Danh mục: Hoạt động chung

  • Hội nghị học tập quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 của Trường Đại học Thuỷ lợi

    Ngày 5-6-2012, Đảng bộ Trường Đại học Thuỷ lợi đã tổ chức Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 Khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị Khoá XI “Về phương hướng nhiệm vụ phát triển Thủ đô giai đoạn 2011-2020” và 9 Chương trình công tác của BCH Đảng bộ TP Khoá XV tới toàn thể Đảng viên thuộc Đảng bộ Nhà trường.

    Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe PGS.TS Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương quán triệt những nội dung cơ bản của Nghị quyết.

     
    PGS.TS Nguyễn Viết Thông – Tổng Thư ký Hội đồng lý luận Trung ương

    Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo. Nghị quyết Trung ương 4 tập trung vào 3 vấn đề cấp bách:

    Thứ nhất, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

    Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.hicvs

    Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Ba nội dung đó có quan hệ gắn bó, trong đó, nội dung thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt, mang tính cấp bách nhất.

    Đồng chí cũng đã phân tích, chỉ rõ những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trên cả 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, chỉ ra tính chất, phạm vi, xu thế và hậu quả của những yếu kém, khuyết điểm đó.Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét toàn diện, chỉ ra nguyên nhân chủ quan và khách quan của những yếu kém, khuyết điểm, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; khẳng định các nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động lẫn nhau, xuyên thấm vào nhau rất phức tạp.
    Trên cơ sở xác định ba nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách nêu trên, Trung ương đã chỉ ra các giải pháp mang tính đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, kết hợp “chống và xây” “xây và chống”, tập trung vào những vấn đề bức xúc nhất, cấp bách nhất với 4 nhóm giải pháp:

     (1) Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong và gương mẫu của cấp trên;(2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng; (3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; (4) Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Tinh thần toát lên trong các nhóm giải pháp đó là: Xác định những việc cần làm, có thể làm ngay và những việc cần có thời gian chuẩn bị, nhất là về vấn đề xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện một cách kiên quyết, hiệu quả.
    Trong các nhóm giải pháp, cần đặc biệt chú ý chuẩn bị và tiến hành tốt việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn đạo đức lối sống của bản thân và của người thân trong gia đình. ..

    Trong khuôn khổ hội nghị, PGS.TS Nguyễn Viết Thông cũng trình bày Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị “về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô giai đoạn 2011-2015, 9 Chương trình công tác của BCH Đảng bộ TP Khoá XV, Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và Quy định về những điều Đảng viên không được làm …

    Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng bộ Trường Đại học Thuỷ lợi đã được tổ chức nghiêm túc. Nội dung cơ bản của Nghị quyết TW 4 khoá XI đã được quán triệt sâu rộng đến cán bộ Đảng viên, tạo sự thống nhất về ý chí, hành động trong toàn Đảng bộ, góp phần đấu tranh chống các quan điểm sai trái, các biểu hiện lệch lạc trong nhận thức, củng cố kiện toàn Nhà trường, nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế, đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững.

    Hà Linh Ngọc

     

  • Hồ Chí Minh và những ngày đi tìm đường cứu nước

    Ở bến Nhà Rồng – TP Hồ Chí Minh có một khu di tích quy tập những hình ảnh về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng dễ hiểu, bởi từ nơi đây, ngày 5/6/1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam có tên là Nguyễn Tất Thành đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước.

     

    Nhà Rồng (nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước). Ảnh: Phạm Lợi.

     Mang tên mới: Văn Ba, anh xin được chân người phụ bếp trên một chiếc tàu biển của Pháp Latusơ Tơrêvin. Từ đây, hoà mình trong đời sống của thợ thuyền, người thanh niên Văn Ba bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân.

    Cuộc hành trình 30 năm ròng, đi qua 28 quốc gia, làm nên sự nghiệp lớn, xuất phát từ một anh phụ bếp Văn Ba trên một chiếc tàu vận tải hàng hải. Tuy lao động vất vả suốt ngày, suốt tháng không có ngày nghỉ, ông chủ chỉ trả cho anh mỗi tháng không quá 50 phrăng, là thứ tiền công rẻ mạt nhất cho một lao động, nhưng anh không nản lòng, chê trách. Mà trái lại, với thái độ cởi mở, lễ phép với mọi người; từ người lao động đến những du khách thượng hạng đi trên tàu, ai cũng quý mến anh, sẵn sàng giúp đỡ mỗi lần anh muốn biết về một điều gì đó. Xong việc, anh tranh thủ học thêm hoặc đọc sách hay tự học ngoại ngữ. Tàu cập bến một số nước, anh Ba lên bờ, không phải như những người khác, bao nhiêu tiền dồn vđo việc ăn chơi phung phí; anh dành thời gian đi sâu tìm hiểu hiện trạng thực tế xã hội. Anh chợt nhận ra rằng, mỗi quốc gia mỗi vẻ khác nhau về phong cảnh và con người; nhưng về xã hội thì đâu đâu cũng có người nghèo, người giàu, đâu cũng có các tệ nạn xã hội, đâu cũng có người tốt và kẻ xấu.

    Anh tiêu tiền hợp lý, chỉ sử dụng tiền khi cần thiết, còn dành một ít tiền gửi về cho người cha ở nhà đang còn gặp nhiều khó khăn. Trên đất Pháp, anh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Đây không chỉ là trường đào tạo học sinh sau này phục vụ chính sách cai trị của Pháp mà còn đào tạo một số nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, xưởng trưởng… Anh ký tên Nguyễn Tất Thành, trong thư anh ghi: “ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức”. Song lời yêu cầu thiết tha đó không được chấp nhận. Một lần nữa, anh lại xuống tàu tiếp tục cuộc hành trình qua những châu lục khác.

    Trên chiếc tàu biển của hãng Sácgiơ Rêminy nước Pháp, Nguyễn Tất Thành bắt đầu chuyến hành trình qua các nước bên bờ biển châu Phi. Khi tàu cập bến, anh thường tranh thủ thời gian rỗi lên thăm thành phố cảng, dạo ngắm phong cảnh châu Phi và tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội của lục địa đen này. Anh đã được chứng kiến nhiều cảnh đau xót. Thân phận của nô lệ da đen thật kinh khủng. Họ là người mà không được sống cuộc sống của con người. Họ bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, họ là thứ hàng hoá trao đổi mua bán giữa các ông chủ buôn người công khai được pháp luật thừa nhận. Bọn chủ xem tính mạng những người nô lệ da đen là thứ trò chơi tiêu khiển, là những đồ dùng khi cần thì sử dụng, khi không cần thì vứt đi không tiếc. Trước những cảnh đời đau xót đó, Nguyễn Tất Thành đã có lúc xúc động và khóc. Người đau nỗi đau chung của nhân loại cho thân phận người nô lệ, cho số phận của người dân Việt Nam bị áp bức, bị mất quyền tự do của con người.

     

    Tàu Đô Đốc Latútsơ Tơrêvin, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước.

    Rời châu Phi, để lại nỗi buồn của những cảnh đời, những băn khoăn suy tư về một câu hỏi lớn: Làm thế nào để trên thế giới bớt đi sự bất công? Từ châu Phi, anh đến châu Mỹ, đi qua Mactinich, Urugoay, Achentina, rồi lần đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ, nơi anh thường được nghe về một tuyên ngôn độc lập nổi tiếng cả thế giới. Người muốn dừng chân trên đất Mỹ một thời gian để tìm hiểu bản chất của sự độc lập kiểu Mỹ như thế nào.

    Thời gian đầu Nguyễn Tất Thành đến nhận một công việc làm bánh tại một gian bếp của khách sạn Omni Parker House ở thành phố Boston. Tại đây, anh thường lui tới khu vực Háclem, nơi ở của người nghèo, chủ yếu là người da đen. Anh làm quen với các phong trào đấu tranh với giới chủ, từ những cuộc quyên góp tiền gửi về giúp đỡ quê hương châu Phi. Có lần khi trả lời nhà báo A.Luy Xtơrông, Bác Hồ nhớ lại thời kỳ này: “Khi ấy tôi chưa hiểu lắm về chính trị, nhưng tôi cảm thấy họ đều là những người nghèo khổ đang mong muốn được tự do. Họ có bao nhiêu tiền cũng bỏ ra trong lúc quyên góp, thế là tôi dốc cả tiền túi của mình ra góp vào đấy”.

    Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ sang nước Anh. Thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên phải tạm xin việc quét tuyết cho một trường học, rồi chuyển sang làm nghề đốt lò. Tiền thu chẳng được bao nhiêu vừa đủ tiền thuê nhà, tiền học thêm tiếng Anh, còn lại chỉ đủ những bữa ăn thanh đạm. Sau đó nhờ có người giới thiệu, anh chuyển đến làm thuê ở khách sạn Cáclơtơn. ở đây có ông vua đầu bếp nổi tiếng Excôpphiê người Pháp. Anh Thành nhận việc rửa bát đĩa, xoong nồi, lao động chăm chỉ, tính tình cởi mở, đặc biệt rất có ý thức trong công việc. Mỗi lần phục vụ bữa tiệc lớn của những người giàu có, thức ăn thừa nhiều, anh Thành không vứt những thức ăn còn có thể dùng được, mà gói lại mang ra đường cho những người nghèo.

    Việc làm đó được ông Excôpphiê rất chú ý. Là người có tư tưởng tiến bộ nên ông rất quý anh và ông đã giúp anh cách làm bánh – một bí quyết nghề nghiệp. Có công việc mới, anh Thành vừa đỡ vất vả lại có thời gian để học thêm tiếng Anh. Lúc này ở nước Anh đã hình thành một tổ chức gồm những người châu á, có tư tưởng tiến bộ, gọi là “Hội những người lao động hải ngoại”. Anh Thành trở thành hội viên của Hội vì Hội này ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam.

    Thời kỳ ở nước Anh, ngoài điều kiện thuận lợi cho anh học tiếng, điều kiện xã hội và chính trị đương thời còn giúp anh hiểu biết nhiều về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giai cấp giữa công nhân và tư sản… Tuy điều kiện rất tốt song có điều những thông tin về quê hương quá ít, ở nước Pháp – nước đang trực tiếp đô hộ dân tộc mình – sẽ có nhiều thông tin về quê hương. Hơn nữa nhờ liên lạc được với cụ Phan Chu Trinh và một số người Việt Nam đang ở Paris, Nguyễn Tất Thành càng hiểu hơn điều kiện thuận lợi khi mình có mặt ở Paris, do đó anh quyết định trở lại nước Pháp.

    Thời kỳ này cụ Phan Chu Trinh đang ở Pháp cũng rơi vào hoàn cảnh khó khăn chung. Cụ phải làm nghề ảnh để có thu nhập sinh sống. Thời kỳ mới đến Paris, nhờ sự quen biết trước nên cụ Phan đã giúp anh Thành làm nghề thợ ảnh. Để giảm bớt khó khăn chung, cụ Phan cùng đến ở nhà của Phan Văn Trường tại số 6 Vila đờ Gôbơlanh, quận 13 Paris. Dần dần ngôi nhà này trở thành nơi hội tụ của người Việt Nam ở Paris. Thủ đô Paris là trung tâm chính trị xã hội không những của châu Âu mà còn của cả thế giới. Các đảng phái đại diện quyền lợi chính trị, kinh tế của giai cấp mình đua nhau thi thố làm cho không khí xã hội Paris càng thêm sôi động.

    Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị xã hội ở Pháp và tích cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt anh nhận thấy trong nhiều đảng phái chính trị thì Đảng Xã hội Pháp là Đảng tiến bộ – giương cao ngọn cờ của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp – Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Do đó, Nguyễn Tất Thành tự nguyện tham gia Đảng Xã hội Pháp vào đầu năm 1919.

    Chiến tranh thế giới kết thúc. Nhiều tổ chức chính trị tiến bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị. Những người Việt Nam ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành đã thảo luận thống nhất Bản yêu sách tám điểm của những người yêu nước An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc và từ đó tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nhờ nhạy cảm về chính trị và được sự chuẩn bị chu đáo, bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai mạc Hội nghị Vecxay. Do đó, nó nghiễm nhiên được đặt trước các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị và nhất là công luận đã lên tiếng thì nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu, hy vọng những lời cam kết chính thức và quan trọng của các cường quốc về chế độ nhân đạo, công lý sẽ được thực hiện, những yêu sách này là những nguyện vọng chính đáng và nhu cầu tối thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được sống trong thời đại.

    Một sự kiện chính trị lớn khác trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn ái Quốc, đó là ngày 16 và 17-7-1920, trên Báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin đã gây xúc động lớn đến Nguyễn ái Quốc. Sau này Người nhớ lại: “Trong luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đả “Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta”. Từ đó tôi hoàn toàn theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

    Nhờ những hoạt động tích cực đó mà Đảng Cộng sản Pháp mới có những động thái như thông qua “Lời kêu gọi những người bản xứ thuộc địa” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vạch trần những chế độ hà khắc của chủ nghĩa thực dân đối với những người bản xứ, phải chịu hai tầng áp bức – một là người lao động, hai là người bản xứ – kêu gọi đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung. Trong cuộc đấu tranh của những người lao động bản xứ có sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp… Lời kêu gọi được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Việt, in truyền đơn, bí mật gửi về Việt Nam, thức tỉnh phong trào cách mạng trong nước.

     

    Nguyễn Ái Quốc (người ngồi hàng đầu bên trái) với một số đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V (7/1924).

     Cũng trong những ngày trên đất Pháp, Người còn sáng lập ra “Hội Liên hiệp thuộc địa”, nhằm tạo hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc để đấu tranh chống kẻ thù chung. Đây là mặt trận liên minh các lực lượng dân tộc bị áp bức, lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp do một lãnh tụ thuộc địa, đó là Nguyễn ái Quốc đứng ra tổ chức. ảnh hưởng của anh càng lớn lao trên diễn đàn quốc tế bao nhiêu thì mật thám càng ráo riết theo dõi hoạt động cách mạng của anh bấy nhiêu.

    “Hội Liên hiệp thuộc địa” được chính thức thành lập ngày 26/6/1921 tại Paris. Hội xây dựng chương trình, điều lệ và cử ra Ban Chấp hành của Hội. Hội ra bản tuyên ngôn do Nguyễn ái Quốc soạn thảo. Đặc biệt Hội đã cho ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Nguyễn ái Quốc vừa là chủ nhiệm kiêm chủ bút, viết bài, sau này cả phát hành báo.

    Ngày 1/4/1922, báo ra số đầu tiên. Trang đầu đăng lời kêu gọi giống như một tuyên ngôn của báo. Tài chính của báo do sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng chí Pháp cũng như trụ sở báo, phương tiện… Nhà văn nổi tiếng Pháp H. Bácbuýt nhận đỡ đầu cho báo, các đồng chí M.Casanh, G.Lêuy… tham gia viết bài cho báo. Từ lúc ra đời cho đến lúc dừng hoạt động (4/1926), toàn bộ báo ra được 38 số là một sự cố gắng lớn, trong đó vai trò của Nguyễn Ái Quốc rất quan trọng.

    Ngoài việc lo hoạt động của báo, Người còn viết nhiều bài trên các lĩnh vực: xã luận, bình luận, truyện ký, tiểu phẩm, tranh vẽ, đưa tin, dịch thuật… là một cây viết chính, là linh hồn tồn tại và phát triển của báo. Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo chế độ bóc lột của thực dân trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Vạch trần những thủ đoạn, mánh khoé bóc lột tư bản như đặt ra nhiều thứ thuế phi lý, sinh ra các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, rượu, bắt lính, chiếm đoạt ruộng đất… Người kêu gọi, muốn xoá những chế độ bất công đó không có gì khác hơn là đoàn kết các dân tộc, đứng lên đấu tranh giai cấp. Hoà cùng tiếng nói với Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, Báo Người cùng khổ đã tạo thành một mặt trận thống nhất chung của nhân dân thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Pháp chống chủ nghĩa tư bản.

    Như vậy là từ một người yêu nước nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước và dấn thân vào cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi con đường đó. Sáu năm hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc từ người đi tìm đường trở thành người dẫn đường. Là đảng viên Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sau này sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Năm 1941, sau vừa đúng 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ của chúng ta đã trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác ghềnh và giành được độc lập vào mùa thu năm 1945

    Xuân Ngọc – CAND Xuân 2011
    cand.com.vn

  • Ngày Môi trường thế giới 2012: “Gieo mầm” Kinh tế Xanh

    (VOV) – Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nền Kinh tế Xanh mà không phải quốc gia nào cũng có được.

    Năm 2012, Liên Hợp Quốc lấy chủ đề cho Ngày Môi trường Thế giới là “Kinh tế Xanh: Có vai trò của bạn”. Việc chọn chủ đề này nhằm phản ánh nhận thức sâu rộng đối với Kinh tế Xanh như là bước đi tiếp theo hướng tới thế kỷ XXI bền vững.

    Quan trọng hơn, khi mà các quốc gia trên thế giới đang vực dậy sau khủng hoảng kinh tế, chủ đề này nhấn mạnh sự cần thiết rằng, nền Kinh tế Xanh không chỉ mang ý nghĩa bao quát mà còn mang lại những kết quả tích cực cho sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội và sự tiến bộ trong quản lý môi trường.

    Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Kinh tế Xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống, tạo việc làm và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái. Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng kinh tế phải gắn với giảm phát thải carbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái.

    Thực tế, kể từ khi thuật ngữ “Kinh tế Xanh” được công nhận năm 2008 thì chỉ 1 năm sau, theo tính toán của UNEP, cộng đồng EU và Mỹ đã tạo ra 2 – 3,5 triệu việc làm khi xây dựng các tòa nhà xanh, Trung Quốc tạo nên 10 triệu việc làm trong lĩnh vực tái chế và năng lượng tái tạo với doanh thu 17 tỷ USD/năm. Và Brazil – quốc gia Nam Mỹ đi đầu trong việc xây dựng một nền Kinh tế Xanh có ngành công nghiệp tái chế với nguồn thu 2 tỷ USD/năm, đồng thời giảm 10 triệu tấn khí nhà kính thải ra môi trường.

    Đấy là tại những nước và khu vực phát triển, còn ở nhóm nước đang phát triển, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Kinh tế Xanh như xây dựng, năng lượng, vận tải có thể lên tới 563 tỷ USD vào năm 2030 cùng với 100 tỷ USD để thích nghi với biến đổi khí hậu.

    Những thống kê này cho thấy, “gieo mầm” Kinh tế Xanh, tạo nên tăng trưởng xanh là chiến lược cho phát triển bền vững ở tương lai.

    Bên cạnh đó, thực tiễn tại các nước cũng cho thấy rằng, việc thúc đẩy tăng trưởng xanh hay quá trình chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh tạo ra tiềm năng lớn để đạt được phát triển bền vững và giảm nghèo đói với tốc độ chưa từng thấy. Riêng đối với các nước đang phát triển, tăng trưởng xanh còn tạo đà cho một bước nhảy vọt để phát triển kinh tế mà không theo con đường phát triển kinh tế “Ô nhiễm trước, xử lý sau”.

    So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam hội tụ nhiều lợi thế để phát triển Kinh tế Xanh. Việt Nam có vị trí địa lý nằm trung tâm châu Á, một châu lục được đánh giá là đang và sẽ phát triển năng động nhất thế giới. Chúng ta được thiên nhiên ưu đãi, nền nông nghiệp phát triển với nhiều sản phẩm đứng trong Top 5 thế giới. Việt Nam có nền chính trị ổn định, xã hội thân thiện, thuần nhất và người dân ôn hòa. Đây là những lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được.

    Tuy nhiên, để hướng tới sự phát triển này, Việt Nam phải khắc phục những hạn chế về trình độ phát triển, công nghệ sản xuất, trình độ phát triển khoa học cũng như thể chế pháp luật… Bên cạnh đó, nhận thức và năng lực của toàn hệ thống (con người, cơ sở hạ tầng, tài chính và thể chế) cũng cần thay đổi nhằm xóa bỏ thói quen cũ trong sản xuất và quản lý.

    Theo các chuyên gia, đứng trước thời cơ mới, Việt Nam cần phát huy các lợi thế so sánh, khắc phục các yếu kém để phát triển đất nước. Phương thức tăng trưởng xanh là con đường tốt nhất để giúp Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển trong thời gian tương đối ngắn, nhờ sử dụng hiệu quả nội lực và toàn cầu hóa.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Mục tiêu hướng tới chất lượng tăng trưởng của Việt Nam sẽ tập trung phát triển những ngành có lợi thế cạnh tranh, có sử dụng công nghệ cao để từng bước nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.

    Điều này thể hiện trong Dự thảo chiến lược Tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2020 tầm nhìn đến năm 2050 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soản thảo. Chiến lược nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực tiễn tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ vài cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”.

    Như vậy, tăng trưởng xanh là phù hợp với chiến lược dài hạn của Việt Nam và định hướng phát triển bền vững nói chung, phù hợp với những lợi thế so sánh mà Việt Nam cần phát huy trong thế giới toàn cầu hóa./.

    Việt Đức/VOV online

  • Hướng tới kỷ niệm 67 năm Ngày truyền thống Ngành Thuỷ lợi Việt Nam: Thuỷ lợi – Nhịp cầu của khát vọng và vinh quang

    ( Phỏng vấn GS.TS Trương Đình Dụ, chủ trì nhóm tác giả của Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam vừa đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình mang tên: “ Cụm công trình ngăn sông bằng Đập Trụ đỡ và Đập Xà lan di động ”)

     

     

                                                                                   GS Trương Đình Dụ (trái) và PV

    PV: Thưa GS. TS Trương Đình Dụ! Được biết ông là một trong 8 tác giả của Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam vừa được Nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý: Giải thưởng Hồ chí Minh cho cụm công trình ngăn sông bằng đập Trụ đỡ và Đập Xà lan di động. Đây, có thể nói là món quà đầy ý nghĩa, vô cùng quý giá không chỉ  đối  với ông và cộng sự mà còn đối  với cả ngànhThuỷ lợi Việt Nam! Vậy ông có cảm nghĩ gì?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Trước hết xin chân thành cảm ơn báo Tài nguyên nước đã quan tâm và giành thời gian phỏng vấn để tuyên truyền Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ mà chúng tôi vừa đạt được.

                Tôi rất cảm động, vinh dự và tự hào khi tôi và các cộng sự được giải thưởng mang tên Bác, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN là phần thưởng  cao nhất của nước ta về sáng tạo khoa học công nghệ.Tôi rất vui mừng vì  mấy điều sau đây: Một là, khi làm hồ sơ đăng ký xét giải thưởng  mới thấy rõ giải thưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao nhất về KHCN và hết sức cao quý, đạt được là rất khó, vì với những tiêu chuẩn rất đặc biệt: Sáng tạo khoa học phải đặc biệt xuất sắc, đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội phải đặc biệt quan trọng và có tầm quốc tế về khoa học công nghệ. Hai là, tôi đã phần nào đền đáp được công ơn cách mạng đã đưa lại cho tôi, vì tôi là người xuất thân từ nông dân nghèo, nhờ có cách mạng mới được đến trường để biết chữ rồi được học lên trung học, đại học  và sau đó được cử  đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô cũ, làm luận án phó tiến sỹ,và sau đó tôi đã làm nghiên cứu khoa học suốt cả cuộc đời ở viện Khoa học Thủy lợi. Lúc ấy tôi chỉ có ý nghĩ là phải nghiên cứu được cái gì để áp dụng có hiệu quả cho sản xuất. Mà bây giờ rất sung sướng đã vượt được ước mơ đó.  Ba là, đã thành công trong chọn hướng nghiên cứu: Bám sản xuất trước mắt và phục vụ sản xuất lâu dài. Nhờ suy nghĩ như vậy, nên sau ngày giải phóng Miền Nam tôi tập trung nghiên cứu cửa van tự động cống vùng triều là vấn đề cấp bách lúc đó và đã tìm ra cửa van cánh cửa tự động thủy lực hoàn toàn mới ở nước ta cũng như trên thế giới, được ứng dụng rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long và năm 2000 tôi và anh Trần Tuấn Bửu đã được tặng giải thưởng nhà nước về KHNN loại cửa van đó.Tiếp đến tôi chọn hướng phục vụ sản xuất lâu dài là công nghệ xây dựng cống ngăn sông  vùng ven biển.  Bốn là, tôi vui mừng vì đã kiên trì chịu khó đi sâu, không nản chí khi gặp  nhiều trở ngại trong nghiên cứu đề tài để có kết quả đặc biệt xuất sắc về lý thuyết và vượt nhiều khó khăn trong ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất để có đóng góp đặc biệt quan trọng về kinh tế xã hội. Năm là, tôi vui mừng là đã tạo ra một trường phái khoa học công nghệ về xây dựng công trình ngăn sông kiểu mới đập trụ đỡ và đập xà lan, gồm nhiều cán bộ tâm huyết trong một trung tâm 70 người thuộc Viện Thủy công để nghiên cứu, thiết kế, phổ biến chuyển giao và thi công ứng dụng vào sản xuất.  

    PV: Ngành Thuỷ lợi có rất nhiều lĩnh vực hoạt động, nhiều vấn đề cần quan tâm. Vậy tại sao ông lại chọn công trình này để nghiên cứu?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Đúng, ngành thủy lợi có nhiều lĩnh vực và nhiều vấn đề cần quan tâm, nhưng tôi chọn công trình ngăn sông  vùng ven biển để nghiên cứu là vì những lý do như sau: Thứ nhất là từ những năm 80 thế kỷ trước sau khi đi sâu vào đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tôi thấy đây là nơi quan trọng của đất nước, nơi cần  công tác thủy lợi nhất và thủy lợi phải tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề. Nhưng  ba vấn đề quan trọng nhất là  kênh dẫn nước, cống ngăn triều giữ ngọt và cải tạo đất. Nghiên cứu thiết kế kênh tuy cũng phức tạp về tính toán quy hoạch, đào kênh vùng đất yếu, nhưng không phức tạp bằng xây dựng cống. Và thực tế việc xây dựng  các cống ở ĐBSCL gặp nhiều khó khăn. Quả vậy việc xây dựng  cống đòi hỏi kiến thức tổng hợp: nghiên cứu tính thủy văn thủy lực, tính nền móng, tính thiết bị đóng mở và tinh toán kết cấu công trình. Còn vấn đề cải tạo đất cũng quan trọng, nhưng là hệ quả của hai vấn đề trên.  Lúc đó chỉ có các công ty tư vấn thiết kế cống theo quy trình quy phạm và theo sách đã dạy. Có thể nói nhiều kết cấu cống trên nền đất yếu bất hợp lý nhưng không ai có thể cải tiến vì chưa có kết quả nghiên cứu.  Đang trăn trở, băn khoăn với những bất hợp lý của kết cấu truyền thống cho những cống nhỏ và vừa thì điều trăn trở nữa lại đến.

     Điều thứ hai, bắt đầu từ năm 1990, trong quá trình tìm hiểu về chương trình cân bằng nguồn nước Quốc gia, tôi biết được rằng các đồng bằng ven biển, nhất là ĐBSCL sẽ thiếu nguồn nước nghiêm trọng do các nước thượng nguồn phát triển kinh tế sẽ dùng hết nguồn nước tự nhiên, ví dụ như Thái lan khai thác 4 triệu ha đất vùng đông bắc, Căm Pu Chia sử dụng nước biển Hồ. v.v và thiếu nước do thảm thực vật bị suy thoái. Từ suy nghĩ này tôi đã có ý tưởng là ở đồng bằng ven biển phải tạo các “hồ chứa” bằng cách ngăn các cửa sông lớn để tr ữ nước ngọt và chống xâm nhập mặn thì ta mới đủ nước để phát triển sản xuất. Nhưng muốn xây dựng các cống ngăn các sông lớn thì công nghệ cống truyền thống không đáp ứng được, nên phải nghiên cứu công  nghệ mới… Vài năm gần đây các thông tin về biến đổi khí hậu và nước biển dâng thì công nghệ mới về ngăn sông vùng ven biển lại càng có ý nghĩa lớn trong sự nghiệp thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới phức tạp.     

    PV: Tôi được biết, giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ là giải thưởng cao quý được trao tặng 5 năm một lần. “Cụm công trình ngăn sông bằng Đập Trụ đỡ và Đập xà lan di động” rõ ràng là công trình KHCN đặc biệt xuất sắc. Đặc biệt, đối với ngành Thuỷ lợi Việt Nam, đây là công trình đầu tiên, những nhà khoa học đầu tiên được Đảng và Nhà nước công nhận, tôn vinh đối với một giải thưởng có giá trị cao, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội thiết thực.Vậy xin ông cho biết nội dung cơ bản, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của công trình?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Để dễ thấy rõ tính mới đặc biệt của công trình, trước hết tôi xin nêu vài nét về công nghệ cống truyền thống: Cống truyền thống làm việc theo ba nguyên lý:

     Ổn định chống trượt theo nguyên lý ma sát, tức là trọng lượng cống nhân với hệ số ma sát của nền sinh ra lực chống trượt, nên thường gọi là nguyên lý trọng lực, nghĩa là càng nặng thì càng dễ ổn định. Ổn định chống thấm theo nguyên lý đường viền ngang dưới đáy cống, tức là chống thấm nhờ sự kín khít giữa đáy và nền. _ Chống xói nhờ bản đáy, sân tiêu năng và sân phủ nối tiếp thượng hạ lưu. Để thực hiện ba nguyên lý này, kết cấu cống phải có bản đáy, sân tiêu năng và sân phủ. Trên bản bản đáy xây các trụ pin và giữa các trụ pin lắp đặt các cửa van. Kiểu cống này đã có hàng ngàn năm nay, phổ biến khắp trên thế giới bằng các giáo trình và quy trình quy phạm. Cống truyền thống có ưu điểm là: Bản đáy kết hợp được luôn ba việc: chống trượt, chống thấm và chống xói trong cống; kết cấu vững chắc; dễ kiểm tra trong thi công. Nhưng nhược điểm cơ bản của cống truyền thống là tất cả kết cấu cống phải thi công trong hố móng khô và rộng. Đối với cống nhỏ thì ít gặp khó khăn, nhưng đối cống trên sông lớn sâu và rộng thì việc làm khô hố móng rất phức tạp thường có hai cách: Thứ nhất là làm cống trên bãi bờ lồi ở đoạn sông cong, rồi đắp đập ngăn sông và đào kênh nối sông với cống, cách này tốn nhiêu đất xây dựng, tổn hại đến cảnh quan môi trường tự nhiên và giá thành cao; cách thứ hai là làm đê quai vây từng phân đoạn ở lòng sông để thi công móng. Cách này gặp nhiều khó khăn trong thi công khung vây rộng, thường  không có tính khả thi, vả lại giá thành rất cao.

     Nội dung cơ bản của cụm công trình này là tìm ra kiểu cống mới có nguyên lý làm việc phù hợp với công nghệ xây dựng cống dưới lòng sông, để  không phải làm hố móng rộng như cống truyền thống. Từ năm 1992 –1995 trong đề tài KC-12-10a tôi đã tìm ra nguyên lý đập trụ đỡ và đập xà lan.

    Đập trụ đỡ có ba nguyên lý làm việc như sau: – Chống trượt theo nguyên lý ngàm, từng trụ riêng biệt được ngàm vào nền bằng hệ cọc, nhờ vậy có thể thi công từng trụ trong khung vây hẹp giữa sông.( Thực chất khi xây dựng cống truyền thống ở vùng đất yếu đã phải làm hệ cọc dưới bản đáy là cũng một phần đã theo nguyên lý ngàm). – Chống thấm theo nguyên lý đường viền đứng bằng tường cừ cắm vào nền, cũng là kết cấu dễ thi công ngay  trong dòng chảy; – Chống xói theo nguyên lý mở rộng cống để có lưu tốc qua cống nhỏ hơn lưu tốc cho phép của đất nền, nên chỉ cần gia cố bằng thảm đá là vật liệu dễ thi công trong dòng chảy. Như vậy, nguyên lý làm việc của đập trụ đỡ khác hoàn toàn cống truyền thống. Ba nguyên lý cơ bản này làm cho việc thi công những kết cấu chính của đập trụ đỡ ( trụ chịu lực, tường chống thấm và thảm đá chống xói) được tiến hành giữa dòng sộng một cách dễ dàng. Nói cách khác, ba nguyên lý này tạo công nghệ thi công đập trụ đỡ giữa dòng sông.

    Đập xà lan làm việc theo các nguyên lý cơ bản sau: – Sử dụng hai nguyên lý của cống truyền thống là Nguyên lý chống trượt  nhờ lực ma sát của đáy cống và nền,  cộng thêm gờ tựa của thảm đá chống xói thượng hạ lưu và nguyên lý chống thấm theo đường viền ngang; đồng thời sử dụng ba nguyên lý mới là: + Nguyên lý nổi Acsimet, đập có thể nổi chìm để chế tạo trong hố đúc, rồi di dời và hạ chìm vào hố móng đã chuẩn bị sẵn. + Nguyên lý chống lún bằng cách giảm ứng suất của đập lên nền nhỏ hơn sức chiụ của nền và phân bố đều để đặt cống trên nền yếu không xử lý hoặc xử lý nhẹ mà không bị lún. + Nguyên lý chống xói tương tự như đập trụ đỡ là mở rộng cống để có lưu tốc qua cống nhỏ hơn lưu tốc gây xói của đất nền, nên chỉ cần thả thảm đá trước và sau cống…

    Năm nguyên lý trên cho ta thiết kế và thi công các kết cấu chính như trụ pin, bản đáy, trụ pin, cửa van, .v.v  của một hoặc nhiều cống trong hố đúc sẵn rồi làm nổi, lai dắt đến vị trí xây dựng công trình đã chuẩn bị sẵn để đánh đắm trong hố móng dưới sông đã chuẩn bị sẵn, sau đó thả thảm đá chống xói thượng hạ lưu và thi công các hạng mục phụ kèm theo ta được công trình làm nhiệm vụ ngăn triều, giữ ngọt và tháo lũ và gọi loại cống này là đập xà lan.

    Ý nghĩa khoa học thứ nhất của cụm công trình là tìm những nguyên lý mới về chống trượt, chống thấm và chống xói để tạo ra kiểu cống mới đập trụ đỡ được thi công trong dòng chảy bằng công nghệ mới đạt hiệu quả cao về mọi măt thay cho công nghệ thi công cống truyền thống trong hố móng khô có nhiều tồn tại. Còn ý nghĩa khoa học thứ hai của cụm công trình là tìm ra ba nguyên lý mới về tính nổi, ứng suất nhỏ và chống xói cùng với sử dụng hai nguyên lý chống trượt và chống thấm của cống truyền thống để có  kiểu cống mới đập xà lan, được thi công theo công nghệ mới trong dòng chảy đạt hiệu quả rất cao về mọi mặt so với cống truyền thống. Như vậy, ý nghĩa khoa học xuất sắc của  cụm công trình là đã tìm ra những nguyên lý mới cơ bản và những  công nghệ thi công mới để tạo ra những kiểu cống mới có nhiều ưu điểm nổi bật mà cống truyền thống không thể có được.

     

    Về giá trị thực tiễn của cụm công trình, thứ nhất đáp ứng được yêu cầu bức bách của sản xuất: Đập trụ đỡ đã, đang và sẽ đáp ứng một yêu cầu bức bách về xây dựng các công trình ngăn sông lớn vùng ven biển mà công nghệ cống truyền thống không đáp ứng được. Đập xà lan đã, đang và sẽ đáp ứng một yêu cầu bức bách mà các kiểu cống khác không thể thực hiện được là có thể di dời cống đến một vị trí mới do cơ cấu sản xuât thay đổi và có thể xây dựng cống ở giữa vùng dân cư dày đặc.

    Thứ hai đạt hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao, góp phần quan trọng trong  phát triển kinh tế xã hội ở những điểm sau:

    +Một là đảm bảo cảnh quan môi trường sinh thái tự nhiên của dòng sông trong quản lý khai thác cũng như trong khi xây dựng công trình.

    + Hai là khối lượng công trình giảm nhiều nên tiết kiệm được vậy liệu xây dựng

    + Ba là thời gian thi công được rút ngắn khoảng 30% so với cống truyền thống.

    + Bốn là giảm khoảng 80% khối lượng đền bù giải phóng mặt bằng so với phương án cống đặt trên bờ.

    + Năm là vốn đầu tư có thể giảm được 25 đến 40% so với phương án truyến thống.

                Ví dụ cống Mương Chuối trong dự án chống ngập khu vực tp Hồ Chí Minh nếu làm kiểu đập trụ đỡ dưới sông giảm được 700 tỷ đồng so với phương án truyền thống đặt trên bờ.

    Riêng đập xà lan còn có ưu điểm nổi bật là khi ở vị trí cũ không cần cống nữa do thay đổi cơ cấu sản xuất thì có thể di dời cống đến vị trí xây dựng mới. Điều mà không kiểu cống nào thưc hiện được.

                 PV:  Là đồng nghiệp, cũng là người làm công tác quản lý, gắn bó nhiều năm trong ngành, tôi hiểu những khó khăn, rào cản về pháp lý cũng như trong cuộc sống thường nhật, trong quá trình nghiên cứu, thực hiện công trình này. Giáo sư có thể chia sẻ với bạn đọc Tài nguyên nước?

                GS.TS Trương Đình Dụ:

     Đúng! Anh là đồng nghiệp trong ngành thủy lợi làm công tác quản lý xây dựng cơ bản trong nhiều năm nên anh đã hiểu khó khăn của quá trình nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất.Tôi chỉ xin chia sẻ thêm vài điểm cụ thể để minh họa cho câu hỏi. Thứ nhất, kinh phí đề tài khoa học thời kỳ thập niên 80,90 của thế kỷ trước là rất ít, không đủ trang trải cho nhóm nghiên cứu. Đề tài KC-12-10a do tôi làm chủ nhiệm và 6 cộng sự trong ba năm chỉ được 60 triệu. Trong khi đó cán bộ làm hợp đồng kinh tế thu nhập rất khá, nên những kỹ sư trẻ mới ra trường tuy còn nghèo nhưng có tâm huyết mới kiên trì theo đề tài. Lúc đó tôi phải chia sẻ với các cộng sự từng đồng và động viện họ nhìn vào tương lai để vượt khó khăn trước mắt, khi kết quả chưa được ứng dụng. Nhưng thực ra khi được ứng dụng thử nghiệm ở cống Sông Cui (Long An), rồi đến thiết kế cống Hiền Lương (Quảng Ngãi), kể cả cho đến khi được thiết kế đập Thảo Long, tuy đời sống của nhóm nghiên cứu có được nâng lên nhưng v ẫn thấp hơn mặt bằng xung quanh Viện, vì thiết kế phí của những công trình này đã giảm đi gần một nửa do chi phí xây lắp giảm và lại phải đầu tư kinh phí chuyển giao. Giảm thu nhập chỉ là phần nhỏ, những thiệt thòi về việc riêng do tập trung cho nghiên cứu của từng cá thể mới là đáng kể. Điều tôi buồn nhất hiện nay là bạn bè, người thân cứ tưởng tôi giàu lắm vì thấy làm nhiều công trình nhưng thực tế thu nhập của tôi rất bình thường, vì làm nhiều nhưng ứng dụng để thu kinh phí được ít và chủ yếu dành cho phát triển. Điều này những cộng sự gần gũi của tôi hiểu rất rõ.    

                Thứ hai, tính mới của đập trụ đỡ và đập xà lan làm cho nhiều người không tin vào kết quả đề tài được ứng dụng vì chúng có nguyên lý làm việc hoàn toàn khác với cống truyền thống có trong sách giáo khoa và quy trình quy phạm đang tồn tại ở nước ta và trên thế giới. Đây cũng là một trở ngại rất lớn.

     Thứ ba là rào cản pháp lý: Trong luật quản lý nhà nước về xây dựng công trình không có điều nào bắt buộc phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mà chỉ bắt buộc phải theo đúng quy trình quy phạm đã có. Vì vậy, nếu người lãnh đạo ngành tuân thủ luật nước không cho ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng công trình cũng không sai, không trách họ được. Rào cản pháp lý là trở ngại nhất cho ứng dụng kết quả nghiên cứu. Nhưng đập trụ đỡ vượt rào cản đó ở đập Thảo Long ( Thừa Thiên Huế) là nhờ lúc đó Bộ cho nhiều đơn vị tham gia thiết kế các phương án để so chọn, trong đó có phương án của công ty Xaphe (Pháp). Bộ đã lập tổ chuyên gia để chấm điểm. Phương án đập trụ đỡ đã được chọn vì nó có nhiều ưu điểm vượt trội mà các phương án theo công nghệ truyền thống của các đơn vị khác không thể so được. Việc tháo gỡ rào cản pháp lý này trước hết là ở người phụ trách kỹ thuật của Bộ có dám thực hiện không. May mắn cho công nghệ đập trụ đỡ là lúc đó GSTSKH Phạm Hồng Giang làm Thứ trưởng, đã chủ trương cho ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong xây dựng công trình để nâng cao hiệu quả đầu tư. Từ chủ trương đó anh Phạm Hồng Giang đã cho thử nghiệm đầy đủ ở cống sông Cui (Long An) năm 1998 để rút kinh nghiệm cho công trình Thảo Long.

    Số phận của đập xà lan cũng vậy, nghiên cứu từ 1995, mời chào ứng dụng nhiều nơi chưa được, nhưng khi vào tỉnh Bạc Liêu báo cáo, Anh Nguyễn Trường Giang lúc đó là phó chủ tịch tỉnh kết luận:” Đây rồi, đập kiểu này là cứu cánh của chúng tôi, vì hiện nay chúng tôi có kinh phí nhưng không dám xây cống, vì xây xong vài ba năm lại đập phá tốn kém, lảng phí”, và ngay sau đó Anh Nguyến Trường Giang đã phê duyệt xây dựng hai cống đập xà lan là Phước Long và Thông Lưu. Ở đây, tôi muốn nói rằng dù kết quả nghiên cứu có tốt đi mấy nữa nhưng nếu  người lãnh đạo sợ phạm luật, sợ trách nhiệm, không dám phê duyệt thì không thể ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

    Thứ tư là rào cản kinh tế của việc ứng dụng: Khi ứng dụng kết quả nghiên cứu đập trụ đỡ, đập xà lan vào thiết kế công trình thì tổng mức đầu tư giảm khoảng 30 -40%, đưa lại hiệu quả lớn cho đất nước, nhưng điều trớ trêu lại xẩy ra là thu nhập của người thiết kế, người thi công và người quản lý xây dựng công trình lại giảm đi tương ứng. Do vậy trừ người nghiên cứu ra, người thi công và quản lý xây dựng thường không nhiệt tình ứng dụng kết quả nghiên cứu vì vừa tăng thêm khó khăn trong công việc lại bị giảm thu nhập…

    Có những rào cản lớn như vậy, nên đập trụ đỡ và đập xà lan chỉ được ứng dụng vào những công trình có điều kiện: + Hoặc chủ đầu tư không đủ kinh phí để xây dựng công trình theo kiểu truyền thống, ví dụ cống Hiền Lương (Quảng Ngãi) nên đồng ý xây dựng cống theo kiểu đập trụ đỡ; hoặc xây dựng cống theo kiểu truyền thống quá tốn kém vì quá nhiều khó khăn, ví dụ cống Thảo Long (Thừa Thiên Huế) và nhiều cống lớn đang thiết kế ở dự án chống ngập úng khu vực tp Hồ Chí Minh; hoặc những nơi không thể ứng dụng cống truyền thống mà phải ứng dụng đập xà lan để có thể di dời, như các cống ở vùng phân ranh mặn ngọt; hoặc những nơi không giải phóng được mặt bằng để xây dựng cống truyền thống; hoặc những nơi nếu xây dựng cống truyền thống thì không kịp tiến độ để thanh toán như 7 cống thuộc dự án Ômôn –Xà no. Ở đây phải cảm ơn anh Phạm Hùng Cường, phụ trách WB đã mạnh dạn cho ứng dụng công nghệ mới đập xà lan vào dự án vốn nước ngoài… Những rào cản trên đây trực tiếp gây cản trở cho việc ứng dụng kết quả nghiên cứu  vào sản xuất. Nghĩa là những nơi có nhiều vốn và thi công được theo công nghệ truyền thống thì họ không mặn mà ứng dụng công nghệ đập trụ đỡ và đập xà lan.       

    PV: Nhân giải thưởng cao quý mà ông và các công sự vừa được Đảng và Nhà nước tôn vinh, tôi nghĩ rằng: Thuỷ lợi luôn là nhịp cầu mang khát vọngchân chính của các nhà khoa học đến vinh quang. Lẽ đương nhiên, để có được “vòng nguyệt quế”lung linh này, ông và các nhà khoa học trẻ trong nhóm tác giả đã dồn hết tâm huyết, trí tuệ và sức lực của mình trong nhiều năm qua. Nói sâu hơn và tổng quát hơn, nếu có thể đúc kết lại sự thành công qua giải thưởng cao quý này, ông có thể rút ra những  bài học gì?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Khi làm đề tài này tôi và các cộng sự chỉ biết dồn hết tâm huyết, năng lực của mình, kiên trì, vượt mọi khó khăn trong hơn 20 năm với kỳ vọng sẽ đưa được kết quả nghiên cứu vào sản xuất có hiệu quả. Lúc đó, năm 1992 chúng tôi chưa nghĩ rằng sau này sẽ được giải thưởng Hồ Chí Minh. Nhưng bây giờ khi làm hồ sơ xét giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học công nghệ ứng dụng, tôi biết được rằng giải thưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao nhất của khoa học công nghệ, phải đạt được tiêu chuẩn đặc biệt xuất sắc về khoa học công nghệ và có đóng góp đặc biệt quan trọng cho nền kinh  tế quốc dân. Quá trình phấn đấu trong chặng đường làm khoa học vừa qua cho tôi rút ra những bài học sau:

    -Thứ nhất, phải có định hướng khoa học có tầm chiến lược, để giải quyết những vấn đề cơ bản có ảnh hưởng rõ ràng tới cả vùng rộng lớn của Quốc gia, hoặc giải quyết những vấn đề khoa học về công trình có tính tổng hợp, phục vụ cho cả vùng rộng lớn và dẫn đến thay đổi công nghệ xây dựng, mang lại hiệu quả lớn cho kinh tế xã hội thì kết quả nghiên cứu mới có giá trị đặc biệt.

    -Thứ hai phải có ý chí phấn đấu, tâm huyết và kiên trì và phải hy sinh tất cả cho hướng đi đã chọn.

    -Thứ ba phải có lãnh đạo ngành dám chịu trách nhiệm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học dù chưa có quy phạm được ban hành. Đây là điều kiện hết sức quan trọng về những kết quả nghiên cứu công trình công ích như thủy lợi. Lãnh đạo ngành là quản lý nhà nước thường chỉ muốn duyệt theo quy trình, quy phạm cho yên ổn. Họ không thích duyệt những công trình kiểu mới, có thể gây rủi ro. Họ không duyệt cũng không ai trách được họ, vì họ làm đúng luật.Vì vậy, nếu như chúng tôi không gặp Thứ  trưởng Phạm Hồng Giang thì chắc gì đập trụ đỡ đã kịp ra đời sớm. Nếu không có anh Nguyễn Trường Giang nguyên phó chủ tịch tỉnh Bạc Liêu mạnh dạn duyệt cho làm đập xà lan đầu tiên thì chắc gì hiện nay đã có đập xà lan ứng dụng rộng rãi.

    -Thứ tư phải có một đội ngũ cán bộ vừa khá chuyên môn, vừa tâm huyết, kiên trì và chịu đựng hy sinh sẵn sang đi theo hướng đã chọn. Người chủ trì phải gương mẫu, có tâm đối xử tốt với cộng sự, phải bao dung, đề cao dân chủ trong khoa học, phải nâng họ lên để họ yên tâm làm việc, theo hướng đã vạch. Ví dụ như trong giải thưởng Hồ Chí Minh tôi có thể ghi họ là cộng sự vì những nguyên lý là do tôi tìm ra và chỉ đạo ứng dụng, nhưng tôi ghi họ là đồng tác giả để anh em trẻ, thời gian làm việc còn dài, phấn khởi và có trách nhiệm tiếp tục phát triển tốt hơn nữa định hướng công trình ngăn sông mà đất nước đang rất cần trong điều kiện nước biển dâng và biến đổi khí hậu.

    PV: Tôi được biết, nhóm Tác giả được giải lần này, ngoài ông ra, còn lại là các tác giả trẻ, rất trẻ, gồm: PGS.TS Trần Đình Hoà, ThS Trần Văn Thái, ThS Thái Quốc Hiền, ThS Trần Minh Thái, TS V ũ Hồng Sơn, ThS Nguyễn Thế Nam và ThS Phan Đình Tuấn. Trong nhóm tác giả được giải, ông là người cao tuổi nhất, là”cây đa”, là “Trụ đỡ”cho công trình. Vậy ông muốn nói điều gì với các cộng sự  – các nhà khoa học trẻ đầy nhiệt  huyết và tài năng ấy?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Là người đề ra hướng nghiên cứu, tìm ra những nguyên lý cho đập trụ đỡ và đập xà lan và chỉ đạo ứng dụng thực tế, tôi thấy cần tâm sự với các cộng sự mấy điều: Điều thứ nhất, mong các bạn phấn đấu để củng cố và phát triển lực lượng nghiên cứu và ứng dụng ở Trung tâm Công trình đồng bằng ven biển và Đê điều, nơi ra đời cụm công trình này, hiện có nhiều kỹ sư trẻ khá triển vọng, đang thiêt kế nhiều công trình ngăn sông lớn, và phấn đấu để xây dựng Trung tâm này trở thành một đơn vị lớn xứng với tầm phát triển công nghệ ngăn sông vùng ven biển nước ta trong tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Điều thứ hai, mong các bạn tiếp tục giữ ngọn lửa nhiệt tình với hướng công nghệ ngăn sông mới đã hình thành, vượt khó khăn trước mắt để nghiên cứu, sáng tạo nhằm phát triển công nghệ ngăn sông ở nước ta lên đỉnh cao mới nữa. Điều thứ ba, mong các bạn giữ phẩm chất cần thiết đầu tiên của người làm khoa học là khiêm tốn và trung thực, hãy tự xét mình vừa qua đã đóng góp được gì cho cụm công trình và sắp tới sẽ phấn đấu như thế nào để không ngừng, nâng cao uy tín của giải thưởng. Tôi nói như vậy vì tôi cho rằng được giải thưởng là đỉnh cao, nhưng không có nghĩa là dừng lại ở đó mà trách nhiệm của tôi và các bạn là phải tiếp tục hoàn thiện, nâng cao làm cho cụm  công trình này hấp dẫn hơn nữa, lung linh hơn nữa để xứng với giải thưởng mang tên Bác Hồ vĩ đại…  

    PV: Thế còn đối với các cơ quan quản lý, các nhà lãnh đạo của ngành Nông nghiệp &PTNT… và cả chúng tôi nữa, ông muốn gửi gắm điều gì?

    GS.TS Trương Đình Dụ:

    Nhân dịp này, tôi xin thay mặt nhóm tác giả bày tỏ lòng biết ơn lãnh đạo Bộ NN&PTNT, Bộ KHCN, các cơ quan quản lý của  hai Bộ và UBND tỉnh Bạc Liêu đã tạo điều kiện để Đập trụ đỡ và Đập xà lan được nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng rỗng rãi vào sản xuất có hiệu quả cao. Năm ngoái tôi đề nghị với Bộ trưởng Cao Đức Phát cho hội thảo để có thể đưa cống Mương Chuối từ trên bờ xuống sông sẽ  tiết kiệm ít nhất 700 tỷ đồng. Tôi rất cảm động khi nghe Bộ trưởng nói:” Tôi ngồi đây có trách nhiệm là làm gi có lợi cho đất nước, tôi sẽ cho hội thảo.” Và điều mừng là sau khi hội thảo Bộ đã cho điều chỉnh dự án cống Mương Chuối xuống dưới lòng sông. Qua câu chuyện này tôi tin rằng những tiến bộ kỹ thuật, những kết quả nghiên cứu có hiệu quả sẽ được Bộ mạnh dạn cho áp dụng vào sản xuất nhanh hơn và nhiều hơn. Nhân đây, xin kính đề nghị với Bộ cho Trung tâm Công trình Đồng bằng ven biển và Đê điều phát triển thành một đơn vị đủ tầm để nghiên cứu công trình vùng ven biển trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

    Cũng nhân dịp này xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhiều bạn bè, đồng nghiệp, đã luôn động viên khích lệ chúng tôi vươn lên khi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu khoa hoc và ứng dụng vào thực tế …

    Nhân được phát biểu trên báo Tài nguyên nước là tiếng nói riêng, là linh hồn của Ngành Thủy lợi Việt Nam, tôi chúc cho Báo của chúng ta sẽ phát triển mạnh hơn, ra nhiều số hơn để có điều kiện dành nhiều hơn cho các bài về tiến bộ kỹ thuật và kết quả nghiên cứu, nhằm tuyên truyền phổ biến kịp thời cho sự nghiệp thủy lợi với vai trò đặc biệt quan trọng trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

      PV:  Xin cảm ơn GS.TS Trương Đình Dụ. Chúc ông và các cộng sự luôn phát huy trí tuệ, lòng nhiệt tình, sức mạnh đoàn kết, gặt hái được nhiều” mùa vàng” hơn nữa, mang lại vinh quang cho ngành Thuỷ lợi Việt Nam!

     

    HÀ QUANG thực hiện

     

     

  • Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Thủy Lợi cơ sở 2 lần thứ II , nhiệm kỳ 2012 – 2014.

     

    Ngày 27/05/2012 Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Thủy Lợi cơ sở 2 lần thứ II , nhiệm kỳ 2012 – 2014 đã được tổ chức trang trong tại Hội trường 500 chỗ Bình Dương.

    Đại hội vinh dự được đón tiếp đ/c : Đoàn Kim Thành – Giám đốc trung tâm khoa học trẻ , đ/c: Nguyễn Khắc Quang cán bộ ban kiểm tra, đ/c: Trần Minh Thảo cán bộ ban quốc tế  đến từ thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh. Về phía nhà trường có Th.s Lã Bá Thiết– Bí thư Đảng ủy – Phó giám đốc cơ sở 2, PGS.TS Nguyễn Đăng Tính Trưởng ban đào tạo và Quản lý sinh viên- Phó giám đốc Cơ sở 2, Cô Trần Thị Lệ Thanh – Trưởng ban hành chính quản trị, Th.s Nguyễn Đăng Tâm- Trưởng ban giáo viên cơ bản cơ sở, cùng các đại biểu khách mời là các cán bộ, giảng viên đang công tác, giảng dạy tại cơ sở 2 Đại học Thủy Lợi.

    Ngoài ra, đại hội còn có sự góp mặt của  đồng chí Trương Văn Sinh đại diện cho Ủy ban thường vụ Thị đoàn Thuận An, bí thư đoàn phường An Thạnh là cơ sở Đoàn kết nghĩa với Đoàn trường.
    Cùng với sự hiện diện của 108 đại biểu đại diện cho 29 chi đoàn trực thuộc của đoàn trường cơ sở 2 Đại học Thủy Lợi.

    Đại hội đã bầu ra Đoàn Chủ tịch để điều hành Đại hội gồm 4 đ/c: Bùi Xuân Khoa, Đặng Tuấn Phong, Đặng Văn Thương, Nguyễn Thị Hương.

    Thay mặt Đoàn Chủ tịch, đ/c Bùi Xuân Khoa đã trình bày “ Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhiệm kỳ 2008 – 2011”, đ/c Đặng Tuấn Phong trình bày “Phương hương công tác của nhiệm kỳ 2012 – 2014”. Báo cáo đã nêu bật những thành tích đáng ghi nhận của Đoàn trường  trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Đặc biệt là thành tích trong các phong trào hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, phong trào “4 đồng hành, 5 xung kích” của học sinh, sinh viên.

     
        

    Đoàn chủ tịch điều hành đại hội

    Trong nhiệm kỳ qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy, Ban giám đốc nhà trường, công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Đoàn trường đã đạt được kết quả đáng khích lệ, với nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực thu hút được đông đảo đoàn viên thanh niên tham gia, tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của đoàn viên thanh niên về vai trò của tổ chức Đoàn trong toàn trường, đảm bảo thực hiện đúng kế hoạch chương trình công tác đã đề ra; Góp phần thúc đẩy đưa công tác xây dựng và củng cố tổ chức Đoàn lên một bước phát triển mới.

    Th.s Lã Bá Thiết– Bí thư Đảng ủy – phó giám đốc cơ sở 2 phát biểu chỉ đạo đại hội

    Đại hội đã nhận được sự khen ngợi cũng như những góp ý thẳng thắn từ những ý kiến phát biểu của : đ/c Đoàn Kim Thành – Giám đốc trung tâm khoa học trẻ thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh, Th.s Lã Bá Thiết– Bí thư Đảng ủy – phó giám đốc cơ sở 2 .Trong phần phát biểu của mình Th.s Lã Bá Thiết đã ghi nhận những đóng góp của phong trào Đoàn  đối với nhiệm vụ giáo dục đào tạo của nhà trường; đồng thời cũng chỉ ra những mặt còn hạn chế trong công tác Đoàn  nhiệm kì 2010 – 2012 cần phải chấn chỉnh và rút kinh nghiệm cho nhiệm kỳ tới.

     Đại hội đã bầu 15 đ/c đoàn viên tiêu biểu vào BCH nhiệm kỳ 2012-2014 và bầu 01 đại biểu đi dự Đại hội Đoàn TNCS HCM Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 9 nhiệm kỳ 2012 – 2017.

    Những bó hoa tươi thắm của các đại biểu dành cho Ban Chấp hành khóa mới khi ra mắt đại hội như là những hy vọng vào một nhiệm kỳ hoạt động mới với nhiều thành tích xuất sắc hơn nữa, tiếp tục đưa Đoàn Thanh niên Trường trở thành một trong những trường đi đầu trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Thành phố.


    BCH mới ra mắt đại hội

     

     

    DANH SÁCH BCH ĐOÀN TNCS HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI SƠ SỞ 2 KHÓA II, NHIỆM KỲ 2012 – 2014

     

    1.      Nguyễn Thị Vân Anh

    CĐ 52C4

    2.      Lê Quang Cường

    CĐ 52C3

    3.      Nguyễn Tiến Hiển

    CĐ 53C2

    4.      Phạm Văn Hiệp

    CĐ 51TH

    5.      Lê Ngọc Huy

    CĐ 53CTN

    6.      Nguyễn Thị Hương

    CĐ CBGV

    7.      Vũ Văn Kiên

    CĐ 52C1

    8.      Lê Thị Lan

    CĐ 53C4

    9.      Nguyễn Thị Thùy Linh

    CĐ CBGV

    10. Đào Thị Hồng Minh

    CĐ 52C3

    11. Nguyễn Duy Nguyên

    CĐ 51CXD

    12. Đặng Tuấn Phong

    CĐ CBGV

    13. Vũ Hồng Phương

    CĐ 52N

    14. Nguyễn Thị Thu Sang

    CĐ 53N

    15. Nguyễn Anh Tú

    CĐ 52C4

     

    Tại phiên họp thứ nhất BCH Đoàn trường nhiệm kì II đã bầu Ban Thường vụ Đoàn trường (5 đ/c) và bầu các chức danh Bí thư, Phó bí thư. Ban Thường vụ gồm các đồng chí:

         

    1.     Đặng Tuấn Phong

      Bí thư

    2.     Nguyễn Thị Hương

      Phó bí thư

    3.     Vũ Văn Kiên

     Phó bí thư

    4.     Nguyễn Thị Thùy Linh

     Ủy viên

    5.     Nguyễn Duy Nguyên

     Ủy viên

     

    Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Thủy Lợi cơ sở 2 lần thứ II là sự kiện chính trị quan trọng của tuổi trẻ Nhà trường, định hướng cho công tác Đoàn và phong trào thanh niên tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Đoàn, cổ vũ thanh niên Nhà trường thi đua rèn đức, luyện tài vì ngày mai lập nghiệp, góp phần xây dựng Đảng bộ Nhà trường trong sạch, vững mạnh, Nhà trường vững mạnh toàn diện.    

    Qua 2 buổi làm việc đầy trách nhiệm, đại hội đã đoàn kết, dân chủ và tập trung trí tuệ hoàn thành chương trình làm việc, đại hội đã kết thúc thành công tốt đẹp.  Chúc cho BCH đoàn trường Đại học thủy lợi cơ sở 2 nhiệm kì 2 (2012- 2014) đoàn kết, đồng lòng để đưa hoạt động Đoàn và Phong trào thanh niên của Trường ngày càng lớn mạnh, góp phần vào sự phát triển của Trường theo khẩu hiệu hành động đã đề ra : “ Tuổi trẻ đại học Thủy lợi cơ sở 2 rèn đức, luyện tài ; xung kích sáng tạo chung tay cùng nhà trường thực hiện chiến lược phát triển toàn diện”.

                   

     

     

  • Trường Đại học Thuỷ lợi vui ngày Tết thiếu nhi

    Một ngày tết thiếu nhi 1.6 lại đến, trong không khí vui tươi đầu hè, sáng ngày 31/05/2012, Nhà trường đã tổ chức lễ khen thưởng học sinh giỏi năm học 2011-2012 và kỷ niệm ngày quốc tế thiếu nhi cho các cháu thiếu nhi con cán bộ giảng viên CNV Nhà trường. 

    Đến dự và chung vui với buổi lễ có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, GS.TS Phạm Ngọc Quý – Phó Hiệu trưởng Nhà trường, PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng lãnh đạo các phòng ban trong Nhà trường.

    Nhằm động viên phong trào học tập, Nhà trường đã tuyên dương và khen thưởng các cháu đạt danh hiệu Học sinh giỏi năm học vừa qua.

     
     
    Ngày Tết thiếu nhi 1.6 diễn ra khi các em vừa kết thúc một năm học vất vả và chuẩn bị đón một mùa hè vui vẻ, bổ ích. Món quà lần này Nhà trường đã mang đến cho các bé là một không khí vui nhộn qua các chương trình văn nghệ do chính các bạn biểu diễn và các màn múa rối cạn đặc sắc. Trong thế giới đầy ắp màu sắc đó, sự hào hứng hân hoan, những tiếng cười thoả thích, những tràng vỗ tay …tất cả đã tạo nên một ngày hội đầy ý nghĩa mà dư âm của nó vẫn còn đọng mãi. Đây là món ăn tinh thần không thể thiếu cho trẻ thơ và là động lực để các bậc cha mẹ thêm phấn đấu công tác vì tương lai con em chúng ta.

     

    Nhân ngày Quốc tế thiếu thi, mong rằng tất cả trẻ em – những thiên thần của chúng ta sẽ có một tuổi thơ đầy ắp niềm vui, sự hồn nhiên trong sáng và lớn lên trong hạnh phúc; luôn khoẻ mạnh, chăm ngoan học giỏi, là tài sản vô giá trong mỗi gia đình.Vì một xã hội tốt đẹp, vì một tương lai tràn ngập niềm vui, niềm hạnh phúc chúng ta hãy dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.

     

    Hà Linh Ngọc

     

  • Lễ công bố quyết định của Hiệu trưởng giao nhiệm vụ cho TS Nguyễn Như Oanh – Phó giám đốc văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình

    Sáng 31/5/2012, tại phòng 223, trường Đại học Thủy Lợi đã tổ chức lễ công bố quyết định của Hiệu trưởng giao nhiệm vụ cho TS Nguyễn Như Oanh – Phó giám đốc văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình. Tham dự buổi lễ có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường, GS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường cùng các thầy trong ban giám hiệu, đại diện các phòng ban trong trường.

    ThS Trần Vũ Hợp – Trưởng phòng Tổ chức cán bộ  đọc quyết định của Hiệu trưởng

    Mở đầu buổi lễ, ThS Trần Vũ Hợp – Trưởng phòng Tổ chức cán bộ đọc quyết định của Hiệu trưởng giao nhiệm vụ cho TS Nguyễn Như Oanh. Theo đó, TS Nguyễn Như Oanh – Phó giám đốc văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình sẽ phụ trách văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình kể từ ngày 1/6/2012.

    GS.TS Nguyễn Quang Kim đại diện cho Nhà trường lên trao quyết định, giao nhiệm vụ cho TS Nguyễn Như Oanh

    GS.TS Nguyễn Quang Kim đại diện cho Nhà trường lên trao quyết định, giao nhiệm vụ và gửi lời chúc mừng đến TS Nguyễn Như Oanh. Thầy Hiệu trưởng cũng gửi lời cảm ơn đến TS Oanh trong suốt thời gian qua đã cùng gánh vác và chia sẽ công việc với Nhà trường, thầy mong muốn TS Oanh cố gắng tìm nguồn việc khả thi, tạo công việc ổn định cho anh em, duy trì tinh thần đoàn kết và môi trường làm việc thân thiện giữa các thành viên trong văn phòng.

     
     
    Đại diện Hội đồng trường GS.TS Dương Thanh Lượng – Chủ tịch Hội đồng trường mong muốn thầy Oanh tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống của Nhà trường để văn phòng Tư vấn thẩm định Thiết kế và Giám định chất lượng công trình vừa là đơn vị nghiên cứu khoa học, vừa làm tốt công tác phục vụ sản xuất góp phần nâng cao vị thế của Nhà trường. Sau khi lắng nghe phát biểu của đại diện Đảng ủy, Ban giám hiệu trường, TS Nguyễn Như Oanh đã gửi lời cảm ơn Nhà trường đã tin tưởng giao cho, đồng thời hứa sẽ cố gắng làm tốt công việc được giao, tiếp tục giữ vững và phát huy thương hiệu trường Đại học Thủy Lợi.
    Bài và ảnh Trần Mai Anh
  • Mitting hưởng ứng ngày môi trường thế giới 5/6/ 2012 “Kinh tế xanh có bao gồm bạn không?”

    Ngày 29/5, tại hội trường T45, trường Đại học Thủy Lợi long trọng tổ chức lễ mitting hưởng ứng ngày môi trường thế giới 5/6/ 2012 với chủ đề “Kinh tế xanh có bao gồm bạn không?”. Tham dự buổi lễ có GS.TS Phạm Ngọc Quý – Phó hiệu trưởng Nhà trường, PGS.TS Nguyễn Trọng Tư – Bí thư Đoàn trường, ông Christian Henschel – Chuyên gia nước ngoài thuộc văn phòng quản lý dự án rác thải và nước thải đô thị, cùng các thầy cô giáo đại diện các khoa, phòng ban và các bạn sinh viên trong trường.

    Mở đầu buổi lễ, PGS.TS Nguyễn Trọng Tư – đại diện cho tuổi trẻ đoàn viên thanh niên Nhà trường lên phát biểu khai mạc. Ngày 5/6 hàng năm được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) chọn là ngày Môi trường thế giới kể từ hội nghị về con người và môi trường năm 1972 tại thủ đô Stockholm – Thụy Điển. Đây là một sự kiện quan trọng được Việt Nam hưởng ứng trong nhiều năm qua. Chủ đề năm nay “Kinh tế xanh có bao gồm bạn không?” nhấn mạnh vai trò mỗi các nhân với kinh tế xanh, bàn về kinh tế xanh trong sự phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo. Hiện nay, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm âm thanh, ánh sáng,…cùng với việc cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên đang đáng báo động ở Việt Nam. Mỗi cá nhân chúng ta cần chung tay bằng những việc làm cụ thể để bảo vệ môi trường như phối hợp với các ban ngành để tuyên truyền sâu rộng các chương trình bảo vệ môi trường, vận động mọi người phân loại rác, xả rác đúng nơi quy định, thực hành tiết kiệm điện, nước, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, hưởng ứng các chiến dịch làm môi trường xanh, sạch, đẹp.

     GS.TS Phạm Ngọc Quý – Phó hiệu trưởng Nhà trường phát biểu

    Tiếp sau đó là bài phát biểu của GS.TS Phạm Ngọc Quý – Phó hiệu trưởng Nhà trường, thầy bày tỏ những lo lắng khi hiện nay quá trình phát triển kinh tế kéo theo những biến đổi về khí hậu, môi trường ô nhiễm sẽ hủy hoại 1/3 các vi sinh vật, nhà máy thải ra nhiều khí cacbon. Quá nhiều phế thải công nghiệp gây nguy hại cho môi trường sống; khai thác và sử dụng khoáng sản ngày càng làm gia tăng hiệu ứng nhà kính. Đô thị hóa với tốc độ chóng mặt đã làm cho thành thị trở nên chật hẹp; bê tông hóa, mất đi nhiều ao hồ, cây xanh; tăng bụi, lắm ồn, nhiều chất bẩn. Vì môi trường sống, vì con người, vì sự phát triển một nền kinh tế xanh, sạch- một nền kinh tế bền vững. Ý chí ấy được biểu thị bằng những việc làm cụ thể. Đó là tăng cường cung cấp thông tin, đẩy mạnh tuyên truyền và thống nhất nhận thức vì sự phát triển của một nền kinh tế xanh bền vững, vì con người. Mỗi người đều phải sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, tài nguyên; sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, đồng thời cải tiến và lựa chọn công nghệ cao có hiệu quả kinh tế, an toàn và bền vững, sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường,…Với khẩu hiệu “hãy chung tay vì cuộc sống” thầy mong muốn mọi người nói chung và sinh viên Thủy Lợi nói riêng hãy cùng nhau bảo vệ hành tinh xanh của chúng ta.

     

    PGS.TSKH Nguyễn Trung Dũng – Phó chủ nhiệm khoa Kinh tế và Quản lý thuyết trình
     
     

    PGS.TSKH Nguyễn Trung Dũng – Phó chủ nhiệm khoa Kinh tế và Quản lý lên thuyết trình “Phát triển bền vững và kinh tế xanh” giúp  mọi người có cái nhìn toàn diện hơn về kinh tế xanh – một nền kinh tế nhằm cải thiện đời sống con người đồng thời chú trọng giảm thiểu thảm họa môi trường trong sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, cũng như sự phát triển bền vững trong một môi trường an toàn và thân thiện. Hai bài thuyết trình của ông Christian Henschel – Chuyên gia nước ngoài thuộc văn phòng quản lý dự án rác thải và nước thải đô thị và bạn Vũ Thị Khắc – lớp 52MT về “ô nhiễm môi trường và các giải pháp giảm thiểu” nhắc nhở chúng ta về việc môi trường ô nhiễm đáng báo động ở Việt Nam, bởi thế ngay từ phút này mỗi chúng ta cần nhận thức đúng và có ý thức bảo vệ môi trường “Hãy là người văn hóa, hiện đại, bảo vệ môi trường”

     
     Tiết mục trình diễn thời trang giấy của khoa Môi trường
     
     Tiết mục kịch của sinh viên Thủy Lợi
     
    Buổi mitting thêm sôi nổi bởi các tiết mục văn nghệ, trình diễn thời trang giấy cùng tiết mục kịch của các bạn sinh viên khoa Môi trường, Thủy Văn, Kinh tế và Quản lý để hưởng ứng ngày môi trường thế giới năm nay. Mỗi chúng ta bằng những hành động thiết thực như hạn chế sử dụng nguồn nguyên, nhiên liệu có phát sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính làm biến đổi khí hậu, tạo thói quen tự giác tham gia các hoạt động phong trào bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo như than đá, dầu mỏ, khí đốt, tích cực tham gia vào các hoạt động trồng cây gây rừng,…có nghĩa là chúng ta đã góp một phần công sức của mình vì một trái đất hòa bình, thân thiện với môi trường. Buổi lễ mitting đầy ý nghĩa đã kết thúc thành công tốt đẹp.
     
    Một số tham luận hưởng ứng ngày Môi trường Thế giới
     
    Bài và ảnh Trần Mai Anh
  • Lực lượng vũ trang Thủ đô kết hợp thực hiện tốt phong trào Thi đua Quyết thắng với phong trào thi đua yêu nước của thành phố

    Một trong những giải pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ trong mô hình tổ chức mới, lực lượng vũ trang Thủ đô (LLVT) đã chú trọng gắn việc thực hiện phong trào thi đua quyết thắng (TĐQT) với phong trào thi đua yêu nước của địa phương.

     Cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức thi đua hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 của Đảng, LLVT Thủ đô đã có nhiều hoạt động thi đua sôi nổi, có ý nghĩa thiết thực và đạt hiệu quả cao. Đáng chú ý, phong trào TĐQT của đơn vị đã kết hợp chặt chẽ với phong trào thi đua yêu nước của địa phương, nên có sức lan tỏa rộng rãi, có chiều sâu, tạo động lực thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Để phong trào TĐQT và phong trào thi đua yêu nước của LLVT đạt mục đích, yêu cầu đề ra, Đảng ủy, Thủ trưởng BTL Thủ đô đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt việc quán triệt các chỉ thị của Đảng, của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ mới; làm rõ vị trí, vai trò của công tác thi đua đối với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn Thủ đô. Trên cơ sở đó, các đơn vị động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia; đồng thời, xác định chỉ tiêu thi đua phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị và yêu cầu xây dựng, bảo vệ Thủ đô. Đảng ủy, BTL Thủ đô cũng chỉ đạo các đơn vị phải bám sát thực tiễn, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức phong trào thi đua cho phù hợp với tính chất, đặc điểm nhiệm vụ trong từng giai đoạn. Mục tiêu thi đua phải vừa phản ánh và thực hiện thắng lợi mọi mặt hoạt động của đơn vị, vừa thể hiện được tinh thần trách nhiệm của LLVT đối với sự phát triển của Thủ đô. Bên cạnh việc tổ chức thực hiện tốt các phong trào TĐQT, như: "Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ", "Một tập trung, hai khâu đột phá", "60 ngày đêm hành động kiểu mẫu", "Sáng mãi Điện Biên" …, LLVT Thủ đô còn tích cực hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước: "Cả nước hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội", "Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh", "Xây dựng Thủ đô xanh-sạch-đẹp"… Việc thực hiện tốt phong trào TĐQT và phong trào thi đua yêu nước đã làm chuyển biến mạnh mẽ trình độ làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp về thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự và khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), sức mạnh chiến đấu của LLVT; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ"; đồng thời, bảo đảm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm của người công dân Thủ đô, góp phần xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại, xứng đáng với truyền thống Đông Đô-Thăng Long-Hà Nội trong thời kỳ mới.

    Thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước, LLVT Thủ đô đã  thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng, các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn làm tốt công tác dân vận, tham gia phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh. Với tinh thần "Vì nhân dân quên mình", "Người sẵn sàng, vũ khí sẵn sàng", trong trận mưa lịch sử ở Hà Nội cuối năm 2008, BTL Thủ đô đã chủ động phối hợp với các lực lượng đóng quân trên địa bàn huy động 72.219 lượt cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ, hàng trăm lượt tàu, xuồng, thuyền, ô tô, cầu, phà… giúp địa phương sơ tán 17.450 hộ dân ra khỏi vùng ngập lụt nguy hiểm, góp phần bảo vệ an toàn 28,105 km đê sông Hồng, sông Bùi, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ, sông Mỹ Hà… Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã không ngại khó khăn, gian khổ, dầm mình trong mưa, ứng cứu, bảo vệ an toàn trạm bơm Yên Sở, bảo đảm an toàn cho Thủ đô. Cùng với đó, LLVT Thủ đô còn tích cực tham gia công tác phòng, chống cháy, nổ; phối hợp với các lực lượng dập tắt 41 vụ cháy trên địa bàn. Tiêu biểu là việc khắc phục các vụ hỏa hoạn tại phường Mai Động, nhà máy Sợi công nghiệp, công ty Tô Châu, chợ xe máy Dịch Vọng… bảo vệ an toàn tài sản và tính mạng của nhân dân. LLVT Thủ đô cũng đã chủ động tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; tham gia giải quyết các "điểm nóng", không để địch lợi dụng, kích động gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô.

    Cùng với phong trào thi đua yêu nước, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị trung tâm của mình, LLVT Thủ đô đã tổ chức thực hiện tốt phong trào TĐQT; tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng và trình độ SSCĐ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Là lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô, yêu cầu đặt ra đối với các đơn vị là phải luôn duy trì kỷ luật chặt chẽ, sức cơ động cao, trình độ và khả năng SSCĐ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Để làm được điều đó, các cấp ủy đã tập trung lãnh đạo hướng các mục tiêu thi đua vào nâng cao chất lượng huấn luyện; lấy huấn luyện kỹ thuật làm cơ sở, huấn luyện chiến thuật làm trung tâm; phù hợp với thực tiễn của đơn vị, với đối tượng tác chiến và trang bị hiện có. Thông qua các phong trào "Huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, SSCĐ cao", "Tháng hành động cao điểm, chấm dứt vi phạm kỷ luật"…, các đơn vị đã tạo được không khí thi đua sôi nổi trong huấn luyện, học tập, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nếp sống chính quy. Bởi vậy, công tác huấn luyện đã đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra; riêng huấn luyện chiến sĩ mới đạt đơn vị giỏi; huấn luyện dân quân, tự vệ đạt 100% yêu cầu, 84% khá, giỏi; huấn luyện quân dự bị đạt 100% chỉ tiêu; trình độ chính quy, chấp hành kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước có nhiều chuyển biến tiến bộ. Ngoài ra, Đảng ủy và BTL Thủ đô đã tập trung lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập khu vực phòng thủ, phòng, chống, giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; 100% xã (phường, thị trấn) hoàn thành diễn tập chiến đấu trị an. Chế độ trực SSCĐ của các đơn vị được thực hiện nghiêm túc; khả năng cơ động thực hiện nhiệm vụ của các lực lượng, phương tiện được nâng cao; công tác kiểm soát quân sự trên địa bàn bảo đảm chặt chẽ. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, phong trào thi đua của các đơn vị đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng-an ninh cho các đối tượng trên địa bàn.

    Ngành Hậu cần, Kỹ thuật của LLVT Thủ đô cũng tích cực gắn việc thực hiện Cuộc vận động "Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy", "Cuộc vận động 50" với các phong trào thi đua yêu nước của Thủ đô. Qua đó, đã động viên được cán bộ, chiến sĩ hậu cần, kỹ thuật phát huy tinh thần tự lực, tự cường, chủ động khai thác mọi tiềm năng trên địa bàn để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ. Ngoài việc tiếp nhận, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn kinh phí, vật tư, trang bị trên cấp, các đơn vị đã động viên bộ đội tích cực lao động, tăng gia, chăn nuôi cải thiện đời sống. Nếu như năm 2004, giá trị tăng gia bình quân đạt 405.000 đồng/người, thì năm 2009, giá trị đó là 650.000 đồng/người. Nhờ vậy, trước những biến động giá cả thị trường, đời sống của bộ đội vẫn được giữ vững và cải thiện; doanh trại được chỉnh trang, xây dựng thống nhất; chất lượng chăm sóc sức khỏe của bộ đội được nâng cao. Thực hiện chương trình quân-dân y kết hợp, hằng năm, ngành Quân y của đơn vị đã cử các đội công tác đến những địa phương khó khăn để khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân. Các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng chính sách; xây dựng nhà tình nghĩa… đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng nhân dân. Bên cạnh sự quan tâm bảo đảm đời sống vật chất của bộ đội, cấp ủy, cán bộ chủ trì các đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Cuộc vận động "Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú" gắn với Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Xây dựng Thủ đô xanh-sạch-đẹp" của địa phương… Nhờ đó, đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội được nâng cao, môi trường, cảnh quan sạch, đẹp; phòng ngừa có hiệu quả văn hóa xấu, độc, các tệ nạn xã hội thâm nhập vào đơn vị. Nhiều tấm gương, nhiều mô hình tiêu biểu như: "Nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt", "Đơn vị quân y 5 tốt", "Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác", "Đơn vị quản lý tài chính tốt", "Doanh trại chính quy, sáng, xanh, sạch, đẹp"… đã góp phần xây dựng ngành Hậu cần vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cùng với ngành Hậu cần, ngành Kỹ thuật đã tích cực, chủ động, sáng tạo, tìm tòi các biện pháp khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm, phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, bảo vệ Thủ đô trong mọi tình huống. Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong các cơ quan, đơn vị phát triển mạnh mẽ; nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật đã được ứng dụng trong thực tiễn, như: cải tiến giá súng 12,7mm, thiết bị thử thời gian giữ chậm ngòi lựu đạn, ứng dụng lắp bơm xăng điện trên xe thiết giáp BTR152… Đóng quân trên địa bàn có mật độ dân số và xe cơ giới cao, đơn vị đã thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ nâng cao ý thức, trách nhiệm khi tham gia giao thông; đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng và thực hiện các biện pháp góp phần làm giảm thiểu ùn tắc giao thông trên địa bàn.

    Trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu của phong trào thi đua đã được xác định, trong từng thời gian, các đơn vị đã cụ thể hóa cho phù hợp với tính chất, đặc điểm nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng tổ chức, xây dựng con người; gắn phong trào thi đua với đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", "Xây dựng và chỉnh đốn Đảng"… Các cơ quan, đơn vị đã hướng phong trào thi đua bám sát tiêu chí xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; xây dựng các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Trong tổ chức thực hiện, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị hết sức coi trọng đến chất lượng, hiệu quả của phong trào, không phô trương, hình thức; tập trung vào khắc phục khâu yếu, mặt yếu, những vấn đề nổi cộm trong đơn vị. Nhờ đó, chất lượng các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở BTL Thủ đô không ngừng được nâng lên. Qua bình xét hằng năm, tỷ lệ tổ chức đảng đạt trong sạch, vững mạnh thường xuyên đạt từ 95% trở lên, trên 90% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, 96% các tổ chức quần chúng đạt vững mạnh, trong đó có 30% đạt vững mạnh xuất sắc, 100% hội viên phụ nữ đạt tiêu chuẩn "2 giỏi"…

    Hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 của Đảng, cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô tiếp tục thực hiện tốt phong trào TĐQT kết hợp với phong trào thi đua yêu nước của Thành phố, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Thủ đô thời kỳ mới.

    Đại tá LÊ HIỀN VÂN

    Chủ nhiệm Chính trị, Bộ Tư lệnh Thủ đô

    theo

    http://tapchiqptd.vn