Danh mục: Hoạt động chung

  • Hồ Chí Minh – sự thống nhất cuộc sống và nghệ thuật

    Hồ Chí Minh – sự thống nhất cuộc sống và nghệ thuật

    Tên sách: Hồ Chí Minh – sự thống nhất cuộc sống và nghệ thuật

    Tác giả: Nguyễn Thanh Tú

    Thông tin xuất bản: NXB Công an nhân dân, 2019  . – 320 tr.;  21 cm

    ISBN: 9786047241477

    Với tấm lòng của một công dân luôn luôn yêu mến, kính trọng đối với Bác Hồ – một tâm hồn nghệ sĩ vĩ đại của dân tộc, của nhân loại,  tác giả Nguyễn Thanh Tú đã thực hiện những kết quả bước đầu trong việc nghiên cứu di sản văn hoá Hồ Chí Minh. Để có được tác phẩm này, tác giả đã đi qua những chặng đường tìm tòi, học tập, sưu tầm, tích luỹ kinh nghiệm từ các công trình đã viết trước đó như:

    –       Một tâm hồn vĩ đại và tinh tế. Cảm nhận về thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, 2010

    –       Hồ Chí Minh và những mạch nguồn văn hoá, 2012

    –       Hồ Chí Minh – Nhà ngụ ngôn kiệt xuất, 2014

    Thông qua việc nắm bắt quan niệm của Bác Hồ về chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phản ánh và sáng tạo của văn nghệ sau đó đến cuộc sống và hoạt động cách mạng đầy huyền thoại của Người đã dần dần hình thành những nguyên tắc độc đáo, đặc sắc: cuộc sống hóa nghệ thuật và nghệ thuật hóa cuộc sống. Hai nguyên tắc này luôn song hành, tương ứng trong mối quan hệ biện chứng thống nhất đã góp phần tạo nên tâm hồn nghệ sỹ Hồ Chí Minh vừa khác lạ vừa thân quen; vừa bình thường vừa phi thường; vừa phương Đông lại rất phương Tây; truyền thống, cổ điển mà hiện đại, mới mẻ…

    Sách được phục vụ tại Phòng Tài liệu tham khảo (tầng 3) Thư viện Trường Đại học Thủy lợi (cơ sở Hà Nội 175 Tây Sơn).

    Từ khóa: Hồ Chí Minh; Nghệ thuật; Cuộc sống; Lãnh tụ cách mạng; Chính trị gia

    Bạn đọc tra cứu sách sử dụng Mã hệ thống 25009 tại http://catalog.tlu.edu.vn

    Trân trọng giới thiệu cuốn sách tới bạn đọc!

  • Những sự kiện đáng nhớ trong nước diễn ra trong ngày 30/4 kể từ sau năm 1975

    Những sự kiện đáng nhớ trong nước diễn ra trong ngày 30/4 kể từ sau năm 1975

    Ngày 30/4/1993, ra mắt Quỹ hỗ trợ tài năng trẻ.

    Ngày 30/4/2000, chính thức khởi công xây dựng Trung tâm thương mại Tràng Tiền (Bách hóa Tổng hợp cũ) Hà Nội. Chủ đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Tràng Tiền-liên doanh giữa Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (Vinaconex) và Công ty thương mại Hà Nội.

    Trung tâm thương mại Tràng Tiền được xây mới cao 6 tầng và 1 tầng âm, có diện tích sàn sử dụng 18.000m2, với tổng vốn đầu tư 145 tỷ đồng; bốn tầng dưới là khu buôn bán siêu thị, trong đó có ba gian dành để hội thảo các vấn đề thương mại; tầng 5 và 6 là các văn phòng giao dịch thương mại… Công trình được chính thức đưa vào hoạt động ngày 3/2/2002.

    Ngày 30/4/2001, Chùa Phật Tổ ở phường 4, thành phố Cà Mau được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là công trình kiến trúc-nghệ thuật.

    Chùa được xây dựng vào năm 1840. Đến năm 1842, Triều Nguyễn đã xuống chiếu sắc phong chùa Phật Tổ là “Sắc tứ Quan Âm cổ tự.”

    Ngày 30/4/2002, khởi công xây dựng cầu Rạch Miễu; được xây dựng trên Quốc lộ 60, cầu Rạch Miễu bắc qua sông Tiền nối hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre.

    Đây là cầu dây văng đầu tiên do các kỹ sư Việt Nam thiết kế và xây dựng. Cầu có tổng chiều dài 8.331m, trong đó phần cầu chính dài 2.878m.

    Đây là dự án được đầu tư theo phương thức BOT (xây dựng-kinh doanh-chuyển giao), có vốn đầu tư khoảng 1.400 tỷ đồng. Cầu được khánh thành và đưa vào sử dụng từ ngày 19/1/2009.

    Cầu Rạch Miễu được xây dựng giúp tỉnh Bến Tre không còn là tỉnh cù lao, giao thông cách trở, tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương kêu gọi đầu tư, phát triển kinh tế-xã hội.

    Ngày 30/4/2004, khánh thành Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ giai đoạn 1.

    Công trình Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ nằm trên đồi D1 ở vị trí trung tâm thành phố Điện Biên Phủ, là công trình nghệ thuật kiến trúc vĩ đại, biểu tượng tinh thần quyết chiến quyết thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

    Khởi công đúc từ ngày 10/10/2003 và khánh thánh ngày 30/4/2004, tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ có chiều cao 12,6m, dài 10m và rộng 8m, được đúc bằng đồng nguyên chất nặng 220 tấn, mô phỏng hình ảnh ba anh bộ đội đứng quay lưng vào nhau, nâng một em bé người Thái, trên cùng là lá cờ quyết chiến quyết thắng.

    Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ

    Năm 2009, tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ giai đoạn 2 được khánh thành với nhiều hạng mục quan trọng như: Bức phù điêu đại cảnh lớn nhất Đông Nam Á; Quảng trường trung tâm; đường hành lễ…

    Ngày 30/4/2005, tại Hà Nội, khởi công xây dựng nút giao thông Ngã Tư Sở, với tổng vốn đầu tư 1.139,6 tỷ đồng.

    Các hạng mục chính được xây dựng gồm có: 1 cầu vượt dài 237m, rộng 17m; hầm cho người đi bộ và các hạng mục mở rộng nút giao thông.

    Việc đưa vào vận hành nút giao thông Ngã Tư Sở góp phần giảm ách tắc giao thông ở cửa ngõ phía Tây Nam thủ đô. Công trình cũng được đánh giá là hiện đại nhất của thủ đô tính đến thời điểm này. Ngày 19/5/2007, công trình chính thức hoàn thành và đưa vào sử dụng.

    Ngày 30/4/2006, hợp long cầu Bãi Cháy ở tỉnh Quảng Ninh.

    Cầu Bãi Cháy bắc qua eo biển Cửa Lục, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, đã chính thức hợp long sau gần ba năm khởi công xây dựng.

    Cây cầu có tổng vốn đầu tư là 2.142 tỷ đồng, là cây cầu dây văng bêtông dự ứng lực một mặt phẳng đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam, có chiều dài 903m, rộng 25,3m (bốn làn xe cơ giới và hai làn xe thô sơ), tĩnh không thông thuyền 50m.

    Ngày 2/12/2006, Cầu Bãi Cháy được khánh thành và đưa vào sử dụng, góp phần đảm bảo giao thông thuận tiện, thông thương hàng hóa; đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, vùng tam giác kinh tế phía Bắc nói chung.

    Ngày 30/4/2007, khởi công xây dựng Cụm công nghiệp tàu thủy và Nhà máy Đóng tàu Hậu Giang, tại xã Đồng Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

    Cụm công nghiệp tàu thủy, xây dựng trên diện tích 290 ha với vốn đầu tư 1.700 tỷ đồng. Nhà máy Đóng tàu Hậu Giang có tổng vốn đầu tư 1.100 tỷ đồng.

    Cụm công nghiệp tàu thủy và Nhà máy Đóng tàu Hậu Giang dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2010.

    Ngày 30/4/2008, tại xã Diên Phú, TP Plâyku, tỉnh Gia Lai, khởi công xây dựng trường phổ thông đa cấp trên khuôn viên 11, ha với tổng vốn đầu tư 80 tỷ đồng.

    Trường có quy mô và năng lực đào tạo cùng lúc 4.000 học sinh thuộc ba cấp học phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; nội trú và bán trú); nhà thi đấu đa năng, sân vận động, khu vui chơi, bể bơi…

    Ngày 30/4/2010, Công ty cổ phần Vincom đã khai trương Trung tâm thương mại cao cấp Vincom Center Shopping Mall – một trung tâm mua sắm có diện tích lớn nhất Việt Nam hiện nay với sự góp mặt của nhiều thương hiệu lớn trên thế giới.

    Vincom Center Shopping Mall có ba mặt phố là Đồng Khởi-Lê Thánh Tôn-Lý Tự Trọng ở quận 1, có 26 tầng và 6 tầng hầm. Riêng khu thương mại có tổng diện tích 57.704m2, hiện được đánh giá là trung tâm thương mại sang trọng với các dịch vụ tiện ích trọn gói: các cửa hàng, cửa hiệu thời trang, siêu thị, ẩm thực, các dịch vụ vui chơi giải trí…

    Khu văn phòng quốc tế hạng A có tổng diện tích 80.000m2, được đầu tư và tổ chức quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế dành cho văn phòng hạng sang, là trụ sở lý tưởng cho các tổ chức quốc tế và tập đoàn lớn của Việt Nam và quốc tế hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ngày 30/4/2011, tại Khu du lịch quốc tế Hòn Dáu thuộc khu 3, Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, chính thức khánh thành, đưa vào sử dụng Hồ bơi lọc nước biển nhân tạo lớn nhất châu Á.

    Công trình tạo nên điểm nhấn hiện đại, độc đáo hiếm có cho quần thể du lịch "sơn thuỷ hữu tình" Đồ Sơn.

    Hồ bơi có diện tích gần 7ha do Công ty cổ phần du lịch quốc tế Hòn Dáu quản lý và khai thác. Đây là hồ bơi lọc nước biển và tạo sóng đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam với độ sâu 2,5m.

    Nguồn nước trong hồ được lấy từ nguồn nước biển sẵn có của Đồ Sơn, sau đó đưa qua hệ thống lọc xử lý cặn bẩn theo công nghệ Tây Ban Nha, trở thành màu nước trong xanh giữ nguyên độ mặn, tạo sóng suốt bốn mùa.

    Bên cạnh hồ bơi lớn là hồ bơi nhỏ dành cho trẻ em với độ sâu an toàn, ở giữa hồ lắp hệ thống cầu trượt cho các cháu thoả sức vui đùa.

    Ngày 30/4/2012, nhân kỷ niệm 37 năm giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, 40 năm ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị, tại Khu di tích đôi bờ Hiền Lương-Bến Hải, một địa danh nổi tiếng, gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, tỉnh Quảng Trị đã tổ chức Lễ hội thống nhất non sông với nghi lễ Thượng cờ tại kỳ đài Hiền Lương.

    Đúng 8 giờ sáng 30/4, Lễ Thượng cờ được tổ chức trọng thể tại kỳ đài lịch sử bên bờ Hiền Lương. Trên nền nhạc Quốc ca hùng tráng, các đồng chí lãnh đạo Trung ương, địa phương trong cả nước cùng đông đảo cán bộ, chiến sỹ và nhân dân Quảng Trị đã trang nghiêm làm lễ thượng cờ, chứng kiến lá cờ đỏ sao vàng được từ từ kéo lên trên đỉnh kỳ đài Hiền Lương lịch sử.

    Trong suốt chiều dài của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, lá cờ trên đỉnh cột cờ Hiền Lương là niềm kiêu hãnh, là niềm tin, ý chí, khát vọng và là sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là mốc son rực rỡ của lịch sử đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Ngày 30/4/2012, tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, đã tổ chức lễ công bố Quyết định của Bộ Xây dựng công nhận thị trấn Tịnh Biên là đô thị loại IV và chính thức khánh thành khu hành chính huyện Tịnh Biên được di dời từ thị trấn Nhà Bàng về thị trấn Tịnh Biên.

    Thị trấn Tịnh Biên những năm gần đây đã trở thành đô thị thương mại, dịch vụ không chỉ của huyện, tỉnh mà còn là điểm kinh doanh, trung chuyển, giao lưu hàng hóa và xuất khẩu sản phẩm của các tỉnh phía Nam sang Vương quốc Campuchia.

    Bên cạnh đó còn có tuyến Tỉnh lộ 55A nối với Quốc lộ N1 cặp tuyến kênh Vĩnh Tế đến thị xã Hà Tiên ở tỉnh Kiên Giang tạo thành đường vòng du lịch khép kín thuận lợi cho phát triển du lịch tại địa phương, từ khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh đến Long Xuyên (khu du lịch nghỉ dưỡng cù lao Mỹ Hòa Hưng)- Châu Đốc (Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam)-Tịnh Biên (Núi Cấm, rừng tràm Trà Sư, Khu siêu thị miễn thuế)-Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang).

    Ngày 30/4/2013, tại Đà Nẵng, đã diễn ra Lễ ký kết Hiệp định tài trợ Dự án phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng giữa Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ngân hàng thế giới (WB) trước sự chứng kiến của Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và các đối tác nước ngoài.

    Đại diện được ủy quyền phía Việt Nam, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cùng bà Victoria Kwakwa Giám đốc WB tại Việt Nam đã ký Hiệp định tài trợ Dự án phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng.

    Với tổng mức đầu tư 272,1 triệu USD; trong đó vốn do WB tài trợ là trên 202 triệu USD, Dự án phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng gồm năm hợp phần chính.

    Đó là cải thiện tình hình thoát nước mưa, thu gom xử lý nước thải; phát triển hệ thống xe buýt nhanh trên địa bàn; nâng cao khả năng kết nối hệ thống đường chính nội đô với đường tránh Bắc Nam và mạng lưới đường cao tốc quốc gia; hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực quản lý cơ sở hạ tầng đô thị; các hoạt động được chuyển giao từ dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên Đà Nẵng.

    Ngày 30/4/2014, tại Khu di tích đôi bờ Hiền Lương-Bến Hải, tỉnh Quảng Trị long trọng tổ chức Lễ thượng cờ Thống nhất non sông và đón nhận bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ đối với Di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương-Bến Hải và di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972.

    Ngày 30/4/2014, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thông xe kỹ thuật cầu Lê Văn Sỹ. Đây là cây cầu nằm trong dự án xây dựng bốn cầu gồm cầu Lê Văn Sỹ, cầu Kiệu, cầu Bông trên kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè và cầu Hậu Giang trên kênh Tân Hóa-Lò Gốm.

    Cầu Lê Văn Sỹ được xây dựng lần đầu vào năm 1950, sau đó được sữa chữa, nâng cấp lần thứ nhất vào năm 1994. Tổng chiều dài của cầu gần 60m, rộng 18,5m, kết nối đường Trần Quốc Thảo với đường Lê Văn Sỹ ở quận 3, tạo thông suốt tuyến đường Trường Sa, Hoàng Sa chạy dọc hai bờ kênh. Thời gian thi công từ tháng 11/2013, hoàn thành tiến độ trước hai tháng.

    Ngày 30/4/2015, Bệnh viện Chợ Rẫy ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã khánh thành Trung tâm Ung bướu Chợ Rẫy.

    Trung tâm Ung bướu Chợ Rẫy bao gồm tòa nhà 12 tầng nổi, hai tầng hầm gồm các khoa khám chữa bệnh, phẫu thuật gây mê hồi sức, hóa trị-xạ trị, ghép tế bào gốc, chẩn đoán hình ảnh… với quy mô 250 giường nội trú được xây dựng trong khuôn viên Bệnh viện Chợ Rẫy với tổng vốn đầu tư 428 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ.

    Trung tâm thực hiện nguyên tắc điều trị ung thư đa mô thức kết hợp các phương pháp xạ trị, hóa trị, phẫu thuật và các phương pháp tiên tiến khác nhằm đạt ba mục tiêu về chất lượng điều trị, hiệu quả chữa bệnh và hiệu quả kinh tế.

    Ngoài hoạt động khám và điều trị, Trung tâm Ung bướu Chợ Rẫy sẽ hướng đến việc thực hiện nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và đào tạo về ung thư cho các tỉnh ở phía Nam cũng như hướng dẫn thực hành lâm sàng, thống nhất quy trình tiêu chuẩn trong điều trị trị, trong tiêu chuẩn đáp ứng bệnh…

    Hình ảnh Bệnh viện Chợ Rẫy trong ngày khánh thành

    Ngày 30/4/2016, Tổng công ty Vận tải Hà Nội (Transerco) đã khai trương tuyến xe buýt Ga Hà Nội-sân bay Nội Bài có số hiệu 86, với giá vé 30.000 đồng/lượt. Đây là tuyến buýt không trợ giá với chiều dài lộ trình quãng đường 33km, tám điểm dừng đỗ.

    Lộ trình tuyến từ ga Hà Nội-Bờ Hồ-sân bay Nội Bài chiều đi từ Ga Hà Nội-Trần Hưng Đạo-Dã Tượng-Lý Thường Kiệt-Hàng Bài-Bờ Hồ-Trần Nguyên Hãn-Trần Quang Khải-điểm trung chuyển Long Biên-Yên Phụ (đường giữa dành riêng cho xe buýt)-Nghi Tàm-Âu Cơ-cầu Nhật Tân-Võ Nguyên Giáp-nhà ga nội địa T1 (sảnh tầng 2 ga đi)-Võ Nguyên Giáp-nhà ga quốc tế T2 (sảnh tầng 2 ga đi)-vị trí đỗ xe buýt nhà ga sân bay Nội Bài.

    Chiều về tại vị trí đỗ xe buýt nhà ga sân bay Nội Bài-nhà ga quốc tế T2 (sảnh tầng 1 ga đến)-cầu vượt đường Võ Nguyên Giáp-Võ Nguyên Giáp-nhà ga nội địa T1 (sảnh tầng 1 ga đến)-Võ Nguyên Giáp-cầu Nhật Tân-Âu Cơ-Nghi Tàm-Yên Phụ (đường giữa dành riêng cho xe buýt)-điểm trung chuyển Long Biên-Trần Nhật Duật-Trần Quang Khải-Tràng Tiền-Lê Thánh Tông-Hai Bà Trưng-Ngô Quyền-Lý Thường Kiệt-Lê Duẩn-Ga Hà Nội.

    Thời gian mở bến tại Ga Hà Nội là 5 giờ 5 phút, đóng bên vào 21 giờ 40 phút. Tại sân bay Nội Bài mở bến lúc 6 giờ 18 phút và đóng bến vào 22 giờ 58 phút.

    Thời gian chạy xe trên tuyến khoảng 50-55 phút/lượt; xe dự kiến chạy từ 80-94 lượt/ngày. Tổng công ty Vận tải Hà Nội cũng xây dựng lượt xe 80/ngày với tần suất dịch vụ 25-30 phút/lượt. Ngay khi vừa khai trương tuyến buýt đã thu hút được nhiều hành khách, trong đó có nhiều khách nước ngoài.

    Ngày 30/4/2017, cầu An Hảo bắc qua sông Đồng Nai nối ba tuyến quốc lộ huyết mạch của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã chính thức thông xe.

    Cầu An Hảo dài 2km; trong đó, phần cầu chính 500m, rộng 23m với 6 làn xe, phần còn lại là đường dẫn từ cầu An Hảo đến cầu Bửu Hòa.

    Cầu có kết cấu với phần chính gồm một nhịp liên tục dầm hộp bêtông cốt thép dự ứng lực đúc hẫng cần bằng; phần cầu dẫn gồm bảy nhịp dầm giản đơn Super T. Phía dưới gồm hai mố và chín trụ được đúc bằng bêtông cốt thép đổ tại chỗ.

    Cầu An Hảo thuộc dự án xây dựng cầu Đồng Nai mới và hai tuyến đường đầu cầu từ ngã ba Tân Vạn đến điểm cuối tuyến tránh thành phố Biên Hòa. Công trình xây dựng theo hình thức BOT (đầu tư-kinh doanh-chuyển giao) do Tổng Công ty xây dựng số 1 thuộc Bộ Giao thông Vận tải làm chủ đầu tư./.

    (Thư viện sưu tầm và biên tập)

  • Trực tuyến đối thoại cùng sinh viên

    Trực tuyến đối thoại cùng sinh viên

    Là hoạt động thường niên, hàng năm, Trường Đại học Thủy lợi đều tổ chức hội nghị giao ban Công tác chính trị tư tưởng và đối thoại sinh viên để lắng nghe tâm tư nguyện vọng, ý kiến của sinh viên, gắn kết sinh viên với Nhà trường nhằm tạo được môi trường học tập hiệu quả, sinh viên tích cực.

    Năm học 2019-2020 này, do ảnh hưởng phức tạp của dịch bệnh Covid 19, song với quan điểm tất cả vì sinh viên, Nhà trường quyết định tổ chức gặp mặt và đối thoại sinh viên vào ngày 26/4 qua hình thức mới là trực tuyến.

    Tham dự hội nghị có các báo cáo viên đến từ PA03 là Đại úy Nguyễn Phương Nhung và Đại úy Nguyễn Đăng Hiển, Phó đội trưởng đội an ninh giáo dục đào tạo, Công an thành phố Hà Nội. Về phía Trường Đại học Thủy lợi có GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó hiệu trưởng, đại diện lãnh đạo các Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm cùng các giảng viên và đại diện sinh viên K58-K61.

    Hội nghị trực tuyến trên 3 hệ thống và trực tiếp tại P225/A2

    Tại Hội nghị, Đại úy Nguyễn Phương Nhung – Cán bộ PA03, CATP Hà Nội đã tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an ninh thông tin trên không gian mạng cũng như một số vấn đề cần lưu ý trước tình hình dịch bệnh Covid19.

    Theo đại úy, Việt Nam hiện có 50 triệu người sử dụng mạng Internet (điển hình nhất là sử dụng youtube và facebook), trong đó thanh niên, giới trẻ, học sinh – sinh viên chiếm tỉ lệ lớn. Việc ban hành Luật an ninh mạng là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ an ninh quốc gia (ANQG), xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật; nhằm bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về ANQG; phòng chống tấn công mạng. Đại úy Nguyễn Phương Nhung cũng nhấn mạnh, thanh niên, sinh viên trong Nhà trường cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong vấn đề an ninh mạng, tránh bị lợi dụng, lôi kéo thực hiện các mục đích xấu.

    Đại úy Nguyễn Phương Nhung – Cán bộ PA03, CATP Hà Nội chia sẻ

    Tiếp nối hội nghị Giao ban Công tác chính trị tư tưởng, Trường Đại học Thủy lợi đã Gặp mặt & đối thoại với sinh viên nhằm nhằm giải đáp các ý kiến, kiến nghị của sinh viên cũng như hỗ trợ, cung cấp các thông tin liên quan đến sinh viên để nâng cao chất lượng dạy và học trong Nhà trường. Các ý kiến của sinh viên được tổng hợp qua hệ thống Microsoft Team và trên fanpage Trường tại group đối thoại sinh viên.

    Nhóm câu hỏi được đề cập đến nhiều nhất liên quan đến các vấn đề xoay quanh việc học tập trực tuyến thời gian qua. Đại diện Nhà trường cho biết, Trường Đại học Thủy lợi chia sẻ đối với những khó khăn các em gặp phải trong quá trình học online như tốc độ đường truyền, thiếu thiết bị, tài liệu học tập, thực hành… Tuy nhiên, ngoài sự hỗ trợ từ phía giảng viên, các em cũng có thể linh động trong việc tìm tài liệu điện tử là sách, bài giảng trên phần mềm của Trường tại http://tailieuso.tlu.edu.vn. Nhà trường cũng lên phương án để ôn tập lại kiến thức cho các em trong 2 tuần trước khi tổ chức kỳ thi.

    Thiết thực trong tình hình dịch Covid 19, Trường Đại học Thủy lợi sẽ hỗ trợ kinh phí sử dụng 3G, 4G học trực tuyến cho sinh viên thuộc đối tượng chính sách, đang được miễn giảm học phí, lưu học sinh thông qua việc cấp bằng tiền mặt khi sinh viên quay trở lại trường Nhà trường học tập. Đối với các sinh viên khác, Trường cũng xem xét lên phương án giảm 5% học phí tín chỉ online cho các em và được trừ trực tiếp vào tài khoản. Chi phí ký túc xá cũng được miễn hoàn toàn trong thời gian các em nghỉ do dịch bệnh.

    Ngoài ra, các chế độ chính sách miễn, giảm học phí, giải quyết chế độ học bổng cho sinh viên, chế độ hỗ trợ cho sinh viên… Nhà trường đảm bảo thực hiện đúng theo quy định Nhà nước, đồng thời đã ban hành các văn bản cụ thể để hướng dẫn cho sinh viên.

    Đối với các hoạt động đoàn thể, thời gian qua, Đoàn thanh niên – Hội sinh viên Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức và phát động nhiều cuộc thi Online rất bổ ích như: Cuộc thi tài năng Anh Ngữ; Cuộc thi tìm hiểu về trường, khoa, ngành học và các hoạt động của trường; Cuộc thi trắc nghiệm Tin học sinh viên; Cuộc thi Ảnh “Tôi yêu trường tôi” và Cuộc thi Sinh viên tìm hiểu lịch sử 90 năm đảng bộ thành phố và truyền thống lịch sử, văn hóa thủ đô Hà Nội… Ban chấp hành Đoàn trường cũng đang chuẩn bị các kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao để chào đón sinh viên quay trở lại học tập.

    Kết luận hội nghị, đại diện Ban giám hiệu – GS. TS Nguyễn Trung Việt – Phó hiệu trưởng khẳng định: Với mục tiêu lấy người học làm trung tâm, Nhà trường sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất cho người học từ cơ sở vật chất đến các hỗ trợ trong học tập, đặc biệt đối trong quá trình giảng dạy online; giới thiệu các học bổng đào tạo liên kết, trao đổi; kết nối doanh nghiệp tăng cơ hội thực tập và làm việc cho sinh viên… Tuy nhiên, các em cần nâng cao ý thức tự giác, học tập khoa học, sáng tạo, trau dồi vốn ngoại ngữ…

    Ngoài kênh đối thoại trực tiếp, Nhà trường và các đơn vị chức năng trong Trường luôn sẵn sàng lắng nghe ý kiến người học thông qua các phương tiện, kênh đối thoại khác như: ý kiến từ các buổi sinh hoạt lớp, email, facebook… và sẽ kịp thời giải đáp thỏa đáng các mong mỏi từ phía sinh viên.

    GS. TS Nguyễn Trung Việt – Phó hiệu trưởng phát biểu

    Với sự chuẩn bị chu đáo, Trường Đại học Thủy lợi hy vọng có thể chào đón các em sinh viên quay trở lại học tập ngay sau khi có quyết định của Thủ tướng chính phủ, Bộ GD&ĐT, UBND Thành phố Hà Nội với hiệu quả tốt nhất.

    Bích Việt

  • Ngày sở hữu trí tuệ thế giới 2020: Đổi mới sáng tạo vì một tương lai xanh

    Ngày sở hữu trí tuệ thế giới 2020: Đổi mới sáng tạo vì một tương lai xanh

    VTV.vn – Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 2020 đặt đổi mới sáng tạo và các quyền sở hữu trí tuệ hỗ trợ đổi mới sáng tạo là trung tâm của những nỗ lực tạo ra một tương lai xanh.

    Phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Đinh Hữu Phí – Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ (SHTT), Bộ Khoa học và Công nghệ về vấn đề này.

    Sở hữu trí tuệ thực sự đóng vai trò động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo để phát triển tài sản giá trị quốc gia về cả số lượng và giá trị, ông có thể cho biết rõ hơn về vấn đề này?

    Ông Đinh Hữu Phí: Trong thời đại khoa học và công nghệ (KH&CN) phát triển như vũ bão hiện nay, các quốc gia đều thừa nhận SHTT là sản phẩm, đồng thời là một trong các công cụ đắc lực, thúc đẩy sự phát triển của các nền KH&CN và kinh tế thị trường. Bảo hộ quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân nhằm mục đích khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo, bảo đảm việc phổ biến tiến bộ KH&CN, văn hóa nghệ thuật vào mục đích phát triển xã hội.

    Ở đây, các đối tượng sáng tạo kỹ thuật là nhân tố quyết định trình độ công nghệ do đó quyết định trình độ phát triển và cạnh tranh của cả một nền kinh tế. Trong những đối tượng đó, các sáng chế được coi là tiêu biểu. Tương tự như các đối tượng sáng tạo kỹ thuật, các dấu hiệu thương mại (nhãn hiệu, tên thương mại, kiểu dáng sản phẩm…) cũng đóng vai trò quyết định trong việc tạo dựng vị trí cạnh tranh và muốn bảo hộ và cải thiện lợi thế trên thị trường, mọi doanh nghiệp bắt buộc phải chăm lo đến các sản phẩm vốn là đại diện cho lợi thế đó.

    Chính vì vậy, vai trò quan trọng của hệ thống bảo hộ SHTT chính là thiết lập một cơ chế cân bằng lợi ích giữa người nắm giữ quyền SHTT và xã hội, trong đó bất kỳ một hành vi nào xâm phạm đến quyền SHTT của chủ thể cũng bị ngăn chặn và xử lý. Vì vậy, bất kỳ một nền kinh tế thị trường nào mà không có hệ thống SHTT thì hầu như đều bị rơi vào tình trạng cạnh tranh hỗn loạn, thiếu lành mạnh và không có năng lực công nghệ nội sinh.

    Hơn nữa, với cơ chế xác lập, quản lý quyền SHTT theo trình tự do pháp luật quy định tạo ra hệ thống các dữ liệu kỹ thuật, kinh tế, pháp lý đầy đủ, phản ánh tình hình đổi mới của công nghệ, cập nhật các thông tin về tình hình kinh doanh…, các kho dữ liệu đó vô cùng bổ ích cho các giới nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh.

    Những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng này, Cục SHTT (Bộ KH&CN) và các cơ quan chức năng đã và đang tập trung hoàn thiện hệ thống các quy định về SHTT, góp phần thúc đẩy gia tăng số lượng, chất lượng các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đây cũng chính là kỳ vọng được Chính phủ, Bộ KH&CN gửi gắm trong Quyết định phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ quốc gia đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1068/QĐ- TTg ngày 22/8/2019 với mục tiêu quan trọng là đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu ASEAN về trình độ sáng tạo, bảo hộ và khai thác quyền SHTT.

     

    Ông Đinh Hữu Phí – Cục trưởng Cục sở hữu trí tuệ

     

    Một trong những điểm trọng yếu của Chiến lược là hình thành mạnh mẽ tài sản trí tuệ mới của cá nhân, tổ chức Việt Nam gia tăng cả về số lượng và chất lượng, cải thiện vượt bậc các chỉ số về sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII): Số lượng đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 – 18%/năm; số lượng đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp tăng trung bình 6 – 8%/năm; số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu tăng trung bình 8 – 10%/năm; số lượng đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tăng trung bình 12 – 14%/năm trong số đó được đăng ký bảo hộ ở nước ngoài; đưa Việt Nam trở thành trung tâm bảo hộ giống cây trồng với việc hình thành cơ quan bảo hộ giống cây trồng khu vực ASEAN+.

    Năm 2020, Ngày SHTT thế giới hướng tới việc đổi mới sáng tạo vì tương lai xanh. Đây là một khởi đầu cho "lộ trình xanh" hướng tới chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường – một yêu cầu cấp bách hiện nay. Vậy, các chính sách, giải pháp mà Cục đã và đang thực hiện để hỗ trợ các nhà sáng chế cùng những nỗ lực Cục trong việc góp phần tạo ra một "tương lai xanh", góp phần thúc đẩy "nền kinh tế xanh"?

    Ông Đinh Hữu Phí: Như tôi đã nói ở trên, để phát huy hơn nữa vai trò của SHTT đối với phát triển kinh tế, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 với kỳ vọng Việt Nam sẽ có những bước tiến vượt bậc, tạo động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, phổ biến và hơn thế nữa có thể thương mại hóa sản phẩm sáng tạo, qua đó làm giàu tài sản trí tuệ – một nguồn tài nguyên tạo nên nội lực quốc gia phục vụ trực tiếp cho sự phát triển bền vững, tạo dựng một "tương lai xanh" cho các thế hệ sau.

    Nhiều biện pháp đã được Cục triển khai nhằm góp phần khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng các thành quả sáng tạo trong KH&CN vào mọi mặt của đời sống và sản xuất như: thực hiện thủ tục đăng ký xác lập quyền SHCN; xây dựng, quản lý và tổ chức khai thác cơ sở dữ liệu thông tin về SHCN nhằm phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các thành quả KH&CN vào hoạt động sản xuất kinh doanh; tuyên truyền, phổ biến các kiến thức, pháp luật về SHTT, tư vấn, hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân trong hoạt động tạo lập, đăng ký xác lập quyền, khai thác và bảo vệ tài sản trí tuệ… góp phần không nhỏ vào thúc đẩy mục tiêu phát triển bền vững.

    Một số chương trình, dự án hỗ trợ được triển khai rất có hiệu quả thời gian qua như: Chương trình Phát triển tài sản trí tuệ hiện đang được các địa phương triển khai mạnh mẽ, bên cạnh việc tham gia Chương trình cấp quốc gia thì tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ tại địa phương (thông qua đài truyền hình, lớp tập huấn, đào tạo chuyên sâu…). Hiện Chương trình đã bảo hộ cho 118 sản phẩm nông nghiệp chủ lực, đặc thù của địa phương, 600 lượt doanh nghiệp được hỗ trợ về SHTT, trong đó có nhiều đơn vị, doanh nghiệp lớn điển hình như Tập đoàn dệt may Việt Nam, Hiệp hội da giày túi xách Việt Nam, tập đoàn DABACO…; Chương trình cũng đã hỗ trợ bảo hộ, áp dụng thực tiễn sáng chế cho 51 giải pháp kỹ thuật.

    Dự án mạng lưới các Trung tâm hỗ trợ công nghệ và đổi mới sáng tạo (TISC và IP-HUB) để kết nối và thúc đẩy hoạt động SHTT và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Dự án đã tổ chức nhiều khóa tập huấn về tra cứu thông tin sáng chế và viết bản mô tả sáng chế cho các thành viên mạng lưới….

    Hiện, có gần 60 viện nghiên cứu, trường đại học trong cả nước đăng ký tham gia mạng lưới để được hỗ trợ quá trình đăng ký sáng chế thông qua các hoạt động như: Hỗ trợ tiếp cận thông tin sáng chế chất lượng cao; trợ giúp tra cứu thông tin sáng chế; đào tạo tra cứu thông tin sở hữu công nghiệp… Trong số đó, có 12 viện nghiên cứu, trường đại học được lựa chọn để hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ trên cơ sở các giải pháp kỹ thuật có giá trị của đơn vị, gắn hoạt động nghiên cứu-triển khai của đơn vị với doanh nghiệp, hình thành đội ngũ chuyên nghiệp về SHTT tại các viện nghiên cứu trường đại học…

    Quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ theo hướng bền vững đang được các địa phương chú trọng triển khai, ông có thể nêu một số ví dụ về doanh nghiệp, nhà sáng chế, sản phẩm đem lại hiệu quả phát triển bền vững điển hình?

    Ông Đinh Hữu Phí: Trong thời gian gần đây, trước những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, các sáng chế ngày càng tập trung vào giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn liên quan đến công nghệ môi trường như: tái chế, làm sạch nước, xử lý khí thải độc hại thanh lọc không khí, bảo toàn năng lượng, hoặc công nghệ xanh theo hướng bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái… Có thể kể đến giải pháp công nghệ như:

    Công ty Thoát nước và Phát triển đô thị Bà Rịa – Vũng Tàu (Busadco) là Doanh nghiệp KH&CN điển hình đã thành công trong khai thác quyền SHTT, trong đó có các sáng chế bảo vệ môi trường, đặc biệt là các giải pháp chống ngập úng, chống ô nhiễm môi trường nước tại tất cả các đô thị; "Thiết bị xử lý khí thải XLKT-HB0005GPCN", tác giả Hoàng Hữu Bình; "Thiết bị thu hồi và tái chế chất thải nguy hại trong công nghiệp", tác giả Trần Bá Phước Anh; "Máy xử lý rác đa năng và công nghệ xử lý rác thải HKM", tác giả Ngô Thái Nguyên,.. là các sáng chế điển hình liên quan đến công nghệ xử lý khí thải, chất thải công nghiệp độc hại và rác thải đã được áp dụng hiệu quả trên thực tiễn…

    Tuy nhiên, để Việt Nam có nhiều sáng chế, giải pháp hữu ích hơn cũng như tăng cường bảo hộ quyền SHTT để phục vụ cho phát triển bền vững, cần có sự chung tay chung sức của tất cả các chủ thể, nâng cao nhận thức về vai trò của SHTT trong đổi mới sáng tạo, hình thành văn hóa sở hữu trí tuệ trong toàn xã hội.

    Các chủ thể sáng tạo cần nâng cao hơn nữa năng lực sử dụng công cụ sở hữu trí tuệ vào hoạt động nghiên cứu triển khai cũng như kịp thời đăng ký xác lập quyền SHTT đối với các thành quả nghiên cứu của mình.

    Doanh nghiệp cần phát huy vai trò chủ đạo trong việc tạo ra và khai thác tài sản trí tuệ. Để thu hẹp khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng thực tiến, doanh nghiệp cần chủ động và tích cực đồng hành với các trường đại học, viện nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm, công nghệ giải quyết các vấn đề thiết thực của Việt Nam, đặc biệt là vấn đề môi trường đảm bảo phát triển bền vững.

    Một vấn đề quan trọng nữa là cần tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức tôn trọng quyền SHTT, khuyến khích người tiêu dùng ủng hộ các sản phẩm và dịch vụ áp dụng công nghệ sạch.

    Ngày SHTT thế giới" (World Intellectual Property Day – viết tắt là IP Day) ra đời vào năm 2000 khi các quốc gia thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quyết định ngày 26 tháng 4 hàng năm – ngày mà Công ước WIPO chính thức có hiệu lực vào năm 1970 – là ngày để các quốc gia cùng nhau gia tăng sự hiểu biết chung về SHTT trên toàn thế giới. Kể từ đó, "IP Day" đã trở thành ngày mà mọi người trên thế giới cùng nhau tìm hiểu và cổ vũ cho những đóng góp của SHTT đối với sự phát triển của văn hóa nghệ thuật, công nghệ và những đổi mới sáng tạo vì cuộc sống con người.

    Trong 5 năm qua (2015 – 2019), sự kiện "IP Day" tại Việt Nam đã được tổ chức một cách sáng tạo, thu hút sự quan tâm, tham gia của nhiều thành phần xã hội cũng như tạo được những tác động truyền thông đáng kể về lĩnh vực SHTT.

     

    WIPO và nhiều tổ chức quốc tế thường liên tục truyền thông về các chiến lược đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển bền vững. Tuy nhiên, liệu thông điệp này đã được nhận thức đầy đủ, đúng mức trong các cấp, các ngành cũng như cộng đồng xã hội?

    Ông Đinh Hữu Phí: Đảng và Nhà nước ta luôn coi đổi mới sáng tạo là công cụ then chốt để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Có thể thấy, làn sóng đổi mới sáng tạo đã xuất hiện ở mọi ngành nghề, lĩnh vực, địa phương phục vụ tăng trưởng kinh tế, xã hội song hành với bảo tồn môi trường tạo động lực phát triển đất nước. Có thể kể đến sự lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp trên khắp cả nước giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Bên cạnh ghi nhận những chuyển biến tích cực ban đầu, thì chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận thực tế là vẫn có một số các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người dân chưa nhận thức đầy đủ về phát triển bền vững. Do đó, hoạt động đổi mới sáng tạo thiên về tăng trưởng nhanh về kinh tế và ổn định xã hội mà chưa quan tâm tới yếu tố môi trường và chưa đồng đều giữa các vùng, các doanh nghiệp.

    Chúng ta cũng cần lưu ý đến cải thiện vấn đề về thể chế, nhân lực, cơ sở hạ tầng đồng bộ. Tăng trưởng bền vững cần liên kết tất cả các nguồn lực, đặc biệt là thúc đẩy sự sáng tạo năng động trong khu vực tư nhân. Chú trọng hơn nữa đến các viện/trường để có những nghiên cứu và công nghệ phù hợp hơn, gia tăng số lượng đơn đăng ký của người Việt Nam so với nước ngoài.

     

    Một hoạt động ý nghĩa trong ngày IP Day tổ chức tại Hà Nội.

     

    Theo ông, vấn đề hoàn thiện và đổi mới cơ chế bảo hộ SHTT cho các đối tượng SHTT mới được tạo ra từ CMCN 4.0 đang là một thách thức không nhỏ đối với hệ thống SHTT (bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực AI, Internet vạn vật, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học,…)?

    Ông Đinh Hữu Phí: Thống kê cho thấy, năm 2016 có hơn 5.000 đơn sáng chế liên quan đến Internet kết nối vạn vật (IoT) đã được nộp tại Cơ quan Sáng chế châu Âu, với mức tăng trưởng 54% chỉ trong 3 năm (2014-2016). Điều này khẳng định, các đơn sáng chế thuộc các lĩnh vực công nghệ thông minh sẽ gia tăng nhanh chóng cùng với sự ra đời của các vật liệu mới và các sáng chế được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo (AI).

    Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho hệ thống SHTT là phải được vận hành thật sự hiệu quả, kiến tạo cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Để được như vậy cần hoàn thiện và đổi mới cơ chế bảo hộ SHTT cho các đối tượng SHTT mới được tạo ra từ CMCN 4.0. Muốn vậy, cần hoàn thiện cơ chế và nâng cao năng lực thực thi quyền SHTT, đặc biệt trên môi trường internet. Cần quan tâm đến vấn đề nâng cao năng lực của cơ quan SHTT trong việc xử lý đơn đăng ký các đối tượng mới; thúc đẩy hợp tác về bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở quy mô khu vực và toàn cầu, bởi nhiều vấn đề SHTT đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia và bản thân mỗi quốc gia riêng rẽ không thể xử lý được.

    Bên cạnh đó, việc thực thi quyền SHTT trong môi trường số sẽ trở nên khó khăn hơn, vì vậy các chính sách cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để vừa không ngăn cản sự phát triển của khoa học và công nghệ, vừa đảm bảo được an ninh, bảo mật và đảm bảo quyền SHTT được bảo hộ thỏa đáng.

    Đặc biệt, cần có sự kết nối giữa SHTT và các ngành công nghiệp, bởi hệ thống SHTT đã và đang hỗ trợ cho sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp. Để bắt kịp với xu thế CMCN 4.0, các cơ quan SHTT cần có kế hoạch hành động sử dụng AI cho từng đối tượng từ sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu.

    Những thông điệp mà Cục truyền tải đến xã hội trong bối cảnh đại dịch COVID-19 (đối với DN, tổ chức cá nhân, địa phương…)?

    Ông Đinh Hữu Phí: Với tinh thần cần giữ an toàn cho tất cả mọi người, theo khuyến nghị của WIPO, Việt Nam đã và đang triển khai các hoạt động tuyên truyền, chào mừng sự kiện này trên các kênh truyên thông với phạm vi rộng khắp.

    Các địa phương, các trường đại học, viện nghiên cứu đã sớm nhận được thông điệp Ngày Sở hữu trí tuệ năm nay và triển khai hoạt động chào mừng tùy theo thực tế của từng địa phương và tổ chức.

    Thông qua các kênh truyền thông đại chúng, thông điệp "Đổi mới sáng tạo vì tương lai xanh" của Ngày SHTT năm nay vẫn sẽ lan tỏa khắp cả nước, tới tất cả các nhóm chủ thể trong xã hội để cùng phát huy trí tuệ, chung sức vượt qua những khó khăn thử thách hướng tới một tương lai xanh, một xã hội phát triển bền vững.

    Xin cảm ơn ông!

    Nguồn: Báo điện tử VTV News – Đài truyền hình Việt Nam

    Liên kết nguồn tin: https://vtv.vn/cong-nghe/ngay-so-huu-tri-tue-the-gioi-2020-doi-moi-sang-tao-vi-mot-tuong-lai-xanh-20200423165222062.htm

  • Trường Đại học Thủy lợi xếp thứ 18/50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019

    Phương pháp xử lý dữ liệu cũng như dữ liệu dùng để phân tích được cung cấp ở cuối bài viết. Nhóm tác giả đã tải dữ liệu, xử lý các lỗi về địa chỉ và tên các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có trong dữ liệu, trước khi thống kê và phân tích những khía cạnh mà các hệ thống dữ liệu khoa học như Scopus không cung cấp sẵn.

    Trong năm 2019, tổng số công bố có địa chỉ từ Việt Nam đã đạt 12,307 công bố các loại. Trong đó, số lượng công bố của các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam chiếm 90.3%, tương ứng với 11,118 công bố. Số còn lại đến từ các bệnh viện, các tổ chức nghiên cứu độc lập, các công ty, các trường cao đẳng, và một số ít các trường trung học.

    Các loại hình công bố của Việt Nam được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu Scopus năm 2019 gồm 11 loại: (1) article và article in press – bài báo; (2) conference paper – báo cáo hội nghị; (3) letter – bài báo ngắn dạng thư gửi tòa soạn; (4) review – bài tổng quan; (5) book – sách chuyên khảo; (6) book chapter – chương sách; (7) data paper – bài báo mô tả dữ liệu; (8) note – bài bình luận; (9) editorial – bài xã luận; (10) erratum – bản đính chính; (11) short survey – bản điều tra.

    Phân tích năng suất

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 1

    Bảng 1. Trường Đại học Thủy lợi ở vị trí 18/50 cơ sở giáo dục đại học công bố quốc tế nhiều nhất Việt Nam năm 2019.

    Top 50 cơ sở GDĐH có năng suất công bố tốt nhất năm 2019 được cho ở bảng 1. Với tốc độ tăng trưởng theo “cấp số nhân” những năm gần đây, trường ĐH Tôn Đức Thắng tiếp tục vượt qua Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam để dẫn đầu các đơn vị có nhiều công bố nhất Việt Nam. Số lượng công bố ở tất cả các loại hình xuất bản của trường này trung bình gấp 2.3 lần đối với cả 3 đơn vị xếp sau.

    Dữ liệu cũng cho thấy, có 4 cơ sở GDĐH đã đạt năng suất trên một nghìn bài trên năm, gồm:

    –       Trường ĐH Tôn Đức Thắng,

    –       Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam,

    –       ĐH Quốc gia TpHCM, và

    –       Trường ĐH Duy Tân.

    Top 10 cơ sở GDĐH có năng suất công bố tốt nhất cả nước năm 2019 gồm:

    ·      7 đại học công lập: trường ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Quốc gia TpHCM, ĐH Quốc gia Hà Nội, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, trường ĐH Cần Thơ, và ĐH Thái Nguyên;

    ·      1 viện nghiên cứu trọng điểm: Viện Hàn lâm KH&CN VN;

    ·      2 trường đại học tư thục: trường ĐH Duy Tân và trường ĐH Nguyễn Tất Thành. 

    Bên cạnh các cơ sở GDĐH kể trên, trong top 50 còn có một số đơn vị đáng chú ý: trường ĐH Phenikaa, trường ĐH Công nghệ Tp.HCM, trường ĐH Vinh, trường ĐH Quy Nhơn, ĐH Tây Nguyên, Viện Khoa học Nông nghiệp VN,…

    Phân tích rộng hơn cho thấy hiện có tất cả 256 đại học, trường đại học, học viện, trường cao đẳng, viện nghiên cứu có đào tạo đại học và sau đại học có công bố quốc tế trong năm 2019. Tuy nhiên, chỉ với 50 đơn vị đầu tiên số lượng công bố (10,673 công bố) đã chiếm 95.9% của tất cả các đơn vị còn lại (11,118 công bố).

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 2

    Hình 1. Phân bố số lượng công bố quốc tế của các trường theo 27 lĩnh vực. Thứ tự các trường được sắp xếp theo tổng số lượng công bố các loại giảm dần. Màu càng đậm thể hiện số lượng càng nhiều, màu trắng tương ứng số công bố bằng 0.

    Phân tích về phân bố lĩnh vực của các công bố quốc tế (hình 1) cho thấy phần lớn các cơ sở GDĐH tập trung nghiên cứu ở các lĩnh vực (theo thứ tự alphabet): Nông nghiệp và Sinh học – AGRI; Hóa sinh, Di truyền, Sinh học phân tử – BIOC; Kỹ thuật Hóa học – CENG; Hóa học – CHEM; Khoa học Máy tính – COMP; Khoa học Trái đất và Hành tinh – EART; Năng lượng – ENER; Kỹ thuật Công nghệ – ENGI; Khoa học Môi trường – ENVI; Khoa học Vật liệu – MATE; Toán học – MATH; Y học – MEDI; và Vật lý học – PHYS. Trong đó các lĩnh vực trọng điểm nhất của các cơ sở giáo dục và nghiên cứu của Việt Nam là:

    –       Kỹ thuật Công nghệ,

    –       Vật lý,

    –       Khoa học Máy tính,

    –       Khoa học Vật liệu,

    –       Toán học.

    Một số lĩnh vực cũng có lượng công bố tương đối nhưng chưa nhiều như: Kinh doanh, Quản trị và Kế toán – BUSI, Khoa học quyết định – DECI, Kinh tế – ECON, Các lĩnh vực liên ngành – MULT, Dược học – PHAR, và Khoa học Xã hội – SOCI. Trong khi đó các lĩnh vực còn lại có rất ít nghiên cứu, gồm các lĩnh vực Nghệ thuật & Nhân văn – ART, Nha khoa – DENT, Ngành nghề Y tế – HEAL, Miễn dịch và Vi trùng học – IMMU, Thần kinh học – NEUR, Điều dưỡng – NURS, Tâm lý học – PSY, và Thú y – VETE.

     

    Phân tích trích dẫn:

    Cho đến thời điểm dữ liệu được cập nhật lần cuối, tổng trích dẫn của tất cả các công bố từ Việt Nam đăng trong năm 2019 đã đạt 16,211 lần. Đối với 50 cơ sở GDĐH nói trên, tổng trích dẫn của tất cả các công bố là 14,357 lần, chiếm 88.6% trong tổng số. Xin lưu ý rằng tổng trích dẫn của 50 cơ sở GDĐH không phải là sự cộng gộp chỉ số trích dẫn của từng đơn vị, mà được xác định thông qua tổng trích dẫn của tất cả các bài báo có tên ít nhất một trong 50 đơn vị đó.

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 3

    Bảng 2. Tổng trích dẫn các công bố năm 2019 của top 50 cơ sở GDĐH có năng suất tốt nhất Việt Nam. Giá trị “0” tương ứng đơn vị đã có công bố, nhưng chưa được trích dẫn. Ký hiệu “–" cho biết đơn vị không có công bố.

    Dữ liệu ở bảng 2 cho thấy, tổng trích dẫn nhận được từ các công bố đăng trong năm 2019 của hai trường:

    –       Trường ĐH Tôn Đức Thắng,

    –       Trường ĐH Duy Tân

    vượt trội so với các cơ sở giáo dục còn lại. Nếu xét đến vai trò của tác giả trên các công trình, có thể dễ dàng thấy một hiện tượng ở phần lớn các cơ sở giáo dục: đó là trích dẫn có được của các công bố đồng tác giả lớn hơn trích dẫn của các công bố tác giả chính. Chỉ trừ một số đơn vị có xu hướng ngược lại với khác biệt lớn, như trường ĐH Tôn Đức Thắng, trường ĐH Công nghệ Giao thông Vận tải, hay trường ĐH Giao thông Vận tải TpHCM.

    Phân tích chất lượng công bố

    Định lượng chất lượng của công bố nói chung hay các bài báo nói riêng, luôn là một công việc rất khó khăn. Để đánh giá chính xác thì cần phải có chuyên gia cùng hoặc gần chuyên môn, và phải đọc từng công trình. Tuy nhiên, đây là việc làm bất khả thi khi làm việc trên tập dữ liệu bài báo lớn. Do vậy, phương pháp đánh giá trung gian qua chất lượng tạp chí đăng tải bài báo, là một cách làm được các tổ chức tài trợ khoa học, các quỹ nghiên cứu, hay các trường đại học thừa nhận rộng rãi hiện nay. Chất lượng và uy tín tạp chí càng cao, chắc chắn sẽ đòi hỏi chất lượng bản thảo gửi đăng cũng phải tương xứng.

    Một chỉ số thường được nhắc tới khi đánh giá chất lượng tạp chí là Impact Factor (IF), được đưa ra bởi cơ sở dữ liệu khoa học Web of Science của hãng Clarivate. Mặc dù vậy, phân bố của chỉ số IF rất khác nhau giữa các ngành và lĩnh vực khác nhau. Do vậy khó có thể sử dụng IF để đánh giá chất lượng tạp chí thuộc các lĩnh vực khác nhau, càng không thể sử dụng nó để đánh giá chất lượng công bố giữa các trường, đặc biệt giữa trường đa ngành và trường đơn ngành.

    Thay vào đó, cần sử dụng xếp hạng của tạp chí trong từng lĩnh vực (quartile, hay Q). Xếp hạng này hiện cũng được các cơ quan tài trợ khoa học (như quỹ NAFOSTED) và các trường đại học sử dụng để đánh giá tương đối chất lượng công bố. Các cơ sở dữ liệu khoa học lớn như Web of Science hay Scopus đều có bảng xếp hạng cho các tạp chí mà họ chỉ mục. Lấy ví dụ Web of Science, các tạp chí thuộc cùng một lĩnh vực sẽ được xếp từ cao đến thấp theo chỉ số IF, và sẽ được chia thành 4 nhóm tạp chí với số lượng bằng nhau. Nhóm 25% tạp chí có chỉ số IF cao nhất gọi là hạng Q1, 25% tiếp theo là Q2; sau đó là Q3; và cuối cùng là Q4. Cách xếp hạng Q các tạp chí của Scopus cũng tương tự. Ở phân tích này, sẽ sử dụng hạng Q từ Scopus (Scimago Lab).

    Theo nhiều chuyên gia có kinh nghiệm công bố quốc tế, khả năng từ chối đăng bài của các tạp chí thuộc nhóm Q1 là khá cao. Điều đó nghĩa là công trình nghiên cứu có phẩm chất cao, có những phát hiện gây tác động lớn trong chuyên ngành, thì mới có cơ may được nhận đăng. Vì thế, những trường có nhiều công bố trên các tạp chí hạng Q1 hay Q2, đặc biệt những công bố do chính giảng viên của trường làm tác giả chính, thì cũng có thể nói rằng, nội lực nghiên cứu của trường phần nào được xác lập.

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 4

    Bảng 3. Phân tích hạng tạp chí đăng tải các bài báo của các trường.

     

    Bảng 3 phân tích số bài báo (article và article in press) của top 50 cơ sở GDĐH theo hạng Q của tạp chí đăng các bài báo đó, đồng thời xét đến vai trò của các tác giả trên bài báo. Thứ tự các trường được xếp theo tổng số các bài báo cho trong bảng 1. Ở đây xin lưu ý rằng, một tạp chí có thể được xếp vào nhiều lĩnh vực khác nhau do tính chất liên ngành trong khoa học. Vì vậy, cùng một tạp chí, nhưng có thể sẽ nhận hạng Q khác nhau, tùy theo lĩnh vực. Chẳng hạn, tạp chí Applied Sciences (ISSN: 2076-3417) nhận hạng Q1 trong lĩnh vực Engineering, Q2 trong lĩnh vực Materials Science, và Q3 trong lĩnh vực Computer Science, theo Scimago 2018. Do đó, để đơn giản, trong phân tích này sẽ chỉ giữ lại hạng Q nào tốt nhất trong số các hạng mà một tạp chí nhận được. Ngoài ra, có nhiều tạp chí đã vượt qua vòng đánh giá phẩm chất và được Scopus thu nhận, chỉ mục, và lưu trữ thông tin các bài báo nhưng chưa có hạng Q, thì sẽ không được đưa vào phân tích ở đây.

    Từ Bảng 3 cho thấy phần lớn các cơ sở GDĐH đều có công bố trên các tạp chí hạng Q1-Q4, với tỉ trọng giảm dần từ Q1 đến Q4. Chỉ có một số ít trường không có bài báo tạp chí Q4 như: trường ĐH Đồng Tháp, trường ĐH Y tế Công cộng, trường ĐH Việt-Đức, hay trường ĐH Tây Nguyên. Với tỉ trọng như vậy, chứng tỏ các nghiên cứu của các trường ở Việt Nam có chất lượng tương đối tốt, khi phần lớn các công bố đăng trên tạp chí hạng Q1 hoặc Q2.

    Phân tích sâu hơn về vai trò tác giả trên bài báo cho thấy một xu thế, đó là tỉ trọng bài báo có đồng tác giả lớn hơn bài báo có tác giả chính (tác giả liên lạc, tác giả đầu tiên, hoặc cùng cả 2 vai trò) ở phần lớn các cơ sở GDĐH, và cũng ở phần lớn các hạng tạp chí từ Q1 đến Q4. Mặc dù vậy, sự chênh lệch đó nhìn chung không lớn, ngoại trừ các cơ sở giáo dục như: trường ĐH Nguyễn Tất Thành, trường ĐH Đồng Tháp, trường ĐH Lạc Hồng, hay Viện Khoa học Nông nghiệp VN. Những cơ sở này có bài báo đồng tác giả lớn hơn vài lần bài báo có tác giả chính.

    Riêng với trường ĐH Tôn Đức Thắng, nhận định trên không còn đúng, khi số bài báo mà giảng viên của trường đóng vai trò tác giả chính lớn hơn gấp nhiều lần số bài báo đồng tác giả, ở tất cả các hạng tạp chí từ Q1-Q4. Đó là một “kỳ tích” trong bức tranh nghiên cứu khoa học của Việt Nam hiện nay.

    Cảnh báo công bố trên các tạo chí “rởm” thuộc Scopus

    Tạp chí ‘đội lốt khoa học’, hay gọi bằng cái tên dân dã hơn là ‘rởm’, là một vấn nạn trong thời đại ngày nay; thời đại mà kỹ nghệ máy tính phát triển vượt bậc. Có thể nói chỉ với một cái máy tính, một căn phòng và một người biết chút ít về máy tính là đã có thể tạo ra một tạp chí với quy trình xuất bản y hệt các tạp chí nổi tiếng; có thể đăng tải các bài báo khoa học khắp thế giới gửi về. Những tạp chí kiểu này không chỉ không giúp cho cá nhân nhà nghiên cứu phát triển sự nghiệp, mà còn có thể gây tổn hại đến uy tín và lãng phí nguồn lực của trường đại học nơi người đó làm việc, và rộng ra là Việt Nam.

    Ông Jeffrey Beall, thủ thư một trường đại học tại Mỹ, đã tạo ra danh sách Beall’s List nổi tiếng tập hợp các nhà xuất bản ‘rởm’ và các tạp chí ‘rởm’. Danh sách này được các nhà nghiên cứu khắp thế giới đón nhận; giúp họ tránh đăng phải trên các tạp chí đó. Đường link dẫn tới danh sách đó là https://beallslist.net.

    Điều đáng lo lắng là trong quá trình phân tích dữ liệu, nhóm tác giả đã nhận thấy rằng có nhiều tạp chí, nếu chiếu theo danh sách Beall’s list thì sẽ được coi là “rởm” đã có mặt trong Scopus; và nhiều trường của Việt Nam đã có bài báo gửi đăng trên đó. Đơn cử một số tạp chí: Biointerface Research in Applied Chemistry; Asian Journal of Chemistry; Journal of Electrical Engineering; International Journal of Learning, Teaching and Educational Research.

    Thiết nghĩ các nhà nghiên cứu của các trường cần kiểm tra tạp chí có phải là ‘rởm’ không, hoặc tự trang bị kỹ năng nhận biết các tạp chí như vậy trước khi gửi bản thảo đi. Bên cạnh đó, các phòng quản lý khoa học của các trường cũng cần cập nhật và tập huấn cho cán bộ, giảng viên của trường mình được biết. Có vậy mới làm giảm được tình trạng vẩn đục khoa học mà nhiều chuyên gia đã cảnh báo.

    Theo Báo Tiền phong

     

     

  • “Với tôi – Thủy lợi là tình yêu” một cuộc thi sáng tác ảnh, video năm 2020

    “Với tôi – Thủy lợi là tình yêu” một cuộc thi sáng tác ảnh, video năm 2020

    Và chúng ta hãy cùng lưu giữ những hình ảnh, những video clip đẹp về ngôi trường thân yêu, để mỗi khi nhìn ngắm lại chúng ta thêm yêu nơi này hơn. Trường Đại học Thủy lợi tổ chức cuộc thi Ảnh và Video clip.

    Cuộc thi nhằm mục đích xây dựng nguồn tư liệu ảnh, video về Trường Đại học Thủy lợi; Lưu lại những những khoảnh khắc, những cung bậc cảm xúc về ngôi trường hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành; Thúc đẩy tính sáng tạo qua hình ảnh, video, clip;Tăng tính quảng bá hình ảnh trường thông qua những hình ảnh, video clip mang tính cộng đồng, thu hút nhiều người truy cập tìm hiểu thông tin về trường.

    Chủ đề cuộc thi:  “Với Tôi – Thủy lợi là tình yêu”

    Đây là cuộc thi dành cho các cá nhân, tập thể là cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, cựu sinh viên, cựu viên chức và những cá nhân yêu mến Trường Đại học Thủy lợi đều có thể tham gia cuộc thi.

    Nội dung dự thi gồm có:

    – Các cá nhân gửi bài dự thi là các ảnh, bộ ảnh, video – clip nội dung gắn với chủ đề của cuộc thi; trong đó bao gồm:

    + Hình ảnh, video clip về cơ sở vật chất của trường: thể hiện được sự bề thế, nét đẹp đặc trưng, cảnh đẹp của trường;

    + Hình ảnh, video clip về các hoạt động nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất: thể hiện được sự đa dạng trong các hoạt động, đặc trưng ngành nghề;

    + Hình ảnh về hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao: thể hiện nét nổi bật và tính sáng tạo trong các hoạt động;

    – Ảnh, video clip phải do cá nhân, tập thể tự thực hiện, chưa dự thi tại các cuộc thi khác….

    Thời gian nhận bài và trao giải: 

    – Từ ngày 22/4/2020 đến 24h00 ngày 30/5/2020: Nhận tác phẩm dự thi qua email [email protected]; đồng thời tính lượng tương tác, truy cập website…;

    – Từ ngày 05/6 đến ngày 18/6/2020: Ban tổ chức xét chọn các tác phẩm dự thi;

    – Ngày 21/6/2020 (dự kiến): Công bố và trao giải.

    Chi tiết thể lệ cuộc thi xem TẠI ĐÂY

    Các kênh thông tin để tương tác: 

    Fanpage: Đại học Thủy lợi 

    Youtube: Đại học Thủy lợi

    BAN TỔ CHỨC

  • Tìm hiểu về ngày 23/4 – Ngày sách và bản quyền thế giới

    Tìm hiểu về ngày 23/4 – Ngày sách và bản quyền thế giới

        Đánh giá cao tầm quan trọng của văn hóa đọc, trong kỳ họp lần thứ 28 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc tại Paris (ngày 25/10 – 16/11/1995), UNESCO (Tổ chức văn hoá, giáo dục, khoa học Liên hợp quốc) đã quyết định chọn ngày 23/4 hàng năm làm “Ngày sách và bản quyền thế giới”(World Book and Copyright Day), trong đó nêu rất rõ mục tiêu và các thành phần tham gia ngày tôn vinh những giá trị của sách và sự đóng góp của các tác giả cho sự ra đời của các tác phẩm bất hủ. Ngày này được tổ chức hàng năm tại mỗi quốc gia nhằm bảo đảm cho mọi người khám phá và thỏa mãn sở thích đọc của mình, đồng thời là dịp để tôn vinh những tác giả đã có nhiều đóng góp cho sự tiến bộ văn hóa, văn minh xã hội của nhân loại. Đây cũng là dịp thể hiện sự hợp tác, hợp lực giữa các tác giả, các nhà xuất bản, trường học, các thư viện, các cơ quan Nhà nước, công ty tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tổ chức lễ kỷ niệm về sách và các tác giả.

        Ý tưởng về Ngày Sách và Bản quyền Thế giới bắt nguồn từ một phong tục truyền thống rất đẹp ở Catalonia (Tây Ban Nha): Vào ngày 23/4 hàng năm (là ngày lễ Thánh Goerge), có rất nhiều hội chợ sách và các lễ hội đường phố được tổ chức, mỗi khách hàng sẽ được tặng một bông hồng kèm theo khi mua một cuốn sách trong ngày hôm đó. Ngày 23/4 còn là ngày mà cả ba đại văn hào của thế giới Cervantes, Shakespeare và Inca Garcilaso de la Vega đều qua đời sau khi để lại cho nhân loại những kiệt tác của mọi thời đại. Ngày này cũng là ngày sinh hoặc ngày giỗ của các tác giả nổi tiếng khác Maurice Druon, K.Laxness, Vladimir Nabokov, Josep Pla and Manuel Mejía Vallejo. Chính vì vậy, UNESCO mong muốn Ngày Sách và Bản quyền Thế giới sẽ là dịp để cả thế giới tôn vinh sách và những người sáng tạo ra chúng – những người đã có những đóng góp không gì thay thế được đối với sự phát triển văn hóa nhân loại; dịp để khuyến khích tất cả mọi người, nhất là giới trẻ, khám phá niềm yêu thích đọc sách, tôn vinh văn hoá đọc.

        Hưởng ứng chủ trương của UNESCO, đồng thời để khẳng định những giá trị to lớn của sách báo, hơn 10 năm qua, trên thế giới đã có trên 150 quốc gia tổ chức kỷ niệm “Ngày sách và bản quyền thế giới” với nhiều hoạt động thiết thực dưới nhiều hình thức và chủ đề phong phú khác nhau, thu hút được  nhiều người tham gia, nhất là  xây dựng được mối liên hệ mật thiết giữa các thư viện – nhà xuất bản – cơ quan phát hành – và bạn đọc. Có thể nói khắp nơi đã chào đón Ngày đọc sách thế giới rất nhiệt tình và sôi nổi : Ví dụ “Tặng một cuốn sách – tặng một đoá hồng” là một chiến dịch đặc biệt diễn ra ở nhiều nước trên thế giới nhằm tôn vinh ngày đọc sách thế giới (23-4). Ngoài ra còn có vô số các hoạt động thú vị liên quan đến sách được tổ chức dưới sự khởi xướng và khuyến khích của UNESCO. Đây thực sự là ngày hội của những người yêu quý sách trên khắp hành tinh. Trong khi ở châu Âu và Bắc Mỹ, vào ngày này trên khắp các phương tiện vận chuyển hành khách công cộng, trên những con tem của từng lá thư đều có logo ngày hội sách thì ở châu Phi, các bạn trẻ lại tình nguyện đem sách tới cho những người có hoàn cảnh đặc biệt như người bệnh, người mù lòa và cả những người không biết chữ để đọc cho họ nghe… Điều này một lần nữa tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của sách trong đời sống con người. Đặc biệt là trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, việc tổ chức các ngày sách và văn hóa đọc chính là minh chứng rõ ràng nhất: Sách và văn hóa đọc mãi mãi trường tồn.
        Nhiều năm qua, khi Ngày Sách và Bản quyền thế giới ra đời, Việt Nam đã tích cực hưởng ứng và hiện thực hóa ngày này thông qua các hoạt động vô cùng ý nghĩa như: Triển lãm, trưng bày sách báo, triển lãm thư pháp, giao lưu tọa đàm giữa các nhà văn với bạn đọc, tuyên truyền giới thiệu sách, vẽ tranh theo sách… Bên cạnh đó còn có các hoạt động quyên góp ủng hộ sách, xây dựng tủ sách cho các địa phương khó khăn ở vùng xâu, vùng xa góp phần nuôi dưỡng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.
        Để phong trào đọc sách đi vào hoạt động có nền nếp và ngày càng phát triển sâu rộng trong toàn xã hội, ngày 24/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 284/QĐ-TTg chọn ngày 21/4 hằng năm là “Ngày Sách Việt Nam”. Điều này không chỉ thể hiện được sự hội nhập của Việt Nam với thế giới mà còn góp phần gắn kết các hoạt động được tổ chức trong nước để hưởng ứng Ngày Sách và Bản quyền thế giới. Các chuỗi hoạt động được tổ chức đồng loạt với những hình thức phong phú, đa dạng và ngày càng có chiều sâu đã có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng; tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa các trung tâm thông tin thư viện lớn đến thư viện trường học, giữa nhà xuất bản với các cơ quan phát hành, giữa tác giả với người đọc… Qua đó không ngừng nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người.

         Các phương tiện thông tin đại chúng cũng góp công không nhỏ, đó là việc đăng tải các bài báo giới thiệu sách, về văn hoá đọc, về bản quyền và vi phạm bản quyền,… trên báo và tạp chí. Những chương trình phát thanh, truyền hình đặc biệt thuộc thể loại phỏng vấn, tranh luận, trò chơi v.vv… cũng ưu tiên cho các đề tài nêu trên.Tính sáng tạo của các nhà báo, nhà văn trẻ, nhà soạn nhạc, nhà làm phim cũng sẽ được công chúng ghi nhận và tán dương trong ngày hội đọc sách thông qua báo chí.

    Hoạt động về quyền tác giả: Ngày này cũng là ngày dành riêng cho việc tuyên truyền nâng cao ý thức của công chúng trong vấn đề bản quyền, là dịp để các luật sư, các tác giả và nhà sáng tạo thảo luận các chủ đề khác nhau về bản quyền, là cơ hội đến tìm hiểu các tổ chức quản lý tập thể và thực tập về luật bản quyền cho sinh viên ngành xuất bản,bản quyền.    

        Với tinh thần đề cao tầm quan trọng của sách báo và tri thức trong đời sống, sự kiện ngày đọc sách thế giới ở Việt Nam đang trở thành một nét sinh hoạt văn hoá, văn minh của những người yêu mến sách báo cần được duy trì và quảng bá rộng hơn trong xã hội và rất cần sự hỗ trợ, quan tâm hơn nữa của các cơ quan  chức năng để Văn hóa đọc luôn là nhu cầu không thể thiếu  của những công dân văn minh trong thời đại ngày nay.

    (Thư viện sưu tầm và biên soạn từ nhiều nguồn)

  • Dâng hoa kỷ niệm 150 năm ngày sinh V.I.Lênin

    Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh V.I.Lênin (22.4.1870 – 22.4.2020), sáng 21.4, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư Võ Văn Thưởng dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến dâng hoa tưởng nhớ lãnh tụ cộng sản V.I.Lênin tại Tượng đài Lênin ở Q.Ba Đình, Hà Nội.

    Trước Tượng đài V.I.Lênin, Đoàn đại biểu đã bày tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ công lao to lớn của V.I.Lênin đối với sự nghiệp cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam; tỏ rõ lòng quyết tâm tiếp tục thực hiện lý tưởng và con đường cách mạng vô sản của Người cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, văn minh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vô sản.

    Dâng hoa tại Tượng đài V.I.Lênin vào mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh V.I.Lênin là hoạt động thường niên của Đảng và Nhà nước ta nhằm tri ân sâu sắc tới nhà lãnh đạo, nhà chính trị kiệt xuất, người thầy của giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn thế giới. Năm nay, lễ dâng hoa được tổ chức trong điều kiện phòng chống dịch Covid-19 nên quy mô và nghi lễ đã được điều chỉnh phù hợp.

    Cũng trong sáng 21.4, ông Võ Văn Thưởng tham dự và cắt băng khai mạc trưng bày chuyên đề V.I.Lênin và thời đại, do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Khu lưu niệm Lênin (Liên bang Nga) tổ chức.

    Theo Báo Thanh niên

  • Quyền tác giả trong số hóa tài liệu và phát triển bộ sưu tập số tại các thư viện đại học

    Quyền tác giả trong số hóa tài liệu và phát triển bộ sưu tập số tại các thư viện đại học

    Bản
    quyền chính là vấn đề quan trọng và là thách thức lớn trong việc phát triển thư
    viện số nói chung, xây dựng các bộ sưu tập số nói riêng. Đây có thể coi là rào
    cản lớn nhất trong công tác phát triển cũng như phổ biến tài liệu số. Hiện tại
    bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ đang là vấn đề toàn cầu không chỉ trong lĩnh vực
    thông tin – thư viện và còn trong các lĩnh vực khác, còn trong các lĩnh vực
    khác. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là các thư viện trong quá trình xây dựng và phát
    triển bộ sưu tập số cần tuân thủ nghiêm chỉnh vấn đề bản quyền nhằm vừa đảm
    bảo công tác lưu trữ và phổ biến thông tin, vừa đảm bảo được quyền lợi của tác
    giả hoặc chủ sở hữu.

    1. Quyền tác giả trong hoạt động thư
    viện

    Với tính chất là một loại hình cơ quan tổ chức
    chuyên thu thập, tổ chức, lưu trữ và phổ biến thông tin, có thể nói hoạt động
    của thư viện luôn gắn liền với vấn đề bảo hộ quyền tác giả. Điều 1 của Pháp lệnh Thư
    viện
     quy định về chức năng, nhiệm vụ của thư viện là “giữ gìn di sản thư
    tịch của dân tộc, thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung
    vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ
    nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân, góp
    phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa
    học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
    hóa đất nước” (1). Như vậy có thể thấy, quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên
    đều gắn với vấn đề bảo hộ quyền tác giả, bởi nguồn tài nguyên thông tin của thư
    viện là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Bên cạnh dó, các hoạt động thu
    thập, tổ chức khai thác nguồn tài nguyên thông tin đều có liên quan đến khai
    thác quyền tác giả.

    Vậy làm thế nào để thư viện vừa thực hiện tốt
    các chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời không làm ảnh hưởng đến quyền lợi
    của tác giả? Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tiến hành khảo sát hệ
    thống pháp luật của 184 quốc gia trên thế giới thì có tới 129 nước pháp luật có
    quy định ngoại lệ dành cho thư viện (2). Thực tế trên chỉ ra vai trò của pháp
    luật bản quyền trong hoạt động của thư viện, nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng có
    khả năng tiếp cận với nguồn tài nguyên thông tin có giá trị được lưu trữ tại
    đây.

    Quay trở lại với Việt Nam, trong các văn bản
    pháp lý hiện hành các trường hợp sao chép tác phẩm không phải xin phép, không
    phải trả thù lao gồm: tự sao chép không quá một bản nhằm mục đích nghiên cứu,
    giảng dạy (theo điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) (3); sao
    chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu (theo điểm đ
    khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) (4).

    Nhìn chung, pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan
    đến quyền tác giả ở Việt Nam còn quy định khá chung chung và gây cản trở cho
    hoạt động của các thư viện, đặc biệt liên quan đến vấn đề số hóa tài liệu và xây
    dựng các bộ sưu tập số.

    2. Thực trạng quyền tác giả trong hoạt
    động số hóa tài liệu và xây dựng bộ sưu tập số

    Phát triển thư viện số thông qua việc số hóa
    tài liệu và xây dựng các bộ sưu tập số đang là hướng đi của nhiều thư viện trên
    thế giới và tại Việt Nam. Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, việc sao
    chép, số hóa tài liệu ngày càng trở nên dễ dàng, nhanh chóng, từ đó đặt ra những
    thách thức không nhỏ đối với việc bảo vệ quyền tác giả trong môi trường số. Một
    mặt công nghệ số cho phép nhanh chóng, thuận tiện trong việc phổ biến thông
    tin/tài liệu tới cộng đồng, mặt khác nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vi
    phạm quyền tác giả một cách trực tiếp và dễ dàng hơn. Nếu việc số hóa tài liệu
    và cung cấp bản sao được tiến hành một cách tràn lan, không phải trả tiền bản
    quyền sẽ gây phương hại đến các quyền và lợi ích của chủ sở hữu quyền tác giả và
    các quyền liên quan.

    Hiện nay, qua khảo sát, các thư viện đại học
    Việt Nam khi xây dựng và phát triển các bộ sưu tập số thường dựa trên hai nguồn
    tài liệu chính: tài liệu nội sinh và tài liệu ngoại sinh. Nguồn tài liệu nội
    sinh là các nguồn tài liệu hình thành trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy của
    nhà trường. Còn nguồn tài liệu ngoại sinh là các nguồn tài liệu từ bên ngoài mà
    Nhà trường không nắm giữ quyền tác giả.

    Qua nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm thực tiễn
    từ các quốc gia phát triển như Mỹ, Úc… cũng như các quy định hiện hành tại Việt
    Nam về pháp luật sở hữu trí tuệ, trong hai nguồn tài liệu nói trên, nguồn tài
    liệu nội sinh được phép tiến hành số hóa. Như vậy, các thư viện đại học cần tư
    vấn cho Hội đồng trường, Hội đồng khoa học – đào tạo và Ban Giám hiệu về việc
    quy định các nguồn tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động nghiên cứu, đào
    tạo của Nhà trường đều sẽ thuộc quyền quản lý và sử dụng của Nhà trường. Dưới
    góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ, khi đó quyền tài sản sẽ thuộc về Nhà trường,
    trong khi quyền nhân thân vẫn thuộc về tác giả hoặc nhóm tác giả. Thông thường
    các nguồn nội sinh này bao gồm: khóa luận, luận văn, luận án của sinh viên, học
    viên, nghiên cứu sinh của nhà trường; đề tài nghiên cứu các cấp, kỷ yếu hội
    nghị, hội thảo khoa học của nhà trường; giáo trình, bài giảng, tài liệu được
    biên soạn theo chỉ đạo của nhà trường; bài viết trên các báo, tạp chí của nhà
    trường; các loại tài liệu khác theo quy định riêng của từng trường (ví dụ:
    chương trình máy tính, phần mềm, slogan, logo…).

    Như vậy, các trường đại học có thể yên tâm về
    mặt pháp lý trong vấn đề quyền tác giả khi tiến hành xây dựng các bộ sưu tập số
    về nguồn tài liệu nội sinh để phục vụ người dùng tin.

    Còn đối với nguồn tài liệu ngoại sinh, có thể
    thấy các quy định pháp luật hiện còn khá chung chung và chưa phù hợp, bởi thư
    viện chỉ có thể số hóa tối đa một bản để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và
    không được phép truyền đạt, phổ biến đến người dùng tin. Quy định này gây cản
    trở đến khả năng tiếp cận thông tin của bạn đọc ở xa, hoặc những người do các
    điều kiện đặc thù mà khó khăn trong việc phải trực tiếp tới thư viện (ví dụ:
    người khuyết tật, người đang chấp hành án phạt tù…). Trong khi đó, luật pháp của
    một số nước (ví dụ: Úc) cho phép thư viện được số hóa một phần tác phẩm để phục
    vụ công chúng. Có thể thấy lợi ích của việc này là rất lớn, khi bạn đọc có thể
    truy cập từ xa để xem trước một phần nhỏ của tài liệu, từ đó đưa ra nhận định về
    tính phù hợp của tài liệu đó với nhu cầu của mình trước khi tiếp cận với bản gốc
    đầy đủ có trong thư viện. Quan trọng hơn, điều này cũng không vi phạm quyền tác
    giả vì không số hóa toàn bộ tác phẩm và công bố rộng rãi cho cộng đồng. Như
    vậy quy định đã hài hòa được lợi ích của cả ba bên liên quan: thư viện, chủ sở
    hữu quyền tác giả và người sử dụng
    .

    Theo quy định hiện hành, các tài liệu ngoại
    sinh không bị cấm sao chép dưới dạng số thì các thư viện vẫn có thể số hóa
    để lưu trữ
     phục vụ cho hoạt động nghiên cứu mà không cần sự cho phép của
    tác giả. Lưu ý là không được số hóa quá một bản theo quy định của pháp luật.

    3. Một vài kiến nghị

    Cần tiến hành điều chỉnh, sửa đổi các quy
    định của pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động của thư
    viện
     (Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và Điều 25 Nghị định số
    100/2006/NĐ-CP). Việc sửa đổi phải tiến hành trên cơ sở đảm bảo cân bằng lợi ích
    giữa chủ sở hữu quyền tác giả, lợi ích của người sử dụng và đảm bảo cho thư viện
    thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Một trong các vấn đề quan trọng cần
    làm rõ là các quyền của thư viện số trong việc sao chép tác phẩm nhằm mục đích
    lưu trữ, quyền truyền đạt tác phẩm, phân phối tác phẩm.

    Nâng cao nhận thức cho các chủ thể liên
    quan về vấn đề quyền tác giả
    . Chỉ khi nào cả ba bên liên quan là cán bộ thư
    viện, chủ sở hữu quyền tác giả và người dùng có đầy đủ kiến thức, cũng như hiểu
    rõ các khía cạnh liên quan đến pháp luật, đạo đức trong vấn đề này thì tính khả
    thi của việc điều chỉnh các quy định pháp luật về bảo hộ quyền tác giả mới đi
    vào cuộc sống. Cần hướng tới việc xây dựng và hình thành một “văn hóa ứng xử”
    với vấn đề bản quyền.

    Quan tâm nhiều hơn đến truy cập mở (open
    access) và nguồn tài nguyên giáo dục mở (open educational resources)
    . Trong
    điều kiện còn nhiều rào cản về vấn đề quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay, các thư
    viện cần tận dụng và khai thác tối đa sức mạnh của truy cập mở. Hiện nay, rất
    nhiều nguồn tài nguyên giáo dục mở đã được xây dựng và trở nên phổ biến trên thế
    giới, trong đó có nhiều cơ sở dữ liệu học thuật truy cập mở được phát triển bởi
    các trường đại học uy tín như MIT, Stanford, Harvard… Các thư viện đại học Việt
    Nam cần tiếp cận nhiều hơn đến các nguồn thông tin này, tổ chức khai thác cũng
    như hướng dẫn cho bạn đọc cách thức truy cập, sử dụng một cách hiệu quả.

    4. Kết luận

    Hiện nay, vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ
    và quyền tác giả khi xây dựng các bộ sưu tập số nói riêng, các thư viện số nói
    chung đang là một trong những yêu cầu cấp bách. Các cơ quan thông tin – thư viện
    ở Việt Nam đang tiến hành tạo lập các bộ sưu tập số trong bối cảnh thiếu các văn
    bản quy phạm pháp luật cho vấn đề quyền tác giả trong hoạt động thư viện. Việc
    thiếu những văn bản quy phạm pháp luật này khiến nhiều thư viện lúng túng trong
    quá trình số hóa khi tiến hành sao chụp, quét, nhân bản tài liệu; đồng thời cũng
    gặp nhiều khó khăn trong quá trình khai thác sản phẩm và cung cấp dịch vụ liên
    quan đến các bộ sưu tập số tự xây dựng. Trong thực tế, một số thư viện bước đầu
    đã và đang xây dựng các quy chế phục vụ có giới hạn quyền tác giả khi cung cấp
    các sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của người dùng tin, đặc biệt là các dịch vụ
    sao chụp tài liệu, khai thác cơ sở dữ liệu, thực hiện các dự án số hóa tài liệu.
    Vì vậy, trong thời gian tới cần nhanh chóng thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu
    trên nhằm hài hòa lợi ích của tất cả các bên liên quan.

    ________________

    1. Pháp lệnh Thư viện, số
    31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28-12-2000.

    2. Kenneth Crews, Study on
    copyright limitations and exceptions for libraries and archives
    ,
    WIPO, SCCR/17/2, 2008.

    3, 4. Luật Sở hữu trí tuệ, số
    50/2005/QH11 ngày 19-11-2005, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày
    19-6-2009.

                                                   
                                                          

    Tạp chí VHNT số 408, tháng 6 – 2018

    Tác giả : ĐỒNG ĐỨC HÙNG


    (Nguồn: http://www.vhnt.org.vn/)

  • 571.907 lượt thi tìm hiểu truyền thống ngành tuyên giáo tuần thứ 4

    Mười tỉnh, thành phố có số người tham gia dự thi đông nhất tuần thi thứ 4 gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Thái Nguyên.

    Giải Nhất cuộc thi tuần thứ 4 thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Xuân (phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên). Hai giải Nhì thuộc về các thí sinh Trần Quốc Thành (phường Tân Giang, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) và Hoàng Văn Khởi (xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn). Năm giải Ba thuộc về  các thí sinh: Lê Hồng Sơn (phường Bắc Hà, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh); Lê Cao Nhật Anh (phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi); Trần Thị Quế Anh (Phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng); Đinh Thị Kim Dung (xã Xuân Áng, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ); Lê Thị Sâm Thương (thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).

    Hướng tới kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2020), Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Cuộc thi "Tìm hiểu 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng" trên mạng VCNET. Thời gian thi trắc nghiệm được tiến hành hàng tuần, bắt đầu tuần thi thứ nhất từ ngày 23/3/2020, kết thúc vào ngày 13/7/2020. 

    Cuộc thi tuyên truyền về lịch sử 90 năm xây dựng và phát triển ngành Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2020). Cuộc thi nhằm nâng cao nhận thức và phát huy những kinh nghiệm để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả trong đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên giáo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay; tuyên truyền, đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Cuộc thi cũng góp phần đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

    TTXVN/Báo Tin tức