Danh mục: Nghiên cứu

  • Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

     

    Sáng ngày 10/12/2025, tại phòng hội thảo 500/A1, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức Hội thảo khoa học “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”. Hội thảo nằm trong khuôn khổ đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu một số giải pháp công trình kiểu mới kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, mã số ĐTĐL.CN-51/23, do TS Trương Hồng Sơn – Trường Đại học Thủy lợi làm chủ nhiệm.

    Phát biểu khai mạc, đại diện lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt quan trọng của đề tài trong bối cảnh ĐBSCL đang phải đối mặt đồng thời với xâm nhập mặn, sụt lún, thiếu nước ngọt và biến đổi khí hậu. Hội thảo được tổ chức nhằm báo cáo các kết quả nghiên cứu bước đầu, lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, chuyên gia và đơn vị quản lý để hoàn thiện các giải pháp công trình kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn.

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    Tham dự Hội thảo có GS.TS Nguyễn Tuấn Anh – Chủ tịch Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam; đại diện Văn phòng Chương trình Bộ Khoa học và Công nghệ là ông Nguyễn Việt Anh; cùng đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ giảng viên và nghiên cứu sinh đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong và ngoài Trường Đại học Thủy lợi.

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    TS Trương Hồng Sơn (chủ nhiệm đề tài) trình bày công nghệ đập hộp chìm (caisson) và bộ công cụ thiết kế đi kèm, cho phép đánh giá tổng hợp điều kiện thủy lực, địa kỹ thuật và tải trọng sóng dòng chảy lên công trình

    Hội thảo giới thiệu hai loại công trình trọng tâm của đề tài: đập tàu thủy và đập hộp chìm (caisson)  cùng các kết quả tính toán ổn định trong quá trình thi công và vận hành, qua đó làm rõ khả năng thích ứng của các giải pháp này đối với điều kiện thủy lực phức tạp ở vùng cửa sông. Bên cạnh đó, Hội thảo giới thiệu các mô hình thủy động lực hình thái, mô hình sa bàn và bộ công cụ thiết kế nhằm lượng hóa tác động của công trình trong các điều kiện thủy lực điển hình và cực đoan, qua đó đánh giá hiệu quả kiểm soát nguồn nước và tiềm năng ứng dụng các giải pháp công trình kiểu mới tại các cửa sông lớn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    TS Phan Khánh Linh báo cáo phương pháp tính toán, xác định cao trình đỉnh hệ thống các công trình KSNN đáp ứng yêu cầu an toàn, kinh tế trong bối cảnh mực nước biển dâng

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    ThS Bùi Mạnh Duy (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) trình bày báo cáo về ổn định đập hộp chìm trong quá trình vận hành, làm rõ các trạng thái làm việc, nguy cơ mất ổn định và giải pháp bảo đảm an toàn công trình

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    TS Đào Hoàng Tùng giới thiệu nghiên cứu xây dựng và thí nghiệm sa bàn hình thái, mô phỏng chi tiết diễn biến dòng chảy – bùn cát trong điều kiện có và không có công trình

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    Trong phần thảo luận, GS.TS Nguyễn Tuấn Anh nhận xét năm 2025 là năm thứ hai triển khai đề tài và các kết quả nghiên cứu đã có bước tiến rõ rệt, đi sâu vào các bài toán kỹ thuật phức tạp, đồng thời đáp ứng tốt yêu cầu nội dung và tiến độ của nhiệm vụ. Giáo sư đánh giá đây là một đề tài khó trong cụm nhiệm vụ về ĐBSCL, song đã thể hiện được cách tiếp cận bài bản, gắn kết giữa mô hình toán, thí nghiệm và yêu cầu thực tiễn ở vùng cửa sông lớn.

    Các đại biểu dự cũng đề cao các kết quả của nhóm nghiên cứu, đặc biệt ấn tượng với bộ công cụ tính toán mà đề tài đã xây dựng, và đề xuất đẩy mạnh kiểm chứng với các công trình thực tế nhằm tăng tính thuyết phục và khả năng ứng dụng; đánh giá cao khối lượng công việc đã hoàn thành, vượt trội so với yêu cầu tối thiểu của nhiệm vụ, đồng thời gợi ý nhóm nghiên cứu tiếp tục bổ sung, làm rõ hơn cơ sở khoa học về tương tác dòng chảy – hình thái để nâng cao giá trị học thuật và thực tiễn của mô hình sa bàn.

    Kết luận Hội thảo, TS Trương Hồng Sơn trân trọng cảm ơn sự quan tâm, hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan quản lý, các nhà khoa học trong và ngoài trường; đồng thời khẳng định nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu nghiêm túc các ý kiến góp ý để hoàn thiện mô hình, bộ công cụ tính toán và các giải pháp công trình kiểu mới. Kết quả của đề tài không chỉ góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các công trình kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL, mà còn mở ra các hướng nghiên cứu, hợp tác mới giữa Trường Đại học Thủy lợi với các đối tác trong nước và quốc tế trong lĩnh vực công trình biển – cửa sông thích ứng biến đổi khí hậu.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

    Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

     

    Ngày 05/12/2025, tại Trường Đại học Thủy lợi đã diễn ra phiên họp Hội đồng khoa học cấp cơ sở nghiệm thu nhiệm vụ cấp Bộ: “Rà soát, hướng dẫn khai thác, thuê dịch vụ cung cấp dữ liệu đo trực tuyến khí tượng, thủy văn chuyên dùng phục vụ vận hành công trình thủy lợi”, do PGS.TS. Lê Văn Chính, Trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi làm Chủ nhiệm; Cục Quản lý và Xây dựng Công trình Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) là cơ quan đặt hàng, Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị chủ trì thực hiện.

    Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở gồm có 05 thành viên là các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực thủy lợi, khí tượng thủy văn và kinh tế và quản lý khai thác thuỷ lợi do PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật tài nguyên nước làm chủ tịch Hội đồng. Tham dự Hội đồng nghiệp thu còn có đại diện của Cục Quản lý và xây dựng công trình thuỷ lợi, Lãnh đạo và chuyên Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế và các đơn vị liên quan.

    Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

    PGS.TS. Lê Văn Chính thay mặt nhóm thực hiện trình bày tóm tắt các nội dung và kết quả của nhiệm vụ.

    Tại phiên họp, Chủ nhiệm nhiệm vụ đã trình bày tóm tắt nội dung nghiên cứu, cách tiếp cận và các kết quả chính của nhiệm vụ, bao gồm: (i) đánh giá hiện trạng nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ đo trực tuyến dữ liệu thủy văn chuyên dùng phục vụ cho quản lý vận hành công trình thủy lợi thông qua việc khảo sát tại 09 đơn vị cung cấp dịch vụ dữ liệu và 12 doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi là đơn vị sử dụng dữ liệu; (ii) rà soát đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ đo trực tuyến dữ liệu khí tượng thuỷ văn chuyên dùng (iii) phân tích hiệu quả đầu tư, thuê dịch vụ dữ liệu; đề xuất bộ giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và hướng dẫn quy trình 10 bước thuê dịch vụ cung cấp dữ liệu khí tượng thủy văn chuyên dùng phục vụ vận hành CTTL.

    Các thành viên Hội đồng đánh giá cao tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn của nhiệm vụ trong bối cảnh nhu cầu dữ liệu khí tượng thủy văn chuyên dùng phục vụ phòng chống thiên tai, vận hành hồ chứa, hệ thống tưới, tiêu, phòng chống hạn hán – xâm nhập mặn và thích ứng biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Báo cáo tổng hợp của nhóm nghiên cứu được chuẩn bị công phu, có cấu trúc hợp lý; các khảo sát và phân tích đã làm rõ thực trạng cung cấp – sử dụng dữ liệu, những bất cập về pháp lý, tài chính, kỹ thuật và tổ chức thực hiện; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp và hướng dẫn chi tiết, có khả năng áp dụng ngay trong thực tiễn quản lý vận hành công trình thủy lợi ở các địa phương.

    Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở.

    Về kết quả thực hiện, Hội đồng nhận định nhiệm vụ đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu, nội dung và sản phẩm theo Hợp đồng với chất lượng tốt: (i) bộ báo cáo đánh giá thực trạng cung cấp, nhu cầu sử dụng và thuê dịch vụ dữ liệu đo trực tuyến khí tượng, thủy văn chuyên dùng trong toàn ngành thủy lợi; (ii) báo cáo rà soát, kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khai thác, chia sẻ và thuê dịch vụ dữ liệu khí tượng, thủy văn chuyên dùng; (iii) báo cáo phân tích hiệu quả đầu tư – thuê dịch vụ dữ liệu theo các phương pháp phân tích chi phí lợi ích (CBA), Chi phí vòng đời (LCC), MCDA (ra quyết định đa tiêu chí); (iv) dự thảo “Hướng dẫn thuê dịch vụ cung cấp dữ liệu khí tượng, thủy văn chuyên dùng phục vụ vận hành công trình thủy lợi” nhằm hỗ trợ các địa phương và đơn vị quản lý công trình triển khai thống nhất, minh bạch, hiệu quả.

    Với những kết quả đạt được, Hội đồng khoa học cấp cơ sở nhất trí nghiệm thu nhiệm vụ với kết quả “Đạt”, đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu một số ý kiến về hoàn thiện cấu trúc báo cáo, chuẩn hóa thuật ngữ, làm rõ hơn một số ví dụ minh họa, bổ sung khuyến nghị cho giai đoạn triển khai thực tế tại các địa phương. Trên cơ sở đó, Trường Đại học Thủy lợi sẽ hoàn thiện hồ sơ, trình cơ quan chủ quản để tổ chức nghiệm thu nhiệm vụ ở cấp có thẩm quyền trong thời gian tới.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    Ngày 17/11/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia: “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ”, mã số ĐTĐL.CN-42/22.

    Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 09 thành viên do GS.TS. Lê Đình Thành, Hội Thủy lợi Việt Nam – Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, làm Chủ tịch Hội đồng.

    Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và

    kết quả của nhiệm vụ.

    Vùng duyên hải Trung Trung Bộ, với hơn 430 km bờ biển cát và nhiều cửa sông, đầm phá, là khu vực nhạy cảm bậc nhất Việt Nam trước tác động khí tượng – hải văn. Những năm gần đây, khu vực này liên tục chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, sóng lớn và nước dâng, gây xói lở sâu, bồi lấp cửa sông, phá hủy hạ tầng và thu hẹp không gian bãi tắm.

    Sự biến động mạnh của chế độ sóng – triều – dòng chảy theo mùa, kết hợp phát triển đô thị – du lịch và các công trình chỉnh trị thiếu đồng bộ, đang làm gia tăng mất cân bằng bùn cát và rủi ro cho kinh tế – xã hội ven biển. Thách thức này trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh điều chỉnh địa giới hành chính từ 01/7/2025, đòi hỏi cách tiếp cận liên vùng, dùng chung dữ liệu và công cụ mô hình hóa thống nhất dọc toàn tuyến bờ.

    Để hướng tới mục tiêu tăng cường hiệu quả quản lý và phát triển bộ công cụ tích hợp theo dõi – đánh giá – dự báo hình thái bờ có ý nghĩa cấp bách cả về khoa học lẫn thực tiễn, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ” (mã số ĐTĐL.CN-42/22), với 3 mục tiêu:

    Xây dựng bộ công cụ tích hợp phục vụ đánh giá và dự báo biến động hình thái các bãi biển Trung Trung Bộ;

    Làm rõ chế độ thủy thạch động lực và cơ chế biến đổi bãi biển khu vực;

    Ứng dụng thử nghiệm để định hướng giải pháp ổn định cho bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng).

    Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:

    Báo cáo đánh giá thực trạng cơ chế biến động hình thái bãi biển vùng Trung Trung Bộ;

    Bộ cơ sở dữ liệu về điều kiện địa hình, khí tượng, hải văn cho khu vực nghiên cứu, chi tiết cho khu vực bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng;

    Bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái các bãi biển đặc thù vùng Trung Trung Bộ;

    Báo cáo đánh giá chế độ thủy thạch động lực, cơ chế biến đổi hình thái bãi biển đặc thù vùng Trung Trung Bộ;

    Báo cáo định hướng các giải pháp ổn định cho một số bãi biển bị suy thoái vùng Trung Trung Bộ và Mỹ Khê;

    Báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt.

    Đăng ký 01 giải pháp hữu ích;

    04 công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCI/SCIE/SCOPUS;

    05 công bố trên các hội nghị quốc tế hoặc tạp chí chuyên ngành trong nước;

    Tham gia đào tạo sau đại học: Đào tạo 02 Thạc sĩ và hỗ trợ đào tạo 03 nghiên cứu sinh.

    Kết quả của đề tài không chỉ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và quản lý bờ biển, mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên ven biển Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng rõ rệt.

    Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ phục vụ đánh giá, dự báo biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp quốc gia.

    Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.

    Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài đạt “Xuất sắc”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.

    Nguồn: https://mst.gov.vn/nghien-cuu-xay-dung-bo-cong-cu-phuc-vu-danh-gia-du-bao-bien-dong-hinh-thai-va-giai-phap-on-dinh-bai-bien-vung-trung-trung-bo-197251118090823242.htm

  • Diễn đàn Sinh viên Nghiên cứu Khoa học năm 2025

    Diễn đàn Sinh viên Nghiên cứu Khoa học năm 2025

     

    Diễn đàn Sinh viên Nghiên cứu Khoa học năm 2025 – “Energy and Applications for NetZero” 2025

    ngày 06-07/12/2025

    Diễn đàn Sinh viên Nghiên cứu Khoa học năm 2025

    Link đăng ký tham gia sự kiện: https://studentforum.vn

     

  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích

     

    Vừa qua nhóm giảng viên của Trường ĐHTL đã chính thức được Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích cho công trình nghiên cứu “Phương pháp xác định thoát không dưới đập đá đổ bê tông bản mặt bằng tần số dao động riêng”.

    Sáng chế mang số hiệu 47418, là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và đầy tâm huyết của nhóm tác giả gồm: PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái, TS. Nguyễn Công Thắng, TS. Nguyễn Thái Hoàng và TS. Phạm Viết Ngọc.

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích

    Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung, khoa học thiết kế và thi công các công trình thủy lợi – thủy điện cũng có sự phát triển vượt bậc trong thời gian qua. Các dạng đập mới phù hợp với nhiều dạng địa hình địa chất, có tính an toàn, ổn định cao, tận dụng được vật liệu sẵn có, tăng cường được khả năng cơ giới hóa thi công, giúp giảm giá thành xây dựng mà chất lượng công trình vẫn được đảm bảo. Đập đá đổ có bản mặt chống thấm bằng bê tông (Concrete Face Rockfill Dam – CFRD) là một trong những loại đập như thế.

    Đập CFRD có rất nhiều ưu điểm như: có tính an toàn cao, phù hợp với nhiều điều kiện địa hình, địa chất, khả năng chịu tải trọng động đất lớn, có thể thi công trong mọi điều kiện thời tiết khác nhau, có thể tận dụng các loại đá thải loại từ đào hố móng tràn, làm đường hầm tháo lũ để xây dựng đập. Vì thế, việc sử dụng đập CFRD mang lại hiệu quả kinh tế và kỹ thuật cao. Trong thời gian qua đập CFRD cũng đã và đang được lựa chọn để xây dựng cho các cụm công trình đầu mối thủy lợi – thủy điện ở Việt Nam như: đập Tuyên Quang (cao 92m), đập Rào Quán (cao 78m), đập Cửa Đạt (cao 118m), đập An Khê Kanak (cao 60m), đập Sông Bung (cao 98m).

    Thực tế quá trình khai thác các đập này cho thấy, nhất là các đập có chiều cao lớn hay xảy ra biến dạng lớn dẫn đến hiện tượng mất tiếp xúc giữa tấm bê tông bản mặt và phần còn lại của thân đập. Kết quả tạo ra vùng rỗng giữa tấm bê tông bản mặt và lớp đệm, hiện tượng này được các nhà nghiên cứu gọi là hiện tượng “thoát không”. Dưới tác dụng của áp lực nước phần bản mặt bị “thoát không” này không tựa được vào tầng đệm, dẫn đến nội lực – đặc biệt là mô men uốn trong phạm vi này tăng rất nhanh. Khi diện tích vùng “thoát không” đủ lớn mô men uốn do áp lực nước gây ra nứt tấm bê tông bản mặt. Điều nguy nhiểm là do mô men uốn gây nứt ở vùng “thoát không” có chiều làm căng ở phía dưới bản mặt nên khi bị nứt thì vết nứt bắt đầu xuất hiện ở mặt dưới, không quan sát thấy được. Còn khi quan sát thấy nứt thì vết nứt này đã là vết nứt xuyên, dẫn đến thấm nước qua bản mặt.

    “Thoát không” là hiện tượng gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng, bởi hiện tượng này dẫn đến việc phân bố lại ứng suất và thay đổi cơ chế làm việc của tấm bê tông bản mặt, dẫn đến giảm khả năng chống thấm và tuổi thọ của công trình. Nguy hại hơn là hiện tượng này có thể dẫn đến sự cố sập gẫy bản mặt bê tông phía thượng lưu khiến đập bị phá hủy. Chính vì vậy cần theo dõi kiểm tra tình trạng “thoát không” để xử lý trước khi tích nước và cả trong thời kỳ đầu vận hành khi biến dạng của thân đập chưa ổn định. Do vậy, cần phải phát triển các công nghệ nhằm phát hiện và xử lý hiện tượng ‘thoát không’ để đảm bảo an toàn cho bản mặt khi hồ tích nước cũng như các biện pháp khắc phục khi xảy ra hiện tượng nứt bản mặt.

    Thông qua quá trình nghiên cứu dao động của tấm bê tông bản mặt bằng mô hình số và mô hình vật lý, các tác giả đã xây dựng được phương pháp xác định “thoát không”  dưới đập đá đổ bê tông bản mặt bằng tần số dao động riêng với độ chính xác, độ tin cậy cao và có thể dễ dàng thực hiện tại hiện trường trong điều kiện vận hành bình thường của công trình.

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích

    Việc được cấp bằng Độc quyền sáng chế không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho nỗ lực không ngừng của các tác giả, mà còn khẳng định mạnh mẽ năng lực nghiên cứu khoa học và tiềm năng ứng dụng công nghệ của Trường Đại học Thuỷ lợi. Sáng chế này được kỳ vọng sẽ sớm được chuyển giao và áp dụng rộng rãi vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành và đảm bảo an toàn cho các công trình Thuỷ lợi, Thuỷ điện trên cả nước./.

    Nhóm nghiên cứu

     

  • Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

     

    Đà Nẵng đang đối mặt với thách thức lớn trong việc bảo vệ và duy trì bờ biển, đặc biệt tại các khu vực Mỹ Khê, Cửa Đại, Tam Tiến – nơi thường xuyên xảy ra xói lở nghiêm trọng trong những năm gần đây, gây ảnh hưởng đến hạ tầng, hoạt động du lịch và sinh kế cộng đồng. Trong bối cảnh đó, sáng 9/9 tại phường Hội An Tây, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức Hội thảo “Biến động hình thái và giải pháp ổn định bãi biển vùng Trung Trung Bộ”, báo cáo sơ bộ kết quả đề tài Khoa học Công nghệ cấp quốc gia do GS.TS Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi làm chủ nhiệm.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu

    Nhóm nghiên cứu của Trường đã tập trung khảo sát, phân tích tình trạng xói lở điển hình ở Mỹ Khê và Tam Tiến, chỉ ra các dạng xói lở như xói mạn tính, xói do chòm răng cưa lớn, xói cục bộ do bão và công trình. Từ những phân tích khoa học này, các chuyên gia đã đề xuất giải pháp ổn định bãi biển theo hướng kết hợp công trình cứng và mềm, vừa bảo vệ bờ biển, vừa giữ gìn cảnh quan để phát triển du lịch. Đặc biệt, Trường Đại học Thủy lợi đã xây dựng và thử nghiệm thành công bộ công cụ giải đoán đường bờ và địa hình từ ảnh vệ tinh, UAV, camera, hỗ trợ giám sát và dự báo biến động hình thái bờ biển. Hệ thống camera quan trắc trực tuyến được Nhà trường lắp đặt tại Mỹ Khê từ năm 2022 đã mang lại dữ liệu thời gian thực, phục vụ thiết thực cho công tác quản lý của địa phương.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Ông Lê Quang Nam – Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng – phát biểu tại hội thảo

    Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Lê Quang Nam đánh giá cao đóng góp của Trường Đại học Thủy lợi, coi đây là cơ sở khoa học quan trọng giúp thành phố chuyển từ thế bị động sang chủ động trong quản lý và bảo vệ bờ biển. Ông nhấn mạnh, với khu vực đô thị cũ, giải pháp phải thiên về ứng phó để bảo tồn hạ tầng hiện có, còn với khu vực phát triển mới cần có biện pháp chủ động, quy hoạch vùng đệm hợp lý, hạn chế tối đa rủi ro xói lở. Thành phố sẽ dựa trên kết quả nghiên cứu của Trường để định hướng quy hoạch phân khu bờ biển, đồng thời tiếp tục đặt hàng các giải pháp khoa học phục vụ chiến lược phát triển bền vững.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Bãi biển Mỹ Khê bị sạt lở nhiều năm gần đây

    Trong thời gian tới, Đà Nẵng sẽ phối hợp chặt chẽ với Trường Đại học Thủy lợi để hoàn thiện, chuyển giao bộ công cụ vào vận hành thực tế, thiết lập hệ thống quan trắc hiện đại tại Mỹ Khê, tích hợp dữ liệu vào hạ tầng đô thị thông minh, đồng thời tổ chức tập huấn cho cán bộ, cộng đồng ven biển nâng cao kiến thức ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

    Giải pháp từ Trường Đại học Thủy lợi góp phần tôn tạo, ổn định bãi biển Đà Nẵng

    Sạt lở bờ biển Hội An, TP Đà Nẵng

    Với năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm triển khai thực tế, Trường Đại học Thủy lợi đang khẳng định vai trò tiên phong trong việc tìm kiếm và đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ cho bài toán bảo vệ bờ biển Đà Nẵng. Đây không chỉ là đóng góp mang tính cấp bách mà còn đặt nền tảng vững chắc cho thành phố hướng tới mục tiêu xây dựng đô thị biển sinh thái, thông minh và bền vững.

    Tổng hợp: Bình Dương

    Link các bài báo liên quan

    https://vov.vn/xa-hoi/da-nang-tim-giai-phap-ton-tao-on-dinh-bo-bien-post1228786.vov

    https://baodanang.vn/toi-uu-hoa-cac-giai-phap-chong-xoi-lo-on-dinh-bai-bien-my-khe-3301410.html

    https://baovanhoa.vn/doi-song/tim-giai-phap-huu-hieu-chong-xoi-lo-on-dinh-bai-bien-167098.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

    https://tuoitrethudo.vn/da-nang-tim-giai-phap-huu-hieu-bao-ve-bo-bien-288749.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

    https://cand.com.vn/doi-song/bo-bien-da-nang-truoc-thach-thuc-lien-tuc-bi-xoi-lo-i780997/?zarsrc=10&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

  • Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ

    Chiều 16-8, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ

    Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030 – Ảnh: TTXVN

    Cùng dự có Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng; đại diện lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; 240 đại biểu, đại diện cho gần 5.000 đảng viên của 46 cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ.

    Kỹ năng số toàn dân được nâng cao, nhân dân được hưởng thụ

    Với chủ đề “Đoàn kết – Kỷ cương – Đột phá – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025 – 2030 đã nghe và thảo luận các dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ, nhiệm kỳ 2025 – 2030 nhằm tổng kết, đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2020 – 2025, thống nhất phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Đại hội cũng đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Báo cáo tại đại hội nêu rõ, từ ngày 1-3-2025, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ được thành lập trên cơ sở hợp nhất Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ và Đảng bộ Bộ Thông tin và Truyền thông.

    Kế thừa và phát huy những thành quả đã đạt được, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của bộ.

    Nhiều nghị quyết, chương trình hành động được ban hành đã tạo đột phá về tư duy và phương thức lãnh đạo, thúc đẩy cải cách thể chế, mở rộng không gian phát triển mới; toàn Đảng bộ cơ bản, các chỉ tiêu đặt ra đã được hoàn thành và hoàn thành vượt mức.

    Trong đó, hoàn thành 3 chỉ tiêu được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 gồm: tỉ trọng kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 19-20%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam đứng thứ 44/193 quốc gia; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt 46,2%, cao hơn giai đoạn 2016 – 2020.

    Đại hội thống nhất, nhiệm kỳ tới, toàn Đảng bộ tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

    Đảng bộ lãnh đạo xây dựng Bộ Khoa học và Công nghệ thành cơ quan đầu mối quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bưu chính, viễn thông, tiêu chuẩn hóa, sở hữu trí tuệ và năng lượng nguyên tử; đủ năng lực dẫn dắt, điều phối và kiến tạo môi trường thuận lợi để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực chủ yếu cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

    Trong đó, phấn đấu đến hết nhiệm kỳ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp 5% GDP; kinh tế số đạt tỉ trọng 30% GDP; hoàn thiện hạ tầng số và khoa học, công nghệ hiện đại, bảo đảm 100% dân số được phủ sóng 5G, triển khai thí điểm 6G; xây dựng 100 trung tâm đổi mới sáng tạo, trong đó ít nhất 6 trung tâm đạt tầm khu vực; xây dựng 1 trung tâm siêu tính toán quốc gia; chỉ số tích hợp phát triển bưu chính vào nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới…

    Đại hội cũng đề ra mục tiêu đưa vào vận hành các sàn giao dịch công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, bảo đảm 40% kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được thương mại hóa hoặc ứng dụng thực tế; hỗ trợ tối thiểu 1.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ và 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ.

    Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phấn đấu triển khai hiệu quả chương trình phát triển năng lượng nguyên tử; hoàn thành đào tạo 50.000 kỹ sư trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, năng lượng nguyên tử, tiêu chuẩn hóa; thu hút 500 chuyên gia quốc tế và trí thức kiều bào làm việc dài hạn tại Việt Nam; bảo đảm làm chủ tối thiểu 70% công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.

    Phát biểu chúc mừng và chỉ đạo đại hội trong không khí cả nước đang sôi nổi kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và không khí đổi mới, hành động quyết liệt của toàn Đảng và cả dân tộc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025 – 2030 là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ vừa qua, mà còn là dịp để xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong nhiệm kỳ tới.

    Thủ tướng biểu dương tinh thần làm việc khẩn trương, bài bản, nghiêm túc của Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ trong công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội; quán triệt và nghiêm túc triển khai thực hiện theo đúng tinh thần Chỉ thị số 45 của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 07 của Đảng ủy Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của cấp trên, để chuẩn bị chu đáo các nội dung theo yêu cầu và tổ chức đại hội các đảng bộ trực thuộc để tiến hành tổ chức Đại hội Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Đánh giá kết quả đạt được của Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ qua, Thủ tướng nhấn mạnh: thể chế được hoàn thiện; hạ tầng được nâng cấp; chuyển đổi số được thúc đẩy; đổi mới sáng tạo được lan tỏa; Chính phủ số được nâng cấp; kỹ năng số toàn dân được nâng cao, nhân dân được hưởng thụ; xây dựng Đảng được củng cố và tăng cường; khó khăn được tháo gỡ; niềm tin được thắp sáng.

    Thủ tướng chỉ rõ, nhiệm kỳ qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành 32/34 chỉ tiêu, trong đó có nhiều chỉ tiêu hoàn thành vượt bậc, có đột phá.

    Trong đó, công tác xây dựng thể chế được quan tâm chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, đặc biệt sau khi có Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị; hoàn thành các nhiệm vụ chuyển đổi số và phát triển hạ tầng số toàn diện phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước; công tác bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu được nâng cao; các nền tảng quản lý và các công cụ số hóa ngày càng hiện đại, kết nối liên thông với các bộ, ngành và địa phương;

    Mạng lưới tổ chức khoa học, công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao từng bước được hình thành, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt theo yêu cầu, tiến độ chỉ đạo của Trung ương;

    Đặc biệt, đã ổn định, xác định rõ chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị sau hợp nhất hai bộ…

    Thủ tướng Phạm Minh Chính: Mỗi cán bộ Bộ Khoa học và Công nghệ phải là một chiến sĩ
    Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 – 2030 – Ảnh: TTXVN

    Phải vận dụng sáng tạo 5 nguyên tắc, 5 phương thức lãnh đạo của Đảng

    Ghi nhận nỗ lực và biểu dương những kết quả Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như: phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia còn chậm, chưa có đột phá;

    Tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách lớn so với nhóm các nước phát triển; chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ lõi; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức; cần quan tâm hơn công tác xây dựng Đảng…

    Phân tích tình hình thế giới, nhất là sự phát triển “vũ bão” của khoa học công nghệ, đặc biệt là những ngành như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ sinh học, năng lượng mới, và đặc biệt là xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số toàn cầu, Thủ tướng Chính phủ cho biết, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, vừa qua Bộ Chính trị đã ban hành “Bộ tứ trụ cột”, trong đó có Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

    Thủ tướng chỉ rõ, thực hiện Nghị quyết 57, chúng ta phải hoàn thiện thể chế, tháo bỏ rào cản phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạo tiếp cận bình đẳng các nguồn lực; khuyến khích, tạo xu thế, phong trào phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo;

    Với phương châm “khoa học, công nghệ là nền tảng, đổi mới sáng tạo là động lực, chuyển đổi số là kết nối, con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực, nguồn lực của sự phát triển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong sự phát triển.

    Chỉ rõ vị trí, vai trò đặc biệt của Bộ Khoa học và Công nghệ, Thủ tướng Chính phủ cho rằng những lĩnh vực mà bộ quản lý đều là lĩnh vực trọng yếu, có tiềm năng tạo đột phá mà mang tính dẫn dắt, đưa đất nước phát triển vượt bậc, nhảy vọt trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

    Thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung làm tốt công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, trong đó phải thực hiện nghiêm và vận dụng sáng tạo 5 nguyên tắc, 5 phương thức lãnh đạo của Đảng;

    Tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, nâng cao năng lực hoạch định và triển khai chính sách khoa học, công nghệ, với phương châm “lấy dữ liệu làm nền tảng; lấy công nghệ làm công cụ; lấy đổi mới sáng tạo làm động lực; lấy chuyển đổi số làm phương thức; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”;

    Tập trung ưu tiên mọi nguồn lực để hoàn thiện các dự án luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trong đó có Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Trí tuệ nhân tạo (AI)…

    Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Đảng bộ và Bộ Khoa học và công nghệ có cơ chế, chính sách, giải pháp để khuyến khích đa dạng các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là đầu tư tư nhân; đẩy mạnh phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, ưu tiên các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, bán dẫn, dữ liệu lớn, sinh học, năng lượng mới…

    Sớm giải quyết dứt điểm các hồ sơ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ còn tồn đọng; triển khai mô hình doanh nghiệp lớn chủ trì nghiên cứu, Nhà nước đồng hành hỗ trợ. Bộ Khoa học và Công nghệ phải thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số.

    Đặc biệt chú trọng phát triển hạ tầng số, nền tảng dữ liệu quốc gia, và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, chủ quyền số; quan tâm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao, có năng lực tư duy phản biện, tích hợp công nghệ – quản lý – kinh doanh; tạo điều kiện thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là đội ngũ trí thức trẻ và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.

    Yêu cầu toàn Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục đóng góp ý kiến vào văn kiện Đại hội XIV của Đảng và các văn kiện Đại hội Đảng bộ Chính phủ lần thứ nhất, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, ngay sau đại hội, cấp ủy bộ cần khẩn trương tổ chức quán triệt và cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình hành động để triển khai thực hiện;

    Đồng thời phân công, giao trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, đơn vị bảo đảm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ thẩm quyền; kịp thời khen thưởng động viên, nhân rộng những mô hình hay, cách làm tốt, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra.

    Nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là xu thế, mà là “con đường tất yếu” để Việt Nam vươn lên thành quốc gia phát triển, giàu mạnh, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm;

    Mỗi đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới, cũng như lãnh đạo bộ, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Khoa học và Công nghệ phải là chiến sĩ tiên phong, người dẫn dắt, đi đầu trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

    Thủ tướng Phạm Minh Chính tin tưởng, với phương châm Đoàn kết – Kỷ cương – Đột phá – Sáng tạo – Phát triển, trong nhiệm kỳ tới, Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ thực hiện thành công các nội dung nghị quyết đại hội đã đề ra, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, phồn vinh và thịnh vượng của dân tộc như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ.

    Tại đại hội, Bí thư Đảng ủy Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã trao các quyết định của Đảng ủy Chính phủ chỉ định Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng ủy nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ – được chỉ định tiếp tục giữ chức Bí thư Đảng ủy Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    Theo TTXVN

    Nguồn tin: https://tuoitre.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-moi-can-bo-bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-phai-la-mot-chien-si-20250816185520661.htm

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

     

    Ngày 15/8/2025 tại Nha Trang, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Tăng cường hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực đề xuất nhiệm vụ khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển nông nghiệp xanh”. Thông qua cơ chế tài trợ linh hoạt, minh bạch và giàu tính kết nối, Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã hỗ trợ hàng nghìn nhiệm vụ nghiên cứu chất lượng cao, tạo ra nhiều công trình có giá trị ứng dụng. Sự kiện có sự tham dự của lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, NAFOSTED, các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp cùng nhiều đối tác quốc tế.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Phát biểu khai mạc, PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc NAFOSTED nhấn mạnh, nông nghiệp xanh đang trở thành xu thế toàn cầu; đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của nhiều chủ thể, trong đó nghiên cứu khoa học, ĐMST, công nghệ số và HTQT đóng vai trò then chốt.

    Với chức năng tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, HTQT và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, những năm qua, NAFOSTED đã tài trợ hàng nghìn nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chất lượng cao, hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm; nhiều công trình trong số đó được công bố quốc tế uy tín, có tác động lan tỏa lớn trong cộng đồng khoa học; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương cùng phát huy sáng kiến và xây dựng các giải pháp hiệu quả cho phát triển bền vững. Bên cạnh đó, hoạt động HTQT của Quỹ ngày càng mở rộng, thiết lập mối quan hệ với hơn 20 đối tác ở các nước phát triển, tạo điều kiện cho các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận các chương trình tài trợ song phương, đa phương, nâng cao năng lực và mở rộng không gian nghiên cứu.

    Theo ông Đào Ngọc Chiến, để tận dụng hiệu quả hơn nữa các cơ hội tài trợ quốc tế và huy động nguồn lực toàn xã hội cho nghiên cứu khoa học và ĐMST, cần tiếp tục nâng cao chất lượng đề xuất nhiệm vụ, đổi mới tư duy triển khai, cũng như chú trọng đến các yếu tố như sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và liên kết ứng dụng thực tiễn; đặc biệt trong lĩnh vực có tiềm năng như nông nghiệp xanh.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    PGS.TS. Đào Ngọc Chiến, Giám đốc NAFOSTED phát biểu khai mạc Hội thảo.

    Ông Đào Ngọc Chiến kỳ vọng, sau Hội thảo, nhiều ý tưởng sáng tạo sẽ được hình thành, nhiều đề xuất chất lượng sẽ được xây dựng và đặc biệt là nhiều mối quan hệ hợp tác chiến lược sẽ được khởi động – góp phần đưa KHCN,ĐMST&CĐS thực sự trở thành động lực phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng xanh, bền vững và hội nhập.

    Tham dự Hội thảo, đại diện Trường Đại học Thủy lợi, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Nhà trường cùng với TS. Lê Quang Tuấn – Phó Trưởng Phòng Khoa học công nghệ và HTQT đã có những trao đổi trực tiếp với lãnh đạo NAFOSTED cũng như các cán bộ chuyên môn về nội dung chương trình, định hướng ưu tiên trong thời gian tới và những khó khăn thường gặp khi triển khai đề tài.

    Phó Hiệu trưởng Nguyễn Cảnh Thái mong muốn được đồng hành cùng NAFOSTED trong việc xây dựng và triển khai các nhiệm vụ hợp tác quốc tế, đặc biệt là các chương trình song phương và đa phương, đồng thời chia sẻ những vướng mắc thực tiễn trong quá trình triển khai các hợp tác nghiên cứu.

    Giới thiệu tổng quan về cơ chế tài trợ hoạt động HTQT của Quỹ, TS. Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED cho biết, NAFOSTED hiện đang triển khai ba loại hình nhiệm vụ HTQT, gồm: Nhiệm vụ Nghị định thư; Hợp tác song phương; Hợp tác đa phương. Các nhiệm vụ HTQT được triển khai qua ký kết MOU giữa hai nước; tổ chức kết nối các nhà khoa học hai nước; kêu gọi tài trợ chung; đánh giá, tài trợ, triển khai và nghiệm thu; trong đó nhà khoa học được chủ động đề xuất nội dung, sản phẩm và không phải “bảo vệ” trực tiếp trước hội đồng.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    TS. Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED giới thiệu tổng quan về cơ chế tài trợ hoạt động HTQT của Quỹ.

    Điểm mới trong quản lý tài trợ là ưu tiên cấp kinh phí theo cơ chế quỹ, chấp nhận rủi ro khi không đạt kết quả như dự kiến, cho phép khoán chi nguyên vật liệu, trang thiết bị và miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản chi từ ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ KH&CN. Thủ tục hồ sơ, chứng từ và thanh toán cũng được đơn giản hóa…

    Trong giai đoạn tới, Quỹ định hướng hoàn thiện cơ chế, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục, tương thích quốc tế; đẩy mạnh các lĩnh vực được ưu tiên như công nghệ chiến lược, công nghệ cao…; tăng kinh phí, số lượng nhiệm vụ và tổng kinh phí cho các nhiệm vụ HTQT; mở rộng hợp tác với Mỹ, Canada, Úc…; tăng số lượng nhiệm vụ ở mỗi nước; tăng chất lượng hồ sơ. Qua đó, nâng cao chất lượng nghiên cứu NAFOSTED – đóng vai trò cầu nối thúc đẩy hội nhập KHCN,ĐMST&CĐS.

    Báo cáo tại Hội thảo, Bà Trịnh Quỳnh Trang, Vụ Hợp tác quốc tế cho biết, trong giai đoạn 2021 – 2025, Việt Nam đã ký hơn 90 văn bản hợp tác, thu được trên 2.500 tài liệu từ các nghiên cứu chung, tận dụng hạ tầng và dữ liệu quốc tế. Mục tiêu dài hạn là đưa Việt Nam trở thành trung tâm ĐMST của khu vực với nền tảng KH&CN vững chắc, hệ sinh thái khởi nghiệp năng động và hạ tầng số hiện đại; trong đó, HTQT đóng vai trò quan trọng, kết nối nguồn lực toàn cầu và nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng khoa học thế giới.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Bà Trịnh Quỳnh Trang, Vụ Hợp tác quốc tế phát biểu tại Hội thảo.

    Bên cạnh đó, bà cũng chia sẻ kinh nghiệm chuẩn bị và nâng cao chất lượng hồ sơ đề xuất nhiệm vụ HTQT, từ việc nắm rõ quy trình tài trợ, yêu cầu hồ sơ và tiêu chí đánh giá, đến kỹ năng viết đề cương mạch lạc, tránh lỗi thường gặp, cũng như phương pháp xây dựng kết nối hiệu quả với đối tác nước ngoài. Theo đó, để tăng khả năng thành công, các đơn vị cần chủ động xây dựng mạng lưới quốc tế vững mạnh, cân bằng giữa tính khả thi và tính đột phá của đề xuất, đồng thời tham vấn sớm với Vụ HTQT để bảo đảm định hướng phù hợp với ưu tiên của từng chương trình.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Bà Nguyễn Thị Hoàng Hạnh, Cục Sở hữu trí tuệ phát biểu tại Hội thảo.

    Về vai trò sở hữu trí tuệ (SHTT) trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bảo hộ quyền SHTT đối với kết quả nghiên cứu và khai thác tài sản trí tuệ từ kết quả nghiên cứu, bà Nguyễn Thị Hoàng Hạnh, Cục SHTT khuyến nghị các tổ chức nghiên cứu cần thành lập bộ phận chuyên trách về SHTT, xây dựng chính sách quản lý và thương mại hóa tài sản trí tuệ, thúc đẩy hợp tác giữa viện, trường và doanh nghiệp trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu đồng thời xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động SHTT rõ ràng, lựa chọn hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu phù hợp và liên tục cập nhật kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực này để thích ứng với xu hướng mới.

    Chia sẻ về nhu cầu và định hướng phát triển nông nghiệp xanh theo hướng ĐMST, ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nhấn mạnh, ngành Nông nghiệp cần tạo đột phá bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, phát triển nông nghiệp sinh thái theo hướng đa giá trị, đa ngành và lồng ghép các giá trị kinh tế – xã hội và môi trường. Theo đó, cần ứng dụng công nghệ cao như sử dụng các công nghệ như cảm biến, internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) để giám sát và điều khiển các yếu tố môi trường trong sản xuất nông nghiệp, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và nâng cao hiệu quả sản xuất; Nhà nước cần chuẩn hóa, liên thông dữ liệu quản lý sản xuất, tiêu thụ, vùng trồng, vùng nuôi, dịch bệnh, dự báo thị trường giữa các địa phương và Trung ương, ứng dụng AI, Big data phân tích, dự báo xu hướng, tối ưu hóa nguồn lực; Khuyến khích hợp tác công tư, xã hội hóa đầu tư vào nền tảng số, phần mềm chuyên ngành, logistics thông minh, thương mại điện tử cho nông nghiệp….

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

    Về cách tiếp cận đổi mới trong đề xuất nhiệm vụ HTQT, liên kết doanh nghiệp – viện – trường trong triển khai và đề xuất cải tiến tiêu chí đánh giá và cơ chế phối hợp, PGS.TS. Trần Hưng Trà, Trưởng khoa Cơ khí, Trường Đại học Nha Trang cho rằng việc lựa chọn đúng đối tác quyết định đến 50% thành công của một dự án hợp tác; do đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá toàn diện, tham khảo từ các tổ chức uy tín như IEEE. Đồng thời, kiến nghị thành lập các nhóm ĐMST liên kết viện – trường – doanh nghiệp, hoàn thiện tiêu chí đánh giá nhiệm vụ hợp tác và xây dựng cơ chế phối hợp thống nhất. “Đối với Việt Nam, nếu mô hình này được triển khai thành công, nó sẽ trở thành động lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu quốc gia thu nhập cao và trung tâm ĐMST của khu vực – điều đó đòi hỏi tầm nhìn chiến lược cùng hành động quyết liệt, đồng bộ từ Chính phủ, viện/trường và cộng đồng doanh nghiệp”, ông nhấn mạnh.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    PGS.TS. Trần Hưng Trà, Trưởng khoa Cơ khí, Trường Đại học Nha Trang phát biểu tại Hội thảo.

    Tại Hội thảo, các đại biểu đã cùng nhau trao đổi, thảo luận, gợi mở sáng kiến, bàn giải pháp ứng dụng ĐMST, CĐS và tăng cường bảo hộ SHTT trong phát triển nông nghiệp xanh; đồng thời kết nối mạng lưới hợp tác giữa giới khoa học – viện nghiên cứu, trường đại học – doanh nghiệp và địa phương trong và ngoài nước nhằm hình thành các đề xuất, chương trình, dự án liên ngành, liên kết và có tính khả thi cao. Qua đó, nâng cao năng lực xây dựng, hoàn thiện và đề xuất nhiệm vụ KH&CN đáp ứng tiêu chí quốc tế.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội thảo Khoa học của NAFOSTED

    Các đại biểu chụp ảnh kỷ niệm.

    Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

     

  • Danh sách đề tài cấp Cơ sở năm 2025

    Danh sách đề tài cấp Cơ sở năm 2025

    DANH SÁCH ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ ĐƯỢC PHÊ DUYỆT VÀ GIAO CHỦ NHIỆM THỰC HIỆN NĂM 2025

    (Kèm theo Quyết định số 308/QĐ-ĐHTL ngày 26 tháng 2 năm 2025 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi)

    STT Tên đề tài Chủ nhiệm Khoa Kinh phí  (triệu đồng)
    1 Phân tích ứng xử uốn phi tuyến của kết cấu dầm micro có xét tới ảnh hưởng của hiệu ứng kích thước ThS. Đặng Ngọc Duyên Cơ khí 7.2
    2 Nghiên cứu, thiết kế đầu in hạt cellulose và hệ thống điều khiển lắp cho máy in 3D uPrint SE PLUS hướng đến tạo ra các sản phẩm thân thiện môi trường TS. Phan Bình Nguyên Cơ khí 7.2
    3 Nghiên cứu chế tạo vật liệu composite dựa trên nền epoxy sử dụng sợi dứa và các hạt oxit làm vật liệu gia cường TS. Nguyễn Thị Hằng Nga Cơ khí 7.2
    4 Ảnh hưởng của trục trung hoà đến tần số cơ bản của dầm FGM Timoshenko có tính chất phụ thuộc vào nhiệt độ TS. Nguyễn Ngọc Huyên Cơ khí 7.2
    5 Nghiên cứu chế tạo hệ thống thủy lực đồng bộ hai cơ cấu chấp hành sử dụng van tuyến tính TS. Nguyễn Hữu Tuấn Cơ khí 7.2
    6 Nghiên cứu cơ cấu biến đổi năng lượng sóng biển thành năng lượng điện bằng cơ chế phao nổi. TS. Trang Thành Trung Cơ khí 7.2
    7 Nghiên cứu khả năng ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) trong quan trắc mái dốc tại Việt Nam TS. Nguyễn Trung Kiên Công trình 7.2
    8 Ứng dụng công nghệ đo dịch chuyển vết nứt trong bảo trì kết cấu bê tông bị hư hỏng bởi phản ứng kiềm-silica TS. Nguyễn Thị Huệ Công trình 7.2
    9 Nghiên cứu đo lường hiệu quả môi trường, năng suất xanh cấp doanh nghiệp: Áp dụng cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại Việt Nam TS. Phùng Mai Lan Kinh tế & Quản lý 7.2
    10 Tác động của thể chế tới tăng trưởng TFP xanh cấp tỉnh ở Việt Nam Ths. Nguyễn Thùy Trang Kinh tế & Quản lý 7.2
    11 Đánh giá chất lượng dịch vụ tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định TS. Bùi Anh Tú Kinh tế & Quản lý 7.2
    12 Nghiên cứu cải thiện hiệu quả hệ thống thanh toán di động tại Việt Nam bằng công nghệ kết nối không dây tầm ngắn (NFC) TS. Nguyễn Thị Oanh Kinh tế & Quản lý 7.2
    13 Phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh tại tỉnh Thái Bình TS. Nguyễn Thị Phương Nga Kinh tế & Quản lý 7.2
    14 Nghiên cứu ý định du lịch chậm của khách du lịch thế hệ Z trên địa bàn thành phố Hà Nội. ThS.Vũ Ngọc Thư Kinh tế & Quản lý 7.2
    15 Nghiên cứu chuyển đổi số chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp của doanh nghiệp Việt Nam TS. Triệu Đình Phương  Kế toán & Kinh doanh 7.2
    16 Tác động của quản trị công ty đến trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp dầu khí Việt Nam TS. Vũ Thị Phương Thảo Kế toán & Kinh doanh 7.2
    17 Tác động của chương trình đào tạo tới thái độ hoài nghi nghề nghiệp của sinh viên ngành kiểm toán Trường Đại học Thủy lợi TS. Hoàng Thị Mai Lan Kế toán & Kinh doanh 7.2
    18 Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên Khoa Kế toán và Kinh doanh – Trường Đại học Thuỷ Lợi TS. Trương Thị Thu Hương Kế toán & Kinh doanh 7.2
    19 Nghiên cứu tác động của kế toán quản trị, quản trị chuỗi cung ứng
    đến hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp miền Bắc Việt Nam
    TS. Lê Thị Tâm Kế toán & Kinh doanh 7.2
    20 Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực số của sinh viên trường Đại học Thủy lợi TS. Đào Thu Hiền Luật & LLCT 7.2
    21 Phân lập và tuyển chọn chủng vi sinh vật có khả năng kích thích sinh trưởng thực vật từ rừng ngập mặn Cồn Đen
    – tỉnh Thái Bình
    TS. Lê Thị Ngọc Quỳnh Hóa – Môi trường 7.2
    22 Điều khiển cân bằng ballbot di chuyển trên mặt phẳng nghiêng. ThS. Nguyễn Thị Thuý Hằng Điện – Điện tử 7.2
    23 Nghiên cứu ứng dụng cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian trong lĩnh vực thu thập và xử lý dữ liệu thời gian thực TS. Lê Trung Dũng Điện – Điện tử 7.2
    24 Thiết kế, chế tạo và điều khiển thiết bị bay mô hình Quadcopter. TS. Đoàn Hữu Chức Điện – Điện tử 7.2
    25 Nghiên cứu xây dựng mô hình điều khiển cho bộ biến đổi AC/DC trong hệ thống truyền tải điện cao áp một chiều HVDC dựa trên cấu trúc bộ biến đổi đa mức MMC TS. Trần Hùng Cường Điện – Điện tử 7.2
    26 Nghiên cứu xây dựng mô hình tính độ thấm của môi trường lỗ rỗng sử dụng mô hình ống mao dẫn có kích thước thay đổi. ThS. Nguyễn Mạnh Hùng Điện – Điện tử 7.2
    27 Nghiên cứu giải pháp phân vùng DMAs kết hợp tối ưu hoá vận hành bơm để tiết kiệm điện năng tiêu thụ của trạm bơm cấp nước TS. Bùi Xuân Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước 7.2
    28 Nghiên cứu xây dựng trang Web quản lý bản đồ ngập lụt và bản đồ rủi ro, ứng dụng thử nghiệm cho tỉnh Vĩnh Phúc. TS. Vũ Thị Minh Huệ Kỹ thuật tài nguyên nước 7.2
    29 Dáng điệu nghiệm của một số lớp phương trình tiến hóa không ô-tô-nôm trong động lực học ThS. Nguyễn Ngọc Huy Công nghệ thông tin 7.2
    30 Phân lớp dữ liệu không chắc chắn TS. Nguyễn Quỳnh Diệp Công nghệ thông tin 7.2
    31 Nghiên cứu phương pháp đảm bảo an toàn và bảo mật cho mạng không dây TS.  Đoàn Thị Quế Công nghệ thông tin 7.2
    32 Nghiên cứu phương pháp xây dựng cơ sở tri thức TS. Nguyễn Văn Thẩm Công nghệ thông tin 7.2
    33 Quan niệm của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh, Đại học Thuỷ Lợi về nỗi lo lắng khi thuyết trình bằng tiếng Anh và phương hướng khắc phục ThS. Lê Thị Phương Lan Trung tâm Đào tạo Quốc tế 7.2
    34 Nghiên cứu áp dụng hình thức học tập hợp tác “collaborative learning” cho môn Phương pháp Ngiên cứu Khoa học của chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ Anh, trường Đại học Thuỷ Lợi TS. Nguyễn Văn Sơn Trung tâm Đào tạo Quốc tế 7.2
    35 Nghiên cứu cơ chế xâm nhập mặn và thời điểm xuất hiện nước ngọt vùng cửa Định An – Sông Hậu TS. Nguyễn Thị Phương Mai Phân hiệu 7
    36 Nghiên cứu hệ số tải trọng và hệ số sức kháng cho ổn định trượt cung tròn: áp dụng cho nền đê chắn sóng tường đứng TS. Đặng Văn Phú Phân hiệu 7
    37 Xây dựng mô hình nhận diện và cảnh báo dòng Rip TS. Lê Thị Hòa Bình Phân hiệu 7
    38 Xây dựng chương trình phân tích tần suất cho dữ liệu khí tượng thủy văn TS. Đặng Đồng Nguyên Phân hiệu 7
    39 Ảnh hưởng của một số phương pháp xử lý bề mặt sợi tổng hợp đến sức kháng cơ học của bê tông hạt mịn gia cường sợi TS. Trương Văn Đoàn Phân hiệu 7
    40 Nghiên cứu xây dựng quy trình cải tiến sản xuất dịch chiết lá neen Ninh Thuận bằng phương pháp cô đặc chân không và ứng dụng phòng trừ sâu hại rau cải TS. Trần Thanh Thy Phân hiệu 7
    41 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại học của sinh viên năm nhất Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi TS. Hà Kiên Tân Phân hiệu 7
  • Danh sách đề tài Quỹ Nafosted

    Danh sách đề tài Quỹ Nafosted

    TT Tên đề tài Chủ nhiệm Thời gian Kinh phí (tr đồng)
    Bắt đầu Kết thúc Tổng
    1 Mô phỏng ứng xử của cát chịu tải trọng xoắn chu kỳ PGS.TS. Nguyễn Hồng Nam 2013 2015 300
    2 Nghiên cứu ảnh hưởng do tồn lưu, biến đổi hóa học của một số chất hữu cơ ô nhiễm khó phân hủy trong trầm tích sông Cầu Bây đến chất lượng nước tưới, đất nông nghiệp của xã Kiêu Kỵ và đề xuất giải pháp TS Vũ Đức Toàn 2014 2015 696
    3 Các phương pháp tính toán cho bài toán xác định các thành phần tế bào liên quan đến bệnh PGS.TS. Lê Đức Hậu 2015 2017 840
    4 Quan sát hình ảnh trực tiếp sự tiến triển của cấu trúc tạo ra do ứng suất cắt khi sử dụng hoạt chất bề mặt sunfactant và mối liên hệ của nó với mô – men động lượng và truyền nhiệt TS. Nguyễn  Anh Tuấn 2015 2017 449
    5 Nghiên cứu định lượng chức năng tích lũy và trao đổi carbon rừng ngập mặn ở Vườn quốc gia Xuân Thủy, Việt Nam PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Cúc PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Cúc 2016 2018 850
    6 Sóng mặt trong các môi trường không nén TS. Nguyễn Khánh Linh 2017 2019 650
    7 Nghiên cứu và xây dựng mô hình FRACTAL cho hiện tượng điện thế chảy trong môi trường xốp TS. Lương Duy Thành 2017 2019 600
    8 Các hướng tiếp cận học dược học hệ thống cho việc dự đoán đích tác động của thuốc PGS.TS. Lê Đức Hậu 2017 2019 846
    9 Đánh giá ô nhiễm của một số chất gây rối loạn nội tiết trong sông Kim Ngưu, Hà Nội và nghiên cứu giải pháp xử lý giảm thiểu PGS.TS. Vũ Đức Toàn 2017 2019 872
    10 Giám sát quy mô và các dịch vụ rừng ngập mặn (MOMENTS): Yếu tố kiểm soát điểm tới hạn – Mã số NE/P014127/1 (Nafosted – Newton fund) TS. Nguyễn Thị Xuân Thắng 2017 2020 1500
    11 Nguồn gốc và sự phát triển của cấu trúc hình thành do cắt (SIS) và mối quan hệ giữa sự giảm lực cản và SIS TS. Nguyễn Anh Tuấn 2018 2020 642
    12 Chế tạo và nghiên cứu vật liệu phát quang có hiệu suất lượng tử lớn hơn 100% dựa trên quá trình cắt lượng tử thông qua cơ chế truyền năng lượng giứa các ion đất hiếm TS. Phan Văn Độ 2018 2020 750
    13 Nghiên cứu phát triển công cụ đánh giá, dự báo chuyển dịch công trình đập thủy điện áp dụng các mô hình trí thông minh nhân tạo phục vụ quản lý an toàn đập tại Việt Nam TS. Bùi Thị Kiên Trinh 2018 2022 665
    14 Mất đất và những ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu TS. Phạm Văn Chiến 2019 2020 850
    15 Đánh giá và quản lý ngập lụt đô thị Hà Nội trong điều kiện khí hậu hiện tại và tương lai TS. Nguyễn Thu Thủy 2019 2020 1739
    16 Vi nhựa ở cửa sông Ba Lạt, miền Bắc Việt Nam: phân bố và đặc điểm (dưới đây viết tắt là Đề tài) – Mã số 105.99-2019.12 PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Cúc 9/2019 9/2022
    17 Nghiên cứu mức độ ô nhiễm và rủi ro môi trường của các chất hữu cơ độc hại (PTS) điển h̀nh trong bụi phát thải từ lò đốt rác sinh hoạt qui mô nhỏ GS.TS. Vũ Đức Toàn 1/2021 1/2024 747
    18 Nghiên cứu xây dựng các mô hình vật lý cho hiện tượng điện thế chảy, điện thẩm và dẫn điện trong môi trường xốp dưới điều kiện chưa bão hòa PGS.TS. Lương Duy Thành 4/2020 4/2023 770
    19 Nghiên cứu sự phụ thuộc của các mức năng lượng 4f và 5d của tạp đất hiếm vào thành phần và cấu trúc của các hợp chất vùng cấm rộng theo … PGS.TS Phan Văn Độ 2023 2026 1100
    20 Tối ưu hóa kích thước của kết cấu thép phi tuyến sử dụng thuật toán học có giám sát và học tăng cường PGS.TS Trương Việt Hùng 2023 2026 687
    21 Nghiên cứu về việc lập bản đồ nguy cơ trượt lở và cơ chế phá hoại của mái dốc đào phục vụ công tác đề xuất giải pháp gia cố dọc tuyến … TS. Đỗ Tuấn Nghĩa 2021 2025 829
    22 Nghiên cứu xây dựng mô hình vật lý cho các hiện tượng truyền dẫn trong môi trường lỗ rỗng sử dụng mô hình ống mao dẫn có kích thước thay đổi và khảo sát, đo đạc thực địa PGS.TS Lương Duy Thành 2024 2027 902.5