Danh mục: Tin khoa học công nghệ

  • Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Bắc Ninh

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Bắc Ninh

    Tham dự Hội nghị có hơn 1.100 đại biểu gồm Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo các Cơ quan và đội ngũ nhà khoa học các lĩnh vực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các Ban/Bộ/Ngành liên quan của Trung ương và địa phương, các Viện nghiên cứu, Trường đại học, Doanh nghiệp, Hợp tác xã và các tổ chức quốc tế, như: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR), Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế (IFPRI), Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI)… Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và lãnh đạo Tỉnh Bắc Ninh đồng chủ trì Hội nghị. 

    Ảnh: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đỗ Đức Duy và các Lãnh đạo Tỉnh Bắc Ninh đồng chủ trì Hội nghị triển khai Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

    Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy nhấn mạnh “Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh ngành NN&MT đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu gay gắt, tài nguyên suy giảm và áp lực tăng trưởng xanh, các mô hình sản xuất truyền thống không còn phù hợp. Do đó, để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm và bảo vệ môi trường sống, toàn ngành cần đổi mới tư duy và lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số làm nền tảng phát triển”.

    Tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã kêu gọi sự đồng hành, phối hợp của các địa phương, doanh nghiệp, viện trường, hiệp hội và tổ chức quốc tế để tạo bước chuyển thực chất, bền vững cho ngành Nông nghiệp và Môi trường.

    Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, Ông Vương Quốc Tuấn phát biểu chào mừng Hội nghị (nguồn: https://bacninh.gov.vn/news)

    Phát biểu chào mừng Hội nghị, thay mặt tỉnh Bắc Ninh, Chủ tịch UBND tỉnh Vương Quốc Tuấn trân trọng cảm ơn Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tin tưởng và phối hợp với tỉnh để đồng tổ chức Hội nghị và cho rằng đây là cơ hội quý giá để Bắc Ninh và ngành NN&MT Bắc Ninh được tiếp cận những tâm huyết chuyên sâu từ các nhà khoa học, chuyên gia và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương, doanh nghiệp, viện trường nhằm cụ thể hóa các Nghị quyết thành các chương trình, đề án, mô hình triển khai hiệu quả tại địa phương.

    Ảnh: Toàn cảnh Hội nghị (nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/)

    Trường Đại học Thủy lợi đã cử Đoàn công tác do PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái, Phó Hiệu trưởng làm Trưởng Đoàn tham dự Hội nghị quan trọng nêu trên. Đoàn công tác đã tham dự các phiên họp và tham gia chia sẻ, góp ý, cũng như thể hiện sự cam kết Nhà trường về phát triển AI như một công nghệ cốt lõi, xây dựng các mô hình thích nghi với đặc thù dữ liệu Việt Nam, tích hợp đa nguồn từ cảm biến, vệ tinh và mô phỏng toán học. Nhà trường cũng mang đến Hội nghị một số sản phẩm KHCN tiêu biểu có ứng dụng công nghệ số, AI, một số poster sản phẩm KHCN đã được cấp bằng sáng chế, sở hữu trí tuệ. Lãnh đạo Bộ và nhiều đại biểu đã quan tâm đến tham quan, giao lưu tìm cơ hội hợp tác với Nhà trường.

    Lãnh đạo Nhà trường cùng Lãnh đạo Bộ tham gia phiên họp chuyên ngành Thủy lợi, Phòng chống thiên tai và BĐKH

    Thứ trưởng Phùng Đức Tiến và Đoàn Lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ tham quan các sản phẩm KHCN của Trường Đại học Thủy lợi.

    Tại phiên họp chuyên ngành lĩnh vực Thủy lợi, phòng chống thiên tai, Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, TS. Tạ Quang Chiểu, Phó trưởng Khoa CNTT đã thay mặt Trường ĐHTL trình bày báo cáo tham luận “Định hướng nghiên cứu, ứng dụng trí thuệ nhân tạo trong lĩnh vực thủy lợi, môi trường và phòng chống thiên tai tại ĐHTL”, trong đó đã đề xuất tăng cường đầu tư nghiên cứu liên ngành, ứng dụng công nghệ mới và xây dựng cơ sở dữ liệu mở, đào tạo nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế để thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên và phòng chống thiên tai.

    TS. Tạ Quang Chiểu, Phó trưởng Khoa CNTT trình bày báo cáo tham luận tại Hội nghị.

    Thông qua hội nghị, chúng ta đã đạt được mục tiêu chung là đề xuất, kiến tạo thể chế, chính sách để thúc đẩy KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường theo tinh thần NQ số 57. Đồng thời đề xuất các giải pháp nghiên cứu, phát triển, chuyển giao các sản phẩm KHCN, chuyển đổi số, áp dụng vào thực tiễn quản lý, chỉ đạo điều hành phát triển sản xuấ kinh doanh nhanh nhất và hiệu quả nhất.

    Trên cơ sở tổng hợp nội dung các báo cáo tham luận, 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm mà toàn ngành nông nghiệp và môi trường cần tập trung triển khai thực hiện ngay sau hội nghị

    1. Hoàn thiện thể chế, chính sách: Rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ các quy định không còn phù hợp để thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; bổ sung cơ chế hỗ trợ khu vực tư nhân, hợp tác công – tư; điều chỉnh tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp thông lệ quốc tế.

    2. Ưu tiên nghiên cứu đột phá: Tập trung đầu tư vào công nghệ sinh học, gen, giống cây – con, vacxin, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn; chú trọng bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả, phát triển hạ tầng thủy lợi và công nghệ phòng chống thiên tai.

    3. Cải tổ tổ chức KHCN: Tái cấu trúc các đơn vị sự nghiệp KHCN theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tự chủ; đẩy mạnh xã hội hóa, kết nối doanh nghiệp, đổi mới cơ chế đặt hàng, xét duyệt nhiệm vụ KHCN theo hướng minh bạch, cạnh tranh, xuất phát từ thực tiễn.

    4. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Hợp tác đào tạo với các trường, viện nghiên cứu; xây dựng chương trình đào tạo tiên tiến; thu hút chuyên gia trong và ngoài nước, đặc biệt từ khu vực tư để xây dựng hệ sinh thái nhân lực đổi mới sáng tạo.

    5. Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện: Xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, bản đồ số, hệ thống cảnh báo thông minh, liên thông dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường; nghiên cứu mô hình sàn giao dịch công nghệ số để kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp và nhà đầu tư.

    Hội nghị Nghị quyết 57-NQ/TW tại Bắc Ninh không chỉ khẳng định vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển bền vững mà còn ghi dấu ấn của Trường Đại học Thủy lợi trong hành trình tiên phong ứng dụng AI, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số quốc gia./.

    Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế

    Ảnh: Đoàn công tác

    1. Một số ảnh Đoàn Công tác của Nhà Trường tham gia Hội nghị

    Đoàn đại biểu của ĐHTL tham dự Hội nghị tại tỉnh Bắc Ninh

    Đại biểu đến tham quan sản phẩm KHCN của Trường ĐHTL trưng bày tại Hội nghị.​

    2. Một số sản phẩm KHCN tiêu biểu Trường ĐHTL đã triển khai lĩnh vực trong nông nghiệp và môi trường được trình diễn tại Hội nghị.

    2.1. Hệ thống thực tế ảo phục vụ khách tham quan khuôn viên Trường ĐHTL

    Hệ thống không gian 3D thực tế ảo toàn cảnh Trường Đại học Thủy lợi từ giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm đến khu ký túc xá, khu thể thao và cơ sở nghiên cứu – tất cả đều được số hóa chi tiết, cho phép người dùng tương tác với hệ thống.

    2.2. Hệ thống quản lý bản đồ ngập lụt lưu vực sông Nhật Lệ ở Quảng Bình:

    Sản phẩm đề tài cấp Bộ (NN&MT) ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phục vụ cảnh báo lũ trên lưu vực sông Nhật Lệ – tỉnh Quảng Bình. SP đã được Chi cục Thủy lợi tỉnh Quảng Bình vận hành từ mùa lũ năm 2024.

    • Tích hợp số liệu quan trắc tự động của các trạm mưa, mực nước trên địa bàn tỉnh QB;
    • Hiển thị thông tin về lũ lụt lịch sử đã xảy ra trên địa ban tỉnh QB: PHạm vi ngập, dộ sâu ngập, vết lũ, mốc báo lũ; Hiển thị kết quả mô phỏng ngập lụt dựa trên kết quả tính toán.  

    – Sử dụng AI để dự báo và cảnh báo mực nước trên sông và mức độ ngập lụt trên các lưu vực sông ở Quảng Bình.

    2.3. Hệ thống WebGIS cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở vùng Trung Trung Bộ (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam) dựa trên ngưỡng mưa phát sinh lũ quét, ngưỡng mưa phát sinh trượt lở đất.

    – Sản phẩm thuộc đề tài cấp Bộ (NN&MT) nhằm Nghiên cứu xây dựng công nghệ cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất vùng Trung Trung bộ.

    – Là hệ thống có khả năng tính toán và hiển thị nguy cơ SLĐ và cảnh báo LQ theo thời gian thực phục vụ công tác dự báo, cảnh báo thiên tai trên địa bàn 3 tỉnh Quảng Trị, Huế, Quảng Nam.

    – Hệ thống cảnh báo sớm LQ-SLĐ hoàn chỉnh trên nền WebGIS có khả năng hiển thị các yếu tố cần thiết về thông tin lũ như lượng mưa; ngưỡng cảnh báo; tình trạng lũ lụt; xuất bản tin cảnh báo.

    2.4. Sản phẩm ứng dụng thực tế ảo (VR) trong Trường học từ Dự án SIMPLE – Trung tâm ACROSS

    Sản phẩm do Trung tâm Nghiên cứu Xuất sắc ACROSS (Trường Đại học Thủy lợi phối hợp với Cơ quan hợp tác Phát triển Pháp-IRD thành lập) phát triển mô hình thực tế ảo về quản lý  Lũ lụt: Mô hình Lũ lụt VR là một mô hình tích hợp về tình huống ngập lụt đô thị tại thành phố Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình), được xây dựng trên nền tảng GAMA (https://gama-platform.org) và kết hợp với trò chơi thực tế ảo, được phát triển trong khuôn khổ dự án SIMPLE (https://project-simple.eu).

    Sản phẩm góp phần nâng cao nhận thực thông qua hệ thống thực tế ảo VR:

    – Giảm thiểu gián đoạn do các đợt lũ sông gây ra tại các khu vực đô thị.

    – Phát huy hiệu quả đê điều và hồ điều hòa trong các kịch bản lũ lụt khác nhau, đảm bảo hiệu quả trong việc bảo vệ người dân trước hậu quả của lũ lụt.

    – Mô hình này cho phép người dùng trải nghiệm một cách chân thực và nâng cao nhận thức về các tác động đa dạng của lũ lụt, đồng thời thử nghiệm các giải pháp chiến lược và phương án hạ tầng khác nhau nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

  • Lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất theo thời gian thực tại Huế

    Lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất theo thời gian thực tại Huế

    Nhằm giảm thiệt hại do thiên tai và nâng cao năng lực chủ động ứng phó cho cộng đồng, dự án SATREPS được triển khai tại TP Huế trong giai đoạn 2026-2031.

    Trọng tâm của dự án là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu số và bản đồ chi tiết nguy cơ trượt lở đất, nhất là tại các khu vực dân cư sinh sống tập trung, nơi có nguy cơ cao về sạt lở và lũ bùn đá.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu khai mạc. Ảnh: Bảo Thắng.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu khai mạc. Ảnh: Bảo Thắng.

    SATREPS, một sáng kiến nghiên cứu khoa học công nghệ quốc tế do Chính phủ Nhật Bản khởi xướng nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu thông qua hợp tác giữa các nhà khoa học Nhật Bản và các nước đang phát triển; tập trung vào 4 lĩnh vực nghiên cứu chính: môi trường – năng lượng, tài nguyên sinh học, phòng chống thiên tai và kiểm soát bệnh truyền nhiễm.

    Việt Nam đã có 14 dự án SATREPS được triển khai. Dự án sắp tới – Tích hợp đánh giá rủi ro và cộng đồng số hóa dựa trên hệ thống cảnh báo sớm trượt lở đất và lũ bùn đá khu vực miền Trung Việt Nam – là kết quả phối hợp giữa Trường Đại học Thủy lợi và các tổ chức của Nhật Bản gồm: Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST), với tổng kinh phí tài trợ 350 triệu yên (khoảng 2,5 triệu USD).

    Dự án kéo dài 5 năm, từ tháng 6/2026 đến tháng 6/2031, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan chủ quản. Mục tiêu cốt lõi là hoàn thiện cơ sở dữ liệu về các loại hình thiên tai trượt lở đất và lũ bùn đá, nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo và thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm hiệu quả, phục vụ cộng đồng tại các khu vực có nguy cơ cao.

    Bản đồ nguy cơ trượt lở đất tỷ lệ lớn (1:5000) cho các vùng trọng điểm, nơi mật độ dân cư cao, nhằm phục vụ trực tiếp cho công tác dự báo và ứng phó sớm là đầu ra quan trọng của dự án. Dữ liệu nền xây dựng bản đồ sẽ dựa trên điều tra thực địa, kết hợp ảnh viễn thám, các mô hình số và thông tin quan trắc từ trạm đo mưa, radar mưa, vệ tinh,…

    Hệ thống cảnh báo sớm không chỉ giúp các cơ quan chức năng ra quyết định kịp thời, mà còn được số hóa nhằm tăng cường khả năng truyền tải thông tin trực tiếp đến người dân địa phương.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ: 'Dự án SATREPS có giá trị đặc biệt về phòng chống thiên tai'. Ảnh: Bảo Thắng.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ: “Dự án SATREPS có giá trị đặc biệt về phòng chống thiên tai”. Ảnh: Bảo Thắng.

    Dự án cũng tích hợp các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế – xã hội, tình trạng sử dụng đất nông nghiệp vào bản đồ nguy cơ trượt lở đất thời gian thực, nhằm đưa ra các phân tích đa chiều và đánh giá hiệu quả kinh tế của hệ thống cảnh báo nhằm tối ưu hóa chính sách đầu tư phòng tránh thiên tai.

    Đặc biệt, dự án sẽ xây dựng phòng thí nghiệm chuyên dụng phục vụ khảo sát, đo đạc, lấy mẫu và thực hiện các thí nghiệm trong phòng và ngoài thực địa liên quan đến trượt lở đất. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá rủi ro thiên tai.

    Bộ tài liệu hướng dẫn lập bản đồ và đánh giá rủi ro trượt lở đất bằng công nghệ viễn thám cũng được biên soạn nhằm phục vụ các địa phương trong việc nhân rộng mô hình ra toàn vùng miền Trung và cả nước, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng gia tăng.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, khẳng định đây là bước tiến quan trọng trong chiến lược quốc tế hóa nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường.

    “Với tỷ trọng nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đầu tư hiện chiếm trên 50% tổng doanh thu, Trường Đại học Thủy lợi là một trong số ít cơ sở đào tạo kỹ thuật có hoạt động nghiên cứu mạnh và hiệu quả”, ông cho biết.

    Dự báo về lượng mưa trong khu vực vùng dự án sẽ được thông báo theo thời gian thực. Ảnh: TLU.

    Dự báo về lượng mưa trong khu vực vùng dự án sẽ được thông báo theo thời gian thực. Ảnh: TLU.

    Theo lãnh đạo Trường, Dự án SATREPS là một trong những chương trình có tính cạnh tranh cao nhất hiện nay. Trong năm 2025, khoảng 80 đề xuất được các quốc gia gửi tới đăng ký, nhưng chỉ có 10 đề tài được phía Nhật Bản đồng ý triển khai.

    Việc Trường Đại học Thủy lợi được tuyển chọn tham gia cùng một số trường khác như Đại học Xây dựng và các viện nghiên cứu trong nước là minh chứng cho năng lực và uy tín của các nhà khoa học Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ nhấn mạnh, dự án SATREPS có giá trị đặc biệt khi tập hợp được mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học quốc tế cùng tham gia triển khai. Thành công của dự án sẽ góp phần nâng cao vị thế khoa học Việt Nam, mở rộng cơ hội công bố quốc tế và thúc đẩy ứng dụng thực tiễn vào các chương trình cảnh báo sớm, giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Việt Nam.

    Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi cũng gửi lời cảm ơn tới các chuyên gia, các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước đã đồng hành trong quá trình chuẩn bị hồ sơ, tổ chức thẩm định, và cam kết phối hợp chặt chẽ để triển khai dự án đúng tiến độ, đạt chất lượng, xứng đáng với niềm tin mà các đối tác quốc tế đã dành cho Việt Nam.

    GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho biết, sạt lở đất nguy hiểm nhất khi có lũ quét. Lớp đất không thấm, nằm cách mặt đất khoảng 2-3m, là đáng ngại nhất bởi khi có mưa lớn trong vài ba ngày, lớp đất này sẽ bị trượt, gây sạt lở trên diện tích lớn.

    Huế, với địa hình đồi núi phức tạp và khí hậu đặc trưng mưa nhiều, thường xuyên hứng chịu sạt lở đất và lũ bùn đá, là địa phương rất phù hợp để triển khai các nghiên cứu về cảnh báo sớm thiên tai. Nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT đề nghị cán bộ dự án có thể thu thập thêm số liệu ở các tỉnh miền núi phía Bắc để đưa ra nhiều dự báo hơn nữa cho người dân. 

    Tin liên quan:

    Báo Nông nghiệp và MT: https://nongnghiepmoitruong.vn/lap-ban-do-nguy-co-truot-lo-dat-theo-thoi-gian-thuc-tai-hue-d750848.html

    Báo Lao động: https://laodong.vn/giao-duc/xay-dung-he-thong-canh-bao-som-va-nang-cao-nang-luc-ung-pho-thien-tai-1499365.ldo

    Báo Giáo dục và Thời đại: https://giaoducthoidai.vn/truong-dh-thuy-cong-bo-du-an-satreps-post729281.html

    VOV2 : https://vov2.vov.vn/giao-duc-dao-tao/ung-dung-cong-nghe-giam-nhe-thiet-hai-do-sat-lo-dat-va-lu-bun-o-thua-thien-hue

    Thông tin về dự án (dự kiến) sẽ chiếu trong Chương trình Môi trường và cuộc sống phát sóng trên kênh VTV2- Đài truyền hình Việt Nam vào lúc 20h45 Thứ ba ngày 6/5

  • Trường Đại học Thủy lợi nhận 3 bằng độc quyền sáng chế tại sự kiện Ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới (IP Day) 2025

    Trường Đại học Thủy lợi nhận 3 bằng độc quyền sáng chế tại sự kiện Ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới (IP Day) 2025

    Sáng 25/4, Trường Đại học Thủy lợi phối hợp Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) và Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hà Nội tổ chức sự kiện Ngày Sở hữu trí tuệ Thế giới (IP Day) 2025 với chủ đề “Sở hữu trí tuệ và âm nhạc – Cảm nhận nhịp đập của sở hữu trí tuệ”.

    GS-TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu chào mừng. Ảnh: Bảo Thắng.

    GS-TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu chào mừng. Ảnh: Bảo Thắng.

    Sự kiện không chỉ là nơi tôn vinh những đóng góp của giới khoa học, mà còn góp phần lan tỏa nhận thức về vai trò của sở hữu trí tuệ trong đời sống hiện đại.

    Phát biểu tại buổi lễ, GS-TS Trịnh Minh Thụ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi khẳng định: “Sở hữu trí tuệ là nền tảng thúc đẩy tri thức, đổi mới sáng tạo và là một phần không thể thiếu trong phát triển đại học hiện đại”.

    Theo ông, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh 3 trụ cột chiến lược gồm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc xây dựng và bảo hộ tài sản trí tuệ chính là động lực then chốt cho tăng trưởng bền vững.

    Trường Đại học Thủy lợi là một trong số ít cơ sở giáo dục đại học duy trì hoạt động sở hữu trí tuệ bài bản và liên tục. Trường thường xuyên phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn và tư vấn chuyên sâu cho cán bộ, giảng viên, sinh viên về quy trình đăng ký và thương mại hóa tài sản trí tuệ.

    Nhà trường cũng dành nguồn kinh phí ổn định để hỗ trợ hoạt động này, khuyến khích giảng viên phát triển các sáng chế ứng dụng thực tiễn.

    Cục trưởng Lưu Hoàng Long trao 3 bằng độc quyền cho Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh: Bảo Thắng.

    Cục trưởng Lưu Hoàng Long trao 3 bằng độc quyền cho Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh: Bảo Thắng.

    Nhờ sự đầu tư bài bản và chiến lược, đến nay Trường Đại học Thủy lợi đã có 10 bằng độc quyền sáng chế, trong đó nhiều sáng chế đã được chuyển giao ứng dụng trong lĩnh vực công trình, môi trường và cơ khí; 1 bằng sáng chế quốc tế được cấp tại Ấn Độ; 6 bằng độc quyền giải pháp hữu ích; và nhiều đơn đăng ký sáng chế đang trong quá trình thẩm định.

    Đặc biệt tại sự kiện IP Day 2025, trường đã vinh dự nhận 3 bằng độc quyền sáng chế gồm: (1) Bằng độc quyền sáng chế: Kết cấu dàn chịu lực sử dụng thanh họ tre chứa bê tông cốt thép – kết hợp vật liệu tự nhiên với kỹ thuật kết cấu hiện đại nhằm giảm phát thải trong xây dựng;

    (2) Bằng độc quyền sáng chế: Bê tông nhẹ sử dụng vỏ hạt macca, quy trình sản xuất và cấu kiện xây dựng từ vật liệu này – giải pháp vật liệu xanh hướng tới công trình bền vững và kinh tế tuần hoàn;

    (3) Bằng độc quyền giải pháp hữu ích: Phương pháp chế tạo thanh cây họ tre chứa bê tông cốt thép – phát triển tiếp theo của sáng chế đầu tiên, tăng tính thực tiễn và khả năng triển khai công nghiệp.

    Các đại biểu bấm nút khởi động IP Day 2025. Ảnh: Bảo Thắng.

    Các đại biểu bấm nút khởi động IP Day 2025. Ảnh: Bảo Thắng.

    Các kết quả này, theo GS-TS Trịnh Minh Thụ, không chỉ thể hiện năng lực nghiên cứu của đội ngũ nhà khoa học mà còn là cam kết của nhà trường với cộng đồng, trong việc ứng dụng khoa học để giải quyết các vấn đề môi trường, xây dựng và phát triển bền vững.

    Chia sẻ tại sự kiện, ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, nhấn mạnh: “Tài sản trí tuệ, đặc biệt là các sáng chế, nhãn hiệu và phần mềm đang trở thành động lực trung tâm trong kỷ nguyên số. Các tập đoàn hàng đầu thế giới như Apple, Microsoft hay Nvidia đều phát triển dựa trên giá trị tài sản trí tuệ.”

    Theo ông Long, sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo vệ tài sản tinh thần của con người, mà còn là chìa khóa thúc đẩy khai thác giá trị thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Cục trưởng Lưu Hoàng Long trải nghiệm 1 công nghệ do Trường Đại học Thủy lợi nghiên cứu. Ảnh: Bảo Thắng.

    Cục trưởng Lưu Hoàng Long trải nghiệm 1 công nghệ do Trường Đại học Thủy lợi nghiên cứu. Ảnh: Bảo Thắng.

    Ông cũng đánh giá cao sự tham gia chủ động của Trường Đại học Thủy lợi trong hoạt động phổ biến và ứng dụng kiến thức sở hữu trí tuệ, coi đây là mô hình điểm để nhân rộng trong khối đại học và viện nghiên cứu. “Chúng ta hãy cùng nhau lan tỏa giá trị của sở hữu trí tuệ – như một nhịp đập không ngừng của sự phát triển,” ông nói.

    Với định hướng chiến lược rõ ràng, Trường Đại học Thủy lợi đang từng bước xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu – đổi mới sáng tạo – sở hữu trí tuệ khép kín. Đây là nền tảng quan trọng để khẳng định vị thế học thuật của nhà trường và đồng hành cùng phát triển kinh tế tri thức quốc gia.

    Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội Nguyễn Quốc Hà cho biết, thành phố đã ban  hành nhiều giải pháp, trong đó nổi bật là Nghị quyết 16 để hỗ trợ tổ chức, cá nhân đăng ký sở hữu trí tuệ. 

    Hà Nội luôn đứng đầu cả nước về đổi mới sáng tạo, bảo hộ sở hữu trí tuệ. Riêng năm 2024, Thủ đô có hơn 10.000 văn bằng được cấp, trong đó có nhiều sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề, góp phần hỗ trợ người dân, nâng cao sinh kế, đảm bảo cuộc sống.

    Trong thời gian tới, thành phố sẽ tập trung bảo hộ sở hữu trí tuệ với các ngành nghề công nghệ cao như AI, block chain… Đồng thời, truyền thông đại chúng để người dân hiểu rõ về sở hữu trí tuệ.

    Theo Báo Nông nghiệp và Môi trường

    Tin liên quan: https://laodong.vn/cong-nghe/so-huu-tri-tue-la-chia-khoa-de-but-pha-khoa-hoc-va-cong-nghe-1496825.ldo

  • Hội thảo khoa học đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp quốc gia – mã số: ĐTĐL.CN-50/22

    Hội thảo khoa học đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp quốc gia – mã số: ĐTĐL.CN-50/22

    Vừa qua, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức Hội thảo khoa học: “Giới thiệu các kết quả nghiên cứu đặc tính đất tan rã vùng Nam Trung Bộ và giải pháp xử lý đề xuất” để báo cáo các kết quả đã đạt được cũng như lấy ý kiến góp ý của các nhà khoa học về các kết quả thực hiện của đề tài.

    Tham dự Hội thảo gồm đông đảo các nhà khoa học đến từ các đơn vị nghiên cứu liên quan như Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Hội Thủy lợi Việt Nam, Trường Đại học kiến trúc, Khoa Công trình Trường Đại học Thủy lợi, phòng KHCN&HTQT Trường Đại học Thủy lợi và toàn thể các thành viên chủ chốt tham gia thực hiện đề tài.

    Thay mặt Ban chủ nhiệm đề tài, PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm – Trưởng phòng KHCN&HTQT, chủ nhiệm đề tài đã phát biểu khai mạc và giới thiệu tóm tắt về mục tiêu Hội thảo, sau đó là 04 báo cáo tham luận được trình bày tại Hội thảo:

    1. Giới thiệu tổng quan về đề tài. (PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm).
    2. Báo cáo tổng quan về đất tan rã và hiện trạng đập khu vực Nam Trung Bộ; Thí nghiệm chỉ tiêu cơ lý và thành phần vật chất của đất (TS. Phạm Thị Hương).
    3. Phân loại đặc tính tan rã và đề xuất giải pháp (TS. Trần Duy Quân).
    4. Thí nghiệm cơ chế xói mái hạ lưu đập trên mô hình máng kính, giàn mưa; Phân tích cơ chế xói lở mái hạ lưu đập đất do đặc tính tan rã của đất đắp vùng Nam Trung Bộ (NCS. Trần Văn Vững).

    TS. Trần Duy Quân trình bày báo cáo tham luận

    PGS.TS. Lê Văn Hùng trao đổi các nội dung báo cáo

    Sau các báo cáo tham luận, các nhà khoa học tham dự Hội thảo đã phát biểu, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho Ban chủ nhiệm đề tài. Thay mặt Ban chủ nhiệm đề tài, PGS.TS Hồ Sỹ Tâm đã cảm ơn các ý kiến trao đổi, đóng góp của các chuyên gia tham dự hội thảo. Ban chủ nhiệm đề tài sẽ tiếp thu các ý kiến đóng góp của các chuyên gia để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các sản phẩm liên quan để tăng cường hơn nữa chất lượng chuyên môn của các sản phẩm của đề tài.

    Nhóm nghiên cứu

  • Tổng Bí thư: Khoa học công nghệ là con đường duy nhất đưa đất nước phát triển

    Tổng Bí thư: Khoa học công nghệ là con đường duy nhất đưa đất nước phát triển

    Ngày 1/4, Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư nghe báo cáo cập nhật kiến thức và cho ý kiến hoàn thiện chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

    Sau khi nghe báo cáo, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết việc cập nhật kiến thức chuyên đề này nằm trong kế hoạch và chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đây là hoạt động thể hiện quyết tâm cao nhất của lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

    Theo Tổng Bí thư, để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thành công nghị quyết, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư đã đi đầu trong việc cập nhật kiến thức về lĩnh vực mới, khó và không ngừng thay đổi này.

    Khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “lựa chọn bắt buộc, là con đường duy nhất để đưa đất nước phát triển và nâng cao đời sống cho nhân dân”, Tổng Bí thư yêu cầu các cơ quan thời gian tới phải triển khai mạnh mẽ để đạt được hai mục tiêu cao nhất là quản trị xã hội tốt hơn và ứng dụng vào sản xuất, tăng năng suất lao động.

    Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư nghe báo cáo cập nhật kiến thức và cho ý kiến hoàn thiện Chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ngày 1/4. Ảnh: TTXVN

    Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Phạm Minh Chính tại cuộc họp. Ảnh: TTXVN

    Tuy nhiên người đứng đầu Đảng cũng nhận định từ trước đến nay khoa học và công nghệ chủ yếu được ứng dụng trong quản trị xã hội, việc đưa vào quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó các doanh nghiệp tư nhân hiện rất nhanh nhạy trong tiếp cận và triển khai vấn đề này một cách linh hoạt và hiệu quả, góp phần nâng cao quản trị doanh nghiệp, quản lý dữ liệu, cũng như tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Vì vậy, các cấp “phải bám sát thực tiễn để mở rộng cách tiếp cận”.

    Tổng Bí thư đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến của các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư để hoàn thiện báo cáo, phục vụ Hội nghị Trung ương 11 khóa 13 theo đúng kế hoạch. Báo cáo cần chú trọng cập nhật các xu hướng mới trên thế giới về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, đồng thời chỉ rõ các vấn đề cụ thể và giải pháp triển khai để khắc phục hạn chế, tránh tình trạng nêu chung chung, nhằm thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.

    Văn phòng Trung ương Đảng được giao tiếp thu các ý kiến tại cuộc họp, bổ sung và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch để tham mưu triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị.

    Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57, khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu và đưa đất nước phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới.

    Vũ Tuân

    Nguồn https://vnexpress.net/tong-bi-thu-khoa-hoc-cong-nghe-la-con-duong-duy-nhat-dua-dat-nuoc-phat-trien-4868717.html

  • Quy trình cải tạo đất nhiễm mặn để trồng rau hữu cơ-giải pháp hữu ích

    Quy trình cải tạo đất nhiễm mặn để trồng rau hữu cơ-giải pháp hữu ích

    Đây là kết quả của sự hợp tác khoa học giữa Trường Đại học Thủy lợi và Viện Phát Triển Bền Vững Pháp (IRD), nhằm đưa ra giải pháp hiệu quả trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động tiêu cực đến môi trường đất nông nghiệp.

    Biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng đang gây ra tình trạng xâm nhập mặn trên diện rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ở các vùng ven biển. Trong khi đó, tình trạng hạn hán kéo dài càng làm trầm trọng thêm vấn đề này, khiến đất canh tác dần mất đi độ màu mỡ. Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp cải tạo đất nhiễm mặn để duy trì sản xuất nông nghiệp bền vững là một nhiệm vụ cấp thiết.

    Sáng chế của nhóm tác giả đề xuất một quy trình cải tạo đất nhiễm mặn dựa trên việc tuyển chọn và ứng dụng vi sinh vật có khả năng thích nghi trong môi trường đất mặn. Các vi sinh vật này có tác dụng: Tiết dịch giúp giảm độ linh động của muối trong đất; Kích thích hormone sinh trưởng của cây trồng, giúp cây phát triển tốt hơn trong điều kiện khắc nghiệt; Tăng cường quá trình rửa trôi muối xuống các tầng đất sâu hơn, giảm ảnh hưởng của muối đến rễ cây. Bên cạnh việc sử dụng vi sinh vật, quy trình này còn kết hợp biện pháp tưới nhỏ giọt, giúp cung cấp nước một cách hiệu quả, hạn chế sự bốc hơi nước và duy trì độ ẩm thích hợp cho cây trồng.

    Giải pháp cải tạo đất nhiễm mặn để trồng rau hữu cơ bằng vi sinh vật và tưới nhỏ giọt là một bước tiến quan trọng trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững. Quy trình này không chỉ giúp khôi phục đất bị nhiễm mặn mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc canh tác rau hữu cơ, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường lâu dài. Với sự hợp tác giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước, sáng chế này hứa hẹn sẽ đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền nông nghiệp xanh và bền vững./.

    PTH

  • Bằng độc quyền sáng chế: Phương pháp chế tạo vật liệu thân thiện với môi trường sử dụng cây họ tre

    Bằng độc quyền sáng chế: Phương pháp chế tạo vật liệu thân thiện với môi trường sử dụng cây họ tre

         

    Công nghệ xây dựng từ cây tre kết hợp với bê tông và thép: Với công nghệ này, vữa bê tông tính năng cao đã được trộn đều sau đó rót vào thân cây tre (sau khi đã khoét màng mắt tre). Trước khi đổ bê tông vào trong lõi tre cần định vị cây thép vào đúng vị trí tâm của cây tre bằng hệ khung định vị tim thép trong lõi tre. Sau khi tạo ra được các sản phẩm cọc tre có lõi thép thì việc ứng dụng sẽ được nhân rộng trong cuộc sống như: Cọc tre gia cố nền đường (ở những vùng đất ẩm thấp), cột tre bê tông lõi thép làm cột nhà, làm dầm đỡ mái nhà, làm thành hệ khung cho các công trình dân dụng và công nghiệp.

    ​

    Ngoài ra, đến nay song song với bằng độc quyền sáng chế này chính tác giả đang nộp đăng ký bảo hộ thêm được một số sáng chế mới, đã được chấp nhận đơn hình thức. Trên cơ sở đó, ngày 11/01/2025 Hội sáng chế Việt Nam phối hợp với các tổ chức đã trao giải thưởng Ngôi sao sáng chế cho các tổ chức, cá nhân có thành tích tiêu biểu. Trong đó chính tác giả Lê Trung Phong đã được cấp giấy chứng nhận về “Sản phẩm công nghệ có tiềm năng thương mại hóa”. Đây là dấu ấn về sự đóng góp không ngừng nghỉ của đội ngũ khoa học của Trường Đại học Thủy lợi, bên cạnh công tác giảng dạy còn tiên phong trong khám phá, phát minh những tri thức mới nhằm áp dụng cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

    https://khoahocphothong.vn/nhieu-sang-che-dac-biet-duoc-vinh-danh-tai-ngoi-sao-sang-che-ipstar-2024-258455.html

    LTP

  • Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia KC.17/25-30

    Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia KC.17/25-30

    Ngày 16/1/2025 Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030 “Nghiên cứu ứng dụng Toán học trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế – xã hội”, mã số KC.17/25-30.

    Mục tiêu của chương trình:

    1. Xây dựng, phát triển các mô hình, thuật toán, giải pháp toán học ứng dụng trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, góp phần đáp ứng yêu cầu của đất nước trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đưa toán học trở thành một bộ phận hữu cơ trong sự phát triển chung của khoa học và công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh; góp phần thực hiện nhiệm vụ, giải pháp của Chương trình trọng điểm Quốc gia phát triển toán học giai đoạn 2021-2030.
    2. Hỗ trợ hình thành một số hướng nghiên cứu trọng tâm về Toán ứng dụng và Toán trong công nghiệp, chú trọng một số lĩnh vực ưu tiên theo Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học giai đoạn 2021-2030
    3. Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu liên ngành và hợp tác quốc tế, góp phần thúc đẩy hợp tác liên trường/viện – nhà nước – doanh nghiệp trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm ứng dụng toán học.

    Nội dung chi tiết về chương trình download ở đây

    Hồ sơ đề xuất nhiệm vụ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 06/2023/TT-BKHCN ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Bộ KH&CN quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước. Thông tư 06 và phụ lục dowload dưới đây:

    Thông tư số 06/2023/TT-BKHCN

    Phụ lục Thông tư 06

  • Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia KC.16/24-30

    Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia KC.16/24-30

    Ngày 29/10/2024 Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030 “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 tại Việt Nam”, mã số KC.16/24-30.

    Chương trình KH&CN NetZero sẽ là nền tảng, cơ sở để tạo ra các giải pháp đột phá trong công nghệ thu giữ, lưu trữ các-bon, giảm phát thải khí nhà kính, hướng đến nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nâng cao và cải thiện chất lượng môi trường sống của Việt Nam; thúc đẩy phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm trong ngành công nghệ xanh, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam.

    Chương trình sẽ tập trung nghiên cứu, ứng dụng, giải mã, đổi mới và chuyển giao các công nghệ, thiết bị phục vụ thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính, công nghệ phát thải carbon thấp, công nghệ thu hồi, tận dụng, lưu trữ carbon, các công nghệ sản xuất theo hướng sạch hơn, tuần hoàn và thân thiện với môi trường trong các ngành, lĩnh vực, công nghệ phục vụ công tác cảnh báo, dự báo và kiểm kê khí nhà kính…

    Nội dung chi tiết về chương trình download ở đây

    Hồ sơ đề xuất nhiệm vụ thực hiện theo quy định tại Thông tư số 06/2023/TT-BKHCN ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Bộ KH&CN quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước. Thông tư 06 và phụ lục dowload dưới đây:

    Thông tư số 06/2023/TT-BKHCN

    Phụ lục Thông tư 06

  • Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành nông nghiệp

    Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành nông nghiệp

    Toàn cảnh buổi Tọa đàm

    Tại buổi tọa đàm, GS.TS Võ Đại Hải – Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đề xuất xem xét trao nhiều quyền hơn để các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính có thể chủ động trong triển khai các dự án nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Chia sẻ cụ thể về định hướng nghiên cứu, GS.TS Võ Đại Hải cho rằng, để có đột phá thì phải đi vào công nghệ cao, đầu tư trang thiết bị và thực hiện hợp tác công tư. Viện sẽ hướng đến phát triển các giống cây lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu rất lớn của thị trường, nhưng nếu đi theo cách cũ sẽ không mang lại đột phá.

    Các diễn giả chia sẻ tại buổi Tọa đàm

    GS.TS. Phạm Văn Điển – Hiệu trưởng trường Đại học Lâm Nghiệp cho biết, sau khi học tập Nghị quyết 57-NQ/TW, Trường Đại học Lâm Nghiệp xây dựng và hoàn thiện ngay bản thảo kế hoạch của trường để thực hiện nghị quyết và chỉ đạo của Bộ NN&PTNT.

    GS.TS Nguyễn Hồng Sơn – Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cũng đánh giá, Nghị quyết 57-NQ/TW là luồng gió mới với khoa học công nghệ. Viện rất hào hứng chờ đón việc thực thi nghị quyết. Ông Nguyễn Hồng Sơn cho rằng, hiện không gian phát triển nông nghiệp đã giới hạn, đầu tư cơ sở hạ tầng cũng cao, kết quả sản xuất của ngành chỉ còn trông chờ và khoa học công nghệ. Nếu không có khoa học công nghệ, ngành không có lực lượng sản xuất mới.

    Các diễn giả tham gia tọa đàm

    Để đổi mới tư duy, tạo bứt phá trong nghiên cứu khoa học công nghệ, ông Nguyễn Hữu Ninh – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho biết, các viện cần thay đổi về tư duy, đó là việc sẵn sàng liên kết hợp tác với các nhà khoa học các bên. Các viện cần chủ động hợp tác, cử người đi đào tạo tại nước ngoài để có nguồn nhân lực tốt. Đặc biệt, các viện cần có định hướng nghiên cứu chiến lược, tránh dàn trải.

    Đánh giá cao những đóng góp của các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp, Bộ trưởng Lê Minh Hoan khẳng định, thời gian qua đội ngũ các nhà khoa học đã có những sản phẩm đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn cuộc sống. Ví dụ, trong lĩnh vực giống cây trồng, các nhà khoa học đã tạo ra những giống mới, không chỉ cho năng suất cao, mà còn có khả năng chống chịu tốt trước biến đổi khí hậu, dịch bệnh; trong thủy sản, công nghệ nuôi trồng hiện đại giúp giảm thiểu tác động đến môi trường, đồng thời đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu.

    Bộ trưởng Lê Minh Hoan phát biểu tại tọa đàm

    Về chăn nuôi, thú y, các viện nghiên cứu đã phát triển nhiều công nghệ sinh học trong việc cải tiến giống vật nuôi, kiểm soát dịch bệnh và nâng cao chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm chăn nuôi, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Với lâm nghiệp, các nhà khoa học đã nghiên cứu và triển khai thành công các phương pháp canh tác rừng bền vững, không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà còn tạo sinh kế cho bà con…

    Tuy nhiên, để khoa học nông nghiệp tiếp tục tạo nên những bước đột phá, đưa Việt Nam từ một quốc gia xuất khẩu nguyên liệu thô trở thành một trung tâm sản xuất nông sản giá trị cao và bền vững Bộ trưởng Lê Minh Hoan nhấn mạnh, các cơ sở đào tạo và lãnh đạo các viện nghiên cứu cần đổi mới tư duy, tạo ra những không gian sáng tạo để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ.

    Bộ trưởng Lê Minh Hoan cho rằng, khoa học công nghệ cần chạm đến cuộc sống con người, khi nghiên cứu cần nghĩ đến nông dân, doanh nghiệp cần gì để từ đó định hướng nghiên cứu. 

    Nguồn: HNN (mard.gov.vn)