Danh mục: Nghiên cứu

  • Trường Đại học Thủy lợi và tỉnh Quảng Trị ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030, thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà”

    Trường Đại học Thủy lợi và tỉnh Quảng Trị ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030, thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà”

     

    Ngày 20/10/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Quảng Trị, Trường Đại học Thủy lợi và UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026–2030. Sự kiện mở ra giai đoạn phối hợp mới trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời nhấn mạnh định hướng liên kết “3 Nhà”: Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp.

    Trường Đại học Thủy lợi và tỉnh Quảng Trị ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030, thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà”

    Quang cảnh buổi lễ

    Gắn kết nhu cầu địa phương với năng lực nghiên cứu của Nhà trường

    Tham dự buổi lễ, về phía tỉnh Quảng Trị có ông Hoàng Nam, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, cùng đại diện các sở, ngành, đơn vị liên quan. Về phía Trường Đại học Thủy lợi có GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Nhà trường, cùng đại diện các đơn vị, nhà khoa học và chuyên gia. Chương trình còn có sự tham gia của các doanh nghiệp đối tác, trong đó có Viettel solution và Portcoast.

    Phát biểu tại sự kiện, Hiệu trưởng Nguyễn Trung Việt nhấn mạnh ý nghĩa của mô hình hợp tác “3 Nhà”. Trong đó, Nhà nước xác định bài toán thực tiễn, định hướng và tạo điều kiện triển khai; Nhà trường đóng góp đội ngũ chuyên gia, kết quả nghiên cứu và giải pháp công nghệ; doanh nghiệp đồng hành phát triển sản phẩm, tích hợp hệ thống và đưa giải pháp vào ứng dụng. Mối liên kết này hướng tới biến nhu cầu của địa phương thành những nhiệm vụ và sản phẩm có kết quả cụ thể.

    Trường Đại học Thủy lợi và tỉnh Quảng Trị ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030, thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà”

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại buổi lễ

    Tại buổi lễ, nhóm chuyên gia Trường Đại học Thủy lợi giới thiệu định hướng ứng dụng bản sao số (Digital Twin) trong thủy lợi và phòng, chống thiên tai. Cách tiếp cận không chỉ dừng ở mô hình không gian ba chiều mà kết hợp dữ liệu quan trắc, hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình thủy văn – thủy lực, công cụ phân tích và quy trình điều hành. Từ đó, cơ quan quản lý có thêm căn cứ theo dõi nguy cơ, dự báo diễn biến và lựa chọn phương án ứng phó.

    Các nhóm giải pháp được đề xuất gồm cảnh báo ngập lụt lưu vực sông và đô thị; cảnh báo sạt lở đất; giám sát xói lở bờ biển và dòng chảy nguy hiểm tại bãi tắm; hỗ trợ vận hành hồ chứa; quản lý an toàn đập, hệ thống thủy lợi và đê điều. Những giải pháp này được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm và các sản phẩm nghiên cứu đã có, đồng thời cần được khảo sát, hiệu chỉnh và kiểm chứng khi mở rộng ứng dụng tại Quảng Trị.

    Một ví dụ là hệ thống cảnh báo ngập lụt trên địa bàn Quảng Bình trước đây, nay thuộc tỉnh Quảng Trị, đã được bàn giao và vận hành trên nền tảng web và ứng dụng di động. Nhà trường cũng có kinh nghiệm mô phỏng ngập đô thị tại Đà Lạt, nghiên cứu an toàn hồ đập trong Chương trình An toàn đập Việt Nam – New Zealand, và các công cụ theo dõi biến động bờ biển bằng vệ tinh, UAV và trí tuệ nhân tạo. Đây là các nền tảng để nghiên cứu các ứng dụng phù hợp với điều kiện của tỉnh.

    Bên cạnh phần giới thiệu định hướng của Nhà trường, chương trình có hoạt động trình diễn trực tiếp sản phẩm công nghệ. Đại diện Portcoast, ông Trần Tấn Phúc, thuyết minh trực tiếp trên các sản phẩm và mô hình công nghệ liên quan đến bản sao số đô thị, hỗ trợ đại biểu hình dung cách tổ chức, tích hợp và khai thác dữ liệu công trình, hạ tầng trên môi trường số.

    Sự hiện diện của các đối tác doanh nghiệp như Viettel và Portcoast cho thấy tiềm năng phối hợp từ nghiên cứu đến ứng dụng. Nhà trường đóng vai trò nghiên cứu, phát triển mô hình và đào tạo; doanh nghiệp góp phần cung cấp công nghệ, dữ liệu khảo sát và năng lực triển khai; địa phương là nơi xác định nhu cầu, tổ chức ứng dụng và đánh giá hiệu quả. Đây cũng là cách hiện thực hóa thông điệp hợp tác “3 Nhà” được nhấn mạnh tại buổi lễ.

    Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Hoàng Nam, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nhấn mạnh, việc ký kết Thỏa thuận hợp tác là cơ sở quan trọng để phát huy thế mạnh của mỗi bên, gắn kết nghiên cứu khoa học với thực tiễn quản lý và phát triển địa phương. Đồng chí đề nghị hai bên tập trung nghiên cứu, giải quyết các vấn đề thực tiễn của tỉnh, nhất là quản lý tổng hợp tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai, bảo đảm an toàn hồ đập, quản lý vùng cửa sông, ven biển và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước và phòng, chống thiên tai; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn và khả năng làm chủ công nghệ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Trường Đại học Thủy lợi và tỉnh Quảng Trị ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030, thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà”

    Đồng chí Hoàng Nam, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh phát biểu tại buổi lễ

    Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tỉnh cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, khai thác hiệu quả dữ liệu và đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống. Đây cũng là cơ sở để tăng cường hợp tác với Trường Đại học Thủy lợi, cơ sở đào tạo, nghiên cứu có thế mạnh trong các lĩnh vực thủy lợi, tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai và phát triển hạ tầng.

    Trong giai đoạn 2026-2030, UBND tỉnh đề nghị hai bên tập trung nghiên cứu, tư vấn giải quyết các bài toán chiến lược của địa phương; ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước, thủy lợi. Đồng thời, nghiên cứu các giải pháp nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai, biến đổi khí hậu; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và huy động các nguồn lực khoa học, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

    Trường Đại học Thủy lợi và tỉnh Quảng Trị ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030, thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà”

    UBND tỉnh và Trường Đại học Thủy lợi ký kết thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026-2030

    Theo thỏa thuận được ký kết, hai bên sẽ đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực, gồm: Tư vấn giải quyết các vấn đề chiến lược của tỉnh; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý tài nguyên nước, thủy lợi, phòng, chống thiên tai; phát triển nông nghiệp xanh, bảo vệ tài nguyên và môi trường; lĩnh vực phát triển đô thị, kết cấu hạ tầng, năng lượng, logistics, du lịch, hỗ trợ cộng đồng, khởi nghiệp và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; thúc đẩy hợp tác trong nước, quốc tế và huy động nguồn lực.

    Trường Đại học Thủy lợi và tỉnh Quảng Trị ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030, thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà”

    Các đại biểu tham dự buổi lễ

    Việc ký kết thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026-2030 là cơ sở để UBND tỉnh và Trường Đại học Thủy lợi cụ thể hóa các chương trình phối hợp, phát huy thế mạnh của mỗi bên, từng bước đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực quản trị, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó với thiên tai và tạo thêm động lực cho tỉnh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

    Tin từ đoàn công tác. Ảnh: Báo và PTTH Quảng Trị

  • Vận hành thủy lợi thông minh bằng dữ liệu

    Vận hành thủy lợi thông minh bằng dữ liệu

    Khi nhắc đến các công trình thủy lợi, chúng ta thường nghĩ ngay đến những hệ thống kênh mương, hồ chứa, đập tràn hay những trạm bơm đồ sộ. Trong kỷ nguyên số hóa hiện nay, thủy lợi đang bước sang một trang hoàn toàn mới. Chuyển đổi số trong lĩnh vực này không chỉ đơn thuần là việc lắp đặt thêm thiết bị hay phần mềm vào công trình, mà cốt lõi là làm sao để biến lượng lớn dữ liệu thu thập được thành những quyết định vận hành thực tế – vừa kịp thời, vừa chính xác.

    Tọa đàm ‘Vận hành thủy lợi thông minh bằng dữ liệu” trên Báo Nông nghiệp và Môi trường sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự chuyển mình quan trọng này:

    https://nongnghiepmoitruong.vn/video/van-hanh-thuy-loi-thong-minh-bang-du-lieu-tv835625.html

  • Đề xuất giải pháp bản sao số ngành nông nghiệp và môi trường tại thành phố Bắc Ninh

    Đề xuất giải pháp bản sao số ngành nông nghiệp và môi trường tại thành phố Bắc Ninh

    Trường Đại học Thủy lợi phối hợp với Tổng Công ty Giải pháp Doanh nghiệp Viettel (Viettel Solutions) đề xuất giải pháp bản sao số ngành nông nghiệp và môi trường tại thành phố Bắc Ninh.

    Chiều ngày 13/10/2026, Trường Đại học Thủy lợi và Công ty Viettel Solutions có buổi làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Bắc Ninh về giải pháp xây dựng bản sao số ngành nông nghiệp và môi trường. Nội dung tập trung vào ứng dụng dữ liệu quan trắc, mô hình mô phỏng và các nền tảng công nghệ để giám sát nguy cơ, hỗ trợ dự báo, cảnh báo sớm và tổ chức ứng phó ngập lụt, đồng thời mở rộng phục vụ quản lý công trình, môi trường và sản xuất nông nghiệp.

    Đề xuất giải pháp bản sao số ngành nông nghiệp và môi trường tại thành phố Bắc Ninh

    Toàn cảnh buổi làm việc tại Trụ sở Sở Nông nghiệp và Môi trường – Thành phố Bắc Ninh

    Yêu cầu quản lý rủi ro trên toàn lưu vực

    Báo cáo tại buổi làm việc đưa ra vấn đề đánh giá rủi ro ngập lụt theo toàn lưu vực, xét mối liên hệ giữa các sông Cầu, Thương, Lục Nam, Đuống và hệ thống công trình tiêu thoát nước. Dân cư, khu công nghiệp và vùng sản xuất nông nghiệp đều chịu tác động của diễn biến dòng chảy, đòi hỏi thông tin phục vụ điều hành phải được tổng hợp và cập nhật kịp thời.

    Những khó khăn được nhận diện gồm thiếu quan sát liên tục tại nhiều vị trí; số liệu quan trắc, hình ảnh camera, hồ sơ công trình và mô hình còn phân tán; thông tin cảnh báo chưa gắn đầy đủ với đầu mối tiếp nhận và quá trình xử lý. Vì vậy, buổi trao đổi hướng tới hình thành ba năng lực: nắm bắt hiện trạng theo thời gian thực, đánh giá nguy cơ bằng mô hình và tổ chức ứng phó dựa trên dữ liệu.

     Kết nối quan trắc và mô hình trên nền tảng dữ liệu dùng chung

    Giải pháp bản sao số được xây dựng trên cơ sở kết hợp nền tảng quản lý video (VMS), nền tảng kết nối và quản lý thiết bị quan trắc (IoT Platform) và hệ thống thông tin địa lý (GIS).

    Trong đó, VMS liên kết camera với từng công trình và sự kiện, giúp cán bộ truy cập hình ảnh để xác minh cảnh báo. Camera quay quét kết hợp radar đo mực nước cung cấp thông tin về diễn biến nước và tình hình hiện trường. IoT Platform thu nhận, chuẩn hóa và quản lý tập trung dữ liệu từ nhiều loại thiết bị, tạo nguồn thông tin dùng chung cho bản đồ, mô hình, cảnh báo và báo cáo.

    Nền tảng GIS liên kết vị trí công trình với hồ sơ, số đo và camera, đồng thời thể hiện quan hệ giữa đê, hồ, kênh, cống, trạm bơm và vùng phục vụ. Việc chồng xếp các lớp dữ liệu giúp xác định khu vực có nguy cơ, đối tượng chịu ảnh hưởng và đầu mối xử lý. Báo cáo cũng nhấn mạnh yêu cầu kiểm tra chất lượng địa hình, thống nhất hệ tọa độ, hệ độ cao và nguồn gốc dữ liệu để bảo đảm giá trị của kết quả mô phỏng.

    Đề xuất giải pháp bản sao số ngành nông nghiệp và môi trường tại thành phố Bắc Ninh

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu tại buổi làm việc

    Sáu nhóm giải pháp phục vụ quản lý ngành

    Trên nền tảng dữ liệu tích hợp, Trường Đại học Thủy lợi và đối tác Viettel Solutions đề xuất sáu nhóm giải pháp:

    Thứ nhất, giám sát và cảnh báo an toàn đê điều: Các vị trí quan trắc được lựa chọn theo mức độ rủi ro, kết hợp theo dõi mực nước, thấm, áp lực và chuyển vị với camera, tuần tra thực địa. Ngưỡng cảnh báo cần được xác định phù hợp với đặc điểm từng đoạn đê và gắn với quy trình kiểm tra, ứng phó.

    Thứ hai, dự báo lũ và xây dựng bản đồ ngập lụt: Mô hình thủy văn, thủy lực sử dụng dữ liệu mưa, mực nước, địa hình và trạng thái vận hành công trình để tính toán phạm vi, độ sâu, thời điểm dự kiến ngập. Mục tiêu dự báo trước 6–24 giờ được đặt ra đối với lưu vực đủ dữ liệu và đã kiểm định, tùy diễn biến mưa lũ. Thông tin cảnh báo dự kiến được kết nối với Trung tâm điều hành thông minh (IOC), ứng dụng Công dân số và tháp báo lũ.

    Thứ ba, tối ưu vận hành tiêu úng và trạm bơm: Giải pháp xem xét đồng thời hồ, kênh, cống và bơm trong toàn hệ thống, hỗ trợ so sánh phương án vận hành theo mục tiêu giảm ngập, bảo vệ khu vực trọng yếu, sử dụng điện năng và bảo đảm an toàn.

    Thứ tư, quan trắc chất lượng nước và giám sát làng nghề: Dữ liệu đo liên tục được kết hợp với hình ảnh, mô hình lan truyền và lấy mẫu đối chứng để phát hiện bất thường, khoanh vùng cần kiểm tra và theo dõi kết quả xử lý.

    Thứ năm, xây dựng bản đồ số và cơ sở dữ liệu dùng chung: Hồ sơ, dữ liệu không gian, quan trắc và lịch sử công trình được liên kết theo mã quản lý thống nhất, có quy trình cập nhật, kiểm tra và chia sẻ dữ liệu theo quyền khai thác.

    Thứ sáu, phát triển nông nghiệp số và truy xuất nguồn gốc: Nội dung gồm quản lý vùng sản xuất, nhật ký mùa vụ, hỗ trợ dự báo năng suất, cảnh báo dịch hại, tưới thông minh và truy xuất theo lô sản phẩm; triển khai thí điểm, đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.

    Ưu tiên giám sát và cảnh báo ngập lụt trong năm 2027

    Phạm vi ưu tiên năm 2027 là xây dựng chuỗi giám sát theo thời gian thực, dự báo và cảnh báo ngập lụt. Các hợp phần gồm nền tảng IoT, thiết bị quan trắc mực nước, camera kết hợp radar, tháp báo lũ, dữ liệu địa hình và công trình, mô hình thủy lực, phần mềm giám sát và cảnh báo. Việc đưa hệ thống vào sử dụng đi cùng tích hợp dữ liệu, kiểm định, đào tạo và xây dựng quy trình trực vận hành.

    Gắn giải pháp khoa học và công nghệ với nhu cầu địa phương

    Các đề xuất của Trường Đại học Thủy lợi và đối tác Viettel Solutions nhận được sự quan tâm và đánh giá tích cực của lãnh đạo Sở NN&MT thành phố Bắc Ninh.

    Nội dung buổi làm việc hướng tới kết nối giải pháp mô hình hóa với hạ tầng công nghệ và nhu cầu quản lý thực tiễn tại Bắc Ninh. Cách tiếp cận này tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện đề xuất, hướng đến nâng cao khả năng cảnh báo thiên tai, bảo vệ công trình và hỗ trợ quản lý ngành nông nghiệp và môi trường bằng dữ liệu. Trường Đại học Thủy lợi xác định hợp tác với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Bắc Ninh cùng đối tác Tổng Công ty Giải pháp Doanh nghiệp Viettel là mô hình chuẩn về gắn kết  Ba Nhà “Nhà trường – Chính quyền – Doanh nghiệp” trong giải quyết các vấn đề lớn của thành phố Bắc Ninh.

    Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế

  • Trường Đại học Thủy lợi tham dự buổi làm việc với Petrovietnam

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự buổi làm việc với Petrovietnam

     

    Chiều 28/9/2026, tại trụ sở Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi đã tham dự buổi làm việc giữa Tập đoàn và các trường đại học về hợp tác khoa học – công nghệ.

    Tham dự buổi làm việc có PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam Phan Tử Giang cùng lãnh đạo các trường: Đại học Thủy lợi, Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải, Đại học Giao thông Vận tải và Đại học Xây dựng Hà Nội.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, đã giới thiệu năng lực của Nhà trường cùng mô hình liên kết “ba nhà” (Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp). Nhà trường đề xuất hợp tác với Petrovietnam theo bốn hướng: công trình biển và điện gió ngoài khơi; an toàn hạ tầng năng lượng ven biển; bản sao số, viễn thám, trí tuệ nhân tạo; và kinh tế xanh – kinh tế tuần hoàn.

    Kết luận buổi làm việc, Phó Tổng Giám đốc Phan Tử Giang cho biết Tập đoàn sẽ tổ chức các buổi làm việc chuyên sâu về 10 nhóm nhiệm vụ khoa học chiến lược và 34 sản phẩm công nghệ chiến lược. Trên cơ sở định hướng phát triển đa ngành, đa lĩnh vực theo Nghị quyết 57, Tập đoàn đề nghị các trường nghiên cứu các nhóm nhiệm vụ và sản phẩm công nghệ này để đề xuất các nhiệm vụ R&D.

    Buổi làm việc mở ra cơ hội hợp tác thiết thực, góp phần thực hiện định hướng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự buổi làm việc với Petrovietnam
    Trường Đại học Thủy lợi tham dự buổi làm việc với Petrovietnam
    Trường Đại học Thủy lợi tham dự buổi làm việc với Petrovietnam

     

  • Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

    Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

    Ngày 17/9/2026, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo khoa học “Các giải pháp nạo vét, tận dụng vật liệu để gây bồi, phục hồi vùng bãi, phát triển rừng ngập mặn ven biển và giải pháp chuyển nước tạo nguồn nhằm tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển tỉnh Cà Mau”. Hội thảo do ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, chủ trì. Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị trình bày tham luận mở đầu Chuyên đề 1, khẳng định vị thế cơ sở đào tạo, nghiên cứu đầu ngành về thủy lợi, tài nguyên nước và kỹ thuật ven biển, đồng thời mở ra định hướng hợp tác toàn diện giữa Nhà trường và tỉnh Cà Mau.

    Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

    Toàn cảnh Hội thảo khoa học ngày 17/9/2026 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau

    Bài toán của một địa phương ba mặt giáp biển

    Hội thảo cụ thể hóa Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 166/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, quy tụ khoảng 100 đại biểu từ các Bộ, Cục, viện, trường, lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành và 64 xã, phường.

    Phát biểu khai mạc, ông Lê Văn Sử nêu rõ thách thức của địa phương có khoảng 310 km bờ biển: trên 200 km bờ biển và gần 1.100 km bờ sông sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở; bồi lắng cửa sông, kênh rạch làm giảm khả năng tiêu thoát và giao thông thủy; nước ngọt khan hiếm trong khi nước ngầm cạn kiệt. Về quản lý, hệ thống thủy lợi vận hành thiếu đồng bộ, chi phí tư vấn thiết kế nạo vét chiếm tới 20–30 % tổng mức đầu tư, nhu cầu đầu tư vượt xa khả năng ngân sách. Tỉnh đặt yêu cầu chuyển đổi từ ứng phó sang chủ động quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu và dự báo, từ đầu tư công sang huy động tổng hợp nguồn lực xã hội; nội dung đổi mới cơ chế quản lý, duy tu hệ thống thủy lợi được giao cho Trường Đại học Thủy lợi chủ trì tham luận.

    Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

    Ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, phát biểu khai mạc Hội thảo

    Bốn chuyển dịch trong khung đổi mới do Trường Đại học Thủy lợi đề xuất

    Tham luận “Đổi mới công tác quản lý, giải pháp kỹ thuật và cơ chế thực hiện duy tu đối với hoạt động nạo vét hệ thống thủy lợi, giao thông thủy vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Cà Mau” của nhóm tác giả PGS.TS. Trần Thanh Tùng và PGS.TS. Đinh Nhật Quang xuất phát từ luận điểm: nạo vét phải được quản trị theo vòng đời, không phải một gói thầu nạo vét đơn lẻ. Khung đề xuất kết tinh kinh nghiệm nghiên cứu, tư vấn nhiều năm của Nhà trường về động lực bùn cát, xói lở bờ biển và quản lý thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Khung đổi mới gồm bốn chuyển dịch:

    Thứ nhất, chuyển từ quản lý phân tán sang quản lý tích hợp theo “hành lang thủy đa mục tiêu”: mỗi hành lang có mã tuyến, mặt cắt chuẩn, chuỗi đo sâu và hồ sơ vật liệu nạo vét dùng chung giữa các ngành; mọi quyết định nạo vét phải trả lời được bồi lấp ở đâu, tốc độ bao nhiêu, nạo vét khi nào và bùn sẽ đi đâu.

    Thứ hai, chuyển từ thanh toán theo khối lượng nạo vét sang hợp đồng bảo trì tuyến kênh dựa trên kết quả (PBC): nhà thầu được thanh toán theo việc duy trì cấp độ dịch vụ của tuyến kênh (đảm bảo cao trình đáy, bề rộng, số ngày thông tuyến, độ đục) trong 2–5 năm, có cơ chế thưởng – phạt và kiểm tra độc lập.

    Thứ ba, chuyển từ nhận chìm, chôn lấp vật liệu nạo vét sang kinh tế tuần hoàn, tái sử dụng vật liệu nạo vét: vật liệu nạo vét phải được phân loại tại nguồn, khử nước, kiểm định mặn – phèn – ô nhiễm, đăng ký theo lô có mã truy xuất trước khi tái sử dụng; bùn đạt chuẩn dùng để gây bồi tạo bãi, gia cố chân đê, tạo nền phục hồi rừng ngập mặn, với điều kiện phải quy hoạch trước mạng lưới bãi tiếp nhận.

    Thứ tư, chuyển từ khảo sát rời rạc sang quản lý bằng dữ liệu số, mô hình hóa và quan trắc liên tục: sử dụng kết hợp đo sâu đa tia và GNSS/RTK; UAV, ảnh vệ tinh quang học và SAR; cùng mô hình thủy động lực – bùn cát, tích hợp trên một dashboard cấp tỉnh. Đây là lĩnh vực Nhà trường có thế mạnh nổi bật với các nhóm nghiên cứu về viễn thám, trí tuệ nhân tạo và Digital Twin cho hệ thống sông – biển.

    Tham luận đề xuất thí điểm trên kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp và trục kênh Bắc – Nam theo lộ trình 3–5 năm, cùng bảy kiến nghị chính sách, nổi bật là hướng dẫn liên ngành về hành lang thủy đa mục tiêu, bổ sung định mức đo sâu số hóa và khử nước bùn, chấp nhận hợp đồng PBC trong cơ chế dự toán và công nhận vật liệu nạo vét đạt chuẩn là dòng vật liệu hợp pháp có chứng từ truy xuất.

    Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

    PGS.TS. Trần Thanh Tùng, Trường Đại học Thủy lợi, trình bày tham luận mở đầu Chuyên đề 1 tại Hội thảo.

    Sự ghi nhận của địa phương và cam kết của Nhà trường

    Các đề xuất của Trường Đại học Thủy lợi nhận được sự quan tâm và đánh giá tích cực của lãnh đạo tỉnh và các Cục chuyên môn. Cách tiếp cận “quản trị theo vòng đời” và yêu cầu xác định nơi đến của vật liệu trước khi nạo vét được nhìn nhận là phù hợp với thực tiễn, nơi bãi tiếp nhận đang là nút thắt lớn nhất của các dự án nạo vét xã hội hóa; đề xuất thí điểm có kiểm soát được xem là bước đi khả thi để tạo cơ sở thực chứng cho việc điều chỉnh định mức và hướng dẫn liên ngành.

    Phát biểu tại Hội thảo trong vai trò đồng chủ trì, GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Nhà trường, chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật bờ biển, khẳng định cam kết ở cấp cao nhất của Trường Đại học Thủy lợi trong việc đồng hành cùng tỉnh Cà Mau giải quyết các bài toán về sạt lở, bồi lắng và an ninh nguồn nước. Theo đó, Nhà trường và Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất xúc tiến ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) toàn diện trên bốn trụ cột: nghiên cứu và tư vấn chính sách về nạo vét, quản lý bùn cát, bảo vệ bờ; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực kỹ thuật cho các sở, ngành và 64 xã, phường; chuyển giao công nghệ quan trắc viễn thám, mô hình số và hệ thống hỗ trợ ra quyết định; phối hợp đề xuất nhiệm vụ khoa học công nghệ và huy động các dự án hợp tác quốc tế mà Nhà trường là đối tác.

    Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi (thứ ba từ trái sang), phát biểu khẳng định cam kết đồng hành của Nhà trường với tỉnh Cà Mau

    Tầm nhìn và cam kết đồng hành

    Với hơn sáu thập kỷ đào tạo và nghiên cứu, Trường Đại học Thủy lợi định hướng trở thành đại học nghiên cứu đa ngành hàng đầu Việt Nam và khu vực về thủy lợi, tài nguyên nước, môi trường và phòng, chống thiên tai, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long là địa bàn ưu tiên chiến lược, với Phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối triển khai. Nhà trường sẵn sàng đồng hành cùng tỉnh ngay trong các bước tiếp theo: xây dựng bộ dữ liệu bồi lấp các cửa biển, kênh rạch toàn tỉnh dùng chung cho các ngành; thiết kế và giám sát các tuyến thí điểm theo chuỗi “đo – dự báo – nạo vét – khử nước – kiểm định – tái sử dụng vật liệu nạo vét”; chuyển giao quy trình theo dõi bồi – xói bằng viễn thám và mô hình số.

    Kết quả Hội thảo sẽ được Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp, kiến nghị các Bộ, ngành Trung ương hoàn thiện cơ chế, chính sách. Trường Đại học Thủy lợi xác định hợp tác với tỉnh Cà Mau là mô hình mẫu về gắn kết “nhà trường – chính quyền – doanh nghiệp” trong giải quyết các vấn đề lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế

  • Cà Mau tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ với Trường Đại học Thuỷ lợi

    Cà Mau tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ với Trường Đại học Thuỷ lợi

    Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là những nội dung trọng tâm trong thoả thuận hợp tác giai đoạn 2026-2030 giữa Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau với Trường Đại học Thuỷ lợi.

    Lễ ký kết thoả thuận hợp tác giữa hai đơn vị diễn ra vào chiều 17/9.

    Tham dự có TS Nguyễn Phương Bắc, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau; GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi.

    Cà Mau tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ với Trường Đại học Thuỷ lợi

    TS Nguyễn Phương Bắc, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau, nhấn mạnh sự cần thiết của việc hợp tác với Trường Đại học Thuỷ lợi trong giai đoạn phát triển mới của tỉnh.

    Theo thoả thuận hợp tác, hai đơn vị phối hợp triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, công nghệ chiến lược; đồng thời phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ.

    Cà Mau tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ với Trường Đại học Thuỷ lợi

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi, mong muốn sự hợp tác giữa hai đơn vị tạo ra những sản phẩm có giá trị thực tiễn.

    Một trong những nội dung trọng tâm là phối hợp đề xuất, đăng ký tuyển chọn, đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, với nội dung tập trung giải quyết những vấn đề thực tiễn, gắn với triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

    Bên cạnh đó, phối hợp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.

    Cà Mau tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ với Trường Đại học Thuỷ lợi

     Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau và Trường Đại học Thuỷ lợi đại diện ký kết thoả thuận hợp tác giai đoạn 2026-2030 giữa hai đơn vị.

    Cụ thể, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau sẽ thông báo, đề xuất đặt hàng các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tư vấn, kết nối các nhiệm vụ phù hợp với nhu cầu thực tiễn của địa phương.

    Trường Đại học Thuỷ lợi huy động các nhà khoa học, đơn vị nghiên cứu tham gia đề xuất và thực hiện các nhiệm vụ thuộc thế mạnh của trường, ưu tiên các lĩnh vực thiết thực với Cà Mau như thuỷ lợi, môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu.

    Cà Mau tăng cường hợp tác khoa học, công nghệ với Trường Đại học Thuỷ lợi

    GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi, tặng quà lưu niệm đến TS. Nguyễn Phương Bắc, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau, nhân dịp ký kết thoả thuận hợp tác.

    Lam Khánh – Tiến Luận

    Nguồn: https://baocamau.vn/ca-mau-tang-cuong-hop-tac-khoa-hoc-cong-nghe-voi-truong-dai-hoc-thuy-loi-a132477.html

     

  • Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Ngày 15/9/2026, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo khoa học “Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp tổng thể cấp nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh”.

    Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu giải pháp tổng thể cấp nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh”, mã số NV.CT.H49.2025.29, do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì thực hiện.

    Tham dự Hội thảo có đại diện Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Chi cục Thủy lợi, UBND xã Vĩnh Thực; Công ty Cổ phần Nước sạch Quảng Ninh, Chi nhánh Nước Móng Cái, Công ty Cổ phần Kinh doanh nước sạch Hải Dương; cùng các chuyên gia, nhà khoa học đến từ Trường Đại học Thủy lợi, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Thủy lợi Việt Nam và Hội Cấp Thoát Nước Việt Nam.

    Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Đến nay, nhóm nghiên cứu đã cơ bản hoàn thành các nội dung chính của nhiệm vụ về điều tra, khảo sát; đánh giá hiện trạng và tiềm năng nguồn nước; dự báo nhu cầu và khả năng đáp ứng cấp nước; nghiên cứu các giải pháp nguồn nước, phát triển hệ thống cấp nước và xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ quản lý.

    Tại Hội thảo, nhóm nghiên cứu trình bày 04 báo cáo khoa học, tập trung vào các kết quả chính của nhiệm vụ; đánh giá nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước và khả năng đáp ứng đến năm 2040; đề xuất giải pháp tổng thể cấp nước; và giới thiệu cơ sở dữ liệu số, WebGIS, Dashboard phục vụ quản lý nguồn nước và cấp nước.

    Các kết quả bước đầu cho thấy việc bảo đảm cấp nước lâu dài cho Vĩnh Thực cần khai thác hợp lý nguồn nước tại chỗ, phát huy khả năng tích trữ và điều tiết của hệ thống hồ chứa, xem xét liên kết các nguồn và phát triển hệ thống cấp nước phù hợp với nhu cầu từng giai đoạn.

    Phiên thảo luận nhận được nhiều ý kiến từ các cơ quan quản lý, đơn vị cấp nước, chuyên gia và nhà khoa học, tập trung vào khả năng khai thác và liên kết nguồn nước; phương án phát triển công trình đầu mối và mạng lưới; hiệu quả đầu tư, vận hành; bảo vệ nguồn nước và ứng dụng cơ sở dữ liệu số trong quản lý.

    Các ý kiến tại Hội thảo sẽ được Ban chủ nhiệm nhiệm vụ tiếp thu, rà soát và bổ sung để hoàn thiện các kết quả nghiên cứu và sản phẩm của nhiệm vụ, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng ứng dụng tại địa phương.

    Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Nước sạch Quảng Ninh trao đổi tại Hội thảo

    Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Ông Phạm Xuân Dương – Phó Trưởng phòng Tổng hợp – Quản lý khoa học Sở Khoa học Công nghệ Quảng Ninh phát biểu tại Hội thảo

    Hội thảo khoa học về giải pháp cấp nước bền vững cho xã Vĩnh Thực, tỉnh Quảng Ninh

    Ông Vũ Mạnh Huy – Phó Chi cục Trưởng Chi cục Thủy lợi Quảng Ninh trao đổi tại hội thảo

    Phòng KHCN&HTQT

  • Vận hành bậc thang thủy điện sông Đà trong điều kiện nâng cao mực nước hồ thuỷ điện Sơn La

    Vận hành bậc thang thủy điện sông Đà trong điều kiện nâng cao mực nước hồ thuỷ điện Sơn La

    Trong khuôn khổ triển khai đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học nâng mực nước dâng bình thường hồ thủy điện Sơn La góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng”, ngày 06–07/9/2026, tại tỉnh Sơn La, Trường Đại học Thủy lợi (TLU) phối hợp với Công ty Thủy điện Sơn La (EVNHPCSONLA) tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Vận hành phát điện bậc thang thủy điện sông Đà trong điều kiện nâng cao mực nước hồ thủy điện Sơn La”.

    Tọa đàm có sự tham dự của các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện cơ quan quản lý và đơn vị vận hành công trình thủy điện. Về phía Bộ Khoa học và Công nghệ có GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh – Chủ nhiệm Chương trình KC.14/21-30, Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030 “Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước”; Chuyên gia Nguyễn Tài Sơn – nguyên Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 1 (PECC1).

    Về phía Công ty Thủy điện Sơn La có ông Lưu Khánh Toàn – Phó Giám đốc cùng lãnh đạo, cán bộ các phòng, trung tâm của Công ty. Đoàn công tác của Trường Đại học Thủy lợi do PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng, Chủ nhiệm đề tài dẫn đầu, cùng các chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực an toàn đập, thủy điện, thủy văn và môi trường.

    Vận hành bậc thang thủy điện sông Đà trong điều kiện nâng cao mực nước hồ thuỷ điện Sơn La

    Nâng mực nước hồ Sơn La – bài toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

    Phát biểu khai mạc Tọa đàm, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái nhấn mạnh nghiên cứu nâng mực nước dâng bình thường hồ thủy điện Sơn La là một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến nhiều vấn đề chiến lược như an toàn công trình, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng và các vấn đề môi trường – xã hội.

    Theo PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái, đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp, đòi hỏi phải xem xét đồng thời nhiều khía cạnh từ an toàn công trình, vận hành hệ thống thủy điện, tài nguyên nước, năng lượng đến các vấn đề môi trường và xã hội. Vì vậy, việc tổ chức các tọa đàm, hội thảo khoa học với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và đơn vị trực tiếp vận hành công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm chứng, hoàn thiện các kết quả nghiên cứu.

    Vận hành bậc thang thủy điện sông Đà trong điều kiện nâng cao mực nước hồ thuỷ điện Sơn La

    PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng, Chủ nhiệm đề tài phát biểu tại Hội thảo

    Làm rõ các vấn đề trong vận hành bậc thang thủy điện sông Đà

    Tại Tọa đàm, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận về những vấn đề có liên quan trực tiếp đến vận hành phát điện của hệ thống thủy điện trên bậc thang sông Đà trong điều kiện xem xét nâng cao mực nước hồ thủy điện Sơn La.

    Các nội dung nghiên cứu và thảo luận tập trung vào ba nhóm vấn đề chính: tác động tương hỗ trong quá trình vận hành phát điện của các nhà máy thủy điện trên bậc thang sông Đà; ảnh hưởng của các đặc tính năng lượng đến quá trình vận hành phát điện của Nhà máy thủy điện Sơn La và các công trình liên quan; đồng thời phân tích tác động của các điều kiện, ràng buộc pháp lý đối với quá trình vận hành phát điện của Nhà máy thủy điện Sơn La và các công trình trên bậc thang sông Đà.

    Các ý kiến trao đổi tại Tọa đàm không chỉ tập trung vào bài toán vận hành riêng lẻ của Nhà máy thủy điện Sơn La mà đặt công trình trong mối quan hệ tổng thể với Nhà máy thủy điện Lai Châu và toàn bộ bậc thang thủy điện sông Đà. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá toàn diện những tác động có thể phát sinh khi thay đổi mực nước hồ Sơn La, từ đó đề xuất các giải pháp vận hành phù hợp, bảo đảm hiệu quả phát điện và an toàn hệ thống.

    EVNHPCSONLA: Kết quả nghiên cứu có giá trị thiết thực đối với công tác vận hành

    Phát biểu tại Tọa đàm, ông Lưu Khánh Toàn – Phó Giám đốc Công ty Thủy điện Sơn La đánh giá cao nội dung nghiên cứu của đề tài cũng như các kết quả được trình bày tại Tọa đàm.

    Theo ông Lưu Khánh Toàn, các kết quả nghiên cứu đã góp phần giúp Công ty thuỷ điện Sơn La – đơn vị phối hợp thực hiện đồng thời là đơn vị tiếp nhận sản phẩm của đề tài – có thêm cơ sở khoa học để làm rõ những vấn đề cần quan tâm trong vận hành phát điện của các nhà máy thủy điện Lai Châu, Sơn La nói riêng và toàn bộ bậc thang thủy điện sông Đà nói chung.

    Công ty Thủy điện Sơn La khẳng định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Trường Đại học Thủy lợi, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong phạm vi có thể để cung cấp thông tin, trao đổi chuyên môn và hỗ trợ quá trình triển khai nghiên cứu, góp phần đưa đề tài đạt được những kết quả khoa học và thực tiễn cao nhất.

    Vận hành bậc thang thủy điện sông Đà trong điều kiện nâng cao mực nước hồ thuỷ điện Sơn La

    Ông Lưu Khánh Toàn – PGĐ Công ty Thuỷ điện Sơn La phát biểu ý kiến

    Mở ra hướng tiếp cận mới cho an ninh nguồn nước

    Đánh giá về kết quả nghiên cứu, GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh cho rằng đề tài đã mở ra một hướng tiếp cận mới, có ý nghĩa trong nghiên cứu và khai thác hiệu quả tài nguyên nước.

    GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh cho biết, kết quả rà soát các vị trí tiềm năng còn lại có khả năng xây dựng hồ chứa trên phạm vi cả nước cho thấy tổng dung tích hữu ích có thể tạo thêm hiện nay chưa đến 2 tỷ m³. Trong khi đó, nếu có thể nâng mực nước dâng bình thường hồ thủy điện Sơn La theo hướng tiếp cận của đề tài, dung tích hữu ích có thể tăng thêm hàng trăm triệu mét khối.

    Theo GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh, đây là con số rất đáng chú ý, đặc biệt trong bối cảnh an ninh nguồn nước đang đứng trước những thách thức ngày càng lớn. Việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả khai thác một công trình hồ chứa hiện hữu có quy mô lớn như hồ Sơn La, nếu được chứng minh đầy đủ về cơ sở khoa học, kỹ thuật và an toàn, có thể mang lại giá trị rất lớn đối với bài toán bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.

    GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh cũng đánh giá cao tiến độ và chất lượng các kết quả nghiên cứu của đề tài. Trong hơn 6 tháng đầu triển khai, đề tài đã thực hiện một khối lượng công việc lớn, với nhiều kết quả có chất lượng cao, tạo nền tảng quan trọng cho các nội dung nghiên cứu tiếp theo.

    Vận hành bậc thang thủy điện sông Đà trong điều kiện nâng cao mực nước hồ thuỷ điện Sơn LaGS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh phát biểu ý kiến

    Gắn nghiên cứu khoa học với yêu cầu thực tiễn của ngành năng lượng

    Chuyên gia Nguyễn Tài Sơn – nguyên Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 1 (PECC1) đánh giá các kết quả được trình bày tại Tọa đàm không chỉ có ý nghĩa đối với riêng đề tài mà còn có khả năng mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, liên quan đồng thời đến các lĩnh vực năng lượng, tài nguyên nước và nông nghiệp.

    Trong bối cảnh cơ cấu nguồn điện đang có những thay đổi nhanh chóng, nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng và yêu cầu khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên nước ngày càng cao, chuyên gia Nguyễn Tài Sơn cho rằng hướng nghiên cứu của đề tài đã tiếp cận đúng những yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, đặc biệt là bài toán bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh nguồn nước.

    Những trao đổi tại Tọa đàm cũng cho thấy yêu cầu nghiên cứu nâng mực nước hồ Sơn La không thể được xem xét một cách riêng lẻ, mà cần đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa an toàn công trình, vận hành hệ thống điện, khai thác tài nguyên nước và các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

    Tăng cường hợp tác giữa cơ sở nghiên cứu và đơn vị vận hành

    Thành công của Tọa đàm cùng những kết quả bước đầu của đề tài tiếp tục khẳng định vai trò của Trường Đại học Thủy lợi trong nghiên cứu, cung cấp các luận cứ khoa học và giải pháp công nghệ phục vụ những vấn đề lớn của ngành năng lượng và tài nguyên nước, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

    Sự phối hợp chặt chẽ giữa Trường Đại học Thủy lợi và Công ty Thủy điện Sơn La là một trong những yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm tiến độ và chất lượng của đề tài cấp Nhà nước. Mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo – nghiên cứu và đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành công trình không chỉ giúp các kết quả nghiên cứu bám sát yêu cầu thực tiễn mà còn tạo điều kiện để các sản phẩm khoa học nhanh chóng được kiểm chứng, hoàn thiện và ứng dụng vào thực tế.

    Đây cũng là hướng hợp tác có ý nghĩa lâu dài, góp phần tăng cường kết nối giữa khoa học và thực tiễn, đưa các kết quả nghiên cứu vào phục vụ trực tiếp công tác quản lý, vận hành hệ thống thủy điện, đồng thời đóng góp vào mục tiêu bảo đảm an toàn công trình, an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng quốc gia.

    P.KHCN&HTQT

  • Đi tìm giải pháp tổng thể giảm ngập đô thị Đà Lạt

    Đi tìm giải pháp tổng thể giảm ngập đô thị Đà Lạt

     

    Ngày 11/9/2026 tại Đà Lạt, Trường Đại học Thủy lợi phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị khu vực Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”. Hội thảo là diễn đàn kết nối kết quả nghiên cứu của Nhà trường với yêu cầu quản lý, quy hoạch và đầu tư hạ tầng của địa phương, hướng tới một cách tiếp cận đồng bộ, theo lưu vực và thích ứng dài hạn.

    Đi tìm giải pháp tổng thể giảm ngập đô thị Đà Lạt

    Hội thảo khoa học về giải pháp phòng, chống ngập úng đô thị khu vực Đà Lạt. Ảnh: Ban Tổ chức

    Tham dự hội thảo có TS. Lương Thanh Sơn – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lâm Đồng; PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm – Trưởng phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Thủy lợi; ThS. Trần Văn Vững – Phó Viện trưởng Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng miền Trung; cùng đại diện các sở, ban, ngành, địa phương, các chuyên gia và nhà khoa học trong lĩnh vực thủy lợi, quy hoạch, xây dựng, môi trường và khí tượng thủy văn, các cơ quan báo đài trung ương và địa phương.

    Hội thảo tập trung trao đổi kết quả Đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm thiểu ngập lụt cho khu vực nội ô thành phố Đà Lạt” do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì, PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm làm chủ nhiệm. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh các điểm ngập cục bộ tại Đà Lạt xuất hiện thường xuyên hơn, diễn biến nhanh và tác động ngày càng rõ tới giao thông, dân sinh, sản xuất và cảnh quan của đô thị du lịch.

    Tiếp cận bài toán ngập từ đặc thù đô thị miền núi

    Nhóm nghiên cứu xác định ngập đô thị Đà Lạt là kết quả cộng hưởng của nhiều yếu tố. Mưa cường độ lớn trong thời gian ngắn là tác nhân kích hoạt; trong khi đô thị hóa, gia tăng bề mặt không thấm, suy giảm dung tích hồ điều tiết, thu hẹp hoặc bồi lắng lòng suối, điểm nghẽn tại cầu cống và hạn chế của hệ thống thoát nước làm gia tăng mức độ ngập.

    Với địa hình dốc và thời gian tập trung nước ngắn, bài toán ngập được tiếp cận theo lưu vực, tập trung vào ba trục thủy hệ chính: suối Phan Đình Phùng, suối Mê Linh – hồ Xuân Hương và suối Cam Ly. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát thực địa, đo bổ sung 97 mặt cắt trên khoảng 18,5 km suối, bay chụp UAV và xây dựng bộ mô hình tích hợp để tái hiện vùng ngập, đánh giá nguyên nhân và hiệu quả các kịch bản can thiệp.

    Đi tìm giải pháp tổng thể giảm ngập đô thị Đà Lạt

    Nhóm nghiên cứu Trường Đại học Thủy lợi trình bày kết quả nghiên cứu tại hội thảo. Ảnh: Ban Tổ chức

    Kết quả mô phỏng cho thấy kịch bản tổng hợp các hạng mục công trình có thể giảm khoảng 34% tổng diện tích ngập và giảm rõ rệt diện tích ngập sâu. Tuy nhiên, rủi ro vẫn còn đáng kể, cho thấy không thể chỉ dựa vào mở rộng hệ thống tiêu thoát mà cần đồng thời quản lý dòng chảy tại nguồn, bảo vệ hành lang suối, duy tu hệ thống và cảnh báo sớm.

    Kết hợp giải pháp công trình và phi công trình

    Nhóm giải pháp công trình tập trung khôi phục, nạo vét và nâng cao khả năng điều tiết của các hồ; cải tạo các đoạn suối, cống đang tạo điểm nghẽn; hoàn thiện mạng lưới thoát nước theo từng lưu vực. Các giải pháp phi công trình gồm bảo vệ hành lang suối; kiểm soát lấn chiếm; duy tu, vệ sinh cửa thu; quản lý rác thải; chủ động vận hành hồ đón lũ; tăng khả năng trữ, thấm nước tại chỗ và kiểm soát dòng chảy từ khu vực nhà kính.

    Các đại biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm dựa trên trạm đo mưa, cảm biến mực nước và dữ liệu truyền liên tục. Thông tin quan trắc cần được tích hợp với mô hình thủy văn – thủy lực, bản đồ nguy cơ để hỗ trợ cơ quan quản lý ra quyết định và cảnh báo kịp thời cho cộng đồng.

    Đi tìm giải pháp tổng thể giảm ngập đô thị Đà Lạt

    Các ý kiến tại hội thảo góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và tính khả thi của nhóm giải pháp đề xuất. Ảnh: Ban Tổ chức

    Phát biểu kết luận, PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm cho biết nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu ý kiến của cơ quan quản lý và các chuyên gia, tiếp tục cập nhật số liệu, hoàn thiện giải pháp theo hướng khả thi, có thứ tự ưu tiên và phù hợp với nguồn lực của tỉnh Lâm Đồng.

    Hội thảo tiếp tục khẳng định vai trò của Trường Đại học Thủy lợi trong nghiên cứu, chuyển giao tri thức và đồng hành cùng địa phương giải quyết các bài toán thực tiễn. Các kết quả của đề tài sẽ cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quy hoạch, lựa chọn danh mục đầu tư, tổ chức vận hành và xây dựng hệ thống cảnh báo ngập đô thị.

    Thông điệp được nhấn mạnh tại hội thảo là chống ngập cho Đà Lạt không chỉ là mở rộng cống hay xử lý từng điểm ngập, mà cần quản lý nước theo lưu vực, phục hồi năng lực trữ – tiêu thoát, kiểm soát dòng chảy tại nguồn và chủ động cảnh báo; qua đó góp phần xây dựng Đà Lạt xanh, an toàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Đà Lạt và bài toán ngập cục bộ: https://drive.google.com/file/d/1IWUSCTDOvV-8xyTTmoHBKxQFO-7-OOLh/view?usp=sharing

    Tư liệu tham khảo: Báo Lâm Đồng; Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lâm Đồng; báo cáo và hình ảnh do Ban Tổ chức, nhóm nghiên cứu cung cấp.

     

  • Hội thảo khoa học về mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn sau khi đóng bãi

    Hội thảo khoa học về mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn sau khi đóng bãi

    Ngày 26/8/2026, Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo khoa học lần thứ 3 thuộc nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng mô hình quản lý và tái sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn sau khi đóng bãi bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường”. Hội thảo được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp tại Trường Đại học Thủy lợi và trực tuyến qua nền tảng Zoom.

    Chủ trì Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương – Phó Trưởng Khoa phụ trách Khoa Hóa và Môi trường, Trường Đại học Thủy lợi – phát biểu khai mạc, giới thiệu mục tiêu, nội dung Hội thảo và các thành phần tham dự. Hội thảo có sự tham gia của đại diện Cục Môi trường, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên, các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực môi trường, xây dựng, kiến trúc, quy hoạch và cảnh quan, đại diện các đơn vị liên quan cùng Ban chủ nhiệm nhiệm vụ. Đặc biệt, hội thảo còn có sự tham gia của ông Russell Hirst – Giám đốc điều hành công ty Wiser Environment Vietnam. Đây là công ty tư vấn môi trường và xã hội thuộc tập đoàn Wiser Environment (Vương quốc Anh), có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, cải tạo bãi chôn lấp.

    Hội thảo khoa học về mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn sau khi đóng bãi

    Toàn cảnh Hội thảo

    Hội thảo tập trung xin ý kiến góp ý cho một số mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp sau khi đóng bãi nhằm khai thác an toàn, hiệu quả quỹ đất bãi chôn lấp sau khi kết thúc hoạt động. Các hướng tái sử dụng được đề xuất gồm không gian sinh hoạt cộng đồng, vui chơi giải trí và cảnh quan nông – lâm nghiệp, công trình năng lượng tái tạo, công trình xây dựng, cùng các điều kiện cần đáp ứng đối với từng loại hình, trong đó có phương án thiết kế thí điểm mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp Noong Bua, Điện Biên.

    Đối với mô hình thí điểm tại bãi chôn lấp Noong Bua, Điện Biên, nhóm nghiên cứu đề xuất hướng tạo không gian sinh thái, cảnh quan và hoạt động cộng đồng, đồng thời bảo đảm yêu cầu kiểm soát nước rỉ rác, khí bãi chôn lấp, độ ổn định nền, thoát nước mặt và an toàn môi trường.

    Hội thảo khoa học về mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn sau khi đóng bãi

    Nhóm nghiên cứu giới thiệu phương án thiết kế thí điểm mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp Noong Bua, Điện Biên

    Hội thảo nhận được nhiều ý kiến trao đổi từ các chuyên gia tham dự trực tiếp và trực tuyến. Các ý kiến tập trung vào việc hoàn thiện bộ tiêu chí lựa chọn mô hình, đánh giá điều kiện địa chất, độ ổn định nền, kiểm soát khí rác, nước rỉ rác và nước ngầm, lựa chọn cây xanh, thoát nước mưa, cũng như sự phù hợp của phương án tái sử dụng với quy hoạch và điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương.

    Riêng với Noong Bua, các chuyên gia lưu ý đặc điểm địa hình đồi dốc, nguy cơ sụt lún – sạt lở khi mưa lớn, cấu tạo lớp phủ, hệ thống kiểm soát khí bãi chôn lấp và yêu cầu tăng cường quan trắc môi trường trong quá trình tái sử dụng.

    Các chuyên gia cũng đề nghị lượng hóa rõ các tiêu chí môi trường, kỹ thuật, phân tích ưu, nhược điểm và tính khả thi của từng mô hình, đặc biệt đối với các phương án năng lượng tái tạo và xây dựng công trình trên nền bãi chôn lấp.

    Hội thảo khoa học về mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn sau khi đóng bãi

    Các chuyên gia trao đổi, góp ý nhằm hoàn thiện các sản phẩm nghiên cứu của nhiệm vụ

    Bên cạnh yêu cầu kỹ thuật, Hội thảo cũng trao đổi về tính khả thi khi áp dụng các mô hình trong điều kiện Việt Nam, sự gắn kết với đặc trưng văn hóa – cảnh quan địa phương, đối tượng sử dụng và hiệu quả kinh tế – xã hội trong quản lý, vận hành lâu dài.

    Các ý kiến đóng góp là cơ sở quan trọng để Ban chủ nhiệm tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chí, các mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp sau đóng bãi và phương án thí điểm tại Noong Bua, Điện Biên.

    Hội thảo khoa học về mô hình tái sử dụng bãi chôn lấp chất thải rắn sau khi đóng bãi

    Các đại biểu tham dự Hội thảo

    Kết thúc Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Thị Thế Nguyên – Chủ nhiệm nhiệm vụ trân trọng cảm ơn các đại biểu, nhà khoa học và chuyên gia đã tham dự, phản biện và đóng góp ý kiến. Thay mặt Ban chủ nhiệm, PGS.TS Nguyễn Thị Thế Nguyên đồng thời trao đổi, giải trình một số nội dung được nêu tại Hội thảo, tập trung vào tiến độ hoàn thiện báo cáo, việc sử dụng dữ liệu thực tế, cơ sở lựa chọn và thiết kế mô hình Noong Bua cùng các điều kiện triển khai trong thực tiễn. Ban chủ nhiệm tiếp thu các ý kiến để tiếp tục rà soát, hoàn thiện các sản phẩm của nhiệm vụ./.

    Phòng KHCN&HTQT