Danh mục: Tin tức & thông báo

  • Ai sẽ là người xứng đáng?

    Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII là sự kiện chính trị trọng đại của đất  nước và là ngày hội lớn để nhân dân phát huy quyền dân chủ, trực tiếp lựa chọn, giới thiệu và bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội.  Cuộc bầu cử này sẽ góp phần tạo sự đồng bộ trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ trong hệ thống chính trị, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng trong các cơ quan Nhà nước Trung ương và địa phương, là dịp để tiếp tục xây dựng củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.


    Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước, góp phần thiết lập ra bộ máy Nhà nước để tiến  hành các hoạt động quản lý xã hội. Vậy, chúng ta – những cử tri tại khu vực bỏ phiếu số 2, chúng ta đã biết và hiểu gì về những cử viên – người sẽ đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của chính chúng ta?


    Sáng ngày 11/5/2011 tới, tại Hội trường T45 Trường Đại học Thủy Lợi sẽ diễn ra Hội nghị tiếp xúc giữa các ứng cử viên Đại biểu Quốc hội khóa XIII – khu vực bỏ phiếu số 2 với sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn quận Đống Đa, đây là cơ hội để các cử tri tại khu vực bỏ phiếu này tiếp xúc với các ứng cử viên của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIII, tại đây sẽ có sự trao đổi giữa ứng cử viên – các cử tri và ngược lại. Hội nghị tiếp xúc này rất quan trọng, nó sẽ góp phần cho lá phiếu của mỗi cử tri vào ngày 22/5/2011 được chính xác hơn, chọn được mặt để gửi vàng, gửi lòng tin – bởi chính họ sẽ là người mang tiếng nói của chúng ta đến gần hơn với Đảng, với Nhà nước.


    Ngay bây giờ các cử tri hãy nghiên cứu 05 ứng cử viên tại danh sách sau đây và chuẩn bị những câu hỏi cho họ, đồng thời hãy có mặt đầy đủ vào lúc 8h00’ ngày 11/5/2011 tại Hội trường T45 – nơi sẽ diễn ra Hội nghị tiếp xúc cử tri của các ứng viên sáng giá đại biểu Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 nhé!


    Danh sách xem tại đây
     
    Anh Nguyễn

  • Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân

    Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
    Chi tiết xem tại đây.

  • Lễ ký kết bản ghi nhớ giữa Đại học Thủy Lợi và Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc.

    Lễ ký kết bản ghi nhớ giữa Đại học Thủy Lợi và Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc.

    Lễ ký kết bản ghi nhớ giữa Đại học Thủy Lợi và Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc.


    Sáng ngày 15/3/2011 tại Trường Đại học Thủy Lợi đã diễn ra ký kết bản ghi nhớ giữa Trường Đại học Thủy Lợi và Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc.


    Đến dự buổi ký kết này, về phía Trường Đại học Thủy Lợi có sự hiện diện của GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu Trưởng, cùng sự có mặt lãnh đạo một số Phòng và Khoa trong Nhà trường. Đại diện đoàn phía Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc là GS. Yan – Dakao và một số thầy cô đến từ các Viện, trung tâm, phòng của trường Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc.


     







    Buổi làm việc giữa Trường Đại học Thủy Lợi và Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc.


    GS.TS Nguyễn Quang Kim đã thay mặt Nhà trường bày tỏ sự cảm ơn tới phái đoàn Trung Quốc đã đến thăm quan và hợp tác cùng Nhà trường, GS đã giới thiệu một cách khái quát nhất về lịch phát triển của Nhà trường cũng như những thành tựu mà Nhà trường đã đạt được trong hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành. GS. cũng bày tỏ niềm vui và sự thú vị khi được biết Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc là đơn vị đã từng tham gia thiết kế và xây dựng Trường Đại học Thủy Lợi trước đây. Với lý do đó, GS cho rằng Trường Đại học Thủy Lợi và Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc  đã từng có mối quan hệ thân thiết trong quá khứ, vì thế GS mong muốn buổi gặp gỡ và trao đổi này sẽ diễn ra trên tinh thần cởi mở và ấm cúng.


    Về phía Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc, GS Yan – Dakao đã gửi lời cảm ơn tới Trường Đại học Thủy Lợi đã đón tiếp rất nhiệt tình và chu đáo đoàn đến thăm và làm việc tại trường, đồng thời GS. Yan – Dakao cũng chia sẻ những thông tin thú vị về Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc. Theo đó, Trường được thành lập từ năm 1951, là trường được đào tạo các ngành khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, kinh tế, quản trị……Được đánh giá là trường xuất sắc trong hệ thống giáo dục Trung Quốc, Trường hiện đang đào tạo 19 ngành học như: kỹ thuật tài nguyên nước, tài nguyên nước và môi trường, kinh tế, máy, điện…Sinh viên sau khi tốt nghiệp cơ hội có việc làm cao và nhanh chóng chiếm khoảng 95%….


    Sau khi giới thiệu những nét chung về Nhà trường, hai bên đã tiến hành bàn bạc về những khả năng hợp tác trong tương lai về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, trong đó phía trường Đại học Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc sẽ cử giáo viên sang dạy tiếng Trung Quốc cho cán bộ, giáo viên trong Nhà trường; đồng thời thống nhất ký kết bản ghi nhớ về hợp tác đào tạo và chuyển giao công nghệ của hai bên.


     







    Hai bên cùng ký kết bản ghi nhớ về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ



    Trường Đại học Tài nguyên nước và điện lực Bắc Trung Quốc còn đi thăm quan Thư viện và một số phòng thí nghiệm của Trường Đại học Thủy Lợi.


     







    Thăm quan thư viện..


     






    …..phòng thí nghiệm thủy lực








    Lãnh đạo hai trường Đại học trao quà lưu niệm cho nhau…


    Trong không khí ấm cúng thân thiện của con người đến từ 2 quốc gia có nhiều điểm tương đồng về văn hóa và phong tục, lãnh đạo hai Nhà trường cùng trao nhau những món quà lưu niệm như một lần nữa khẳng định sự gắn kết của hai ngôi trường có nhiều điểm tương đồng về chuyên môn đào tạo cũng như mục tiêu hướng tới. Bản ghi nhớ được ký kết ngày hôm nay không những mang giá trị cao về mặt hợp tác khẳng định được sự phát triển của Trường Đại học Thủy Lợi về quan hệ Quốc tế ngày càng rộng mở, mà nó còn mang giá trị về cao cả về tình cảm giữa hai Quốc gia láng giềng ngày càng sâu đậm và bền vững.



    Anh Nguyễn

  • Đề cử thêm nhiều ứng viên vào Ban chấp hành trung ương.

    Đề cử thêm nhiều ứng viên vào Ban chấp hành trung ương.

    Chiều 16/1, Đoàn Chủ tịch đã họp với các trưởng đoàn để xemxét kết quả tổng hợp danh sách đề cử, ứng cử ngoài danh sách do Ban chấp hànhkhóa X giới thiệu. Trong số đề cử của các đoàn có ứng viên cấp thứ trưởng.







    Các đại biểu kết thúc phiên họp chiều 16/1. Ảnh: Việt Đông.


    Sáng 16/1 các đại biểu trao đổi về tiêuchuẩn, cơ cấu, danh sách đề cử Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI và nghiêncứu các tài liệu, hồ sơ về nhân sự; ghi phiếu đề cử, ứng cử bổ sung ngoài danhsách đề cử của Ban chấp hành trung ương khóa X. Sau đó, các đoàn đại biểu báocáo bằng văn bản với Đoàn Chủ tịch đại hội về danh sách đề cử, ứng cử.


    Trao đổi vớiVnExpress, một số đại biểu cho biết, trong đoàn có đề cửthêm các trường hợp ngoài danh sách đề cử của Ban chấp hành trung ương khóa X.Trong danh sách đề cử thêm có cán hộ cấp thứ trưởng.


    Chiều 16/1, Đoàn Chủ tịch đã họp với cáctrưởng đoàn để xem xét kết quả tổng hợp danh sách đề cử, ứng cử và thông báodanh sách nói trên đến các đoàn đại biểu. Sau đó, các đại biểu ghi phiếu xin rútkhỏi danh sách ứng cử, đề cử Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI nếu có tạiđoàn.


    Cuối buổi chiều 16/1, Đoàn chủ tịch đã họpbàn cho ý kiến về các trường hợp xin rút khỏi danh sách ứng cử, đề cử Ban chấp hànhtrung ương khóa XI.


    ảnh







    Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI dự kiến có 175 ủy viên chính thức. Ảnh: Việt Đông

    Ban chấp hành trung ương khóa XI gồm 175 Ủyviên chính thức và 25 Ủy viên dự khuyết. Theo ông Trần Lưu Hải, Phó ban Tổ chứcTrung ương, sẽ giới thiệu số dư ít nhất 15% so với tổng số được bầu.


    Việt Anh


    (Theo vn.express)

  • Thày giáo – nhạc sỹ Nguyễn Quý Lăng : Từ trái tim người lính

    Thày giáo – nhạc sỹ Nguyễn Quý Lăng : Từ trái tim người lính

    Tìm về câu chuyện 1000 năm của Hà Nội linh thiêng hào hoa, nhà thơ- nhạc sỹ Thụy Kha đã chọn lọc những giá trị âm thanh, xâu chuỗi thành tuyển tập âm nhạc.Tuyển tập 1000 ca khúc Thăng Long Hà Nội như 1000 bậc đá nối liền quá khứ với hiện tại. Trong một ngàn thanh âm khi da diết, khi hào hùng ấy, ngân vang từ Trường Đại học Thủy lợi, có hai ca khúc được chọn đăng trong tuyển tập,” Mãi mãi tuổi hai mươi” và “ Nếu tôi không trở lại” của thầy giáo Nguyễn Qúy Lăng – BM Toán – Khoa Công nghệ thông tin, Hội trưởng Hội CCB Trường Đại học Thủy lợi


    Một thời dữ dội nhưng đầy lãng mạn




    Đây là những ca khúc vang lên từ khi những tập nhật ký chiến tranh “ Mãi mãi tuổi hai mươi” , “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”… ra đời và tạo nên một sức lan tỏa mạnh mẽ  làm nức lòng độc giả cả nước, đặc biệt là thế hệ trẻ.


    “Chúng tôi lên đường, tuổi hai mươi, để lại trang thơ viết dở, và một tình yêu chớm nở, xếp bút nghiên chúng tôi lên đường”


    Giai điệu hùng tráng của khúc quân hành “Mãi mãi tuổi hai mươi” vang lên như thôi thúc, sôi nổi đưa chúng ta về những năm tháng kháng chiến 40 năm trước, đó là đợt tổng động viên toàn bộ Khối học sinh sinh viên các trường Đại học Cao đẳng trên cả nước, ca khúc viết lên là một sự hồi tưởng về tuổi trẻ hào hùng của thế hệ học sinh sinh viên, và thầy Nguyễn Quý Lăng, khi đó là chàng trai mới bước vào tuổi đôi mươi. Gác cây bút, lớp lớp sinh viên cầm súng lên đường chiến đấu, trong số ấy có những người đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất anh hùng như Nguyễn Văn Thạc, Nguyễn Kỳ Sơn…và bao con người khác nữa. Những chàng trai, cô gái ngày ấy đã làm nên một huyền thoại “ Mãi mãi tuổi hai mươi”


    Trong những trang nhật ký của mình, Nguyễn Văn Thạc đã nhiều dòng nhắc đến Nguyễn Quý Lăng, là người bạn học cùng lớp K15 Khoa Toán ĐH Tổng hợp HN , người đồng đội cùng tiểu đội đầy thương mến “Lăng đi xe tăng rồi”, “ta nhớ bạn, nhớ Lăng, Hậu, Hải”…


    Nhớ về một thời chiến tranh khốc liệt, tưởng nhớ  tri ân những đồng đội ngã xuống, những ca từ, giai điệu vẫn sáng ngời niềm tin chiến thắng ngày ấy:


    “ Dù phải đốt cháy cả Trường Sơn. Lời Bác vang dội non sông. Vì quê hương chúng tôi hiến dâng tuổi thanh xuân. Vì Tổ quốc mãi mãi tự do. Lên đường nào bạn hỡi.!!!”


    Nếu như, Mãi mãi tuổi hai mươi là bản hùng ca lên đường mang khí thế sục sôi của Một thời hoa lửa thì Nếu tôi không trở lại  là một ca khúc trữ tình cách mạng khắc họa tâm tư của những người lính. Có lẽ rằng, bất cứ người lính nào khi ra chiến trường cũng đặt ra câu hỏi “ nếu tôi không trở lại”, bài hát dựa trên ý thơ Nguyễn Văn Thạc như lời tri ân cả thế hệ. Đằng sau có cả quê hương và gia đình để sống và chiến đấu, ca từ chứa đựng chứa đựng tình cảm tình yêu, tâm sự của những người lính trong những năm tháng ở chiến trường, nhớ về Thủ đô,  nhớ về Hồ Gươm, nhớ về Tây Hồ, nhớ về những năm tháng sinh viên đầy kỷ niệm, tha thiết tâm tư của một người thanh niên lên đường chiến đấu mang theo tình yêu Hà Nội nồng nàn vút bay giữa muôn vàn gian khó.


    “Nếu tôi không trở lai/ Chiều Hồ Tây có còn  xanh trong mùa thu. Nếu tôi không trở lại/ Hoa bằng lăng còn tím không em?


    Nói về “thời đại của mình”, thầy tâm sự “chúng tôi là những người may mắn được trở về, đó là hạnh phúc và bằng cảm xúc viết về một tuổi trẻ dữ dội nhưng cũng đầy lãng mạn trong cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc”, và chút tâm tư, tình cảm, chút hiện thực đó đã hòa mình vào dòng chảy lịch sử của Hà Nội ngàn năm.









    Thầy Nguyễn Quý Lăng giới thiệu hai ca khúc được chọn đưa trong tuyển tập 1000 ca khúc Thăng Long Hà Nội


    Những nẻo đường sáng tác


    Sáng tác từ năm 1974 khi còn ở Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp, thầy Nguyễn Quý Lăng cho rằng, là một người thầy, tư duy Toán học cũng phục vụ sáng tác ca khúc rất nhiều, vì âm nhạc cũng có những cấu trúc trong kỹ thuật âm nhạc, từ ca khúc, thanh, phối khí, có những cấu trúc như công thức toán học, từ những công thức ấy để giải bài toán thì từ những kỹ thuật thanh nhạc, người nhạc sỹ  chuyển tải cái tình, cái hiện thực viết nên những giai điệu.


    Niềm đam mê âm nhạc và chút năng khiếu, thầy luôn tìm cho mình những cảm hứng sáng tác, bởi âm nhạc là sự phản ánh cuộc sống với nhiều góc cạnh của nó. Ở mỗi nơi từng đi qua, mỗi điểm dừng chân đều cho thầy cảm xúc để thầy viết nên những giai điệu đậm chất trữ tình.


    Trở về với bục giảng, cùng với rất nhiều các thầy giáo say mê hoạt động văn hóa , văn nghệ  … , thầy Nguyễn Quý Lăng viết những ca khúc chứa đựng tình cảm của mình đối với Trường Đại học Thủy lợi, gửi gắm tất cả niềm tự hào, tình thầy trò. Như tác phẩm Trở về Thủy lợi là nhớ lại những năm tháng dưới mái nhà tranh nơi sơ tán, với ngọn đèn dầu bập bùng, những đêm đông giá lạnh, nhưng thầy và trò Trường Đại học vẫn ấm áp những khát khao, ước mơ, quyết tâm học tập để xây dựng những công trình cho đất nước, ngày nay ước mơ đó đã trở thành hiện thực trong sự phấn đấu của nhiều thế hệ thày và trò.


     Từ tuổi hai mươi nơi chiến trường khói lửa, thầy tâm niệm rằng, trong cuộc sống dù thời chiến hay thời bình, mỗi người luôn phải giữ ngọn lửa nhiệt tình, trách nhiệm, để biến thành hành động rất cụ thể trong mỗi công việc của bản thân. Với học sinh sinh viên ngày nay, lòng nhiệt tình, khát vọng ấy phải dồn sức cho việc học tập, là trách nhiệm của mình với cộng đồng xã hội, cái quá khứ đã qua chỉ còn lại cái âm hưởng, phải biến cái âm hưởng hào hùng đó thành cái hiện hữu thường trực trong mỗi con người mới có giá trị.


    Cho đến bây giờ, ngày đứng trên bục giảng với say mê với những công thức, những bài toán, tối đến thầy Nguyễn Quý Lăng lại hết mình trong những bài ca, những tiết mục văn nghệ. Đối diện với người thày giáo – nhạc sỹ ấy, người ta đều cảm nhận được niềm say mê cháy bỏng với âm nhạc và nhiệt huyết tràn đầy ẩn dưới sự trải nghiệm sâu sắc của một người lính để lại những bài ca về tình yêu, tình người, tình đồng đội ngân vang mãi suốt chiều dài năm tháng.


    Hà Linh Ngọc

  • Công tác lãnh đạo chính trị tư tưởng trong nhà trường – Kinh nghiệm từ Đại học Thủy lợi

    QĐND – Công tác Đảng trong các nhà trường có rất nhiều nội dung. Một nội dung giữ vị trí quan trọng là công tác chính trị tư tưởng. Đó là đặc thù, là sợi chỉ hồng xuyên suốt mọi hoạt động lãnh đạo của Đảng ở nhà trường. Trong những năm qua, công tác này ở  Trường Đại học Thủy lợi đã gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, gắn với các phong trào, các ngày kỷ niệm lớn của ngành cũng như của đất nước, nhất là gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh …


    Thống nhất nhận thức


    Đây là một giải pháp tưởng như đơn giản nhưng khi thực hiện một hoạt động nào đó thì hạn chế của nhận thức chưa thống nhất lại bộc lộ. Vì vậy, thống nhất nhận thức, không chỉ có ở Đảng ủy, ở Ban Tuyên giáo nhà trường mà tới từng đồng chí quản lý, tới từng đảng viên, giảng viên: Thấy rõ tầm quan trọng và động lực mạnh mẽ khi công tác chính trị tư tưởng được triển khai. Ngay cả trong đội ngũ giảng viên, học viên, sinh viên, học sinh cũng cần thấy nâng cao nhận thức chính trị, rèn luyện đạo đức, tâm huyết với việc… là nhiệm vụ, là một yêu cầu trong quá trình học tập, công tác.


    Có thể nói, tạo được sự thống nhất trong nhận thức là một trong những giải pháp tiền đề để thực hiện các giải pháp khác. Để có được sự thống nhất nhận thức, trước khi quyết định và triển khai một công việc gì, một hoạt động nào thì ý nghĩa chính trị, tư tưởng và rèn luyện đạo đức cũng cần được nhắc tới.


    Nắm bắt thực tế và đầu tư thích đáng


    Nắm hiện trạng để có giải pháp, cập nhật thực tế để công tác lãnh đạo đúng, trúng và hiệu quả. Để nắm bắt được tình hình thực tế thì cần có mạng lưới cộng tác, tổ chức các diễn đàn, phát huy dân chủ, cấp trên đi thực tế, nghe cấp dưới báo cáo; cấp dưới phản ánh.


    Đầu tư về nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) đủ để hoạt động được và hoạt động có hiệu quả. Quan trọng hơn là người lãnh đạo, quản lý, cán bộ phụ trách cần đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ. Chỉ có nhiệt huyết thì mới có hiệu quả trong công tác chính trị, tư tưởng.


    Đa dạng các hoạt động


    Đa dạng các hoạt động trực tiếp của công tác chính trị, tư tưởng tạo nhiều hình thức và luôn luôn thay đổi (ví dụ kể chuyện Bác Hồ, sân khấu hóa hình tượng Bác Hồ, thi viết tấm gương người tốt, việc tốt; nêu gương cựu sinh viên thành đạt; tổ chức nghe thời sự, thường xuyên thay đổi báo cáo viên…).


    Đa dạng các hoạt động gián tiếp. Giá trị tinh thần có ở mọi hoạt động của Nhà trường. Từ đào tạo, quản lý sinh viên, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, xây dựng cơ sở vật chất… đều cần có công tác chính trị, tư tưởng, an ninh quốc phòng, nêu cao cảnh giác chống diễn biến hòa bình, nhận rõ yếu tố đối tượng (ngay trong mọi hoạt động hội nhập, hợp tác).


    Tăng cường cung cấp thông tin chuẩn


    Bằng các buổi báo cáo thời sự, phổ biến pháp luật, học tập nghị quyết; giải đáp thắc mắc trên diễn đàn website, đối thoại với sinh viên, nghe giảng viên cán bộ phản ánh và trao đổi lại. Hướng dẫn các câu lạc bộ hoạt động.


    Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch. Dự báo các biểu hiện chưa đúng có thể xảy ra để phòng tránh.


    Tăng “sức đề kháng”, “miễn dịch” cho sinh viên để khi sinh viên tiếp xúc với xã hội, với các trang web, với các nguồn tin không chính thống thì biết phân biệt đúng sai, biết hợp lý… để củng cố niềm tin và hình thành cách nhìn, cách đánh giá cho đúng.


    Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng và khen chê kịp thời


    Đây không chỉ là nguyên lý mà thực tế là rất cần thiết. Chính các tổ chức này mới giúp Đảng ủy nắm bắt tình hình, lan truyền những chủ trương đúng, những thông tin chuẩn đến hội viên, khơi dậy niềm yêu ngành, yêu trường, tâm huyết với sự nghiệp. Muốn vậy, cần tạo điều kiện để các tổ chức quần chúng hoạt động, cùng tham gia, định kỳ làm việc với lãnh đạo các đoàn thể; kịp thời phát hiện những dấu hiệu chưa hiệu quả để có ý kiến định hướng đúng.


    Công tác thi đua khen thưởng kỷ luật cần được coi trọng và thực hiện đúng theo tiêu chuẩn, quy trình. Ngoài ra còn có những góp ý, biểu dương và phê bình vừa đủ ở hội nghị, trên báo, trên trang web, trong tổ chức các cuộc thi.


    Tạo dựng niềm tự hào về trường, về ngành


    Đây chính là thương hiệu của trường trong lòng mỗi cán bộ, giáo viên, sinh viên của trường. Từ đây nó mới lan tỏa tới xã hội (ví dụ: Sinh viên nghỉ tết về quảng bá tuyển sinh ở các trường trung học phổ thông, nơi mình đã học)


    Ở đây, người lãnh đạo, người thầy, người quản lý bằng việc làm, bằng đức độ tâm huyết với nghề… sẽ giúp hình thành tình yêu với mái trường, với quê hương, đất nước.


    Cũng cần có hoạt động với các thế hệ cán bộ, giảng viên lão thành; với cựu sinh viên thành đạt. Có những bài thơ, lời ca, bản nhạc, ấn phẩm hay về trường về ngành. Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức giao lưu với cựu sinh viên của trường-Anh hùng Lao động Lê Văn Kiểm – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty đầu tư golf Long Thành – một anh Bộ đội Cụ Hồ tiêu biểu, một doanh nhân thành đạt, người đã lập quỹ học bổng khuyến học, khuyến tài dành cho sinh viên Trường Đại học Thủy lợi với số tiền ban đầu 10 tỷ đồng.


    Có đội ngũ nòng cốt thực hiện và các cấp lãnh đạo quan tâm


    Đó là Ban tuyên giáo, phòng công tác chính trị, công tác sinh viên năng động và yên tâm làm việc. Đó là đội ngũ các thầy cô, mà ở đó vai trò của giảng viên dạy chính trị có vị trí đặc biệt quan trọng.


    Ngoài ra cũng cần xây dựng đội ngũ tích cực trong sinh viên, những cán bộ Đoàn, Hội, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh… cùng làm công tác chính trị, tư tưởng.


    Công tác chính trị, tư tưởng trong Nhà trường cần được quan tâm đặc biệt. Đó là quan điểm của Đảng và lãnh đạo các cấp, song nó được thể chế hóa cụ thể hơn, thiết thực hơn ở từng cơ quan chức năng, các cơ quan thông tấn (chê hợp lý, động viên khen thưởng khích lệ kịp thời).

    GS. TS. Phạm Ngọc Quý (*)


    (*) Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Thủy lợi


     
    Theo Báo QĐND – ngày 19/11/2010

  • Vũ Thị Yến đăng quang cuộc thi Miss Thủy Lợi 2010

    Vũ Thị Yến đăng quang cuộc thi Miss Thủy Lợi 2010



    GS. TS Phạm Ngọc Quý trao danh hiệu Hoa khôi cho Vũ Thị Yến và Á khôi 1 Vũ Thị Quỳnh, Á khôi 2 Ngô Thúy Hằng.

     







    Ảnh minh họa


     Hoa khôi Vũ Thị Yến


    Cuộc thi gồm ba phần: trang phục áo dài, trang phục tự chọn, thi tài năng và cuối cùng là phần thi ứng xử. Cứ mỗi lần các thí sinh bước ra sân khấu là hội trường như nổ tung bởi những tiếng hò hét, cổ vũ. Bất ngờ và ấn tượng nhất có lẽ phải kể đến phần thi tài năng. Thầy Đồ Khắc Phương – trưởng ban Văn thể của trường đồng thời cũng là thành viên BGK đã phải thốt lên: “Các em làm tôi rất ấn tượng. Quả thực, những gì mà các em đã thể hiện chỉ có thể nói gọn trong hai từ: Tuyệt vời!”.

     






    Ảnh minh họaẢnh minh họaẢnh minh họa


     Các thí sinh trong phần thi trang phục dạ hội


    Nếu với “Thị Mầu lên chùa”, Chử Thị Thùy Linh làm khán giả phải lặng đi bởi giọng hát chèo trong trẻo, lả lướt như một Thị Mầu thứ thiệt thì tiết mục “Vẽ tranh” của Ngô Thúy Hằng lại khiến khán giả phải “ồ” lên vì ngạc nhiên. Thúy Hằng đã từng giành huy chương Vàng môn bơi lội toàn quốc. Bằng đôi bàn tay khéo léo, chỉ chưa đầy 5 phút cô kiện tướng bơi lội này đã hoàn thành xong hai bức tranh. Những gam màu được kết hợp với nhau một cách hài hòa tạo nên một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp.

    Bạn Hoàng Anh Tuấn (thành viên BTC chương trình) cho biết: “Năm nay các thí sinh đều có sự đầu tư khá kỹ nên chất lượng cũng tốt hơn mọi năm. Ngoài ra, các thi sinh cũng được chọn lọc khắt khe nên đây đều là những thí sinh tài sắc nhất…”.

    Cuối cùng, sau sự chờ đợi và hồi hộp của mọi người danh hiệu hoa khôi đã thuộc về thí sinh Vũ Thị Yến. Cô sinh viên năm ba ngành Quản trị kinh doanh này không chỉ có vẻ đẹp duyên dáng mà còn là người có thành tích học tập cao nhất trong số các thí sinh dự thi. Chính vì thế, ngoài danh hiệu hoa khôi, Vũ Thị Yến cũng giành được danh hiệu “Nữ sinh tài năng”. Ngoài ra, á khôi 1 thuộc về: Vũ Thị Quỳnh và Ngô Thúy Hằng dành ngôi vị á khôi 2.

    Một vài hình ảnh trong đêm chung kết:

     


























    Ảnh minh họa


     Tiết mục chèo gây bất ngờ cho khán giả


    Ảnh minh họa


    Lê Thị Thảo biến hoá với một tiết mục thời trang


    Ảnh minh họa


    Ngô Thúy Hằng trong vòng 5 phút đã vẽ lên một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp


    Ảnh minh họa


     Miss Thủy Lợi 2008 cũng góp mặt với tiết mục Dance sport ấn tượng


    Ảnh minh họa


    Á khôi 1 Vũ Thị Quỳnh


    Ảnh minh họa


     Á khôi 2 Ngô Thuý Hằng



    Hà Trang – (Tin, ảnh)

  • Chương trình các hoạt động 10 ngày đại lễ: Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

    Chương trình các hoạt động 10 ngày đại lễ: Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

    Chương trình các hoạt động 10 ngày đại lễ


     Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội


    Ban tổ chức các hoạt động Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội công bố chi tiết các hoạt động chính trong 10 ngày đại lễ (1/10 – 10/10).











    * Ngày 1/10/2010


    8h00: Khai mạc 10 ngày Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tại Vườn hoa Lý Thái Tổ


    9h30: Biểu diễn nghệ thuật tại 5 sân khấu xung quanh hồ Hoàn Kiếm


    14h00: Triển lãm các tác phẩm Văn học – Nghệ thuật qua các thời kỳ tại Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam số 2 Hoa Lư, Hai Bà Trưng


    15h00: Triển lãm ảnh nghệ thuật Hà Nội tại Nhà triển lãm 45 Tràng Tiền, Hoàn Kiếm


    19h30: Khai mạc Triển lãm Thành tựu kinh tế – xã hội Việt Nam và Thăng Long – Hà Nội tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam, 138 Giảng Võ, Ba Đình


    19h30: Khai mạc Tuần lễ phim lịch sử, cách mạng tại Trung tâm Chiếu phim quốc gia, 87 Láng Hạ, Đống Đa


    20h00: Cầu truyền hình Cả nước với Hà Nội trên Đài truyền hình Việt Nam, biểu diễn nghệ thuật đặc biệt, trình diễn áo dài xung quanh hồ Hoàn Kiếm


    20h00: Chương trình hòa nhạc Hội nhập Quốc tế – Niềm tin hướng tới tương lai do NSND Đặng Thái Sơn biểu diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội


    * Ngày 2/10/2010


    8h00: Khai mạc trưng bày hiện vật lịch sử 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tại Trung tâm Hoàng thành Thăng Long, số 9 Hoàng Diệu và 19 Nguyễn Tri Phương


    9h00: Lễ ra mắt Tủ sách “Thăng Long ngàn năm văn hiến” tại Thư viện Quốc gia, 31 Tràng Thi, Hoàn Kiếm


    14h00: Công bố kết quả công trình nghiên cứu khoa học tổng quan về Hà Nội tại Nhà hát lớn Hà Nội


    20h00: Biểu diễn các ca khúc chọn lọc mới chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tại sân khấu Vườn hoa đền Bà Kiệu, Hoàn Kiếm


    20h00: Khai mạc Liên hoan du lịch quốc tế Thăng Long – Hà Nội tại Thiên đường Bảo Sơn


    * Ngày 3/10/2010


    7h00: Giải chạy truyền thống “Báo Hà Nội mới” xung quanh hồ Hoàn Kiếm


    Chung kết thi đấu bóng đá Quốc tế “Cúp Thăng Long – Hà Nội” tại Sân vận động Mỹ Đình


    20h00: Chương trình nghệ thuật “Thăng Long – Hà Nội thời đại Hồ Chí Minh” tại Sân vận động Hàng Đẫy


    * Ngày 4/10/2010


    8h30: Tổng kết và trao giải Cuộc thi tìm hiểu Thăng Long – Hà Nội nghìn năm Văn hiến và Anh hùng tại Nhà hát Lớn Hà Nội


    15h00: Triển lãm “Anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa Việt Nam” tại Bảo tàng Cách mạng, 25 Tông Đản, Hoàn Kiếm


    15h30: Triển lãm “Các trận đánh và chiến dịch nổi tiếng trong lịch sử quân sự Việt Nam” tại Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, 28A Điện Biên Phủ, Ba Đình


    17h00: Triển lãm và Liên hoan Thư pháp Thăng Long – Hà Nội tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám


    20h00: Trao giải báo chí toàn quốc về 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tại Trung tâm nghệ thuật Âu Cơ, 8 Huỳnh Thúc Kháng


    20h00: Biểu diễn các điệu múa cổ Thăng Long – Hà Nội tại Sân tượng đài Lý Thái Tổ


    * Ngày 5/10/2010


    9h00: Giới thiệu “Con đường gốm sứ ven sông Hồng” tại đường Yên Phụ


    14h00: Khai mạc Triển lãm “Nghề gốm Bát Tràng – cổ truyền và hiện đại” tại làng Bát Tràng


    14h00: Triển lãm “Những tấm lòng với Thăng Long – Hà Nội” tại Cung văn hóa Hữu Nghị


    20h00: Biểu diễn Âm nhạc của các nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam tại Nhà hát Lớn Hà Nội


    20h00: Chương trình ca nhạc tổng hợp “Hùng khí Thăng Long – Bài ca đất nước” tại Sân vận động Hàng Đẫy


    * Ngày 6/10/2010


    8h00: Liên hoan nghệ thuật Diều – Hà Nội 2010 tại Quảng trường Sân vận động Mỹ Đình


    8h00: Biểu diễn võ thuật cổ truyền Hào khí Thăng Long tại Nhà thi đấu thể thao Quần Ngựa, Ba Đình


    8h30: Khánh thành Bảo tàng Hà Nội tại đường Phạm Hùng, Từ Liêm


    14h00: Khánh thành Công viên Hòa Bình tại Xuân Đỉnh – Từ Liêm


    14h00: Khánh thành tượng đài Bác Hồ – Bác Tôn tại Công viên Thống Nhất


    14h00: Khai mạc triển lãm ảnh “Hà Nội xưa” tại Bảo tàng Hà Nội, đường Phạm Hùng


    14h30: Khánh thành Nhà hát Kim Đồng tại 19 Hàng Bài, Hoàn Kiếm


    20h00: Khánh thành Nhà hát Công nhân Hà Nội tại 42 Tràng Tiền


    20h00: Khánh thành Nhà hát Đại Nam tại 89 Phố Huế


    20h00: Liên hoan ẩm thực Hà thành tại Công viên nước Hồ Tây


    * Ngày 7/10/2010


    8h00: Khai mạc Hội thảo quốc tế Phát triển bền vững Thủ đô Văn hiến, Anh hùng, Thành phố Vì Hòa bình tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, 11 Lê Hồng Phong, Ba Đình


    9h00: Tổng kết trao giải cuộc thi quốc tế tìm hiểu “Hà Nội – Điểm hẹn của bạn” tại Nhà hát Lớn


    20h00: Biểu diễn âm nhạc dân tộc tại Nhà hát Lớn


    * Ngày 8/10/2010


    7h00: Chương trình văn hóa nghệ thuật của Tuổi trẻ Thủ đô và cả nước xung quanh hồ Gươm, các địa điểm sân khấu ngoài trời toàn Thành phố


    20h00: Chương trình giao lưu Thăng Long – Hồn thiêng sông núi với sự tham gia của 1.000 Anh hùng và mẹ Việt Nam Anh hùng tại Trung tâm Hội nghị quốc gia


    20h00: Chương trình Lễ hội đường phố của tuổi trẻ Thủ đô và cả nước tại Quảng trường Ngân hàng Nhà nước, 49 Lý Thái Tổ


    * Ngày 9/10/2010


    8h00: Khánh thành cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy tại phía Nam cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy


    9h30: Khánh thành và gắn biển Đại lộ Thăng Long tại ngã tư Phạm Hùng – Trần Duy Hưng


    20h00: Biểu diễn của các đoàn nghệ thuật Quốc tế tại các sân khấu ngoài trời toàn thành phố


    * Ngày 10/10/2010


    8h00: Lễ mít-tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình


    20h00: Đêm hội Văn hóa nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình


    * Hoạt động tại các quận, huyện, thị xã


    20h00 (từ 1/10 – 10/10) hoạt động của các đoàn nghệ thuật:


    245 buổi biểu diễn của các đoàn nghệ thuật trong nước


    38 buổi biểu diễn của các đoàn nghệ thuật nước ngoài


    Địa điểm: Tại các sân khấu ngoài trời, nhà hát, nhà văn hóa và trung tâm các quận, huyện, thị xã.


     


    Download (PDF; 824KB)


     

  • Thăng Long – Hà Nội những chặng đường lịch sử

    Kỳ 1: THĂNG LONG – HÀ NỘI, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ


    1.       Thời kỳ tiền Thăng Long


    Thời Hùng Vương, kinh đô đặt ở Văn Lang, vùng đất Thăng Long – Hà Nội lúc đó là một làng quê. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán (An Dương Vương) thay thế vua Hùng dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống miền Cổ Loa. Kinh đô Cổ Loa đi vào lịch sử với tư cách là kinh thành, thị thành, quân thành, trung tâm đầu não chính trị, kinh tế của nước Âu Lạc. Năm 179 trước Công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính. Kể từ đó, Âu lạc rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc kéo dài ngàn năm, vùng đất Thăng Long – Hà Nội trở thành đại bản doanh của chính quyền đô hộ. Nửa sau thế kỷ VIII, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi tổ chức đắp La Thành. Năm 865 – 866, Tiết độ sứ Cao Biền cho đắp đê thành Đại La. Đặc trưng thành Đại La thời Bắc thuộc là quan, quân, dân chúng ở trong một vòng đê ngoài, mang tính chất quân sự, thiếu quy mô sinh hoạt kinh tế, văn hoá của các tầng lớp nhân dân.


    Trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, nhân dân Thăng Long – Hà Nội luôn bất khuất, quật cường khởi nghĩa chống quân xâm lược. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn đập tan ách đô hộ của nhà Hán, xây dựng kinh đô ở Mê Linh, khôi phục nhà nước độc lập. Năm 542 – 544, Lý Bí hào trưởng Thái Bình (vùng Sơn Tây cũ), dấy binh đánh đuổi giặc Lương, lên ngôi hoàng đế hiệu Lý Nam Đế, chọn đất dựng chùa “Khai Quốc”, đóng đô ở vùng đất thuộc Thăng Long – Hà Nội (ngày nay), đặt quốc hiệu của nước là Vạn Xuân. Khoảng năm 766 – 779, Phùng Hưng thủ lĩnh vùng Đường Lâm khởi binh kéo đại quân từ vùng núi Ba Vì về bao vây thành Đại La, lật đổ ách đô hộ nhà Đường, xây dựng chính quyền độc lập tới năm 791. Năm 905, Khúc Thừa Dụ, hào trưởng đất Hồng Châu nổi dậy chiếm giữ phủ thành Đại La, tự lập làm Tiết độ sứ, xoá bỏ chính quyền đô hộ. Năm 931, hào trưởng Dương Đình Nghệ tiến quân từ Ái Châu (Thanh Hoá) ra Bắc, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi thành Đại La, khôi phục nền tự chủ từ năm 931 đến năm 937 – cũng thời gian này Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Năm 938, vua Nam Hán sai con là Hoằng Thao sang xâm lược nước ta, dưới sự chỉ huy đầy mưu lược với trận địa ở cửa sông Bạch Đằng đã đánh tan quân Nam Hán xâm lược chấm dứt ách đô hộ của phong kiến phương Bắc xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước.


    Thời tiền Thăng Long các bậc đế vương của nước ta, như: An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đã chọn đất thuộc vùng Thăng Long – Hà Nội để đóng đô, xây dựng nền độc lập.


    2. Thăng Long thời Lý (1010 – 1225)


    Năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên thành Đại La là thành Thăng Long. Chọn Thăng Long làm kinh đô, Lý Công Uẩn đã đứng trên “chủ thuyết phát triển” và cái nhìn toàn cục của quốc gia để chọn lấy một dải đất đắc địa bậc nhất của nước Đại Cồ Việt xây dựng trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể hiện cao độ ý chí độc lập, tự cường dân tộc.


    Thời Lý kinh đô Thăng Long được xây dựng theo kiến trúc “Tam trùng thành quách” 3 vòng thành lồng nhau. Vòng thành ngoài gọi là thành Đại La. Vòng thành giữa gọi là Hoàng Thành, nơi có các cung điện hoàng gia và nơi thiết triều của vua. Kinh thành được bao bọc bởi một toà thành bằng đất phát triển từ đê của 3 con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô ở phía Bắc và phía Tây, sông Kim Ngưu ở phía Nam. Nét nổi bật của kinh thành Thăng Long thời Lý là tận dụng tối đa những điều kiện tự nhiên và tạo ra sự hài hoà với kiến trúc nhân tạo. Dấu ấn Thăng Long thời kỳ này còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắc, như: đền Đồng Cổ xây dựng năm 1028, chùa Diên Hựu (chùa Một Cột -1049), tháp Báo Thiên (1057). Trong công trình “Thăng Long tứ trấn”, nhà lý xây dựng hoàn chỉnh ba trấn là: quán Trấn Vũ, đền Bạch Mã, đền Voi Phục…. Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu; năm 1075, mở khoa thi Nho học đầu tiên; năm 1076, tuyển những văn quan có học vào tu nghiệp ở Quốc Tử Giám. Trong công cuộc phục hưng nền độc lập nhà Lý đã đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền tảng sự nghiệp văn hoá, giáo dục, đặt nền tảng cho nền giáo dục đại học và nhiều ngành khoa học của nước nhà, mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị – kinh tế, văn hoá lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước.


    3. Thăng Long thời Trần (1226 – 1400)


    Sau 215 năm cầm quyền, triều Lý lâm vào tình trạng suy yếu, không giữ được binh quyền. Năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý chấm dứt tình trạng loạn ly, thiết lập lại trật tự chính trị – xã hội. Nhà Trần có nhiều chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng. Nhìn tổng thể kiến trúc cung đình Thăng Long thời Trần không bề thế như thời Lý. Quy mô kinh thành Thăng Long cơ bản vẫn giữ ranh giới cũ. Năm 1230, nhà Trần sửa chữa thành Đại La và các cung thất, hoạch định lại các đơn vị hành chính; năm 1243 đắp lại Cấm thành. Năm 1253 tu sửa lại Quốc Tử Giám, lập Viện Quốc học, Viện Quốc sử, Giảng Võ đường đào tạo nhiều văn quan, võ tướng tài năng. Nho học được coi trọng và phát triển, chế độ khoa cử được tổ chức chặt chẽ. Từ năm 1247, nhà Trần đặt thêm học vị Trạng nguyên, Thám hoa, Bảng nhãn (Tam khôi). Thăng Long thời Trần thu hút nhiều nhân tài từ các nơi về học tập. Khoa học quân sự thời Trần là yếu tố cấu thành văn hóa Đại Việt, tạo nên hào khí Đông A.


    Kinh đô Thăng Long được quy hoạch lại thành 61 phường với số dân đông đúc hơn, tập trung trong khu vực dân sự, Thăng Long ngày càng rõ nét một thành thị với sự phát triển nhanh của phố, chợ, làng nghề thủ công. Nhà Trần có chính sách ngoại giao thông thoáng nhiều khách buôn nước ngoài đã đến đây làm ăn, sinh sống hoặc cư trú chính trị, như: người Hoa, người Hồi Hột, người Java… Kinh đô Thăng Long thời Trần là thành phố mở, hội tụ tinh hoa văn hoá của nhiều nước trên thế giới. Thời Lý và thời Trần nước Đại Việt nổi tiếng với 4 công trình nghệ thuật “An Nam tứ đại khí” làm bằng đồng: chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Quỳnh Lâm và đỉnh tháp Báo Thiên. Trong vòng 30 năm (1258 – 1288), đế chế Mông Cổ ba lần đem quân đánh chiếm Thăng Long. Quân dân ta đều chủ động, khôn khéo rút lui chiến lược khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng, sau đó bao vây, phản công quét sạch quân xâm lược. Thăng Long góp phần cùng nhân dân cả nước lập nên chiến công vĩ đại, ba lần đại thắng quân Nguyên – Mông. Nền văn minh Đại Việt, hào khí Thăng Long, hào khí Đông A tỏa sáng, Thăng Long xứng đáng là kinh đô anh hùng của đất nước anh hùng.


    4. Thăng Long thời Lê, thời Mạc, Lê Trung hưng (1428 – 1788)


    Nhà Trần trị vì được 175 năm thì lâm vào suy thoái. Hồ Quý Ly đại thần nhà Trần thâu tóm quyền lực. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây dựng Tây Đô ở Thanh Hóa, đổi tên Thăng Long thành Đông Đô, buộc vua Trần dời triều đình vào Tây Đô. Trong 10 năm cuối triều Trần nước ta có hai Đô là Tây Đô và Đông Đô. Tây Đô có triều đình, có vị thế về chính trị nhưng Đông Đô (Thăng Long) vẫn là trung tâm kinh tế lớn nhất của đất nước. Năm 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi Trần Thiếu Đế, lên làm vua. Nhà Hồ ở ngôi 7 năm thì phong kiến nhà Minh sang xâm lược, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt đưa về Trung Quốc. Sau gần 500 năm giành độc lập, đến nhà Hồ, nước ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Năm 1418, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Sau chín năm kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã giải phóng được các vùng từ Nam đến Bắc. Năm 1426, ba đạo quân Lam Sơn tiến ra bao vây thành Đông Quan, chủ động “vừa đánh vừa đàm”,“vây thành diệt viện”, dập tắt mọi hy vọng của giặc Minh trong thành Đông Quan, buộc Vương Thông phải lên đàn thề từ bỏ dã tâm xâm lược và xin rút quân về nước. Ngày 29/4/1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, định đô ở Đông Đô. Năm 1430, đổi tên là Đông Kinh. Thời Hậu Lê, kinh thành Thăng Long được quy hoạch và xây dựng theo quy cách đế đô của quốc gia quân chủ tập quyền. Kinh thành được mở rộng sang phía Đông. Trong Cấm thành, một toà thành hình chữ nhật xây gạch với cửa chính là Đoan Môn, nhà Lê xây dựng và bố trí lại nhiều cung điện, lầu gác, thâm nghiêm nhất là điện Kính Thiên xây dựng trên đỉnh núi Nùng. Ngoài Hoàng thành, nhiều kiến trúc mới cũng xuất hiện. Kiến trúc kinh thành thời Lê đạt đến trình độ mực thước, hài hoà. Khu dân sự tiếp tục phát triển và được quy hoạch lại gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường. Đông Kinh lúc này đã có những phố chợ buôn bán tấp nập, nhiều phường thủ công nổi tiếng, như: Nghi Tàm, Thụy Chương dệt vải; Yên Thái làm giấy; Hàng Đào nhuộm điều; tranh Hàng Trống…


    Năm 1428, Lê Lợi cho lập nhà Quốc Tử Giám. Năm 1442, mở khoa thi Hội đầu tiên, long trọng tổ chức lễ xướng danh, treo bảng vàng, ban mũ áo cho người trúng tuyển, khuyến khích học hành. Nước Đại Việt dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã đạt tới đỉnh cao của một quốc gia phong kiến độc lập. Tuy nhiên, những mâu thuẫn trong nội bộ triều Lê Sơ, từ đầu thế kỷ XVI, đã dẫn tới sự phế truất vua Lê của tập đoàn phong kiến Mạc Đăng Dung (1572). Năm 1588, nhà Mạc huy động dân đắp 3 lần luỹ đất để tăng cường hệ thống phòng thủ kinh thành. Nhưng chỉ 4 năm sau, dưới danh nghĩa phù Lê, họ Trịnh chiếm được kinh thành. Kinh đô chính thức trở lại tên gọi Thăng Long. Triều đình của vua Lê đóng trong Hoàng thành cũ. Phủ Chúa Trịnh được xây bên ngoài, gồm nhiều cung điện nguy nga, chạy dài theo bờ tây Hồ Gươm. Tuy có những biến động về chính trị, nhưng thời Lê, Mạc, Lê Trung hưng, Thăng Long vẫn là một thành thị – thương cảng sầm uất nhất cả nước và vào loại lớn ở Châu Á. Bên cạnh các thương điếm của người Hoa, còn có cả những thương điếm của người Anh, Hà Lan, Đức. Khu vực dân cư trong kinh thành Thăng Long đông đúc hơn trước và có cả nhà hai tầng. Nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật, đặc biệt là về tôn giáo đã được xây dựng thêm.


    5. Thăng Long- Hà Nội thời Tây Sơn (1788 – 1802)


    Cuối năm 1788, Kinh đô và đất nước Đại Việt lại phải đương đầu với cuộc xâm lược của đế chế Mãn Thanh. Từ Phú Xuân (Huế), vua Quang Trung thống lĩnh đại quân Tây Sơn tiến ra Bắc, giải phóng Thăng Long. Giặc tan, vua Quang Trung về đóng đô ở Huế. Thăng Long là thủ phủ của Bắc Thành. Hoàng thành Thăng Long vẫn được nhà Tây Sơn cho tu sửa, đắp lại những đoạn bị sụt đổ. Chùa Kim Liên (Nghi Tàm), chùa Tây Phương (Thạch Thất), tượng Tuyết Sơn và 18 vị La Hán được tu bổ, tôn tạo; nhiều chuông to, đẹp được đúc. Sau chiến thắng vua Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ và nhân dân thu gom xác giặc, chôn cất và sai lập đàn chẩn tế, tu sửa chùa Bộc làm nơi quy y cho quân sĩ nhà Thanh; ban Chiếu khuyến nông, khuyến khích nhân dân trở về quê cũ khai khẩn ruộng bỏ hoang, phục hồi sản xuất; ban Chiếu lập học khuyến khích các địa phương mở trường học. Lập Viện Sùng Chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của quốc gia. Lịch sử triều đại Tây Sơn tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong trang sử Thăng Long – Hà Nội văn hiến, anh hùng.


    6. Thăng Long – Hà Nội thời Nguyễn và Pháp thuộc (1802 – 1945)


    Lợi dụng cơ hội vua Quang Trung qua đời (1792), tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh từ miền Nam đánh chiếm Phú Xuân (1801), thăng Long (1802). Kinh đô nhà Nguyễn vẫn đặt ở Phú Xuân, Thăng Long được gọi là Bắc Thành. Hoàng Thành bị phá bỏ, thay vào đó là một toà thành mới hình vuông, xây theo kiểu thành Vô – băng của Pháp. Năm 1831, Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội với tỉnh lỵ là phủ Hoài Đức (thành Thăng Long cũ), Thăng Long được gọi là Hà Nội. Quốc Tử Giám, cơ quan giáo dục cao nhất của đất nước bị dời vào Huế. Tuy không còn là trung tâm chính trị, nhưng Hà Nội lúc đó vẫn là trung tâm kinh tế -văn hoá lớn nhất của cả nước


    Cuối thế kỷ XIX, trước những hành động xâm lược của thực dân Pháp, cùng với nhân dân cả nước, Hà Nội đã đứng lên kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương và người kế nhiệm là Tổng đốc Hoàng Diệu, nhân dân Hà Nội đã anh dũng chống trả các cuộc tấn công của quân Pháp. Nhưng triều đình nhà Nguyễn nhu nhược đã ký “Hiệp ước hoà bình” (1883), công nhận quyền thống trị của Pháp trên cả nước. Hà Nội trở thành đất “bảo hộ” thuộc Bắc kỳ, đặt dưới quyền cai trị của một viên Thống sứ người Pháp. Tháng 7/1888, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh lập thành phố Hà Nội, gồm đất đai tỉnh lỵ Hà Nội, đứng đầu là một viên Đốc ký.


    Chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn của thực dân Pháp làm diện mạo của Hà Nội từ đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi. Các cơ sở hạ tầng được hoàn thành, trước hết là mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, cầu cống, trong đó có cầu Doumer qua sông Hồng. Thành cổ Hà Nội lại bị phá để xây các “khu nhà binh”, công sở. Điện Kính Thiên cũng bị phá huỷ, thay vào đó là nhà con Rồng hai tầng dùng làm sở chỉ huy pháo binh (1886). Đi đôi với việc hình thành các “khu phố Tây” (nằm trên các đường Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt…ngày nay), một số công trình khác mang phong cách Châu Âu được xây dựng, như: Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ, Ngân hàng Quốc gia, Nhà hát lớn, Nhà thờ lớn, nhà Bưu điện, trường Viễn Đông Bác Cổ, ga Hà Nội…


    Mặc dù thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp, khủng bố tàn bạo, phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội thời Pháp thuộc, đặc biệt là sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (02/1930), lúc âm ỉ, lúc rầm rộ, không bao giờ tắt…Ngày 19/8/1945, thực hiện lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban Quân sự Cách mạng Hà Nội, hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành đã nhất tề xuống đường đấu tranh giành chính quyền.


    7. Hà Nội trong thời đại Hồ Chí Minh


    Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, công bố trước toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1946, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ nhất Hà Nội được vinh dự chọn làm Thủ đô của cả nước trong kỷ nguyên mới.


    Bước vào xây dựng cuộc sống tự do, dân chủ chỉ hơn một năm, nhân dân Thủ đô lại phải đương đầu với một cuộc xâm lược mới của thực dân Pháp. Đêm 19/12/1946, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc toàn quốc kháng chiến. Sau tám năm trường kỳ chiến đấu, ngày 10/10/1954, Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón chào đoàn quân chiến thắng trở về giải phóng Thủ đô.


    Hoà bình lập lại, Hà Nội khẩn trương bước vào công cuộc khôi phục và xây dựng kinh tế. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đã hoàn thành thắng lợi việc tiếp quản, nhanh chóng ổn định tình hình, khẩn trương bắt tay vào khôi phục, cải tạo và xây dựng thành phố. Chỉ hơn một tháng sau giải phóng, thành phố đã thông qua kế hoạch phục hồi công thương nghiệp. Không khí hòa bình xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố diễn ra sôi động. Một năm sau giải phóng, Hà Nội đã hoàn thành cải cách ruộng đất. Từ năm 1958 đến năm 1960 tiến hành xong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và hợp tác hoá nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Bộ mặt thành phố đổi mới từng ngày Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 – 1965), Thủ đô đã trở thành trung tâm chính trị, văn hoá và kinh tế quan trọng trong cả nước.


    Giữa năm 1966, giặc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, đánh phá Thủ đô. Tháng 3/1968, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Ngày 2/9/1969, Bác Hồ từ trần. Nhân dân Thủ đô Hà Nội tỏ rõ niềm tiếc thương vô hạn với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, ngày 9/9/1969, hơn 10 vạn cán bộ và nhân dân Thủ đô tới Quảng trường Ba Đình cùng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế dự Lễ truy điệu vĩnh biệt Người với lòng thành kính và biết ơn vô hạn. Tháng 4/1972, Hà Nội trở thành mục tiêu đánh phá lần thứ hai của Mỹ. Cuối năm đó, chỉ trong vòng 12 ngày đêm (18 – 29/12/1972), Mỹ đã trút hàng vạn tấn bom đạn xuống địa bàn Hà Nội. Thể hiện bản lĩnh là “Thủ đô của phẩm giá con người”, quân dân Hà Nội đã lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh sập “uy thế không lực Hoa Kỳ”. Trong hai cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng đường không của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, 358 máy bay các loại của Mỹ trong đó có 23 chiếc pháo đài bay B52, 2 chiếc F111 bị tan xác trên bầu trời Hà Nội; 83 máy bay trong đó có 1 máy bay B52 và 2 máy bay F.111 bị tan xác trên bầu trời Hà Tây. Quân và dân Thủ đô Hà Nội đã góp phần quyết định buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris (01/1973), rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước. Đúng một năm chín tháng sau, ngày 30/9/1974, tại Tổng hành dinh đóng trong Thành cổ Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương duyệt kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Với sự chi viện hết lòng và toàn diện của quân dân Hà Nội và miền Bắc, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975) đã toàn thắng. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam thống nhất.


    Tháng 4/1976, Hà Nội được Quốc hội chung của cả nước quyết định là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội quyết tâm xây dựng Thủ đô “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Hà Nội dấy lên nhiều phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu như: phong trào bốn đổi mới trong công nghiệp, áp dụng khoán trong nông nghiệp, xử lý giá, lương, tiền trong lưu thông phân phối; tập trung quy hoạch phát triển đô thị – giao thông nội đô thống nhất; cải tạo lại mạng lưới điện hạ thế và cấp nước sạch; cải thiện nhà ở, giao thông và chiếu sáng đô thị.


    Các công trình lớn như sân bay Nội Bài, cầu Thăng Long, cầu Đuống, cầu Chương Dương, đường 6 (đoạn Hà Nội – Hà Đông) và nhiều khu nhà cao tầng ở khu Bắc Thanh Xuân, Kim Giang, Đại học Bách Khoa, tập thể Quỳnh Lôi được xây dựng và đưa vào sử dụng. Một số ngành công nghiệp điện tử, công nghiệp chế biến thực phẩm, cơ khí nông nghiệp, hóa chất, chế tạo máy đã được hình thành. Ngành nông nghiệp Thủ đô áp dụng tốt các kỹ thuật thâm canh, tăng vụ, hình thành nhiều vùng chuyên canh rau ở các huyện Từ Liêm, Đông Anh, Thanh Trì. Kinh tế đối ngoại bắt đầu hình thành.


    Với những bước đi quan trọng đó, lần đầu tiên trong kế hoạch 5 năm (1991 – 1995), nhiều mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Hà Nội đã đạt và vượt toàn diện, nhiều mục tiêu đạt và hoàn thành trước thời hạn. Kinh tế Thủ đô liên tục tăng trưởng ở mức cao, điều đáng kể là bước đầu kinh tế Thủ đô đã có tích lũy. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hình thành cơ cấu kinh tế mới theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp.


    Giai đoạn 1996 – 2000, thành phố đã tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ then chốt. Những chủ trương và giải pháp quan trọng đó đã tạo sự phát triển kinh tế – xã hội toàn diện của Hà Nội, góp phần đáng kể cho việc động viên nguồn thu ngân sách Nhà nước. So với cả nước: năm 1990 thu ngân sách địa bàn Hà Nội đạt 9,2%, năm 2000 đạt 16,3%. Năm 2000, Hà Nội chiếm 3,6% về dân số và 2,8% diện tích lãnh thổ quốc gia nhưng đã đóng góp với cả nước 7,8% GDP. Đời sống nhân dân có nhiều cải thiện. Bộ mặt của Thủ đô có nhiều thay đổi, vị thế của Thủ đô được nâng lên. Một vinh dự lớn đối với Thủ đô Hà Nội, năm 1999 được tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc trao tặng danh hiệu vẻ vang “Thành phố vì hòa bình” và lấy làm nơi phát động “Năm quốc tế hòa bình – 2000”. Năm 2000, Hà Nội được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Thủ đô Anh hùng.


    Thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2000 – 2010), về kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Hà Nội tập trung trí tuệ đẩy nhanh tiến độ sắp xếp cổ phần hóa vững chắc doanh nghiệp Nhà nước; đổi mới công nghệ, thiết bị và mô hình quản lý; tích cực thu hút vốn đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cấp hạ tầng đô thị. Những năm đầu của thế kỷ XXI, bộ mặt Thủ đô đổi thay nhanh chóng, Hà Nội đã mở ra 4 hướng với những khu công nghiệp hiện đại như: Sài Đồng A, Sài Đồng B, Bắc Thăng Long, Chèm, Mễ Trì, Thượng Đình, Thanh Trì, Cầu Bươu, Cầu Diễn, Nghĩa Đô, Đông Anh, Sóc Sơn…phát triển công nghiệp Hà Nội gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và công nghiệp của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thực hiện thành công bước đi ban đầu chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội trở thành trung tâm du lịch của cả nước, chất lượng dịch vụ du lịch từng bước được nâng cao. Thủ đô Hà Nội tích cực đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng văn hóa sinh thái. Cùng với phát triển kinh tế, Hà Nội tiếp tục đạt nhiều thành tựu nổi bật trong sự nghiệp phát triển văn hóa – xã hội và con người, tạo nên sức mạnh và độ bền vững của quá trình phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô.


    Những năm đầu thế kỷ XXI, Hà Nội đổi thay từng ngày. Không gian Hà Nội được phân thành các vùng rõ nét. Khu vực trung tâm được bao quanh bằng các đường La Thành – đường Láng – Trường Chinh – Đại La – Minh Khai và dọc hữu ngạn sông Hồng. Khu phát triển mở rộng, được quy hoạch theo hữu ngạn và tả ngạn sông Hồng. Trong đó hữu ngạn gồm khu vực phía Nam cầu Thăng Long, dọc quốc lộ 32. Ở đây, có khu công nghiệp Cầu Diễn, khu công nghệ cao Nam Thăng Long, khu đô thị Ciputra, các khu dân cư tập trung Mai Dịch, Nghĩa Đô, Cầu Diễn, Tây sông Nhuệ, khu dân cư theo quốc lộ 6 và vành đai 3. Các khu công nghiệp Thượng Đình, công viên mới Mễ Trì, khu trung tâm Thể thao quốc gia, khu đô thị mới Trung Yên, Yên Hòa, Thanh Xuân. Khu công nghiệp Xuân Mai, Định Công, Linh Đàm, Cầu Bươu, Mai Động. Khu Bắc cầu Thăng Long; khu thị trấn Gia Lâm – Sài Đồng – Đức Giang – Yên Viên; khu dọc đường quốc lộ 3.


    Việc cải tạo, xây dựng Thủ đô thành một đô thị văn minh, hiện đại, xứng đáng với tầm vóc của một Quốc gia khoảng trên một trăm triệu dân, trong thế kỷ XXI là một yêu cầu cần thiết. Quốc hội đã có Nghị quyết số 15-2008/QH12 về mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 260/CT-TTg, ngày 4 tháng 3 năm 2008 về việc tổ chức thực hiện chủ trương mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Theo đó, Hà Nội mở rộng bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Sau khi hợp nhất, mở rộng Hà Nội có diện tích 3.340 km2 với gần 6,5 triệu dân, 29 đơn vị huyện, quận; 577 xã, phường, thị trấn; 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao sinh sống.


    Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đặt mục tiêu sau năm 2010 xây dựng Thủ đô Hà Nội hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc tương xứng với truyền thống ngàn năm văn hiến. Hướng phát triển của thành phố Hà Nội về phía Tây, hình thành chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây; phía Bắc là cụm đô thị Sóc Sơn – Xuân Hòa – Đại Lải – Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) và các đô thị khác. Điều chỉnh xây dựng thêm các khu công nghiệp tập trung mới như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn, Thăng Long, Đông Anh, mở rộng khu công nghiệp Đức Giang, Cầu Diễn, Cầu Bươu. Các hệ thống công viên, khu cây xanh, vui chơi, giải trí, khu du lịch các công trình công cộng… được rà soát, quy hoạch, đảm bảo môi trường sống ngày càng văn minh, hiện đại.


    Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Thăng Long – Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, là nơi kết tinh tinh hoa của dân tộc, hội tụ nhân tài của đất nước. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội coi trọng việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể, kết hợp hài hoà trong quy hoạch và xây dựng đô thị, phát huy cao độ truyền thống Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến, đoàn kết xây dựng Hà Nội là “Thủ đô xanh, văn hiến – văn minh và hiện đại”, phát huy tốt vai trò là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế.
    Ban Tuyên giáo Trung ương.

  • Đại hội đại biểu công đoàn trường Đại học Thuỷ lợi lần thứ 27 thành công rực rỡ

    Đại hội đại biểu công đoàn trường Đại học Thuỷ lợi lần thứ 27 thành công rực rỡ

    Ngày 10 tháng 6 năm 2010, Công đoàn trường Đại học Thuỷ lợi tổ chức Đại hội đại biểu Công đoàn trường lần thứ 27 với nhiệm vụ tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được và chỉ ra các tồn tại, khuyết điểm trong các hoạt động Công đoàn trường giai đoạn 2007 – 2010, đồng thời xác định phương hướng, nhiệm vụ công tác công đoàn trong nhiệm kỳ 2010 – 2012.


    Đại hội được diễn ra trong không khí cả nước thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ 11 của đảng, hân hoan chào đón Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội đang tới gần, Trường Đại học Thuỷ lợi tràn đầy tự hào với bề dày truyền thống 51 năm xây dựng và phát triển đang vững bước đi lên trong sự nghiệp trồng người..


    Đại hội được vinh dự đón tiếp: đ/c Nguyễn Thị Thanh Hà – Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP Hà Nội; lãnh đạo các Ban Liên đoàn Lao động TP Hà Nội, đại biểu công đoàn các trường bạn; đại diện Đảng uỷ, BGH, Hội đồng trường cùng 109 đại biểu chính thức, thay mặt cho 816 công đoàn viên trong Nhà trường về dự.









    Đồng chí Hoàng Xuân Thành – Chủ tịch Công đoàn trường trình bày báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu Công đoàn trường lần thứ 26

    Thay mặt Đoàn chủ tịch, đồng chí Hoàng Xuân Thành – Chủ tịch Công đoàn trường tuyên bố khai mạc và trình bày Báo cáo của BCH Công đoàn trường Đại học Thuỷ lợi về kết quả hoạt động Công đoàn nhiệm kỳ 26 trên các mặt: Công tác tuyên truyền giáo dục; công tác thi đua, tham gia quản lý; Công đoàn chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và các hoạt động xã hội; Công tác xây dựng tổ chức công đoàn, tham gia xây dựng Đảng; Hoạt động của Ủy ban kiểm tra, Hoạt động nữ công và phương hướng hoạt động, các nhiệm vụ cụ thể cùng giải pháp thực hiện trong nhiệm kỳ tới. Báo cáo đã đánh giá nghiêm túc kết quả đã đạt được  và  chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động của công đoàn.


    Qua hơn hai năm hoạt động, Công đoàn Trường Đại học Thuỷ lợi dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ Nhà trường, sự chỉ đạo liên tục, sát sao của LĐLĐ TP Hà Nội, Công đoàn ngành giáo dục Việt Nam cùng sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể công đoàn viên trong nhà trường, Công đoàn trường vượt qua nhiều khó khăn thử thách đã thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội 26 đẫ đề ra. Phong trào công đoàn đã có nhiều đổi mới, chất lượng hoạt động được nâng cao, hoạt động tại các đơn vị phong phú, hiệu quả .Hoạt động của công đoàn đã thu hút được đông đảo đoàn viên công đoàn tham gia, góp phần tạo nên môt không khí làm việc lành mạnh, sôi nổi với tinh thần dân chủ, công khai được quán triệt trong mọi công việc, tạo không khí phấn khởi an tâm công tác, tạo đà cho sự phát triển ổn định của Nhà trường triển khai thực hiện chiến lược phát triển trường giai đoạn 2006 – 2020, tầm nhìn 2030.







    Đồng chí Phạm Ngọc Quý – BTĐU, Phó HT Nhà trường phát biểu tại Đại hội

    Các đại biểu đã được nghe GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng Nhà trường và đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hà phát biểu nhiệt liệt biểu dương những thành tích xuất sắc, toàn diện của tập thể công đoàn trong nhiệm kỳ qua đồng thời có những chỉ đạo về phương hướng, nhiệm vụ của công đoàn thời gian tới với mong muốn “Tổ chức công đoàn và đoàn viên công đoàn trường Đại học Thủy lợi cùng hướng về mục tiêu: xây dựng Nhà trường phát triển và nâng cao đời sống người lao động”,







     Đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hà – Phó chủ tịch LĐLĐ TP Hà Nội phát biểu chỉ đạo hoạt động Công đoàn trường Đại học Thuỷ lợi

    Kế thừa thành quả, truyền thống và kinh nghiệm hơn 50 năm qua, Tổ chức công đoàn Nhà trường đã không ngừng lớn mạnh, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Nhà trường trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Mục tiêu chung trong nhiệm kỳ này, Công đoàn tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, tạo nên sự thống nhất, đoàn kết, phát huy thành tựu đã đạt được và tiềm năng trí tuệ của công đoàn viên, giữ vững danh hiệu Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc.


    Đại hội ghi nhận ý kiến của các đại biểu chia sẻ nhiều kinh nghiệm trong xây dựng tổ chức công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong mọi mặt công tác.


    Cũng tại buổi lễ long trọng này, Công đoàn Nhà trường đã tổ chức công bố các quyết định và trao bằng khen, phần thưởng của Liên đoàn Lao động TP HN và Nhà trường cho các cá nhân có nhiều đóng góp vào hoạt động công đoàn, tập thể Công đoàn bộ phận, tổ công đoàn trực thuộc Công đoàn trường, Tổ công đoàn trực thuộc công đoàn bộ phận vững mạnh xuất sắc nhiệm kỳ 2007 – 2010.








    Đại hội đã bầu ra BCH Công đoàn Trường Đại học Thuỷ lợi lần thứ 27, nhiệm kỳ 2010 – 2012 gồm 15 đồng chí



    1. Nguyễn Thị Phương Mai, Khoa Lý luận chính trị
    2. Đặng Hương Giang, Phòng CTCT &QLSV
    3. Luyện Thị Kim, Văn phòng Công đoàn
    4. Nguyễn Đăng Tâm, Cơ sở 2
    5. Trần Thị Chì, Phòng Hành chính tổng hợp
    6. Phạm Xuân Đồng, Khoa Công nghệ thông tin
    7. Hồ Việt Hùng, Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước
    8. Hoàng Xuân Thành, Trung tâm Địa Tin học – Chủ tịch Công đoàn
    9. Trương Quốc Bình, Khoa Công trình
    10. Lê Xuân Roanh, Khoa Kỹ thuật biển
    11. Lê Quang Khải, Khoa Công trình
    12. Nguyễn Thanh Tùng, Trung tâm Tin học
    13. Lê Văn Hùng, Phòng Khoa học công nghệ
    14. Nguyễn Việt Anh, Công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ
    15. Nguyễn Mai Đăng, Khoa Thuỷ văn và Tài nguyên nước.








    BCH Công đoàn Trường lần thứ 27 nhiệm kỳ 2010 – 2012 ra mắt Đại hội


    Đại hội đại biểu Công đoàn trường Đại học Thuỷ lợi lần thứ 27 đã thành công tốt đẹp trong không khí đoàn kết, dân chủ, trang trọng, 100% đại biểu nhất trí với Nghị quyết đại hội, thể hiện trách nhiệm của mỗi đại biểu về tham dự.


    Thành công của ba sự kiện chính trị quan trọng diễn ra liên tiếp: Đại hội đại biểu Đoàn TNCS trường Đại học Thuỷ lợi lần thứ 26, Đại hội Đảng bộ giữa nhiệm kỳ 25 và Đại hội đại biểu công đoàn lần thứ 27 đã thể hiện sự đoàn kết, ý chí và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách của toàn thể giáo viên, cán bộ công nhân viên và sinh viên Nhà trường trong giai đoạn chuyển đổi thực hiện Chiến lược phát triển, đưa Trường Đại học Thuỷ lợi phát triển hội nhập, làm rạng rỡ truyền thống và xứng đáng với những danh hiệu cao quý được Đảng và Nhà nước trao tặng.


     * Hình ảnh khen thưởng các cá nhân và tập thể Công đoàn vững mạnh xuất sắc nhiệm kỳ 26














     














     


    Bài và ảnh: Hà Linh Ngọc