Danh mục: Nghiên cứu

  • Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn đập Pha 2 đã chính thức khởi động

    Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn đập Pha 2 đã chính thức khởi động

    “Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn Đập” do Trường Đại học Thủy Lợi (ĐHTL) phối hợp với tổ chức GNS Science và Damwatch Services của New Zealand thực hiện với sự tài trợ của Chính phủ New Zealand. Pha 1 của Dự án đã được triển khai từ tháng 5/2012 đến tháng 4/2015 tại Nghệ An với mục đích chung là nghiên cứu giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản do việc xả lũ từ hồ chứa, nhất là trong điều kiện lũ đặc biệt lớn. Nhờ sự thành công và hiệu quả của Pha 1, Pha 2 của Dự án đã được xây dựng và Bộ NN-PTNT phê duyệt ngày 20/9/2016, dự kiến được thực hiện từ 2016-2021, với khu vực nghiên cứu tập trung tại lưu vực sông Cả, gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. 

    Toàn cảnh buổi lễ

    Ngày 24/4/2017, tại Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Lễ Khởi động của Pha 2 Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn đập đã tổ chức dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao New Zealand Murray McCully và Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam Hà Công Tuấn. Có mặt tại buổi Lễ long trọng này còn có Bà Wendy Matthews – Đại sứ New Zealand tại Việt Nam, Ông Tom Wilson – Trưởng Chương trình Hỗ trợ New Zealand kiêm Bí thư thứ nhất Đại sứ quan New Zealand, Ông Achim Fock – Giám đốc thường trực của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, GS.TS. Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi và PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Nhà trường, cùng đại diện của các cơ quan khác.

    Bộ trưởng Bộ Ngoại giao New Zealand Murray McCully

    Phát biểu khai mạc buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao New Zealand Murray McCully cho biết New Zealand đánh giá rất cao tầm quan trọng của Dự án này trong công tác giảm nhẹ thiên tai, đặc biệt là lũ lụt tại Việt Nam. Ông cho biết trong 5 năm qua, New Zealand đã đầu tư 3,8 triệu USD cho mục tiêu giảm nhẹ rủi ro lũ lụt tại lưu vực sông Cả của Việt Nam. Với những thành công được công nhận, New Zealand quyết định tiếp tục đầu tư cho Pha 2 của Dự án với tham vọng giảm thiệt hại về kinh tế do lũ từ đập xuống 30% và giảm thiệt hại về người do nguyên nhân này xuống 50% trong khu vực nghiên cứu. Ông nhấn mạnh ba phương diện mà Dự án muốn tạo sự khác biệt: (1) xác định những đập nào cần được ưu tiên cải tạo khẩn cấp trong lưu vực, (2) chia sẻ kinh nghiệm của New Zealand trong công tác điều phối vận hành đập, và (3) hỗ trợ Trường Đại học Thủy lợi nâng cấp chương trình giảng dạy liên quan đến nội dung kỹ thuật tài nguyên nước và giảm nhẹ rủi ro thiên tai.

     

    Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn

    Về phía Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn bày tỏ rằng Việt Nam rất cảm kích những hỗ trợ của Chính phủ New Zealand trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và giảm nhẹ thiên tai. Ông khẳng định rằng Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn đập là một hoạt động có nghĩa rất lớn trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến tình hình thiên tai diễn ra ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Ông cam kết lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ cùng các cơ quan liên quan chỉ đạo sát sao quá trình thực hiện Dự án để đảm bảo Dự án được triển khai với hiệu quả cao nhất, đạt được ba mục tiêu mà Ông McCully đã đề cập. Ông cũng khẳng định Dự án là một ví dụ thể hiện tình hữu nghị sâu sắc giữa Việt Nam và New Zealand.

    Bộ trưởng McCully và Thứ trưởng Hà Công Tuấn cắt băng khởi động Dự án

    Sau bài phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao New Zealand và Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ông Peter Amos, Giám đốc Công ty Damwatch, Trưởng nhóm thực hiện Dự án, tóm tắt quá trình thực hiện và sảm phẩm đầu ra của Pha 1 Dự án và kế hoạch cùng mục tiêu của Pha 2 sẽ thực hiện trong 5 năm tới từ 2016-2021. Sau đó là lễ cắt băng tượng trưng khởi động chính thức Dự án do Bộ trưởng McCully và Thứ trưởng Hà Công Tuấn thực hiện.

    Lễ Khởi động Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn đập đã kết thúc trong không khí ấm áp, tràn đầy tình hữu nghị với niềm tin về tương lai thành công của Dự án.

    Thanh Huệ- Ảnh: Bình Dương

    Xem thêm tin tức về Lễ Khởi động:

    HanoiTV – Khởi động Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn đập

    VietnamPlus – Chính phủ New Zealand hỗ trợ Việt Nam trong công tác an toàn đập

    MARD – Lễ khởi động Dự án Việt Nam – New Zealand về An toàn đập

    Kinhtedothi – Chính phủ New Zealand hỗ trợ Việt Nam 5 triệu đô la đảm bảo an toàn đập

    NPR – New Zealand provide dam safety expertise to Vietnam

  • Kết quả xuất sắc đề tài cấp Nhà nước Nghị định thư Việt Nam – Cộng hòa Pháp

    Kết quả xuất sắc đề tài cấp Nhà nước Nghị định thư Việt Nam – Cộng hòa Pháp

    Ngày 14 tháng 12 năm 2014, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu chế độ thủy động lực học và vận chuyển bùn cát vùng cửa sông và bờ biển Vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”, thuộc nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo nghị định thư giữa trường Đại học Thủy lợi và Viện Nghiên cứu vì sự phát triển (IRD), Cộng hòa Pháp do PGS.TS. Nguyễn Trung Việt làm chủ nhiệm.

    Đến dự với buổi nghiệm thu đề tài: đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ có Ông Lê Thanh Bình – Phó vụ trưởng vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ và đại diện các Vụ Tài chính, Kế hoạch-Tổng hợp, Vụ Khoa học và Công nghệ các ngành kinh tế  của Bộ Khoa học và công nghệ; đại diện Viện Nghiên cứu vì sự phát triển (IRD), Cộng hòa pháp có GS.TS. Jean-Pascal Torreton, Trưởng đại diện IRD tại Việt Nam; trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) có TS. Syvain Ouillon, Trưởng khoa Nước, Môi trường và Hải dương học; đại diện UBND tỉnh Khánh Hòa có TS. Huỳnh Kỳ Hạnh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Khánh Hòa; Đại diện cho cơ quan chủ trì thực hiện đề tài có PGS.TS. Ngô Lê Long, Phó Trưởng phòng Khoa học công nghệ, trường Đại học Thủy lợi; về phía Ban chủ nhiệm có GS.TS. Lương Phương Hậu, trường Đại học Xây dựng và GS.TS. Đinh Văn Ưu, trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thành viên tham gia thực hiện đề tài giai đoạn 2013-2014.

     

    Mở đầu buổi nghiệm thu, ông Lê Thanh Bình thay mặt cơ quan chủ quản đọc Quyết định của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về thành lập Hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước. Hội đồng có đầy đủ các thành viên theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước GS.TS. Hoàng Xuân Lượng, Học viện Kỹ thuật quân sự điều hành buổi nghiệm theo đúng trình tự quy định về đánh giá nghiệm thu đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước.

     

    Hình 1. GS.TS. Jean-Pascal Torreton, Trưởng đại diện Viện Nghiên cứu vì sự phát triển, Cộng hòa Pháp
    phát biểu về kết quả hợp tác nghiên cứu

     

    PGS.TS. Nguyễn Trung Việt chủ nhiệm đề tài đã báo cáo các kết quả chính của đề tài, các phản biện đọc nhận xét, các thành viên Hội đồng nghiệm thu đã đặt câu hỏi trao đổi. Đại diện Ban chủ nhiệm đề tài PGS.TS. Nguyễn Trung Việt và GS.TS Lương Phương Hậu đã giải đáp đầy đủ các tất cả ý kiến của hội đồng.

     

    Hình 2. PGS.TS. Nguyễn Trung Việt báo cáo sản phẩm đạt được của đề tài
    Hội đồng đã thống nhất đánh giá đề tài đã huy động lực lượng khoa học trong và ngoài nước có chuyên môn cao đề thực hiện nghiêm túc và đã hoàn thành đầy đủ khối lượng, nội dung theo đúng đề cương, chất lượng của các sản phẩm đề tài tốt có tính ứng dụng cao. Hội đồng cũng đánh giá cao về việc phối hợp chặt chẽ với các nhóm chuyên gia nghiên cứu sâu trong lĩnh vực công trình biển từ Đại học Toulouse, Đại học Bordeaux, Cộng hòa Pháp và Đại học Tohoku, Nhật Bản. Tập thể ban chủ nhiệm đề tài đã làm việc nghiêm túc và có sự phối hợp làm việc nhóm rất có hiệu quả. Đặc biệt, Hội đồng đã thống nhất đánh giá một số sản phẩm của đề tài đã vượt so với đề cương được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt như: Sản phẩm đào tạo, các bài báo đã công bố (đề tài đã công bố 15 bài báo trong đó có 7 bài trên các tạp chí quốc tế và hội thảo khoa học quốc tế) vượt 10 bài so với đề cương. Hội đồng đã bỏ phiếu đánh giá đề tàiđạt loại xuất sắc với điểm bình quân 91.7/100. Nhằm phát huy các kết quả rất tốt đã đạt được của đề tài, Hội đồng đã kiến nghị với Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh Khánh hòa tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để đề tại tiếp tục thực hiện ở giai đoạn 2 (2015-2016) để trường Đại học Thủy lợi tiếp tục nghiên cứu, phối hợp với các nhà khoa học Cộng hòa Pháp và các nhà khoa học trong nước làm sáng tỏ thêm những kết quả đã nghiên cứu bước đầu, tư vấn cho tỉnh Khánh Hòa các bước đi cụ thể cho việc cải tạo, nâng cấp bãi tắm thành phố Nha Trang, tiến hành nghiên cứu xây dựng thử nghiệm cho một công trình cải tạo nâng cấp bãi biển cho khu vực phía bắc vịnh Nha Trang.

     

     

    Hình 3. Ban chủ nhiệm đề tài chụp ảnh lưu niệm cùng hội đồng

     Kết thúc buổi bảo vệ, PGS.TS. Nguyễn Trung Việt đã thay mặt Ban chủ nhiệm đề tài và trường Đại học Thủy lợi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, UBND tỉnh Khánh Hòa, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Khánh Hòa, Đại sứ quán Cộng hòa Pháp, Viện Nghiên cứu vì sự phát triển…. Và các cộng sự khoa học đã giúp đỡ chủ nhiệm đề tài hoàn thành nhiệm vụ./.

  • Xây dựng kế hoạch KHCN, MT, khuyến nông năm 2018

    Xây dựng kế hoạch KHCN, MT, khuyến nông năm 2018

    Thực hiện công văn số 892/BNN-KHCN ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Xây dựng kế hoạch KHCN, MT, khuyến nông năm 2018, Phòng KHCN đề nghị Quý thầy cô và các đơn vị gửi đề xuất các nhiệm vụ khoa học công nghệ và tiêu chuẩn quy chuẩn; các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, các nhiệm vụ khuyến nông năm 2018. Cụ thể văn bản 892/BNN-KHCN ở file đính kèm

    Hạn cuối cùng gửi đề xuất về phòng KHCN 16h30 ngày 14/03/2017
     

  • Giới thiệu về các quỹ Phát triển KH&CN tại Việt Nam

    Giới thiệu về các quỹ Phát triển KH&CN tại Việt Nam

    Tại Việt Nam hiện nay, các Quỹ phát triển khoa học và công nghệ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng tài trợ, cho vay, bảo lãnh vay vốn, cấp kinh phí để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia. Trong những năm qua, các Quỹ này đã tài trợ kinh phí các nhà khoa học thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, góp phần giúp các nhà KH dành nhiều thời gian tập trung vào chuyên môn, nâng cao chất lượng nghiên cứu KH&CN phục vụ phát triển KT-XH của đất nước.

    Một số Quỹ KH&CN hiện được nhiều nhà khoa học quan tâm hiện nay bao gồm:

    I. Quỹ phát triển KH&CN quốc gia (Tên giao dịch quốc tế là National Foundation for Science and Technology Development, viết tắt là NAFOSTED – http://www.nafosted.gov.vn/), được thành lập theo Nghị định số 122/2003/NĐ-CP năm 2003 và chính thức hoạt động từ tháng 3/2008, là đơn vị sự nghiệp phi lợi nhuận, trực thuộc Bộ Khoa học và công nghệ với nguồn vốn hàng năm: giai đoạn 2009-2014 là 200 tỷ đồng, từ năm 2015 là 500 tỷ đồng. Mục tiêu của Quỹ nhằm phát triển nguồn nhân lực KH&CN, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ phát triển KT-XH.

    04 chức năng hoạt động chính của Quỹ NAFOSTED gồm tài trợ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đột xuất tiềm năng; hỗ trợ các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực KH&CN Quốc gia; cấp kinh phí nhiệm vụ KH&CN theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ KH&CN; cho vay và bảo lãnh vốn vay nhiệm vụ KH&CN nhằm ứng dụng kết quả NC&PT vào sản xuất đời sống, nhiệm vụ khoa học chuyên biệt.

    Hiện tại, Quỹ NAFOSTED bao gồm 07 Chương trình hợp tác bao gồm:

    1. Chương trình tài trợ đề tài nghiên cứu cơ bản trong Khoa học tự nhiên và kỹ thuật và Khoa học Xã hội và Nhân văn

    2. Chương trình hợp tác song phương (Nafosted-BC và Nafosted – the UK Academies)

    3. Chương trình tài trợ nhiệm vụ KH&CN đột xuất – Tiềm năng

    4. Chương trình tài trợ nhiệm vụ KH&CN nghiên cứu ứng dụng

    5. Hoạt động hỗ nâng cao năng lực KH&CN Quốc gia

    6. Chương trình cho vay

    7. Chương trình bảo lãnh vay vốn (Dành cho doanh nghiệp KH&CN).

    II. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Hà Nội, được thành lập năm 2014 theo quyết định của UBND Hà Nội (Tên giao dịch quốc tế Hanoi Foundadion for Science anh Technology Development – viết tắt: HNFOSTED). Quỹ là đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng theo quy định của pháp luật.

    Quy hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay, cấp kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; hỗ trợ các hoạt động nâng cao năng lực KH&CN thành phố.

    Tổ chức việc xét chọn và thẩm định kinh phí nhiệm vụ KH&CN, các hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ thành phố để Quỹ tài trợ, cho vay và hỗ trợ. Kiểm tra, đánh giá về nội dung chuyên môn và tài chính của các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ thành phố được Quỹ tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay và hỗ trợ.

    Tổ chức đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Quỹ tài trợ. Đình chỉ hoặc trình cơ quan có thẩm quyền đình chỉ việc tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay, hỗ trợ hoặc thu hồi kinh phí đã tài trợ, cho vay, hỗ trợ, từ chối trả nợ thay khi phát hiện tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về sử dụng vốn của Quỹ và các quy định của pháp luật liên quan. Nhận uỷ thác tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tổ chức cá nhân…

  • Hướng dẫn xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ năm 2018 của Sở KHCN Hà Nội

    Hướng dẫn xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ năm 2018 của Sở KHCN Hà Nội

    Thực hiện công văn số 142/SKHCN-KHTC ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ năm 2018, Trường Đại học Thủy lợi đề nghị lãnh đạo các đơn vị:

    1.   Thông báo đến các cán bộ đơn vị mình nội dung công văn;

    2.   Tập hợp các đề xuất trong khuôn khổ hướng dẫn Xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách KH&CN năm 2018 theo công văn nói trên (biểu mẫu tại phụ lục 2).

    Phiếu đề xuất; bảng tổng hợp gửi về phòng Khoa học – Công nghệ trước ngày 20/4/2017 để tập hợp.

    Đề nghị đơn vị hoàn thành hồ sơ đầy đủ, chi tiết, đúng hạn để Trường tổng hợp và báo cáo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội.

    Nội dung chi tiết và phụ lục: Công văn 142 Sở KHCN

  • Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ

    Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ

    Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ

    Thành lập từ năm 1959, đến nay Trường Đại học thủy lợi (ĐHTL) là một trung tâm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật hiện đại và một cơ sở duy nhất trong cả nước thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao với nghiên cứu khoa học (NCKH) và chuyển giao công nghệ (CGCN) thuộc các lĩnh vực truyền thống như tài nguyên nước, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, thủy lợi, thủy điện, cơ khí, kinh tế, công nghệ thông tin, v.v… Các nhiệm vụ KH&CN của Trường luôn bám sát hướng nghiên cứu phục vụ sự phát triển của Bộ, ngành và kinh tế xã hội của đất nước từng bước tiếp cận chuẩn quốc tế.

    Tiềm lực KHCN

    ĐHTL là đơn vị hàng đầu về NCKH và CGCN thuộc các lĩnh vực thủy lợi, thủy điện, tài nguyên, môi trường, phòng tranh & giảm nhẹ thiên tai, kinh tế, phát triển nông thôn, cơ khí, công nghệ thông tin … ở Việt Nam; với quan điểm tập hợp đội ngũ khoa học, phát huy mọi tiềm năng sẵn có của Nhà trường, mở rộng hợp tác với các cơ quan khoa học khác trong và ngoài nước và chủ động hội nhập để xây dựng và phát triển các trung tâm NCKH của nhà trường đủ mạnh, có khả năng tạo ra các sản phẩm trí tuệ cao, áp dụng thành công tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề chiến lược quốc gia về tài nguyên nước và chiến lược phát triển thủy lợi; các vấn đề nóng của bộ ngành, các vấn đề bức xúc thuộc chuyên ngành của các vùng, các khu vực và các lưu vực sông; các vấn đề KHCN và sản xuất lớn trên quy mô cả nước và quốc tế về các lĩnh vực kể trên; phát triển một số ngành mũi nhọn, tạo khả năng thương mại và hợp tác quốc tế.

    Với chính sách thu hút nhân tài đi đôi với sử dụng hợp lý và giữ được nhân tài, tạo mọi điều kiện để các cán bộ, giáo viên có trình độ cao được tham gia nhiều trong các hoạt động KHCN, đến nay đội ngũ khoa học của Trường đông đảo về số lượng, mạnh về chất lượng, và đa dạng về ngành nghề cùng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, Trường đã và đang thực hiện hiệu quả nhiệm vụ NCKH&CGCN.

    Thế mạnh KHCN

    Các lĩnh vực khoa học công nghệ của ĐHTL rất đa dạng từ khoa học cơ bản đến nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao. Các lĩnh vực KHCN  thế mạnh của Trường là:

    • Công nghệ thiết kế, thẩm định, chuẩn hoá các chỉ tiêu thiết kế
    • Thiết kế và thi công công trình
    • Quản lý khai thác các hệ thống thuỷ nông
    • Môi trường trong kỹ thuật tài nguyên nước
    • Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
    • Cơ học và Máy thuỷ lợi
    • Thuỷ năng, thuỷ điện
    • An toàn hồ đập và công trình
    • Biến đổi khí hậu và nước biển dâng
    • Sạt lở bờ sông, biển
    • Nông thôn mới
    • Công nghệ hóa học
    • Công nghệ sinh học
    • Công nghệ vật liệu
    • Biên soạn quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật
    • Khoa học cơ bản
    • Ngoài ra, một số các lĩnh vực tiềm năng khác như công nghệ dự báo sớm về an toàn đập, dự báo nước dâng do siêu bão, ngập lụt đô thị, ngập lụt hạ du hồ chứa do xả lũ và vỡ đập …
    •  

    Đánh giá của xã hội

    Hằng năm, Trường triển khai một khối lượng lớn gồm rất nhiều đề tài NCKH cấp Nhà nước và nghị định thư, cấp Bộ, thành phố,… và các dự án KHCN khác, trong đó có các đề tài, dự án phối hợp giữa ĐHTL và các cơ quan nghiên cứu nước ngoài. Các kết quả nghiên cứu và CGCN của ĐHTL đã và đang được các bộ ngành và xã hội tín nhiệm và đánh giá cao.

    Các dự án nghiên cứu, chuyển giao KHCN cấp Nhà nước và cấp Bộ cũng như các công trình PVSX đã và đang tập trung nghiên cứu, giải quyết các vấn đề mang tính cấp thiết về thủy lợi và môi trường nảy sinh ở các vùng miền trong cả nước. Các đề tài, dự án luôn gắn liền với nhu cầu phát triển của từng địa phương. Trường đã tư vấn, đóng góp nhiều ý kiến có hiệu quả giúp Bộ và nhiều địa phương trong cả nước. Nhiều công trình có chất lượng cao được các chủ đầu tư và các địa phương công nhận.

    Các kết quả nghiên cứu và CGCN đã được công bố thông qua rất nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, trong đó có nhiều bài ISI/SCI/SCIE. Nhiều sản phẩm KHCN đã tiếp cận trình độ khu vực và quốc tế, có giá trị thực tiễn cao vừa có đóng góp quan trọng cho phát triển khoa học cơ bản của thế giới vừa được triển khai ứng dụng ở trong nước. Công tác sở hữu trí tuệ cũng được trường đẩy mạnh trong nhiều năm gần đây. Trường đã được cấp bằng sáng chế và giải pháp hữu ích.

     Trường là thành viên chính thức của nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở trong nước cũng như quốc tế, là thành viên Câu lạc bộ khối các trường đại học kỹ thuật, các Hội khoa học kỹ thuật và đã tham gia nhiều diễn đàn, chủ trì tổ chức tốt nhiều hội thảo, hội nghị góp phần tích cực trong sự lớn mạnh chung của các hiệp hội.

    Các giải thưởng

    Với bề dày thành tích của mình, Trường ĐHTL đã được Đảng, Nhà nước phong tặng các phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, năm 2004; Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, năm 2000; Huân chương Độc lập hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác.

  • Hội nghị, hội thảo

    Hội nghị, hội thảo

    Đến nay, Trường ĐHTL đã tổ chức thành công nhiều hội thảo quốc tế như: Trường đã tổ chức thành công các Hội thảo quốc tế ICEC 2012 về cửa sông và bờ biển; Hội thảo quốc tế IAHR – APD 2014 về nghiên cứu và kỹ thuật thủy văn môi trường – vùng Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 19; Hội thảo quốc tế IEEE-RIVF 2016 về Computing and Communication Technologies. Năm 2018, ĐHTL sẽ là đơn vị đăng cai tổ chức hội thảo quốc tế về Lowland Technology.

    Hội nghị khoa học thường niên của Trường được tổ chức hàng năm. Hội nghị ngày càng thu hút được nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài trường đặc biệt là các nhà khoa học quốc tế quan tâm tham dự. Số lượng và chất lượng các bài báo cáo ngày càng tăng. Tất cả các bài báo được chấp nhận báo cáo và in trong Tuyển tập hội nghị đều được phản biện chặt chẽ. Tuyển tập hội nghị khoa học thường niên của Trường đã được Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước đưa vào danh mục tạp chí được tính điểm khoa học.

  • Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến hệ số tiêu vùng đồng bằng Bắc Bộ

    1. Giới thiệu chung

    + Tên đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến hệ số tiêu vùng đồng bằng Bắc Bộ

    + Chủ nhiệm: PGS.TS. Dương Thanh Lượng               

    + Cơ quan thực hiện: Trường Đại học Thủy lợi  

    + Thời gian thực hiện: 2008 – 2010     

    + Kinh phí:   

    2. Mục tiêu đề tài:

    – Xác định được mức độ ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến hệ số tiêu vùng đồng bằng Bắc Bộ

    – Đề xuất được: + Phương pháp tính toán hệ số tiêu có xét đến ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa

    + Giải pháp điều chỉnh quy hoạch tiêu và giải pháp công trình thủy lợi phù hợp với phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ

    3. Nội dung nghiên cứu chính

    4. Các kết quả đạt được:

    – Phương pháp luận về phân vùng tiêu nước mặt vùng đồng bằng Bắc Bộ:

    + Phân loại vùng tiêu. Tổng kết và hệ thống hóa các phương pháp phân vùng tiêu

    + Đề xuất các nguyên tắc phân vùng tiêu và các ràng buộc khi phân vùng tiêu

    – Bản đồ phân vùng tiêu đồng bằng Bắc Bộ đã được số hóa : tỉ lệ 1/100000 – 1/200000

    – Bài báo: Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, Thủy lợi và môi trường, Tài nguyên nước….

    5. Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

  • Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc phục vụ đa mục tiêu

    1. Giới thiệu chung

    + Tên đề tài: Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc phục vụ đa mục tiêu

    + Chủ nhiệm: GS.TS. Bùi Hiếu               

    + Cơ quan thực hiện: Trường Đại học Thủy lợi  

    + Thời gian thực hiện: 2008 – 2010     

    + Kinh phí:   

    2. Mục tiêu đề tài:

    – Đánh giá được hiệu quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của công trình thủy lợi miên núi và trung du phía Bắc.

    Cụ thể: + Đánh giá được thực trạng các công trình thủy lợi thuộc vùng nghiên cứu đáp ứng được nhiệm vụ thiết kế và thực hiện đa mục tiêu

    + Đánh giá được thực trạng thể loại, quy mô công trình thủy lợi thuộc vùng nghiên cứu có khả năng phục vụ đa mục tiêu

    + Hiệu quả hoạt động của các công trình thủy lợi so với nhiệm vụ và yêu cầu

    – Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu cho phát triển kinh tế – xã hội và môi trường tại các tỉnh trung di miên núi phía Bắc bao gồm các giải pháp quy hoạch, thiết kế và quản lý vận hành (lĩnh vực công trình và phi công trình) đảm bảo cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.

    – Đưa ra được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và phần mềm tính toán hiệu quả tổng hợp phục vụ đa mục tiêu của các công trình thủy lợi

    3. Nội dung nghiên cứu chính

    4. Các kết quả đạt được

    5. Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

  • Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cố kết hút chân không xử lý nền đất yếu phục vụ xây dựng công trình thủy lợi vùng ven biển

    1. Giới thiệu chung

    + Tên đề tài: Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cố kết hút chân không xử lý nền đất yếu phục vụ xây dựng công trình thủy lợi vùng ven biển

    + Chủ nhiệm: PGS.TS. Nguyễn Chiến               

    + Cơ quan thực hiện: Trường Đại học Thủy lợi  

    + Thời gian thực hiện: 2008 – 2010     

    + Kinh phí:   

    2. Mục tiêu đề tài:

    – Mục tiêu tổng quát: làm chủ được công nghệ xử lý nền đất yếu bằng cố kết hút chân không phục vụ xây dựng công trình thủy lợi vùng ven biển, có giá thành hợp lý

    – Mục tiêu cụ thể:

    + Xây dựng phương pháp thiết kế và quy trình công nghệ xử lý nền đất yếu bằng cố kết hút chân không (trình tự, thiết bị, các thông số kỹ thuật trong xử lý nền bằng cố kết hút chân không)

    + Xác định phạm vi ứng dụng của phương pháp (theo loại và đặc điểm phân bố của đất nền, tính chất của tải trọng, yêu cầu thi công…)

    + Xây dựng chỉ tiêu và quy trình đánh giá chất lượng xử lý nền đất yếu ven biển của công trình thủy lợi bằng phương pháp cố kết hút chân không

    + Ứng dụng thử nghiệm cho 1 – 2 công trình thực tế

    3. Nội dung nghiên cứu chính

    4. Các kết quả đạt được:

    -Hướng dẫn thiết kế xử lý nền đất yếu bằng phương pháp cố kết hút chân không:

    + Yêu cầu thu thập số liệu ban đầu, khảo sát địa chất nền.

    + Hướng dẫn lựa chọn biện pháp xử lý.

    + Hướng dẫn tính toán xác định các thông số bơm hút: cự ly, độ sâu, đường kính giếng, chiều dày gia tải, áp lực bơm, lựa chọn thiết bị bơm.

    + Hướng dẫn bố trí thiết bị bơm hút, quan trắc.

    – Quy trình công nghệ xử lý nền đất yếu bằng bơm hút chân không:

    + Giới thiệu các thiết bị phục vụ bơm hút, quan trắc, thí nghiệm

    5. Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu