nên cũng có nhiều khó khăn nhưng toàn đoàn sẽ quyết tâm gặt hái được thành tích cao nhất. Cô Nga (trưởng bộ môn vật lý) đã rút kinh nghiệm các năm trước khi triển khai ôm tập sớm hơn, đến giờ thì đề cương ôn luyện cũng đã làm được 80%, các bạn sinh viên đội vật lý sẽ đoàn kết quyết tâm đạt kết quả cao. Và cô cũng mong muốn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của Ban giám hiệu cũng như các phòng ban trong Nhà trường để các bạn yên tâm thi cử. Đại diện cho các bạn sinh viên, đội trưởng đội tuyển vật lý cảm ơn sự quan tâm của BGH, các thầy cô hướng đẫn đã tạo điều kiện cho các bạn học tập và ôn luyện. Chúc các bạn tham gia kỳ thi lần này sẽ có sức khỏe tốt, tự tin và tập trung làm bài thật tốt, đạt kết quả cao.

     

     GS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó hiệu trưởng Nhà trường phát biểu tại buổi lễ

    Sau khi lắng nghe ý kiến của các thầy cô và các bạn sinh viên, đại diện Nhà trường, PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó hiệu trưởng Nhà trường đã gửi lời chúc sức khỏe và thành công tới các thầy cô và các bạn sinh viên tham dự kỳ thi Olympic quốc gia môn Vật lý và các môn cơ học. Với bề dầy truyền thống 54 năm xây dựng và phát triển của Nhà trường, thầy phó hiệu trưởng tin tưởng rằng các bạn sinh viên trong 8 đội tuyển dự thi Olympic lần này sẽ là những đại diện tiêu biểu viết tiếp trang sử vẻ vang truyền thống Nhà trường. Nhà trường sẽ luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để các em học tập. ôn luyện và thi cử. Từ trước đến nay, các sinh viên từng dự thi Olympic sau này ra trường đều là những nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý, những doanh nhân thành đạt, hi vọng rằng các bạn sẽ tiếp nối thành tích vẻ vang đó của các thế hệ đi trước. Thầy cũng đề nghị các trưởng đoàn giữ an toàn thi cử cho các bạn, nhắc nhở các bạn sinh viên bình tĩnh, tự tin nhận dạng bài thật kỹ trước khi làm.

    Một lần nữa xin gửi đến các gương mặt tiêu biểu đại diện cho Nhà trường dự thi Olympic Quốc gia môn Vật lý và các môn cơ học sức khỏe và thành công. Các bạn luôn là niềm tự hào của Nhà trường.

    Trần Mai Anh

  • Hưởng ứng cuộc thi “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”: Bài thơ: “Đêm giao thừa nhớ Bác” – Dương Văn

    Hưởng ứng cuộc thi “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

    Tác giả: Thầy giáo Dương Văn
    – Quê quán: Diễn Châu – Nghệ An 

    – Giảng viên kiêm nhiệm Bộ môn Thủy Công
    – Nguyên Giám đốc Trung tâm ĐH2 – Đại học Thủy Lợi II (Tức Viện đào tạo Khoa học và Ứng dụng miền Trung)
    – Hiện là Chủ tịch HĐQT công ty P&L, Tổng giám đốc khách sạn nhà hàng Phong Lan

    Đêm giao thừa nhớ Bác
     

    Kỷ niệm 45 năm cuộc tổng tiến công Mậu Thân

    Đêm giao thừa

    Con vẫn thao thức

    Như bao năm trước

    Con lắng nghe lời chúc Tết – Bác Hồ

    Đồng hồ điểm 0 giờ 1 phút

    Thời khắc thiêng liêng

    Xuân Mậu Thân

    Tiếng gầm rung của đại bác

    Thay cho tiếng pháo giao thừa

    Đêm nay

    Cả miền Nam xốc tới

    Từ Trị Thiên đến Cà Mau

    Huế – Sài Gòn – Đà Nẵng

    Đâu đâu cũng gầm rung tiếng súng diệt thù

    Cả miền Nam quật khởi

    Lắng nghe Bác đọc thơ Xuân

    “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

    Thắng trận tin vui khắp nước nhà” (1)

    Con đã òa lên khóc

    Bởi niềm vui chiến thắng

    Giọng Bác nhẹ nhàng mà sâu lắng

    Là lời hịch của non sông

    Sự khẳng định thành chân lý :

    “Tiến lên toàn thắng ắt về ta” (2)

    Con nghe Bác đã 45 năm qua

    Đên nay giao thừa Quý Tỵ

    Lại hiện về trong ký ức của con

    Phút giao thừa

    Con dâng hương lên điện thờ Bác

    Con nguyện cầu Bác mãi mãi bên con

    Đêm giao thừa

    Con vẫn thức

    Bao năm rồi con lắng nghe

    Những âm điệu dịu êm

    Trong lời thơ chúc Tết

    Lời của non sông, đất nước hào hùng

    Cả dân tộc reo vang

    Bài ca chiến thắng

    Thời khắc thiêng liêng

    Nghe Bác nói

    “Năm qua thắng lợi vẻ vang

    Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to” (3)

    Xuân Kỷ Dậu,

    Có ai ngờ

    Đây là bài thơ cuối cùng của Bác

    Những bài thơ đã đi cùng năm tháng

    Ngân vang như điệp khúc quân hành

    “Vì độc lập,

    Vì tự do,

    Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (4)

    Đó là lời tiên tri của nhà ngoại cảm

    Hay là lời dự báo của thánh nhân

    Con hiểu đó là niềm tin chiến thắng

    Là chiến lược thiên tài

    Là lời tiên tri khoa học

    Của Bác, Bác Hồ ơi!

    Nghe lời Bác cả dân tộc

    “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” (5)

    Xuân Ất Mão là Xuân đại thắng

    Thơ của Bác đã thành hiện thực

    “Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn” (6)

    Đêm giao thừa

    Con đọc lại những bài thơ của Bác

    Bài thơ nào cũng gắn với mùa Xuân

    Con thức trắng đêm nay

    Vẫn thấy lòng thanh thản, bình yên

    Vì có Bác bên con

    Như những đêm giao thừa

    Con nghe thơ Bác

    Bác là Hồ Chí Minh

    Cả nhân loại vẫn gọi Người thư thế!

                                                                                                   0h45’ đêm 09/02/2013

     

    (1), (2): Thơ chúc Tết 1986 của Bác Hồ

    (3), (4), (5), (6): Thơ chúc Tết 1969 của Bác Hồ

     

  • Triển khai thí điểm quản lý sinh viên theo mô hình nhóm

    Công tác quản lý sinh viên trong thời gian vừa qua đã có chuyển biến đáp ứng yêu cầu của đào tạo tín chỉ và thu được nhiều kết quả tích cực song vẫn còn một số tồn tại. Nhiệm vụ cấp thiết đặt ra với nhà trường là cần có những giải pháp nào để cải thiện tình hình học tập rèn luyện chất lượng văn hóa học đường? Đứng trước thực tế đó thì Phòng công tác chính trị và quản lý sinh viên đã mạnh dạn đề xuất “ Mô hình quản lý sinh viên theo nhóm sinh viên”  dựa trên tính ưu việt trong cách thức quản lý nhân sự của các doanh nghiệp.

    Chiều ngày 27/3/2013 tại hội trường 223 Đại học Thủy Lợi đã diễn ra buổi họp trao đổi trực tiếp giữa lãnh đạo nhà trường, Phòng Công tác chính trị & QLSV, Đoàn thanh niên, trợ lý các khoa, cố vấn học tập, đại diện các lớp 54GT2, 53N2, 53KT1 làm thí điểm mô hình này.

     

    PGS.TS Lê Đình Thành-Phó hiệu trường nhà trường nêu lên mối quan tâm của trường tới hình hình quản lý sinh viên hiện nay.

    Qua những kết quả học tập rèn luyện của sinh viên sau chuyển đổi học chế tín chỉ thì thực trạng về công tác quản lý sinh viên đã nhận ra một số bất cập: công tác tập hợp nắm bắt thông tin tới sinh viên về các hoạt động còn hạn chế. Các tập thể lớp hoạt động không đều nhau thiếu đi sự thống nhất. Nhiều cuộc họp lớp chỉ mang tính chất đối phó hình thức. Một bộ phận không nhỏ sinh viên sống thực dụng thiếu ý thức, thờ ơ với tập thể, không xác định được mục đích lý tưởng sống cho bản thân,…Nghiêm túc, thẳng thắn nhìn nhận thực trạng học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay, kịp thời đưa ra các hành động giải pháp cụ thể cải thiện tình hình chung đó là việc làm quan trọng.

     

    Ths. Hồ Quang Tuấn – Phòng CTCT & QLSV trình bày nội dung đề án

    Cuộc họp đã được nghe nội dung quy trình các bước thực hiện của đề án, báo cáo kết quả, kinh nghiệm áp dụng của đại diện lớp 53N2- một trong những lớp đầu tiên được áp dụng mô hình quản lý sinh viên theo nhóm. Sau gần nửa năm thực hiện, chất lượng học tập của lớp đã có những chuyển biến tích cực. Kết quả học tập và hoạt động phong trào được nâng lên rõ rệt. Đại diện các khoa, các chi đoàn thực hiện thí điểm cũng đã có những câu hỏi trao đổi xung quanh nội dung và cách thức triển khai của đề án. Điều này thể hiện sự quan tâm của các tập thể tới một sự đổi mới trong công tác quản lý sinh viên.

     
     Th.s Đặng Hương Giang- Trưởng phòng Công tác chính trị & QLSV
    chủ trì phần tập huấn các nội dung đến các nhóm trưởng các lớp thực hiện thí điểm

    Để đề án quản lý sinh viên theo mô hình nhóm thành công cần có sự chung tay góp sức chặt chẽ của nhà trường, Phòng Công tác chính trị & QLSV, Đoàn thanh niên, các Khoa, cố vấn học tập đặc biệt là cán bộ lớp các nhóm trưởng những người đầu tàu trực tiếp liên lạc với các thành viên trong lớp.

     Hy vọng sau một thời gian triển khai thí điểm trên 3 lớp với những hiệu quả tích cực, đề án quản lý sinh viên theo mô hình nhóm sẽ được nhân rộng ra các lớp trong trường, góp phần nâng cao chất lượng học tập rèn luyện của sinh viên.

    Khánh Nguyễn.

  • Tuổi trẻ trường Đại học Thủy Lợi chào mừng sinh nhật Đoàn

    Về dự Lễ mít tinh có đồng chí Nguyễn Ánh Dương- Phó bí thư Thành đoàn Hà Nội, GS.TS Nguyễn Quang Kim- Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Nhà Trường, Nhà giáo nhân GS.TS Phạm Ngọc Quý- Phó hiệu trưởng nhà trường, PGS.TS Lê Xuân Roanh- Chủ tịch Công đoàn trường, đại diện các ban của Thành Đoàn, các thầy giáo, cô giáo đại diện cho Đảng ủy, Ban giám hiệu, Công đoàn, các Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm, Công ty, Viện, các đoàn viên

    Tám mươi hai năm một chặng đường lịch sử, các thế hệ thanh niên Việt Nam nối tiếp nhau viết nên truyền thống vẻ vang của Đoàn, đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; đó là truyền thống của đội quân xung kích cách mạng, sáng tạo không ngừng, đảm nhận nhiệm vụ nặng nề, đi đến những nơi khó khăn gian khổ; đó là truyền thống gắn bó đoàn kết trong các tổ chức Đoàn, Hội, và gắn bó mật thiết với nhân dân; đó là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, cống hiến sức trẻ cho sự nghiệp của dân tộc, của Đảng. Những truyền thống quý báu đó đã được viết nên bởi những thế hệ anh hùng của một dân tộc anh hùng.

    Thay mặt cho tuổi trẻ trường đại học Thủy Lợi, TS Đào Văn Hưng- Bí thư Đoàn trường đã ôn lại truyền thống ngày thành lập Đoàn. Cùng với sự lớn mạnh của đoàn viên thanh niên cả nước, trong những năm qua, Đoàn trường đại học Thủy Lợi đã không ngừng phấn đấu, nêu cao tinh thần xung kích, tình nguyện. Trong năm học này có rất nhiều hoạt động được tuyên dương, khen thưởng như: giải nhì tiếng hát sinh viên toàn quốc, giải ba bóng đá sinh viên toàn quốc tranh cup VTC 2012, tham gia các chương trình do TW Đoàn, Thành đoàn & của Nhà trường tổ chức, nhiều sinh viên tham gia thi Olympic và sinh viên nghiên cứu khoa học, rất nhiều đoàn viên ưu tú được đứng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn thừa nhận rằng, trong thời gian vừa qua, hoạt động của Đoàn Thanh niên và phong trào sinh viên cũng còn không ít những khuyết điểm, hạn chế. Đoàn vẫn chưa tạo được sự phát triển đồng đều ở các cấp chi đoàn, liên chi đoàn các khoa, chưa phát huy được mạnh mẽ tiềm năng, sức sáng tạo của các đoàn viên sinh viên. Đây là những vấn đề rất đáng lo ngại, trách nhiệm thuộc về các tổ chức Đoàn. Được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy- Ban giám hiệu trong thời gian tới Đoàn thanh niên sẽ đưa vào thực hiện đề án: “Nâng cao trách nhiệm công dân, ý thức học tập, văn hóa học đường trong sinh viên trường Đại học Thủy Lợi” nhằm khắc phục và phát huy hơn nữa nhiệt huyết, tinh thần tuổi trẻ trong công tác, rèn luyện để có kết quả cao trong học tập, làm việc cũng như các hoạt động.

    Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Ánh Dương- Phó bí thư Thành đoàn Hà Nội một lần nữa khẳng định và biểu dương những kết quả đạt được của công tác Đoàn, phong trào thanh niên Trường Đại học Thủy Lợi. Những kết quả này đã đưa Đại học Thủy Lợi trở thành “đơn vị liên tục dẫn đầu khối các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn Hà Nội ”, được TW Đoàn tặng bằng khen.

    Đại diện Đảng ủy, Ban giám hiệu, với tình cảm chân thành và sự quan tâm đặc biệt, GS.TS Nguyễn Quang Kim- Hiệu trường nhà trường đã truyền thêm ngọn lửa, lòng nhiệt huyết về niềm tự hào dân tộc, về tình yêu đất nước vào trong trái tim của các bạn đoàn viên giúp các bạn có thêm những quyết tâm và động lực mới tiếp tục vươn lên, học tập để có một tương lai tương sáng, trở thành những người chủ thật sự của đất nước. 

    Sau lễ mít tinh trang trọng và vô cùng ấm áp, chung kết cuộc thi tìm kiếm tài năng âm nhạc khóa 53, 54 mang đến một không khí  kỷ niệm ngày sinh nhật Đoàn độc đáo, rực rỡ, đầy màu sắc. 11 giọng hát tài năng đã cống hiến cho khán giả những bài hát với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau qua các chủ đề tình yêu, quê hương, đất nước, con người, tình bạn, tình mẹ… Khép lại đêm chúc kết, giải nhất cuộc thi đã thuộc về bạn Tống Hồng Loan 54K1 với bài hát Chờ người nơi ấy.

     
    Dư âm phấn chấn trong ngày sinh nhật Đoàn bước sang tuổi 82 năm nay sẽ để lại nhiều kỷ niệm và cảm xúc đẹp trong ký ức các bạn đoàn viên. Trong niềm vui, niềm tự hào khôn xiết ấy, tiếp nối truyền thống của các thế hệ thanh niên Việt Nam, của  sinh viên nhà trường, tuổi trẻ trường Đại học Thủy Lợi nguyện không ngừng phấn đấu, nêu cao tinh thần xung kích, tình nguyện, thi đua học tập, rèn luyện tốt, xứng đáng với niềm tin của tổ chức Đoàn, của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường, với phương châm  “Rèn đức, luyện tài, đoàn kết, sáng tạo, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
     
    Thùy Khánh
    Một số hình ảnh của Lễ kỷ niệm:
     
     
     
     
     
  • Gặp mặt và đối thoại sinh viên năm học 2012-2013

     

    Ngày 23/3/2013 vừa qua, tại hội trường T45, trường Đại học Thủy Lợi đã tổ chức gặp mặt và đối thoại sinh viên năm học 2012-2013. Về dự với chương trình có sự hiện diện của PGS.TS Lê Đình Thành- Phó Hiệu trưởng nhà trường; cán bộ lãnh đạo các phòng, khoa, ban, trung tâm, giảng viên các bộ môn; đặc biệt sự có mặt của đông đảo sinh viên đại diện các chi Đoàn ngồi kín cả hai tầng hội trường T45 làm không khí đối thoại thêm phần sôi nổi, cuốn hút.

    Trong phần mở đầu, Th.s Đặng Hương Giang- Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên đã tổng hợp giải đáp  thắc mắc của sinh viên gửi về trên trang web của  trường, qua hệ thống email, diễn đàn…Tiếp đó là phần trao đổi trực tiếp của sinh viên với lãnh đạo nhà trường, các phòng khoa ban. Các vấn đề được tập trung đặt ra bàn luận nhiều nhất đó là quy chế xét cấp học bổng, điểm tích lũy, điểm rèn luyện, xét tốt nghiệp, quy định về việc không thi lại trong năm học tới, đặc biệt có nhiều câu hỏi liên quan đến chất lượng nước trong ký túc xá, an ninh khu ký túc K1,…Tuy nhiên câu hỏi còn tập trung ở những cá nhân riêng lẻ mà chưa thật sự có nhiều ý kiến mang tầm vĩ mô.

    Sau gần ba giờ đồng hồ làm việc tích cực, khẩn trương, cởi mở, nghiêm túc, dân chủ, gặp mặt đối thoại sinh viên năm học 2012-2013 đã giải quyết được trên 35 thắc mắc trực tiếp của sinh viên và nhiều câu hỏi khác được gửi về trước đó. PGS.TS Lê Đình Thành-Phó hiệu trưởng nhà trường đánh giá cao về tinh thần làm việc xây dựng của các phòng khoa ban, các bạn sinh viên. Qua những đóng góp của sinh viên nhà trường sẽ có những biện pháp hợp lý để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Bên cạnh đó thì mỗi bạn sinh viên cũng cần nâng cao ý thức tự giác, tinh thần học tập làm việc khoa học để xây dựng đời sống văn hóa học đường văn minh hiện đại.

    Chúng tôi cũng ghi nhận được nhiều phản hồi tích cực của sinh viên sau buổi đối thoại sinh viên. Các bạn phấn khởi chia sẻ khi ra về mà niềm vui vẫn còn long lanh trên những gương mặt trẻ: “có lẽ trường Đại học Thủy Lợi là ngôi trường duy nhất có chương trình tọa đàm trực tiếp giữa sinh viên với lãnh đạo nhà trường. Chúng mình có cảm giác như được tham gia vào một buổi chất vấn với quốc hội vậy. Rất tuyệt vời.”

    Thật vinh dự và tự hào khi được làm người con của mái trường Thủy Lợi anh hùng, giàu truyền thống. Chúng ta tin tưởng sự hợp tác đồng thuận giữa nhà trường và sinh viên sẽ là những nền tảng vững chắc thực hiện tốt chiến lược phát triển nhà trường.

    Thùy Khánh

  • Tưng bừng “Ngày hội tư vấn tuyển sinh – hướng nghiệp 2013”

    Phát biểu khai mạc ngày hội tư vấn tuyển sinh, ông Phạm Mạnh Hùng, thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo cho biết: “Bộ GD & ĐT đánh giá cao việc tổ chức chương trình tư vấn Tuyển sinh hướng nghiệp. Ngày 11/3, các trường THPT bắt đầu nhận hồ sơ đăng kí dự thi đại học, cao đẳng. Và ngày hôm nay, sau buổi tư vấn tốt nghiệp này, các em sẽ có thểm thông tin cần thiết, quan trọng để tự tin đăng kí dự thi vào trường, vào ngành học phù hợp nhất với năng lực của bản thân mà các em đam mê và xã hội thực sự có nhu cầu”.

    Ngày hội có gần 120 gian tư vấn của trên 80 trường ĐH, CĐ, trung cấp chuyên nghiệp, trường nghề và các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực giáo dục tham gia. Với nhiều hình thức, các hoạt động của ngày hội đã cung cấp thông tin về ngành đào tạo, hình thức tuyển sinh, việc làm sau khi ra trường, điểm chuẩn đầu vào cho đối tượng học sinh trung học phổ thông. Điểm khác biệt của ngày hội năm nay là ban tổ chức đã đặt thêm 4 khu tư vấn chuyên sâu về từng nhóm ngành, gỡ rối hướng nghiệp, tư vấn về tâm lý sức khỏe, giải đáp những thắc mắc và tư vấn cho thí sinh cũng như phụ huynh trước mùa thi. Các học sinh tham dự “Ngày hội tư vấn tuyển sinh – hướng nghiệp 2013” còn được thi trắc nghiệm kiến thức, trắc nghiệm ngành nghề với hệ thống 40 máy tính kết nối internet và được tặng đĩa Cẩm nang tuyển sinh điện tử.

    Hòa cùng không khí sôi động của Ngày hội Tuyển sinh, trường Đại học Thủy Lợi cũng tham gia vào chương trình với một gian hàng vô cùng độc đáo. Qua sự tư vấn, hỗ trợ nhiệt tình của các tình nguyện viên, các bậc phụ huynh và các em học sinh không chỉ đã có những cái nhìn chân thực, đầy đủ hơn về ngôi trường Thủy Lợi. Các hình ảnh giới thiệu về những hoạt động của nhà trường đã gây cho các em học sinh sự tò mò, thích thú. Đặc biệt hơn, các em còn được chụp ảnh kỷ niệm miễn phí hay giao lưu văn nghệ và nhận những món quà hanmade đáng yêu từ ban tổ chức. Sự đa dạng, phong phú của gian tư vấn đã mang đến một ngày hội tuyển sinh đầy màu sắc nhiều điều hữu ích cho phụ huynh và các bạn học sinh tới tham dự, giúp các em có thêm nhiều tham khảo để bước vào kì thi tháng 7 sắp tới. Đối với cá nhân những bạn học sinh đây là dịp để các em tìm hiểu thêm thông tin những trường đại học, những ngành nghề đào tạo để qua đó có được sự lựa chọn tốt nhất cho việc đăng kí thi đại học. Với nhiều bạn, đây cũng là dịp để các bạn biết nhiều hơn về ngôi trường đại học mà bản thân đã yêu thích từ lâu. Hy vọng cùng sự quan tâm đồng lòng của gia đình và toàn xã hội các em học sinh sẽ có những lựa chọn tốt nhất về con đường tương lai của mình. Chúc các em có một mùa thi thành công.

    Thùy Khánh
    Hình ảnh ngày hội tuyển sinh 2013

     
     
     

  • Bảng so sánh giữa Hiến pháp năm 1992 với dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

    Từ ngày 2/1/2013, dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 bắt đầu được đưa ra lấy ý kiến nhân dân. Thời gian lấy ý kiến sẽ kéo dài trong 3 tháng. Dự thảo Hiến pháp năm 1992 có những điểm sửa đổi cơ bản nào?

     
    Xem Bảng so sánh giữa Hiến pháp năm 1992 với dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 tại đây.
     
  • Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến của sinh viên về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

     

    Số: 156/KH-ĐHTL

     

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

     

    Hà Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2013

    KẾ HOẠCH

    Tổ chức lấy ý kiến của sinh viên về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

    Thực hiện Nghị quyết số 38/2012/QH13 của Quốc hội ngày 23/01/2012 và Quyết định 181/QĐ-BNN-PC ngày 30/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, về việc tổ chức lấy ý kiến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992;

    Thực hiện kế hoạch số 151/KH-ĐHTL ngày 23/02/2013 của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi về việc tổ chức lấy ý kiến Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nhà trường thông báo kế hoạch tổ chức lấy ý kiến của sinh viên trường về góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 như sau:

    I. Mục đích, yêu cầu

    1.Mục đích:

    Góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi đơn vị, cá nhân đối với việc sửa đổi Hiến pháp và thi hành Hiến pháp.

    2. Yêu cầu:

    Phải bám sát các định hướng, yêu cầu, nhiệm vụ, tiến độ quy định; phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng. Việc tổ chức lấy ý kiến phải được tiến hành rộng rãi, dân chủ, khoa học, công khai bằng hình thức phù hợp; tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên tham gia sửa đổi Hiến pháp năm 1992; phải được tập hợp đầy đủ, chính xác khách quan, trung thực.

    II. Nội dung lấy ý kiến

    Toàn bộ Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, mỗi cá nhân, tập thể lớp sinh viên có thể đóng góp ý kiến vào bất kỳ nội dung nào.

    III. Kế hoạch  thực hiện

    1. Ngày 01/3/2013 tại HT-T45 (từ 14h00 đến 17h00):

    Nhà trường tổ chức Hội nghị Phổ biến nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cho cán bộ, giảng viên và sinh viên thuộc BCH Đoàn Thanh niên, BCH Hội sinh viên, BCH Liên chi, Ban cán sự lớp, BCH Chi đoàn.

    2. Ngày 02/3/2013 đến ngày 03/3/2013 (tại buổi họp lớp sinh viên tháng 3/2013):

      BCS lớp kết hợp với BCH Chi đoàn chủ trì phổ biến nội dung, tổ chức lấy ý kiến và tổng hợp ý kiến góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cho sinh viên trong lớp.

    – Tài liệu Hướng dẫn tổ chức lấy ý kiến Dự thảo sửa đổi hiến pháp tại đường link:

    http://www.wru.edu.vn/Portals/0/tes/TAILIEUHUONGDANLAYYKIENVEDUTAHOSUADOIHIENPHAP1992.pdf

    – Toàn văn nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tại đường link:

    http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU_COBAN/Attachments/887/Ban_so_sanh_HP_92_va_Du_thao

    3. Trước ngày 07/3/2013:

    Lớp trưởng các lớp nộp bản tổng hợp ý kiến góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của sinh viên trong lớp về khoa chủ quản hoặc về Ban ĐT & QLSV (với sinh viên tại CS2) hoặc về phòng Đào tạo, viện Miền Trung (với sinh viên học tại Viện ĐT & KHƯD miền Trung)

    4. Trước ngày 09/3/2013:

    Các khoa, Cơ sở 2, Viện Miền Trung gửi bản tổng hợp ý kiến góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của các lớp sinh viên thuộc khoa về phòng CTCT & Quản lý sinh viên.

    5. Trước ngày 12/3/2013:

    Phòng CTCT & Quản lý sinh viên tổng hợp ý kiến góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của các lớp sinh viên trong toàn trường và nộp về phòng Hành chính tổng hợp.

    Nhà trường yêu cầu các lớp triển khai thực hiện theo đúng nội dung kế hoạch trên.

     

    Nơi nhận:

    – ĐU, BGH (để b/c)

    – ĐTN, HSV, Các khoa, CS2, Viện Miền Trung;

    – Các lớp trong toàn trường;

    – Lưu: VT, CTCT&QLSV.

    KT.HIỆU TRƯỞNG

    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

     

    (Đã ký)

     

    GS.TS Phạm Ngọc Quý