Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Thông báo về việc đăng ký học lại lớp riêng kỳ I năm học 2007-2008







    BỘ NN VÀ PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC
    THỦY LỢI


    Số:   1094    TB/CTCT&QLSV


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Hà nội, ngày 18 tháng 9 năm 2007





    THÔNG BÁO


    “V/v đăng ký học lại lớp riêng  kỳ I năm học 2007-2008”


    Học kỳ I năm học 2007-2008 Nhà trường chủ yếu cho những sinh viên trong diện bắt buộc phải học lại (môn học có điểm 00) được đăng ký học lại với các lớp Khoá sau có cùng chương trình. Tuy nhiên, trong điều kiện thực tế còn một số sinh viên chưa đủ điều điều kiện dự thi kết thúc học phần của những môn học mà không học lại được do các lý do khách quan khác nhau. Do đó, Nhà trường tổ chức lớp học lại riêng cho các sinh viên chưa đủ điều kiện dự thi (môn học có điểm 00) một số môn học trong điều kiện cụ thể sau đây:


    – Môn học đó không còn trong chương trình đào tạo của các khoá sau;


    – Các khoá sau không còn lớp của ngành học đó (các lớp ngành NC);


    – Môn học bị trùng lịch học mà sinh viên không thể theo học được (kể cả môn học lệch chương trình);


    – Sinh viên chuẩn bị làm Đồ án tốt nghiệp chưa kịp đăng ký học lại với các lớp khoá sau.


    Kế hoạch triển khai như sau:


    1.    Sinh viên viết đơn tự nguyện xin học lại lớp riêng và đăng ký tại Bộ phận tư vấn sinh viên – Phòng CTCT và QLSV từ ngày 20/9/2007 đến 5/10/2007.


    2.    Kinh phí học lại do sinh viên đóng góp đủ để chi phí cho lớp học với mức thanh toán cho Giáo viên giảng dạy ngoài giờ 30.000 đồng/ 1tiết. Khi sinh viên đăng ký, Phòng CTCT và QLSV tạm thu mỗi sinh viên phần kinh phí đủ để chi cho lớp học, khi tổ chức lớp học ổn định, tuỳ theo số sinh viên của lớp để tính toán kinh phí cho từng sinh viên và trả lại tiền (nếu còn thừa).


    3.    Phòng CTCT và QLSV lập danh sách lớp học, gửi về các Bộ môn, làm việc cụ thể với Bộ môn để lên kế hoạch học lại và thông báo cho sinh viên.


    4.    Các Bộ môn cử Giáo viên giảng dạy theo nhu cầu của sinh viên.


    5.    Thời gian học lại và thi kết thúc môn học trước ngày 20/11/2007.


    Nhận được thông báo này, đề nghị các đơn vị thực hiện nghiêm túc.







    Nơi nhận:


    – ĐU,BGH,HĐT (b/c)


    – Các Khoa, các Bộ môn


    – Các lớp trong toàn trường


    – Bộ phận TV sinh viên   


    – Lưu VT, P7,P1,P3,P4


    KT. HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)



    PGS. TS Lê Đình Thành


  • Nghị quyết của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông







    CHÍNH PHỦ


    __________


    Số: 32/2007/NQ-CP


     


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    ______________________________________


    Hà Nội, ngày  29  tháng 6  năm 2007


     


    NGHỊ QUYẾT


    Về một số giải pháp cấp bách


    nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông


    ______


     


    Thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 24 tháng 02 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, từ năm 2003 đến năm 2005 đã thực hiện được mục tiêu kiềm chế tai nạn giao thông. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay tình hình trật tự an toàn giao thông lại có những diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông tăng so với những năm trước.


    Tai nạn giao thông, đặc biệt tai nạn giao thông đường bộ đã gây ra những thiệt hại to lớn về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân, đang là vấn đề xã hội hết sức bức xúc, nghiêm trọng đòi hỏi Nhà nước, Chính phủ phải tập trung hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các giải pháp đồng bộ để nhanh chóng kiềm chế tai nạn giao thông.


    Một trong những nguyên nhân dẫn tới tai nạn giao thông tăng trong thời gian qua là do sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông từ Trung ương đến địa phương chưa thật tập trung và chưa có trọng điểm, có lúc điều hành thiếu quyết liệt hoặc chưa liên tục; chính quyền cơ sở ở một số địa phương chưa quan tâm đúng mức, còn thờ ơ hoặc đứng ngoài cuộc; ý thức chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông của người tham gia giao thông kém, nhiều người vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông rất ngang nhiên mà không bị xử lý hoặc xử lý không nghiêm.


    Để kiềm chế gia tăng tai nạn giao thông, đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội, nhất là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương, chính quyền các cấp, các tổ chức, các đoàn thể và mỗi người tham gia giao thông đều phải có trách nhiệm tham gia bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Chỉ có như vậy thì các quy định của pháp luật trật tự an toàn giao thông mới đi vào cuộc sống một cách thiết thực.


    Trên cơ sở “Đề án bảo đảm trật tự an toàn giao thông Quốc gia đến năm 2010”, Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, các địa phương tập trung thực hiện quyết liệt và liên tục các giải pháp cấp bách sau đây:


    1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trật tự an toàn giao thông.


    a) Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật trật tự an toàn giao thông cho mọi đối tượng tham gia giao thông để mọi người tự giác chấp hành là biện pháp quan trọng hàng đầu; yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể, các cơ quan thông tin, báo chí phải đặc biệt quan tâm, thực hiện thường xuyên, kiên trì và liên tục.


    b) Thủ trưởng các cơ quan nhà nước, các tổ chức, các đoàn thể, các doanh nghiệp có trách nhiệm giáo dục cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các thành viên trong tổ chức của mình gương mẫu chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông; phải có chương trình thường xuyên phổ biến các quy định của pháp luật trật tự an toàn giao thông cho mọi thành viên của cơ quan, tổ chức, đơn vị; ban hành quy chế khen thưởng, biểu dương gương người tốt, việc tốt trong lĩnh vực bảo đảm trật tự an toàn giao thông và không xét các danh hiệu thi đua và khen thưởng với mọi hình thức đối với những người vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông.


    c) Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:


    – Ban hành chương trình giáo dục trật tự an toàn giao thông phù hợp trong nhà trường, tăng thời lượng giảng dạy chính khóa, các hoạt động ngoại khóa về trật tự an toàn giao thông. Thực hiện chương trình giảng dạy trật tự an toàn giao thông mới từ niên học 2008 – 2009 ở tất cả các cấp học;


    – Chỉ đạo Hiệu trưởng các trường phổ thông, các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên về chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông; thường xuyên nhắc nhở, đưa thông tin liên quan đến trật tự an toàn giao thông vào nội dung sinh hoạt đầu tuần, lễ chào cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đoàn, Đội; quy định việc đánh giá đạo đức đối với học sinh, sinh viên vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông. Từ ngày 01 tháng 9 năm 2007 kiên quyết xử lý nghiêm đối với học sinh, sinh viên chưa đủ tuổi, không có Giấy phép lái xe điều khiển mô tô, xe gắn máy; Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định trách nhiệm của Hiệu trưởng các trường không tổ chức thực hiện nghiêm túc những quy định trên.


    d) Bộ Công an ban hành quy định việc thông báo về cơ quan, trường học, phường, xã, tổ dân phố, cụm dân cư những cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và người vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông để kiểm điểm, giáo dục.


    đ) Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Thanh niên Việt Nam, Hội đồng Đội Trung ương quy định việc phổ biến nội dung pháp luật trật tự an toàn giao thông trong các buổi sinh hoạt thường kỳ, biểu dương người tốt, việc tốt, phê phán các cá nhân vi phạm; nêu cao hơn nữa vai trò của Đoàn, Hội, Đội trong việc giáo dục ý thức tự giác chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông.


    e) Bộ Văn hóa – Thông tin chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức, chỉ đạo và huy động các cơ quan thông tin, báo chí, tuyên truyền nêu cao vai trò, trách nhiệm, tích cực tham gia vào công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trật tự an toàn giao thông cho mọi tầng lớp nhân dân và thực hiện Nghị quyết này; cần chú ý cùng với việc phê phán những cá nhân, tổ chức, đơn vị vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông, còn phải nêu gương người tốt, việc tốt, tổ chức, đơn vị làm tốt công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông. Mỗi tờ báo phải có chuyên đề tuyên truyền về an toàn giao thông.


    2. Kiên quyết cưỡng chế thi hành pháp luật trật tự an toàn giao thông và nâng cao năng lực cho lực lượng cảnh sát, thanh tra giao thông vận tải.


    a) Đi đôi với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trật tự an toàn giao thông phải kiên quyết xử lý nghiêm những người vi phạm các quy định của pháp luật trật tự an toàn giao thông. Để tạo được chuyển biến tích cực về công tác này cần phải áp dụng ngay các biện pháp sau đây:


    – Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đình chỉ lưu hành ô tô đã hết niên hạn sử dụng, xe công nông, xe tự chế 3, 4 bánh. Trường hợp cố tình vi phạm sẽ bị tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ;


    – Thực hiện đình chỉ lưu hành các phương tiện cơ giới đường bộ vi phạm các quy định về bảo đảm trật tự an toàn giao thông bằng hình thức tạm giữ phương tiện hoặc tạm giữ đăng ký phương tiện, biển số đăng ký, sổ chứng nhận bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo thời hạn quy định của pháp luật hiện hành;


    – Từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, đình chỉ hoạt động các phương tiện thủy nội địa không đăng ký, không đăng kiểm an toàn kỹ thuật theo quy định của pháp luật;


    – Đình chỉ hoạt động các cơ sở lắp ráp, tự chế các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và đường thủy nội địa trái phép, nếu cố tình vi phạm có thể tịch thu trang thiết bị trực tiếp sản xuất của cơ sở đó;


    – Tạm giữ mô tô, xe gắn máy 30 ngày trở lên nếu người điều khiển vi phạm một trong các quy định sau: chở quá số người cho phép, đi vào đường ngược chiều, đường cấm, lạng lách đánh võng, vượt đèn đỏ, không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát giao thông; 


    – Tạm giữ mô tô, xe gắn máy 90 ngày không phân biệt sở hữu đối với trường hợp học sinh, sinh viên chưa đủ tuổi hoặc không có Giấy phép lái xe điều khiển mô tô, xe gắn máy.


    b) Lực lượng tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm phải xử lý công khai và đúng pháp luật, không phân biệt người vi phạm đi bộ, đi xe đạp, đi mô tô hay lái ô tô; người có thẩm quyền xử lý vi phạm mà cố tình không xử lý sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định.


    c) Bộ Công an đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; sớm trình Chính phủ Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị và đào tạo cho lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy”; từng bước áp dụng công nghệ mới trong tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm, giám sát việc chống tiêu cực trong lực lượng cảnh sát; bất kỳ cán bộ, chiến sĩ cảnh sát nào có hành vi tiêu cực đều bị xử lý kỷ luật, nếu hành vi nhận hối lộ, hành vi vi phạm pháp luật đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự; có chế độ khen thưởng kịp thời những cán bộ chiến sĩ mẫn cán và hoàn thành nhiệm vụ, kỷ luật thích đáng cán bộ, chiến sĩ thiếu tinh thần trách nhiệm.


    d) Trong quý I năm 2008, Bộ Giao thông vận tải trình Chính phủ Đề án “Tăng cường biên chế, trang thiết bị cho lực lượng Thanh tra giao thông vận tải”.


    3. Về kết cấu hạ tầng giao thông


    a) Giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:


    – Chỉ đạo các cơ quan chức năng tổ chức giải tỏa dứt điểm trước ngày 30 tháng 3 năm 2009 các trường hợp lấn chiếm đất hành lang an toàn giao thông đường bộ các quốc lộ trên địa bàn trong phạm vi đã được đền bù, xử lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phải chịu trách nhiệm về việc cưỡng chế, phá dỡ các công trình trái phép trên hành lang an toàn quốc lộ; xử lý kỷ luật Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nếu để tái lấn chiếm hành lang an toàn giao thông; những trường hợp cố tình vi phạm phải truy cứu trách nhiệm hình sự;


    – Trong năm 2008 hoàn thành việc quy hoạch hệ thống đường gom ngoài hành lang an toàn hệ thống quốc lộ và thỏa thuận với Bộ Giao thông vận tải các vị trí đấu nối vào hệ thống quốc lộ phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn đến năm 2010;


    – Tổ chức phân làn riêng cho mô tô, gắn máy trên những tuyến đường, tuyến phố đủ điều kiện để khắc phục tình trạng lưu thông hỗn hợp;


    – Chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp có biện pháp ngăn chặn việc mở đường ngang trái phép vượt qua đường sắt, đồng thời xóa bỏ khoảng 50% số đường ngang trái phép trong năm 2009; giải tỏa công trình vi phạm hoặc các vật cản khác làm hạn chế tầm nhìn của người lái tầu.


    b) Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm:


    – Tổ chức thống kê, phân loại và xử lý các đường đấu nối trái phép vào hệ thống quốc lộ; xoá bỏ khoảng 50% số đường đấu nối trái phép trước ngày 30 tháng 3 năm 2009; tiếp tục thực hiện các giải pháp khắc phục triệt để tình trạng đấu nối trái phép trước năm 2011;       


    – Hoàn thành việc cải tạo các “điểm đen” về tai nạn giao thông đã phát hiện trên hệ thống quốc lộ trước ngày 30 tháng 11 năm 2007. Từ năm 2008 những “điểm đen” về tai nạn giao thông được phát hiện phải xử lý xong trong khoảng 90 ngày kể từ ngày hoàn tất hồ sơ;


    – Hết quý II năm 2008 phải hoàn thành việc bổ sung đầy đủ các công trình phụ trợ phòng ngừa và hạn chế thiệt hại do tai nạn giao thông tại các khu vực đèo, dốc nguy hiểm trên hệ thống quốc lộ;


    – Rà soát, phân loại các điểm giao cắt đường bộ với đường sắt để thiết lập đường ngang có phòng vệ phù hợp với quy định hiện hành; xây dựng rào chắn ngăn cách quốc lộ với đường sắt ở những đoạn quốc lộ chạy sát đường sắt; đến năm 2010 xây dựng xong hàng rào ngăn cách đường sắt với các khu dân cư;


    – Bổ sung đầy đủ các biển báo hiệu, gờ giảm tốc và các điều kiện cảnh báo khác tại các điểm giao cắt đường bộ với đường sắt chưa đủ tiêu chuẩn xây dựng gác chắn hoặc cảnh báo tự động;


    – Quy định khi xây dựng mới quốc lộ, các tuyến phố mới phải tổ chức phân làn riêng cho xe mô tô, xe gắn máy, lắp đặt các hệ thống giám sát an toàn.


    c) Bộ Công an chỉ đạo việc xử lý nghiêm minh đối với cá nhân có hành vi xâm hại công trình giao thông, cản trở giao thông, nếu hành vi xâm hại công trình giao thông, cản trở giao thông có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.


    4. Tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng an toàn kỹ thuật của phương tiện giao thông vận tải.


    a) Bộ Công an phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư pháp quy định việc đăng ký, cấp biển số cho phương tiện cơ giới của thương binh và người khuyết tật; thu hồi biển số đăng ký của phương tiện giao thông đã hết niên hạn sử dụng.


    b) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương quản lý chặt chẽ các bến đò khách, đò chở khách trên địa bàn quản lý; kiên quyết đình chỉ hoạt động các bến đò, các đò không đủ tiêu chuẩn an toàn, thiếu trang bị cứu sinh theo quy định. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn để xẩy ra tai nạn giao thông do bến đò hoặc đò không đủ các điều kiện an toàn sẽ bị xử lý kỷ luật, nếu tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị cách chức, bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.  


    c) Bộ Tài chính xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển vận tải khách công cộng bằng xe buýt; nghiên cứu việc tăng lệ phí trước bạ, tăng lệ phí đăng ký mô tô và xe gắn máy ở các thành phố lớn.


    d) Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh quy định việc cấm mô tô và xe gắn máy lưu thông trên một số tuyến đường trong khoảng thời gian phù hợp nhằm giảm ùn tắc giao thông đô thị.


    đ) Bộ Giao thông vận tải xây dựng các giải pháp tăng cường chất lượng công tác kiểm định an toàn kỹ thuật đối với phương tiện cơ giới đường bộ và đường thủy, chú trọng việc nâng cao chất lượng kỹ thuật của phương tiện thuỷ nội địa đang lưu hành; chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra các tiêu chuẩn an toàn bay nhằm hạn chế phát sinh các vụ việc gây ra chậm chuyến bay hoặc phải huỷ chuyến bay.


    5. Giải pháp đối với người điều khiển phương tiện.


    a)  Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thường xuyên kiểm tra chất lượng đào tạo lái xe cơ giới đường bộ; thu hồi có thời hạn hoặc thu hồi vĩnh viễn Giấy phép những cơ sở đào tạo lái xe không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định hoặc bị phát hiện có tiêu cực, cắt giảm chương trình đào tạo lái xe.


    b) Bộ Giao thông vận tải ban hành các quy định nhằm nâng cao chất lượng công tác sát hạch, hoàn thiện các thủ tục cấp, đổi Giấy phép lái xe theo hướng đơn giản về thủ tục nhưng vẫn quản lý chặt chẽ; kiên quyết xử lý nghiêm khắc các hành vi tiêu cực, có thể xử lý đến mức buộc thôi việc những cán bộ, công chức có hành vi tiêu cực trong lĩnh vực này, lãnh đạo của đơn vị có hành vi tiêu cực phải chịu trách nhiệm liên đới; quy định về tiêu chuẩn tay nghề đối với lái xe khách chuyên nghiệp, lái taxi, lái xe tải đường dài.


    c) Thực hiện việc bắt buộc học và kiểm tra lại Luật Giao thông đường bộ trước khi nhận lại Giấy phép lái xe đối với những lái xe vi phạm pháp luật trật tự an toàn giao thông đến mức bị tạm giữ Giấy phép lái xe từ 60 ngày trở lên; thu hồi không thời hạn Giấy phép lái xe của lái xe khách chuyên nghiệp các loại D, E để xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng hoặc chở khách quá 100% số khách quy định.


    d) Thu hồi không thời hạn Giấy phép lái xe của những lái xe nghiện ma túy.


    đ) Trong năm 2007, Bộ Y tế bổ sung, sửa đổi quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người điều khiển từng loại phương tiện cơ giới, quy định hình thức kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ sức khỏe của lái xe thay thế các quy định hiện hành không còn phù hợp.


    6. Giải pháp giảm thiểu thiệt hại do tai nạn giao thông


    a) Từ ngày 15 tháng 9 năm 2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên các quốc lộ bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm.


    b) Từ ngày 15 tháng 12 năm 2007, người đi mô tô, xe gắn máy trên tất cả các tuyến đường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm.


    c) Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định hướng dẫn tổ chức hoạt động cứu hộ, cứu nạn giao thông đường bộ bảo đảm ứng cứu kịp thời, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả do tai nạn giao thông gây ra.


    d) Bộ Y tế ban hành quy định việc thành lập các trạm cấp cứu tai nạn giao thông trên các quốc lộ trọng điểm với khoảng cách giữa các trạm hợp lý và theo quy định; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến kiến thức cấp cứu tai nạn giao thông cho các đối tượng liên quan đến cứu hộ, cứu nạn và giải quyết tai nạn giao thông.


    đ) Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định mức phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, có tăng hoặc giảm tuỳ theo mức độ tai nạn của mỗi chủ xe nhằm khuyến khích việc ngăn ngừa tai nạn đối với chủ xe và lái xe; đồng thời tiếp tục đổi mới các thủ tục tham gia bảo hiểm và điều kiện bồi thường thiệt hại; nghiên cứu nâng mức phí bảo hiểm bắt buộc để mức bồi thường bảo hiểm có thể bù đắp được thiệt hại; hướng dẫn sử dụng một phần kinh phí từ nguồn bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới để đầu tư lại cho công tác phòng ngừa tai nạn giao thông.


    e) Bộ Công an phối hợp với Bộ Tài chính quy định chế độ phối hợp giữa cơ quan công an với cơ quan bảo hiểm công tác giám sát và kiểm tra các chủ xe cơ giới; xử lý nghiêm các doanh nghiệp bảo hiểm, chủ xe vi phạm chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.


    7. Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước


    a) Trong năm 2007, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia trình Chính phủ phương án kiện toàn Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia và Ban An toàn giao thông ở địa phương theo hướng nâng cao trách nhiệm, quyền hạn trong tổ chức phối hợp và tính chuyên nghiệp của bộ máy này.


    b) Bộ Giao thông vận tải xây dựng và trình Chính phủ trong năm 2007 phương án kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về an toàn giao thông của Bộ và các Sở Giao thông vận tải (Sở Giao thông công chính).


    8. Tổ chức thực hiện


    a) Chính phủ đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo các cấp ủy Đảng kiểm điểm việc thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 24 tháng 02 năm 2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong thời gian qua, xây dựng kế hoạch lãnh đạo của các cấp ủy Đảng mạnh mẽ hơn đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong thời gian tới.


    b) Các Bộ, ngành, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch hành động cụ thể của Bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư, các giải pháp quy định tại Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP và Nghị quyết này của Chính phủ.


    c) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động tổ chức thực hiện và phối hợp chặt chẽ với các Bộ trong việc triển khai các giải pháp mạnh nêu trên.


    d) Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và các địa phương thực hiện Đề án bảo đảm trật tự an toàn giao thông quốc gia đến năm 2010, các Nghị quyết của Chính phủ về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; hàng quý tổ chức giao ban với các Bộ, các địa phương theo khu vực nhằm kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết này ở từng ngành, từng địa phương và báo cáo Thủ tướng Chính phủ những kết quả đạt được.


    9. Hiệu lực thi hành: Nghị quyết này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo./.


     


    TM. CHÍNH PHỦ


     THỦ TƯỚNG 


    (đã ký)


    Nguyễn Tấn Dũng


  • Quyết định v/v Thành lập Hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007

    Quyết định v/v Thành lập Hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007

    Theo quyết định số 357 ĐHTL-KHCN/QĐ ngày 14/5/2007 của Trường Đại học Thuỷ lợi


     


    QUYẾT ĐỊNH CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    V/v: Thành lập Hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007
     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI



    –          Căn cứ quyết định số 351-QĐ/TL ngày 26/4/1962 của Bộ Thuỷ lợi cũ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trường Đại học Thuỷ lợi;


    –          Căn cứ quyết định số 901-QĐ/TC ngày 04/8/1989 của Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) qui định chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy NCKH-PVXS trong các trường đại học;


    –          Xét yêu cầu công tác và khả năng cán bộ;


    –          Theo đề nghị của các ông Trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Trưởng phòng TCCB,



    QUYẾT ĐỊNH 


    Điều 1:  Nay thành lập các hội đồng đánh giá đề tài NCKH sinh viên cấp Khoa năm 2007 gồm các ông, bà có tên trong danh sách kèm theo. Quyết định này thay cho quyết định 323 ĐHTL – KHCN/ QĐ ký ngày 4/ 5/ 2007.


    Điều 2: Các hội đồng có nhiệm vụ tổ chức cho sinh viên bảo vệ đề tài, đánh giá các đề tài NCKH của sinh viên và gửi kết quả đánh giá về Hội đồng đánh giá NCKHSV cấp Trường (qua P9) vào sáng ngày 16/5/2007.


    Điều 3: Các ông (bà) Trưởng phòng Khoa học Công nghệ, phòng Tổ chức Cán bộ, phòng Tài vụ và các ông, bà có tên trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.



    KT HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    PGS.TS Vũ Thanh Te


     


     DANH SÁCH THÀNH VIÊN CÁC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ CẤP KHOA


    HỘI NGHỊ SVNCKH – NĂM HỌC 2006 – 2007




  • Chương trình Âm vang chuông vàng

    Chương trình Âm vang chuông vàng

    Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, sự chỉ đạo và ủy thác của Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên trường Đại học Thủy lợi, CLB Tin học SV (SIC) đứng ra tổ chức cuộc thi ÂM VANG CHUÔNG VÀNG.


    1, Lý do tổ chức:


    Do sau khi cuộc thi Rung Chuông vàng được tổ chức tại nhà thi đấu Quận Hai Bà Trưng do đài truyền hình VTV3 tổ chức, có một lượng rất ít SV được tham dự. Cùng với nhu cầu của các bạn SV có mong muốn được tham gia một chương trình tương tự như vậy là rất lớn nên chúng tôi quyết định tổ chức chương trình ÂM VANG CHUÔNG VÀNG.


    2, Tên gọi chương trình:


    Chương trình có tên gọi chính thức là ÂM VANG CHUÔNG VÀNG (tên cũ là “Hậu rung chuông vàng”)


    3, Thời gian và địa điểm tổ chức:


    – Địa điểm: Hội trường T45 – trường ĐH Thủy lợi.


    – Thời gian: + Tổng duyệt: 18h00 ngày 12 tháng 4 năm 2007.


                        + Chính thức:  19h30 ngày 13 tháng 4 năm 2007.


    4, Đối tượng dự thi: Là các sinh viên thỏa mãn các điều kiện sau:


    – Không là thành viên Ban Tổ Chức (BTC) hoặc Cộng tác viên (CTV).


    – Không là Sinh viên năm cuối.


    – Không phải là một trong số 100SV đã tham gia dự thi chính thức tại trường quay.


    – Mỗi lớp chỉ được cử 01 SV tham gia. (Vì lý do sàn đấu tại hội trường T45 không đủ lớn cho nhiều SV tham gia thi đấu. Theo dự kiến có 70 thí sinh tham gia cũng đã khá chật chội). Tuy nhiên, BTC cũng thông báo cho các lớp không có SV đăng kí tham gia thi đấu theo đúng lịch đã được BTC quy định sẽ được chuyển suất tham gia sang cho một lớp khác cùng khoa với lớp từ bỏ quyền đấu. <Lớp được chuyển suất sẽ có hơn 01SV tham gia thi đấu>.


    5, Về cơ cấu giải thưởng:


    – 01 giải nhất cho 01 thí sinh hoặc 01 nhóm thí sinh trả lời được câu hỏi cuối cùng, bao gồm:


                + 01 học bổng toàn phần của Aptech HàNội cho một module.


                + 01 học bổng toàn phần của Trung tâm London Education Center.


                + 01 giải thưởng tiền mặt, cơ cấu tùy vào câu hỏi cuối cùng trả lời được như sau:


    ·         Dưới câu 20: 500.000VNĐ.


    ·         Từ câu 20 đến câu 29: 1.000.000 VNĐ.


    ·         Câu thứ 30: 1.500.000 VNĐ


    – Nhiều phần quà thú vị và có giá trị được trao tặng cho các bạn có mặt trong hội trường khi trả lời được các câu hỏi do BTC đưa ra.


    6, Về kinh phí tổ chức: (bao gồm công việc chuẩn bị và giải thưởng).


    +, Sự ủng hộ của Ban giám hiệu và Đoàn Thanh niên trường ĐH Thủy Lợi


    +, Trích quỹ CLB Tin học Sinh viên.


    +, Sự ủng hộ của các nhà tài trợ (Hà Nội – Aptech, Anh ngữ London).


    +, Sự ủng hộ của các thầy cô giáo trong trường có quan tâm.


    +, Sự ủng hộ (tham gia trực tiếp chương trình) của các nhóm nhạc và các thày cô giáo.


    7, Thời hạn đăng kí: Các SV đăng kí theo mẫu có sẵn trong thông báo gửi về các lớp có xác nhận của CLB Tin học SV và gửi về phòng Multi Media – Tầng 2 thư viện trường. Hạn cuối là 16h00 ngày 06 tháng 04 năm 2007.


    Rất mong các thầy cô giáo cùng các bạn Sinh viên tới tham dự chương trình để chương trình tổ chức thành công!


     


    Thay mặt Ban tổ chức


    Chủ tịch Hội SV


    Dương Trọng Huy

  • Valentine ngọt ngào

    Valentine ngọt ngào

    Truyền thuyết về lễ Valentine







      Vào tháng 2 hàng năm, kẹo, hoa và quà sẽ là những vật phẩm thường được trao và nhận giữa những người yêu nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới trong ngày lễ thánh Valentine. Câu chuyên về vị thánh được đặt tên cho ngày lễ này cũng như sự ra đời của nó là một điều bí ẩn được lưu truyền thành nhiều truyền thuyết khác nhau.


    Tuy vậy, dù sự thật có là thế nào đi nữa thì những người yêu nhau trên thế giới vẫn xem tháng 2 là tháng của yêu thương và ngày 14-2 hàng năm là ngày dành riêng cho những đôi lứađangyêu.
    Ngày nay, Giáo hội Thiên chúa đã công nhận ít nhất là 3 vị thánh khác nhau có tên là Valentine hay Valentinus, tất cả những vị này đều là những người đã tử vì đạo.
    Một truyền thuyết cho rằng Valentine là một linh mục đã phụng sự trong thế kỉ thứ ba ở Rome (La mã cổ đại). Khi hoàng đế Claudius II quyết định những người đàn ông tốt hơn là nên đi lính và ra chiến trường để phục vụ chiến tranh, thay vì ở nhà với vợ và chăm lo cho gia đình, ông ta đã ban hành đạo luật cấm các chàng trai trẻ kết hôn nhằm bổ sung họ vào quân đội.
    Valetine đã nhận ra sự bất công trong đạo luật này, ông bất chấp luật và vẫn tiếp tục làm lễ thánh, chứng nhận sự thành hôn cho các cặp tình nhân trong bí mật. Khi hoạt động của Valentine bị phát hiện, Claudius đã ra lệnh bắt giam và kết liễu cuộc sống của ông.
    Một truyền thuyết khác cho rằng Valentine đã bị giết khi cố gắng giúp những người Cơ đốc giáo giải thoát cho một số tù nhân La mã đang bị tra tấn và đánh đập tàn nhẫn.
    Truyền thuyết thứ 3 lại cho rằng Valentine là người đã gửi chiếc thiệp “Valentine” đầu tiên. Trong thời gian bị bắt giam, người ta tin rằng Valentine đã yêu một cô gái trẻ – người đã chăm sóc cho ông trong suốt thời gian bị giam cầm. Nhưng, thật oái oăm thay cô gái ấy lại là con gái của người đã bắt giam ông. Trước khi bị xử tử, ông đã viết cho cô một lá thư và ký tên “From your Valentine” (người gửi: “Valentine của em”), và đó cũng là cụm từ vẫn được sử dụng cho đến tận ngày nay thay cho chữ ký hay tên của người gửi dưới mỗi tấm thiệp Valentine.




        Dù sự thật về ngày lễ vẫn chưa rõ ràng, các truyền thuyết vẫn nhấn mạnh và cho thấy Valentine là một con người có lòng nhân ái, một anh hùng, một biểu trưng cho tình yêu và sự lãng mạn. Giáo hoàng Gelasius đãn chính thức công nhận ngày 14-2 Dương lịch hàng năm là ngày kỷ niệm lễ thánh Valentine vào năm 498 sau Công nguyên. Và, cũng không có gì ngạc nhiên khi ở thời Trung Cổ, Valentine là một trong những vị thánh nổi tiếng nhất ở Anh và Pháp.
    Trong khi một số người tin rằng lễ Valentine được tổ chức vào giữa tháng 2 hàng năm là để tưởng nhớ và kỉ niệm ngày mất của Valentine, một số người khác lại cho rằng Giáo hội Thiên chúa tổ chức ngày lễ này nhằm “Cơ đốc hóa” buổi lễ Lupercalia (ngày hội tế thần chăn nuôi La mã) của những người ngoại đạo.


    Trong thời La mã cổ đại, tháng 2 theo thông lệ thường là tháng bắt đầu của mùa xuân và là thời gian thích hợp để rửa tội. Theo nghi lễ, nhà cửa sẽ được quét dọn sạch sẽ và sau đó rải một ít muối và bột lúa mì spenta trong nhà. Lễ Lupercalia thường bắt đầu vào ngày 15-2 dương lịch để tưởng nhớ và tri ân Faunus – vị thần coi sóc mùa màng cũng như Romulus và Remus – những người sáng lập Lamã cổ đại.
    Sau buổi lễ, những thiếu nữ trẻ trong thành phố sẽ viết tên mình lên giấy và cho vào một chiếc bình lớn. Tất cả các chàng trai chưa vợ sẽ bốc thăm từ chiếc bình để chọn ra người phụ nữ cho mình. Và sau đó hai người họ sẽ là một cặp trong suốt năm và kết quả của mối tình này thường là một đám cưới hạnh phúc.

    Sự ra đời của những tấm thiệp Valentine








        Bức thư tình Valentine cổ xưa nhất được biết đến là bài thơ được viết năm 1415 bởi công tước Charles của xứ Orleans – Anh. Bài thơ này là một phần trong lá thư viết tay gửi đến vợ của ông khi ông đang bị giam cầm ở Tower of London. Lá thư này hiện vẫn còn được lưu giữ ở bảo tàng quốc gia Anh. Vài năm sau, người ta đồn rằng nhà vua Henry V đã thuê một người tên là John Lydgate để soạn thảo một thư ngắn Valentine gửi đến nàng Catherine xứ Valois.
    Ở Anh, lễ Valentine bắt đầu phổ biến và được tổ chức rộng rãi vào thế kỉ 17. Thời gian diễn ra lễ cũng là thời điểm bắt đầu mùa giao phối của các loài chim, do đó, người ta đã thêm ý nghĩa yêu thương và lãng mạn cho buổi lễ.
    Đến giữa thế kỉ 18, giữa bạn bè và những người đang yêu thường trao đổi cho nhau những kỉ vật, biểu trưng nhỏ hay những lá thư viết tay nhằm bày tỏ tình yêu .
    Cuối thế kỉ 18, khi công nghệ in ấn ra đời, những lá thư được thay thế bằng những tấm thiệp in sẵn. Giá bưu phí rẻ cùng tính tiện lợi của loại thiệp này dần nâng cao mức độ phổ biến của những tấm thiệp chúc mừng lễ Valentine.


    Người Mỹ cũng bắt đầu việc trao đổi thiệp Valentine làm bằng tay cho nhau từ những năm 1700. Đến năm 1840, Esther A. Howland bắt đầu cho xuất xưởng những chiếc thiệp được sản xuất hàng loạt ở Mỹ và ông được xem là cha đẻ của những tấm thiệp in đầy màu sắc ngày nay..
    Theo hiệp hội sản xuất thiệp thế giới, hơn 1 tỉ tấm thiệp Valentine được gửi đi hàng năm, đã làm cho ngày lễ này trở thành ngày lễ mà mọi người gửi thiệp cho nhau nhiều thứ 2 trong năm (chỉ sau Lễ Giáng sinh). Khoảng 85% món quà Valentine được mua bởi phái nữ và nam giới chúng ta hãy chuẩn bị sẵn tinh thần để được nhận quà và yêu thương nhé!


     


    N.V.A sưu tầm và biên tập

  • Chuyện kể mùa Giáng sinh

    Chuyện kể mùa Giáng sinh

    Không khí của lễ Giáng sinh đang tràn ngập trên khắp phố phường, trong cái giá lạnh của mùa đông, bạn hãy làm ấm nó lên bằng những điều ngọt ngào mà bạn có thể dành cho gia đình, bạn bè, những người thân yêu khác…..Còn chúng tôi, bằng lời chúc gửi tới các bạn – những người thân thiết của Website Đại học Thuỷ Lợi – một Giáng sinh an lành, một năm mới thịnh vượng thay cho điều muốn nói.


    Bạn đón bao nhiêu Giáng sinh rồi? Đã bao giờ tự hỏi Ông Già Noel đến từ đâu? Tại sao cây Thông lại xuất hiện trong lễ Giáng sinh mà không phải là một loại cây khác?….Những câu chuyện dưới đây phần nào  giải thích giúp bạn những thắc mắc ấy….





    1. Bài hát Giáng sinh:


    Mùa Giáng sinh năm 1818 tại một ngôi nhà thờ nhỏ thuộc làng Oberndorf, nằm giữa những rặng thông quanh năm tuyết phủ ở miền Tyrol nước Áo. Đây là một ngôi làng yên tĩnh trầm lặng, trong đó có linh mục Mohn, ngoài việc giảng đạo, ông còn là một thi sĩ, thường sáng tác những bài thơ về tôn giáo và được người bạn thân vốn là giáo viên trong làng tên Franz Gruber phổ nhạc.. Năm đó, cũng như bao năm qua, ngày Giáng sinh lại về, trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nhưng thật buồn vì đã vắng tiếng phong cầm, vì cây đàn quá cũ nên phải đem sữa chữa. Để làm bớt nỗi cô tịch trong đêm thánh vô cùng, Cha và những con chiên trong làng đã hợp ca bài hát: ”Silent night, holy night, all is calm,all is bright.. do chính ngài vừa sáng tác và Franz phổ nhạc. Cũng từ đó,bài hát lan truyền khắp nước Áo và những miền lân cận rồi khắp hoàn cầu trong đêm Giáng sinh, với đủ mọi ngôn ngữ của con người. Tại Châu Âu, khi chờ đón lễ nửa đêm,  ngồi nơi ánh lửa bập bùng, quanh quanh bông tuyết rơi trắng lạnh, các cụ thường kể cho con cháu nghe câu chuyện cảm động về bài hát giáng sinh trên cũng như tác giả đã sáng tác, cho mãi tới năm 1830, mới được nhà vua nước Saxe cũng là một nhạc sĩ tài danh, đưa ra ánh sáng.



    <a href="http://www.macromedia.com/shockwave/download/index.cgi?P1_Prod_Version=ShockwaveFlash" target="_blank" rel="noopener">Get<br /> Macromedia Flash Player NOW!</a>






    Hãy cùng nghe bài hát Mừng Giáng sinh



    2. Cây Thông:









        Theo huyền thoại thì vào một đêm đông giá lạnh nơi khu rừng cô tịch, có một chú bé vào xin trọ trong một túp lều nghèo nàn của vợ chồng bác tiều phu và được tiếp đãi tử tế. Chú bé đó là Chúa Jesus hài đồng, cảm tạ vợ chồng bác tiều phu tốt bụng, chú bé đã đền ơn bằng cách hóa phép biến cành thông có đầy các trái vàng bạc.Đây cũng là cây thông đầu tiên trong mùa Giáng sinh… Cây Noel còn được gọi là cây Sapin, xuất xứ từ Bắc Âu, được quân Thụy Điển mang vào Đức, trong cuộc chiến Guerre de Trentes Ans (30 năm). Đến thế kỷ thứ XIX, thông vượt biển Manche vào Anh quốc rồi theo công chúa nước này là Mercklembourg tới Pháp khi theo chồng là công tước Orléans. Từ đó về sau, cây được mọi người trang hoàng với đèn hoa và các đồ vật đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh.



    3. Ông già Noel :  



         







    Cách đây hơn 100 năm, tờ nhật báo The New York Sun, đã đăng bài trả lời câu hỏi của cô bé Virginia “ ông già Noel có thật hay không? “ trong đó có đoạn: ‘’…tất nhiên là ông già Noel có thật. Đó là một sự thật hiển nhiên như tình thương, lòng bác ái, sự thành kính không thể thiếu trên hành tinh chúng ta… ‘’, cũng kể từ đó bài viết này đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng.


    Theo truyền thuyết, giám mục thành Myra, sinh tại Thổ nhĩ Kỳ năm 279 sau tây lịch (STL), nổi tiếng vì những hoạt động bác ái, vì vậy đã đưọc phong thánh bổn mạng cho trẻ em, vào thế kỷ IX (STL). Từ đó tại các quốc gia Anh,Mỹ gọi là Santa Clauss, xuất phát từ St. Nicholas Sinterklass. Lúc sinh thời, ngài hay bố thí tiền bạc cho trẻ con nghèo, có một lần đã bỏ những đồng tiền vàng từ ống khói xuống các đôi bít tất của ba cô gái nghèo, treo bên lò sưởi.. khởi đầu tập tục trẻ con treo tất trên đầu giường, để nhận quà của ông già Noel trong đêm Giáng sinh.


    Vào đêm 24 tháng 12, ông già Noel ngồi trên xe chở đầy quà, do đàn tuần lộc kéo, bay trên trời tới từng nhà phát quà cho trẻ con, ông mang theo một gói quà lớn, theo đường ống khói vào nhà. Vì thế, các em đều đi ngủ sớm trong đêm lễ, với hy vọng thức dậy sẽ có đầy quà trong đôi bít tất treo trước giường.



    4. Gà Tây :









        Gà Tây còn được gọi là gà lôi, turkey hay Dinde, được các nhà thám hiểm từ tân thế giới (Châu Mỹ) mang vào Âu Châu từ thế kỷ XVI. Năm 1521 Hernan Cortes chiếm Mễ tây Cơ và lấy giống gà này mang về Tây ban Nha.Người Pháp gọi gà mái tây là Poule d’Inde hay là Dinde, còn gà trống là Dindon vì lúc đó Âu Châu lầm tưởng Tân thế giới là Ấn Độ.Tại Pháp, gà mái tây lần đầu được đưa vào bàn tiệc cưới của vua Charles XIX vào năm 1570. Từ đó, gà tây được coi như món ăn của Hoàng gia và giới thượng lưu, trong các ngày lễ, tiệc và đặc biệt là bữa ăn tối đêm Noel. Ngày nay gà tây là món ăn thông dụng, nhất là tại Hoa Kỳ. Gà tây còn được dùng trong lễ Tạ ơn theo truyền thuyết vào năm 1621 khi cha Pilgrim, đi tàu Mayflower tới vùng Tân Anh Cát Lợi. Trong đêm tổ chức Lễ tạ ơn, thổ dân tại đây đã tặng ông một con gà tây. Tập tục này được giữ tới ngày nay và trở thành món truyền thống, không thể thiếu được trong bữa tiệc đêm Noel. Ngoài ra còn phải kể tới chiếc bánh Buche de Noel có hình khúc củi, xuất xứ tại các gia đình Âu Châu thời trung cổ, đã dùng củi đốt suốt đêm trong lò sười, để chống lại băng giá mùa đông và cầu phước lành. Bánh trở thành món ngọt trong tiệc Giáng sinh từ sau thế chiến II, làm bắng bột, đường, bơ, kem và chocolat.


    ……………………


    Mong rằng trong đêm Giáng sinh an lành, những lời nguyện cầu của bạn sẽ thành sự thực, và đừng quên dành cho những người bạn từng yêu thương, đã yêu thương và mãi mãi yêu thương lời nguyện cầu tốt đẹp nhất.










    WRU sưu tầm và biên tập

  • Giải thưởng Loa thành năm 2006

    Giải thưởng Loa thành năm 2006

    Giải thưởng Loa Thành là giải thưởng thường niên dành cho sinh viên có đồ án tốt nghiệp xuất sắc ngành Kiến trúc – Xây dựng do Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Trung ương Đoàn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng phối hợp tổ chức. Đây là giải thưởng có ý nghĩa ghi nhận những nỗ lực của sinh viên trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp trên những tiêu chí là sự sáng tạo, ứng dụng những khoa học kỹ thuật mới và công nghệ hiện đại vào trong đồ án tốt nghiệp. Cũng như mọi năm, năm nay Hội đồng giải thưởng Loa Thành đã quyết định tặng giải thưởng Loa Thành cho 05 giải nhất; 22 giải Nhì; 26 giải Ba và 11 giải Khuyến khích cho các đồ ắn tốt nghiệp xuất sắc của sinh viên ngành Kiến trúc – Xây dựng khóa 2002-2006 (theo quyết định số 09-HĐGTLT2006)


    Trường Đại học Thủy lợi có 4 sinh viên đạt giải nhì và 6 sinh viên đạt giải ba:






































































    GIẢI NHẤT: Đạt 0/5 giải


    GIẢI NHÌ: Đạt 4/22 giải


    1


    Nguyễn Thiện Dũng


    Kinh tế Thủy lợi


    Áp dụng các phương pháp tính toán giá trị kinh tế để xác định lợi ích phân bố tối ưu của một số hệ thống sử dụng nước đa mục tiêu ở Việt Nam


    Đào Văn Khiêm


    2


    Lê Phương Đông


    QH & QLHT C.Trình


    Thiết kế Trạm bơm tiêu Yên Sở, Hà Nội


    ThS. Lưu Văn Quân


    3


    Trần Trung Phương


    Công trình Thủy lợi


    Thiết kế công trình đầu mối hồ chứa Sông Bung 2 – Quảng Nam, Phương án IIB


    PGS. TS Nguyễn Chiến


    4


    Nguyễn Thanh Thủy


    Thủy văn – Môi  trường


    Nghiên cứu, khai thác, quản lý, dự báo về đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước dưới đất tỉnh Bắc Ninh


    PGS. TS. Vũ Minh Cát


    GIẢI BA: Đạt 6/26 giải


    1


    Lê Thái Bình


    Công trình Thủy lợi


    Thiết kế công trình đầu mối Hồ chứa Bản Uôn


    PGS. TS. Nguyễn Chiến


    2


    Trần Kim Châu


    Thủy Văn – Môi trường


    Ứng dụng mô hình tính toán để nghiên cứu bài toán phòng lũ cho sông Kone – Hà Thanh – Ô Tịch


    PGS. TS Lê Văn Nghinh


    3


    Nguyễn Thị Thu Hà


    Thủy Văn – Môi trường


    Nghiên cứu diễn biến mực nước mùa cạn và đề xuất một giải pháp cấp nước cho đồng bằng sông Hồng


    PGS. TS. Vũ Minh Cát


    4


    Nguyễn Thị Thu Hương


    Kinh tế Thủy lợi


    Quản lý và sử dụng tài nguyên nước trong ngành nông nghiệp – từ chính sách đến thực tiễn. Trường hợp nghiên cứu: Lưu vực sông Nhuệ


    PGS. TS. Phạm Hùng


    5


    Mai Anh Quang


    Công trình Thủy lợi


    Thiết kế hồ chứa Tả Trạch – Tỉnh Thừa Thiên Huế. Phương án IIB


    GS. TS. Nguyễn Văn Mạo


    6


    Bùi Ngọc Quyên


    Thủy văn – Môi trường


    Ứng dụng mô hình tính toán nghiên cứu lũ trên lưu vực sông Hoàng Long


    PGS. TS. Lê Văn Nghinh









































  • THÔNG BÁO
(V/v: Bảo lưu kết quả học tập của sinh viên từ năm học 2006 – 2007)

    THÔNG BÁO (V/v: Bảo lưu kết quả học tập của sinh viên từ năm học 2006 – 2007)







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    ——————–


    Số: 917 TB/ĐHTL-QLSV


    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—
    Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2006



    THÔNG BÁO


     


     


    Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Giám hiệu, Phòng CTCT & Quản lý sinh viên thông báo về việc bảo lưu kết quả học tập cho sinh viên từ năm học 2006 – 2007 như sau:


    1. Đối với sinh viên thuộc diện dừng học 1 năm vì lý do kết quả học tập thấp, sức khoẻ… :


    – Được bảo lưu những điểm đã thi đạt (nếu có nguyện vọng)


    – Được bảo lưu quá trình học tập: được phép thi lại những môn thi chưa đạt hoặc những môn đủ điều kiện dự thi nhưng chưa tham gia thi (điểm 0b lần thi đầu) với đề thi không tính đến điểm quá trình.


    2. Đối với sinh viên tham dự lại kỳ thi tuyển sinh để vào học ngành khác của trường Đại học Thuỷ lợi:


    – Được phép bảo lưu điểm đã đạt môn Giáo dục quốc phòng và môn Giáo dục thể chất (nếu có nguyện vọng): phải làm đơn và được sự đồng ý của Bộ môn, nộp tại phòng trực tiếp sinh viên – Phòng CTCT & Quản lý sinh viên trước khi môn học bắt đầu.


    – Đối với những môn học chính khoá: Phải tham gia học cùng với khoá đang theo học.

    Yêu cầu sinh viên và các đơn vị có liên quan thực hiện nghiêm túc theo đúng nội dung thông báo








    Nơi nhận:


    – BGH (để b/c)


    – Như kính gửi


    – Các lớp trong toàn trường


    – Trang Web trường


    – Lưu VT, P7



    TL. Hiệu trưởng


    TRƯỞNG PHÒNG CTCT VÀ QLSV


     


     Đã ký


     


     

    Th.S Dương Văn Bá


  • Kế hoạch thi xét tuyển bổ sung sinh viên vào lớp 46TNC năm học 2006 – 2007






    BỘ NN & PTNT
    Trường Đại học Thủy Lợi


    ——————


    Số: 742 ĐHTL/CTCT&QLSV-TB


    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    — ***—


    Hà nội, ngày 02 tháng 8 năm 2006




    THÔNG BÁO


     


     
       
    – Căn cứ vào Quy định số 372 ĐHTL-ĐT/QĐ ngày 17/4/2006 về việc tuyển chọn sinh viên lớp “Kỹ sư Tài năng” ngành Công trình Thuỷ lợi.


        – Căn cứ thông báo số 514 ĐHTL/CTCT&QLSV-TB ngày 01/6/2006 về việc thi xét tuyển bổ sung sinh viên vào lớp 46TNC
      
    Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Giám hiệu, Phòng CTCT & Quản lý sinh viên thông báo như sau:


    I.   Số lượng sinh viên dự thi xét tuyển bổ sung vào lớp 46TNC năm học 2006 – 2007:


    – Số lượng SV đang học các lớp khác thuộc K46 khoa Công trình đăng ký thi: 0 sinh viên


    – Số lượng SV đang học lớp 46TNC có điểm TBHT năm học 2005 – 2006 (tính điểm thi lại của học kỳ 1 và điểm thi lần đầu các môn học thuộc kỳ 2) < 7.0 phải dự thi xét tuyển: 25 SV


    II. Môn thi xét tuyển:


      – Ngoại ngữ: Tiếng Anh


      – Bài kiểm tra IQ về toán học


    III. Thời gian và địa điểm thi:


      – Sáng thứ 7 (12/8/2006): Thi Tiếng Anh


      – Sáng Chủ nhật (13/8/2006): Kiểm tra IQ về toán học


        * Thời gian bắt đầu thi: 8h00


    * Địa điểm thi: P.340


    IV. Thời gian và địa điểm ôn tập:


    – Chiều thứ 3 (08/8/2006): ôn tập môn Tiếng Anh do Bộ môn Tiếng Anh phụ trách


    – Chiều thứ 4 (09/8/2006): ôn tập môn IQ do Bộ môn Đại số & XSTK phụ trách


    * Thời gian bắt đầu: 14h00


    * Địa điểm: P.345


    V. Tổ chức thực hiện:


    1.     BM Tiếng Anh, Bộ môn Đại số & XSTK:


    – Tổ chức ôn tập cho sinh viên theo kế hoạch


    – Ra đề thi theo đề cương đã được Ban Giám hiệu phê duyệt


        – Tổ chức trông thi và chấm thi theo quy định.


    2.     Phòng CTCT & Quản lý sinh viên:


    – Thông báo sinh viên kế hoạch ôn tập và thi xét tuyển bổ sung vào lớp 46TNC.


    – Lập & cấp danh sách sinh viên dự thi xét tuyển bổ sung.


    Phối hợp với khoa Công trình xét tuyển sinh viên vào lớp 46TNC, trình Ban Giám hiệu ra Quyết định.


    3.     Phòng Khảo thí & KĐCL:


    Tổ chức rọc phách, lên điểm cho SV theo quy định 


    4.     Phòng Đào tạo ĐH & SĐH:


    Chuẩn bị Hội trường theo kế hoạch


    5.     Phòng Quản trị:


    – Vệ sinh phòng thi trước ngày thi


    – Mở cửa phòng thi theo kế hoạch


    6.     Khoa Công trình:


    –  Đôn đốc nhắc nhở sinh viên lớp 46TNC dự thi xét tuyển bổ sung theo đúng kế hoạch.


        – Phối hợp với phòng CTCT & Quản lý sinh viên xét tuyển sinh viên vào lớp 46TNC.


    7.     Sinh viên lớp 46TNC:


    Những sinh viên thuộc diện thi xét tuyển bổ sung vào lớp 46TNC năm học 2006 – 2007 thực hiện việc ôn tập và thi theo đúng kế hoạch.


    Phòng CTCT & Quản lý sinh viên xin thông báo ý kiến chỉ đạo của Ban Giám hiệu, đề nghị các đơn vị liên quan thực hiện.

     






    Nơi nhận:


    – BGH (để b/c)


    – BM tiếng Anh, BM Đại số & XSTK


    – P1, P3,P.KThí & KĐCL, Khoa C


    – Lớp 46TNC


    – Trang Web trường


    – Lưu VT, P7


    TL. HIỆU TRƯỞNG


    TRƯỞNG PHÒNG CTCT & QUẢN LÝ SINH VIÊN


    (Đã ký)


     


     


    ThS. Dương Văn Bá


     
    Danh sách sinh viện dự thi vào lớp 46TNC