Danh mục: Nghiên cứu

  • Quyết định Ban hành chiến lược Quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030

    Quyết định Ban hành chiến lược Quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030

    Quyết định số 127/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/1/2021: Ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030

    1. Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một lĩnh vực công nghệ nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, góp phần quan trọng tạo bước phát triển đột phá về năng lực sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững.

    2. Kế thừa và phát huy những thành tựu mới nhất của nhân loại, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT gắn với các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, phát triển khoa học và công nghệ; phát huy tiềm năng của doanh nghiệp, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực; từng bước nhận chuyển giao, làm chủ, tiến tới sáng tạo công nghệ.

    3. Tập trung nguồn lực để tạo ra và phát triển các sản phẩm TTNT, dịch vụ TTNT quan trọng mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh; đầu tư có trọng điểm ứng dụng TTNT trong một số lĩnh vực liên quan tới quốc phòng an ninh, quản lý tài nguyên, môi trường và dịch vụ cho người dân; phát triển mạnh các doanh nghiệp ứng dụng TTNT, doanh nghiệp khởi nghiệp về TTNT.

    Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT, đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

    1. Mục tiêu đến năm 2025

    a) Đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam

    – Việt Nam nằm trong nhóm 5 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 60 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT;

    – Xây dựng được 05 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực;

    – Phát triển được 01 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao.

    b) Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT

    – Hình thành được 02 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT; gia tăng số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo về TTNT và tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực TTNT ở Việt Nam;

    – Nâng cấp, hình thành mới được 10 cơ sở nghiên cứu và đào tạo trọng điểm về TTNT.

    c) Góp phần xây dựng xã hội sáng tạo, chính phủ hiệu quả, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững

    – TTNT được ứng dụng rộng rãi trong hành chính công, dịch vụ công trực tuyến giúp giảm thời gian xử lý công việc, nhân lực bộ máy, giảm thời gian chờ đợi và chi phí của người dân;

    – Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý hành chính nhà nước trong phân phối, sử dụng nguồn lực xã hội, quản lý xã hội và quản lý đô thị, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

    2. Mục tiêu đến năm 2030

    a) Đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam

    – Việt Nam nằm trong nhóm 4 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT;

    – Xây dựng được 10 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực;

    – Phát triển được 03 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao; kết nối được các hệ thống trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao trong nước tạo thành mạng lưới chia sẻ năng lực dữ liệu lớn và tính toán phục vụ TTNT;

    – Hình thành được 50 bộ dữ liệu mở, liên thông và kết nối trong các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế – xã hội phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT.

    b) Việt Nam là trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT mạnh

    – Hình thành được 03 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT;

    – Xây dựng được đội ngũ nhân lực chất lượng cao làm về TTNT bao gồm đội ngũ các chuyên gia và các kỹ sư triển khai ứng dụng TTNT. Tăng nhanh số lượng các công trình khoa học, đơn đăng ký sáng chế về TTNT của Việt Nam;

    – Có ít nhất 01 đại diện nằm trong bảng xếp hạng nhóm 20 cơ sở nghiên cứu và đào tạo về TTNT dẫn đầu trong khu vực ASEAN.

    c) Góp phần đẩy mạnh xã hội sáng tạo, chính phủ hiệu quả, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế tăng trưởng bền vững

    – Phổ cập được kỹ năng cơ bản về ứng dụng TTNT cho đội ngũ lao động trực tiếp, phục vụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân;

    – Ứng dụng TTNT phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng an ninh, các hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai và ứng phó sự cố, dịch bệnh;

    – Cùng với chuyển đổi số, ứng dụng TTNT góp phần thúc đẩy tăng trưởng một số ngành kinh tế.

    Chi tiết văn bản xin xem Tại đây

    Phòng KHCN

  • Thông báo đề xuất nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ năm 2022

    Thông báo đề xuất nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ năm 2022

    Nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới; căn cứ các chương trình, kế hoạch, đề án phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn đã được phê duyệt, Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ như sau:

    1. Căn cứ đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ

    Các Tổng cục, Cục, địa phương, tổ chức KH&CN và doanh nghiệp khoa học và công nghệ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ đề xuất đặt hàng trên cơ sở:

    – Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Chính phủ của Chính phủ Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững;

    – Nghị quyết 839-NQ/BCSĐ ngày 19/7/2019 của Ban Cán sự Đảng Bộ, Quyết định số 3112/QĐ-BNN-KHCN ngày 12/8/2019 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 839-NQ/BSCĐ về Tiếp tục đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ ngành Nông nghiệp và PTNT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư;

    – Kế hoạch số 1057-KH/BCSĐ ngày 27/5/2020 của Ban Cán sự Đảng Bộ về Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong lĩnh vực Nông nghiệp và PTNT;

    – Quyết định số 19/QĐ-BNN-KHCN ngày 04/01/2021 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2021;

    – Quyết định số 5171/QĐ-BNN-KHCN ngày 11/12/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành kế hoạch thúc đẩy nghiên cứu và chuyển giao công nghệ phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018-2025;

    – Các chiến lược, chương trình, đề án, kế hoạch phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn đã được phê duyệt;

    – Yêu cầu của thực tiễn sản xuất và phát triển ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.

    2. Định hướng, trọng tâm ưu tiên

    – Tập trung vào Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; chương trình KH&CN cấp quốc gia; kế hoạch thực hiện phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. 

    – Đẩy mạnh nghiên cứu, phục tráng, sản xuất và chuyển giao các loại giống cây trồng, vật nuôi năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu; tập trung hoàn thiện công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phát triển nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021 – 2030, ưu tiên sản xuất giống chất lượng cao.

    – Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi nông nghiệp số; triển khai các giải pháp để tận dụng tối đa cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, công nghệ sinh học… Tăng cường huy động và khai thác nguồn lực đầu tư từ xã hội cho nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo là một trong những động lực đột phá đẩy nhanh chuyển đổi mô hình tăng trưởng ngành; khuyến khích đầu tư các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

    – Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phục vụ quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm, quản lý đầu tư xây dựng chuyên ngành; hài hoà hoá tiêu chuẩn khu vực, quốc tế để thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu.

    – Xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh; xây dựng và phát triển thương hiệu và tham gia hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị trong và ngoài nước.

    3. Hình thức đặt hàng

    Hình thức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN năm 2022 theo hình thức đặt hàng quy định tại Luật KH&CN và các văn bản hướng dẫn. Việc đặt hàng đối với nhiệm vụ KH&CN được thực hiện trên cơ sở xác định những vấn đề tồn tại của sản xuất đòi hỏi KHCN phải nghiên cứu giải quyết, đồng thời đảm bảo các yêu cầu quy định tại Điều 3 Thông tư 18/2015/TT-BNNPTNT ngày 24/4/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

    Mẫu đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ bao gồm các loại: Đề tài khoa học công nghệ, Dự án sản xuất thử nghiệm, đề tài khoa học và công nghệ tiềm năng cấp Bộ theo Biểu 1, Biểu 2 đính kèm văn bản này.

    4. Tổ chức thực hiện

    Cơ quan, đơn vị gửi Danh mục đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ (Biểu 01, Biểu 02) về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (gửi bản giấy qua Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, địa chỉ số 2 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội; gửi bản điện tử qua địa chỉ mail: [email protected]; cập nhật trong Trang mục quản lý hoạt động KH&CN ngành nông nghiệp và PTNT tại địa chỉ https://qlkhcn.mard.gov.vn/de-tai-khoa-hoc/de-xuat) trước ngày 01/3/2021.

    Cơ quan, đơn vị tham khảo Công văn này và các biểu mẫu trên trang thông tin điện tử của Bộ: www.mard.gov.vn và của Vụ KHCN &MT: www.khcn.mard.gov.vn. Thông tin chi tiết xin liên hệ: Ông Khổng Trung Duân-Vụ KHCN&MT, ĐT: 024.3843.4681, email: [email protected].

    Chi tiết xin xem CV 521 Đề xuất nhiệm vụ KHCN 2022

    Phòng KHCN

  • Thông báo đề xuất các nhiệm vụ bảo vệ môi trường năm 2021

    Thông báo đề xuất các nhiệm vụ bảo vệ môi trường năm 2021

    Công văn số 82/BXD-KHCN của Bộ Xây dựng về việc thông báo đề xuất các nhiệm vụ, dự án Bảo vệ môi trường đợt 2 trong năm 2021.

    Các thầy cô quan tâm xin gửi phiếu đề xuất (mẫu kèm theo) và gửi về Phòng KHCN trước ngày 22/02/2021, đề phòng tổng hợp và báo cáo Bộ.

    Chi tiết xin xem Tại đây

    Phòng KHCN

  • Cuộc thi nghiên cứu khoa học về “thích ứng với Biến đổi khí hậu” do Đại Sứ quán Hà Lan tài trợ

    Cuộc thi nghiên cứu khoa học về “thích ứng với Biến đổi khí hậu” do Đại Sứ quán Hà Lan tài trợ

    Trong khuôn khổ hợp tác giữa Đại sứ quán Hà Lan và Trường Đại học Thủy lợi, nhằm tăng cường công tác giáo dục và truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu và tạo cơ hội để sinh viên thể hiện nhận thức, chủ động đưa ra sáng kiến và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Trường Đại học Thủy lợi phát động cuộc thi nghiên cứu khoa học về “Thích ứng với Biến đổi khí hậu” do Đại Sứ quán Hà Lan tài trợ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­. 

    Mục tiêu của cuộc thi: 

    Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho sinh viên về ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Đẩy mạnh thực hiện các hành động, sáng kiến và giải pháp tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu từ gia đình, trường học tới cộng đồng. 

    Đối tượng dự thi: Sinh viên đang theo học tại các trường Đại học: Thủy lợi, Lâm nghiệp, Tài nguyên và Môi trường, Giao thông vận tải, Mỏ – Địa chất, Xây dựng, Nông Lâm Thái nguyên (tính đến thời điểm xét giải). 

    Thời gian và địa điểm tổ chức: 

    Ngày 24/4/2021 tại Trường Đại học Thủy lợi. 

             Cơ cấu giải thưởng: 
              01 Giải Nhất: 25.000.000 đồng  
              01 Giải Nhì: 15.000.000 đồng  
              03 Giải Ba: 10.000.000 đồng  

    Nội dung chi tiết xem file đính kèm:  06TB-DHTL

    Phòng KHCN

  • Danh sách ứng viên được đề nghị bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2020

    Danh sách ứng viên được đề nghị bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2020

    Trường Đại học Thủy lợi thông báo Danh sách ứng viên được đề nghị bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2020.

    Chi tiết xem TẠI ĐÂY

  • Hội nghị Tổng kết Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường năm 2020

    Hội nghị Tổng kết Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường năm 2020

    Tạp chí ra đời với mục đích nhằm công bố, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, mô hình tổ chức quản lý điển hình của các nhà khoa học trong và ngoài trường, đồng thời tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và phát triển nông nghiệp nông thôn. Trải qua 17 năm hoạt động, Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường với xuất bản định kỳ 3 tháng/kỳ, Tạp chí đã ấn hành được 74 số (bao gồm cả số đặc biệt) với hơn 1500 bài báo.

    Trong năm 2020, dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu và Hội đồng biên tập, Tạp chí đã có những kết quả đáng ghi nhận cụ thể về chất lượng bài báo. Uy tín của Tạp chí được nâng cao, ngày càng thu hút số lượng bài gửi cả trong và ngoài Trường.

    Hội nghị Tổng kết Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường

    Để nhìn lại một năm hoạt động, ngày 29/12, tại P225/A2 đã diễn ra lễ Tổng kết công tác năm 2020 của Tạp chí với sự tham dự của PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng – Tổng biên tập Tạp chí cùng các thành viên trong Hội đồng biên tập.

    Hội nghị đã lắng nghe báo cáo tổng kết năm 2020 và phương hướng năm 2021, theo đó, Tạp chí KHKT Thủy lợi và môi trường nhận được văn bản số 2585/BTTTT-CBC của Bộ Thông tin và truyền thông ngày 14 tháng 7 năm 2020 về việc thay đổi thể thức xuất bản của Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường, đồng ý Tạp chí được tăng kỳ xuất bản, từ 04 kỳ/năm thành 05 kỳ/năm (trong đó 04 kỳ bằng tiếng Việt và 01 kỳ ngôn ngữ bằng tiếng Anh). Bắt đầu từ tháng 12 năm 2020, Tạp chí sẽ xuất bản số định kỳ bằng ngôn ngữ tiếng Anh. Năm 2020, tạp chí đã tổ chức biên tập, xuất bản 03 số thường kỳ: 68, 69, 70, hiện đang hiệu đính và chuẩn bị in và phát hành số 71 và số tiếng Anh. Tổng số bài gửi đến nay là 104 bài, số bài đã đăng là 59 bài. Số lượng bài gửi của tác giả ngoài trường là 25/104 bài gửi, chiếm 25% tổng số bài gửi.

    Theo PGS. TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng – Tổng biên tập Tạp chí, các bài báo gửi sẽ được thực hiện đúng theo Quy trình và được Ban biên tập đánh giá sơ bộ về chất lượng, nội dung khoa học, trước khi gửi phản biện. Các bài được đăng tải đều là những bài đạt quy chuẩn sau khi đã được các nhà khoa học thực hiện phản biện kín một cách nghiêm túc và được kiểm định sát sao theo đúng quy định của tạp chí.

    PGS. TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó hiệu trưởng – Tổng biên tập Tạp chí phát biểu

    Tại buổi lễ, GS. TS Phạm Ngọc Quý – Ủy viên hội đồng biên tập Tạp chí khẳng định về số lượng và chất lượng các bài đăng trong năm 2020 – một năm có nhiều biến động bởi thiên tai và ảnh hưởng của dịch Covid19. Các thành viên Hội đồng biên tập đã trao đổi sôi nổi về công tác đổi mới các chuyên trang, chuyên mục, cách thức trình bày, nâng cao chất lượng bài báo, xây dựng được hệ thống phản biện, tác giả chất lượng.

    GS. TS Phạm Ngọc Quý – Ủy viên hội đồng biên tập Tạp chí phát biểu

    Các thành viên Hội đồng biên tập Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường chụp hình lưu niệm

    Bước sang năm mới 2021, Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường khẳng định sẽ tiếp tục duy trì 04 số tạp chí tiếng Việt và 01 số tiếng Anh. Thực hiện tốt công tác phản biện kín, tiến tới tăng thêm số lượng phản biện, xây dựng quy trình biên tập chặt chẽ, để nâng cao chất lượng Tạp chí. Trong công tác phát hành, mở rộng mạng lưới để đưa Tạp chí đến được nhiều cơ quan, nhà khoa học trong và ngoài nước. Xây dựng chế độ, chính sách phù hợp để thu hút được nhiều hơn các tác giả gửi bài. Đồng thời, không ngừng cải tiến Tạp chí, tiến tới đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    Bích Việt – Ảnh: CTV

  • Kế hoạch bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2020

    Kế hoạch bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2020

    Kế hoạch bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư của Trường Đại học Thủy lợi năm 2020: TẠI ĐÂY 

    Nhu cầu bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2020: TẠI ĐÂY

    Bản đăng ký xét bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư: TẠI ĐÂY 

    Lý lịch khoa học: TẠI ĐÂY 

  • Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang huyện Núi Thành phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và lân cận

    Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang huyện Núi Thành phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và lân cận

    ​

    Sáng ngày 23/12/2020 đã diễn ra buổi Hội thảo báo cáo các nội dung của Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang huyện Núi Thành phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và lân cận”. Đây là đề tài song phương, tổ chức thực hiện nhiệm vụ có sự tham gia của các thành viên Trường Đại học Thủy Lợi và Đại học Tohuku, Nhật Bản. Về phía Việt Nam do PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm làm chủ nhiệm, bên Nhật Bản do GS.TS. Hitoshi TANAKA chủ nhiệm. Do điều kiện dịch Covid-19 còn đang diến biến phức tạp nên phần trình bày của GT.TS. Hitoshi TANAKA được kết nối online.

    Tham dự phát biểu từ phía trường Đại học Thủy lợi có Phó Hiệu trưởng GS.TS. Nguyễn Trung Việt. Bên cạnh đó, có sự tham gia của đại diện Văn phòng chương trình Quốc gia, ông Trần Anh Tuấn; các đại diện của tỉnh Quảng Nam như ông Văn Anh Tuấn (Sở GTVT tỉnh Quảng Nam), ông Lê Quang Hiếu (Ban QL khu KT Chu Lai), ông Trần Thanh Tuấn (Ban QL khu KT Chu Lai) …. Về phía khoa Công trình, Phó trưởng khoa PGS.TS. Trần Thanh Tùng cũng tham gia với vai trò chuyên gia và đại biểu. Các nhà khoa học từ các trường Đại học, Viện, Trung tâm cũng tham gia lắng nghe các nội dung của buổi Hội thảo.

    Mục tiêu của đề tài: (1) làm rõ chế độ thủy thạch động lực và quá trình biến đổi hình tháo sông Trường Giang và vùng cửa sông ven biển; (2) Đề xuất được giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang, vùng cửa sông ven biển đáp ứng được nhu cầu thoát lũ, giao thông thủy và phát triển bền vững kinh tế khu vực lân cận.

    Nội dung nghiên cứu đã được trình bày theo 5 nội dung chính như sau: (1) Thu thập tài liệu cơ bản và tổng quan về vấn đề nghiên cứu; (2) Điều tra, khảo sát phục vụ cho việc xây dựng mô hình toán và đề xuất phương án chỉnh trị; (3) Thiết lập công cụ mô hình toán hiện đại phục vụ nghiên cứu chế độ thạch động lực và diễn biến hình thái sông Trường Giang và khu vực Cửa Lở; (4) Phân tích, đánh giá các nguyên nhân, cơ chế và các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biên lòng dẫn sông Trường Giang và vùng Cửa Lở; (5) Nghiên cứu đề xuất giải pháp chỉnh trị sông Trường Giang và vùng Cửa Lở đáp ứng yêu cầu thoát lũ và giao thông thủy, phục vụ phát triển bền vững kinh tế khu vực và vùng lân cận. Các thành viên của Đề tài đã lần lượt báo cáo các kết quả chính.

    Về sản phẩm đạt được của Đề tài gồm 03 bài báo thuộc tạp chí chuyên ngành Quốc gia, 01 bài ở tạp chí quốc tế, 02 bài báo cáo tại các Hội thảo trong nước và quốc tế; sản phẩm KHCN liên quan đến đào tạo gồm 02 thạc sỹ ngành Xây dựng công trình thủy, công trình biển/môi trường, góp phần đào tạo tiến sỹ.

    Như vậy, Đề tài đã xây dựng được bộ tiêu chí kỹ thuật tổng thế để bảo đảm ổn định vùng sông Trường Giang, nghiên cứu thiết kế chuẩn tắc đoạn luồng qua sông Trường Giang, đề xuất các phương án định hướng quy hoạch không gian công trình chỉnh trị sông Trường Giang. Hy vọng những kết quả của Đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học ứng dụng nhằm hạn chế những thiệt hại do thiên tai, đào tạo sinh viên/học viên mà còn có thể ứng dụng trong phát triển bền vững kinh tế ở vùng sông Trường Giang và vùng Cửa Lở, tỉnh Quảng Nam.

    Khoa Công trình

  • Trường Đông về Mạng phức tạp và ứng dụng

    Trường Đông về Mạng phức tạp và ứng dụng

    “…Mạng phức tạp nói riêng và hệ phức tạp nói chung là một trong các hướng nghiên cứu quan trọng của Toán học…”. Đó là phát biểu đánh giá của PGS.TS. Lê Minh Hà, Giám đốc điều hành Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Về Toán tại buổi khai mạc Trường Đông về “Mạng phức tạp và ứng dụng” do Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Về Toán và Trường Đại học Thuỷ lợi đồng tổ chức đã diễn ra từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 12 năm 2020 tại Trường Đại học Thuỷ lợi, Hà Nội.

    Cụ thể là, theo một nghiên cứu dự báo của Hội Toán học Hà Lan, 5 thách thức lớn của Toán học trong tương lai là: Chương trình Langlands (Langlands program), Các hệ phức tạp (Complex systems), Mô hình ngẫu nhiên (Stochastic Modelling), Tính toán hiệu quả (Efficient computing) và Khoa học dữ liệu (Data Science).  Bởi thế, trường Đông về Mạng phức tạp và ứng dụng với các công cụ nghiên cứu và ứng dụng  liên ngành  là một hoạt động khoa học rất bổ ích và thời sự.  Đây là một hoạt động khoa học nằm trong khuôn khổ của Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020, do  Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán và Trường Đại học Thủy Lợi phối hợp tổ chức.

    truongdong1.jpg

    Trường Đông về Mạng phức tạp và ứng dụng nhằm trang bị một số kiến thức  cơ bản và nâng cao về mạng phức tạp và ứng dụng. Trường gồm ba khoá học ngắn song song diễn ra trong ba ngày gồm cả nội dung lý thuyết và thực hành ứng dụng. Khóa học thứ nhất là về Một số bài toán và thuật toán tìm kiếm cộng đồng trong mạng Liên kết do PGS.TSKH Phan Thị Hà Dương (Viện Toán học/Viện dữ liệu lớn VinBigdata) giảng dạy, khóa học thứ hai về Lý thuyết mạng phức tạp và ứng dụng do TS. Lê Chí Ngọc (Trường Đại học Bách Khoa) giảng dạy và khoá học thứ ba là về Sự lan truyền dịch bệnh trong mạng phức tạp với các ví dụ tập trung vào dịch Covid-19 trên thế giới và tại Việt Nam do PGS.TS. Nguyễn Ngọc Doanh (Trường Đại học Thuỷ lợi) giảng dạy. 

    Trường Đông đã được thu hút gần 80 học viên, được chia thành hai phần: phần bài giảng lý thuyết diễn ra song song tại Room 9, Room 10, khu hội thảo quốc tế K1 trong buổi sáng các ngày 16-18/12/2020 và phần thảo luận nhóm/thực hành diễn ra tại không gian nghiên cứu tầng 5 nhà A1 vào các buổi chiều 16-17/12/2020. Chủ đề thảo luận của các nhóm là các mạng phức tạp liên quan đến các khía cạnh khác nhau của dịch Covid-19 tại Việt Nam như:  tìm hiểu đề xuất cách xây dựng mô hình rừng (có trọng số) cho mạng lưới Covid 19 tại Việt Nam, xây dựng mô hình SIR trên mạng các phường mô tả sự lan truyền Covid 19 tại một số thành phố ở Việt Nam, xây dựng mô hình đánh giá nguy cơ các F1 trên mạng lưới các cụm dịch tại Việt Nam.

     Một số hình ảnh Trường Đông:

    ​

    Nguồn: Viện nghiên cứu cao cấp về Toán

    https://viasm.edu.vn/hoat-dong-khoa-hoc/tin-tuc/chi-tiet/truong-dong-ve-mang-phuc-tap-va-ung-dung

  • Thực trạng và nguyên nhân gây bồi lắng hồ chứa tại Việt Nam dưới tác động của biến đổi khí hậu

    Thực trạng và nguyên nhân gây bồi lắng hồ chứa tại Việt Nam dưới tác động của biến đổi khí hậu

    Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học Nghị định thư hợp tác với Hàn Quốc: “Nghiên cứu dòng chảy bùn cát đến hồ chứa có xét đến các yếu tố chịu tác động của biến đổi khí hậu – Áp dụng cho một hồ chứa tại Việt Nam” do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì, chủ nhiệm đề tài PGS.TS. Nguyễn Thu Hiền.

    Ngày 8/12/2020 tại phòng họp Room 5/K1, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức Hội thảo khoa học: “Thực trạng và nguyên nhân gây bồi lắng hồ chứa tại Việt Nam dưới tác động của biến đổi khí hậu” để báo cáo các kết quả đã đạt được của Đề tài, cũng như lấy ý kiến đóng góp của các Nhà khoa học.

    Tham dự Hội thảo có Ông Trần Đình Hòa, Phó Giám đốc viện KHTL Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi và đại diện các cơ quan quản lý Bộ, Ban, Ngành, các Tổng cục, các cục, Đại diện lãnh đạo, đại diện phòng Khoa học Công nghệ Trường Đại học Thủy lợi, các Nhà khoa học, nhóm thực hiện đề tài và các đại biểu quan tâm.

    PGS.TS.Nguyễn Cảnh Thái phát biểu khai mạc Hội thảo

    Mở đầu hội thảo, PGS.TS.Nguyễn Cảnh Thái thay mặt lãnh đạo Nhà trường phát biểu khai mạc Hội thảo, sau đó là các báo cáo chuyên đề do nhóm thực hiện đề tài trình bày:

    – Giới thiệu tổng quan về Đề tài nghiên cứu

    – Tổng quan tình hình bồi lắng hồ chứa

    – Phân tích các yếu tố chịu tác động của BĐKH và các yếu tố khác tác động đến dòng chảy bùn cát

    – Đánh giá đặc trưng mưa, nhiệt độ hiện trạng và trong tương lai theo các kịch bản BĐKH lưu vực Sesan

    – Tình hình bồi lắng hồ chứa Pleikrong

    PGS.TS Nguyễn Thu Hiền – chủ nhiệm đề tài báo cáo tại Hội thảo

    Các đại biểu tham dự đã thảo luận đóng góp nhiều ý kiến quan trọng để hoàn thiện các báo cáo. Thay mặt ban chủ nhiệm đề tài, PGS.TS. Nguyễn Thu Hiền đã cảm ơn các ý kiến đóng góp quý báu của các đại biểu tham dự và tuyên bố bế mạc Hội thảo./.

    Phòng KHCN