Danh mục: Nghiên cứu

  • Hội thảo Quốc tế “Establishment of a landslide monitoring and prediction system” thuộc đề tài Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất

    Hội thảo Quốc tế “Establishment of a landslide monitoring and prediction system” thuộc đề tài Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất

    Ngày 02/11/2022 tại Hội trường 225/A2, Trường Đại học Thủy lợi đã chủ trì và tổ chức Hội thảo Quốc tế “Establishment of a landslide monitoring and prediction system” thuộc đề tài “Nghiên cứu thiết lập hệ thống quan trắc theo thời gian thực phục vụ cảnh báo sớm trượt lở đất”, Mã số NĐT67/e-Asia19. Đề tài NĐT67/e-Asia19 do trường Đại học Thủy lợi chủ trì phía Việt Nam (từ năm 2019 – 2022) và trong chương trình nghiên cứu chung Đông Á (e-Asia JRP) với chủ đề phòng, chống và giảm thiểu thiên tai khu vực.

    Mục đích của Hội thảo là tổng kết kết quả nghiên cứu chung của ba nước thành viên thực hiện đề tài NĐT67/e-Asia19 (năm 2019 – 2022) gồm: Nhật Bản, Thái Lan và Việt Nam nhằm chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu, đào tạo, các công bố khoa học chung và định hướng hợp tác mở rộng nghiên cứu trong những năm tiếp theo.

    Tham dự Hội thảo có các đại diện của Tổ chức Khoa học công nghệ Nhật Bản JST; Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam; lãnh đạo các đơn vị phối hợp nghiên cứu với Trường Đại học Thủy lợi; các nhà khoa học đến từ các Trường Đại học, Viện nghiên cứu; Chủ tịch Hội Cơ học Đất và Địa kỹ thuật Công trình Việt nam; Tập đoàn, các trưởng nhóm nghiên cứu (PI) từ ba nước thành viên.

    Toàn cảnh buổi Hội thảo

    Phát biểu chào mừng Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi đã đánh giá cao sự phối hợp nghiên cứu chặt chẽ giữa 03 nước thành viên trong nhóm nghiên cứu và gửi lời cảm ơn các nhà khoa học Nhật Bản, Thái Lan, các đơn vị phối hợp nghiên cứu gồm Trường Đại học Giao thông vận tải và Viện Địa chất đã có những đóng góp thiết thực trong nghiên cứu, đào tạo và mong muốn sẽ tiếp tục có những hợp tác nghiên cứu thiết thực, hiệu quả với các đối tác. Đặc biệt PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái gửi lời cảm ơn các lãnh đạo thị xã Sa Pa, lãnh đạo huyện Nguyên Bình đã có những giúp đỡ và phối hợp chặt chẽ để nhóm nghiên cứu có kết quả nghiên cứu tốt.

    PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Trong khuôn khổ Hội thảo, các đại biểu đã được nghe 13 bài báo cáo. Trong đó, phiên buổi sáng là các bài báo cáo của trưởng nhóm nghiên cứu ba nước thành viên và 03 báo cáo của khách mời; phiên buổi chiều có 07 báo cáo điển hình của các thành viên nhóm nghiên cứu ba nước và tập trung các nội dung xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở đất, phát triển trạm đo trượt lở đất theo thời gian thực và hệ thống truyền dẫn, xây dựng mô hình dự đoán trượt đất tích hợp theo thời gian thực, mô phỏng 3D khối trượt đất theo tiếp cận định lượng để phát triển bản đồ nguy cơ trượt đất tỷ lệ lớn.

    Tại Hội thảo, PGS.TS. Hoàng Việt Hùng – Chủ nhiệm đề tài NĐT 67/e-Asia19 (Principal Investigator from Vietnam) đã trình bày báo cáo tóm tắt các thông tin đề tài và các kết quả nghiên cứu từ năm 2019 – 2022 của nhóm Việt Nam đã đạt được gồm: 12 bài báo SCIE, 02 bài báo tạp chí trong nước, đào tạo 01 thạc sỹ và cung cấp số liệu cho 02 nghiên cứu sinh nghiên cứu về trượt lở đất.

    PGS.TS. Hoàng Việt Hùng – Chủ nhiệm đề tài NĐT67/e-Asia19 báo cáo tại Hội thảo

    Tương tự, TS. Jessada Karnjana – Trưởng nhóm nghiên cứu phía nước Thái Lan, đến từ Trung tâm Công nghệ máy tính, điện tử Quốc gia Thái Lan đã có bài trình bày về quan trắc trượt lở đất và truyền dẫn số liệu. Theo đó nhóm nghiên cứu Thái lan đã hoàn thành được các sản phẩm phần mềm xử lý chất lượng ảnh vệ tinh, ảnh viễn thám phục vụ nhận diện trượt lở đất; và nhiều kết quả nghiên cứu khác của nhóm Thái Lan như: tối ưu hóa hệ thống truyền dẫn không dây để phục vụ sử lý số liệu đo từ các trạm thành phần quan trắc trượt lở đất về máy chủ, phân tích dữ liệu LiDAR trong phòng chống đá lở đá rơi…

    TS. Jessada Karnjana – Trung tâm Công nghệ máy tính, điện tử Quốc gia Thái Lan trình bày báo cáo của nhóm nghiên cứu Thái Lan

    Xử lý ảnh quan trắc đánh giá trượt lở đất

    GS.TS. Akihiko Wakai – Đại diện nhóm nghiên cứu phía nước Nhật Bản đến từ Trường Đại học Gunma, đồng thời GS.TS. Akihiko Wakai cũng là Lead PI đã có bài trình bày về kết quả phát triển phần mềm dự đoán trượt lở đất theo thời gian thực. Với mô hình phân tích mái dốc đề xuất, kết quả nghiên cứu đã phát triển hoàn chỉnh được bản đồ nguy cơ trượt lở đất theo thời gian thực. Từ số liệu mưa trạm đo thời gian gian thực thể hiện được biến đổi mực nước ngầm tương ứng dẫn đến kết quả hệ số ổn định mái dốc biến đổi tương ứng. Ngoài ra GS.TS. Akihiko Wakai cũng trình bày nhiều nội dung liên quan tới các nghiên cứu ở các nước thành viên…

    GS.TS. Akihiko Wakai – Trường Đại học Gunma trình bày báo cáo của nhóm nghiên cứu Nhật Bản

    Tóm tắt kết quả phát triển hệ thống dự đoán trượt lở đất theo thời gian thực

    Tại buổi Hội thảo, TS. Phùng Đức Long – Chủ tịch Hội Cơ học Đất và Địa kỹ thuật Công trình Việt Nam đã chia sẻ với các đại biểu về kinh nghiệm hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Với hơn 15 năm kinh nghiệm hoạt động khoa học Công nghệ tại Thụy Điển, TS. Phùng Đức Long đã có đánh giá cao về hiệu quả chương trình phối hợp nghiên cứu chung e-Asia JRP và ấn tượng với kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu 03 nước.

    TS. Phùng Đức Long – Chủ tịch Hội Cơ học Đất và Địa kỹ thuật Công trình Việt Nam phát biểu tại Hội thảo

    Kết luận Hội thảo, GS.TS. Kenji Satake – Trường Đại học Tokyo đại diện Cục Khoa học Công nghệ Nhật Bản (JST) phát biểu tổng kết Hội thảo và định hướng mở rộng nghiên cứu ba bên tập trung giải quyết vấn đề thiên tai miền Trung. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu phối hợp ba bên rất tốt, cần phát huy thế mạnh nghiên cứu và hiệu quả hơn nữa để đóng góp thiết thực cho phòng chống thiên tai ở ba nước và khu vực. Chất lượng các sản phẩm khoa học và đào tào của đề tài NĐT67/e-Asia19 đáp ứng được yêu cầu về mặt khoa học và thực tiễn: trong 03 năm (từ năm 2019 – 2022) nhóm nghiên cứu của ba nước (Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản) đã công bố 26 bài báo SCIE, đào tạo 01 tiến sĩ từ Đại học Gunma, 09 thạc sĩ (trong đó có 05 thạc sĩ lĩnh vực Công nghệ thông tin (Thái Lan), 01 Thạc sĩ lĩnh vực Địa kỹ thuật Xây dựng (Việt Nam), 03 Thạc sĩ Địa kỹ thuật (Nhật Bản).

     GS.TS. Kenji Satake phát biểu kết luận Hội thảo

    Hội thảo kết thúc vào hồi 17h00 cùng ngày sau phiên thảo luận. Kết thúc Hội thảo, toàn thể các đại biểu dự Hội thảo trực tiếp đã có chuyến tham quan các cơ sở vật chất của Trường Đại học Thủy lợi tại cơ sở Hà Nội.

    Các đại biểu tham dự Hội thảo trực tiếp tại hội trường 225/A2 chụp ảnh kỷ niệm

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Hội thảo “Lựa chọn phương pháp xác định giá sản phẩm dịch vụ tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam”

    Hội thảo “Lựa chọn phương pháp xác định giá sản phẩm dịch vụ tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam”

    Mục đích của Hội thảo nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương pháp, quá trình thực hiện việc lập và quản lý việc xác định giá sản phẩm dịch vụ thủy lợi nói chung và phục vụ sản xuất nông nghiệp nói riêng.

    Tham dự Hội thảo có các đại diện của Tổ chức phát triển quốc tế IDH; chuyên gia đến từ Tổ chức đối tác về nước Australia (AWP); Tổng cục Thủy lợi; Chi cục Thủy lợi Hà Nội; Viện Kinh tế và Quản lý – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam; CPO Thủy lợi Việt Nam; các đơn vị đến từ các Doanh nghiệp khai thác công trình Thủy lợi gồm: Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Nhuệ, Xí nghiệp Khai thác Thủy lợi Phú Xuyên, một số Hợp tác xã Nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội; và các đơn vị thuộc Trường Đại học Thủy lợi như: Viện Đào tạo và Ứng dụng miền Trung, Viện Kỹ thuật Tài nguyên nước, Viện Kỹ thuật Công trình, Bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước, Bộ môn Quản lý xây dựng.

    Toàn cảnh buổi Hội thảo

    Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi có bài giới thiệu về các hoạt động tiêu biểu của Nhà trường. PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái cho biết: Nhà trường đã và đang giúp Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thủy lợi xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật, tính giá dịch vụ thủy lợi cho các hồ chứa nước Cửa Đạt, Ngàn Trươi và hệ thống thủy lợi lớn như Cái Lớn, Cái Bé, hệ thống Bắc Hưng Hả, hệ thống chống ngập cho Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với các địa phương, Nhà trường đã xây dựng định mức và giá dịch vụ thủy lợi cho các tỉnh thành như: Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Lâm Đồng.

    PGS. TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Tại buổi Hội thảo, ông Nguyễn Hồng Khanh – Cục Trưởng Cục Quản lý khai thác công trình Thủy lợi, Tổng cục thủy lợi đã chia sẻ với các đại biểu về những khó khăn trong việc thực hiện xác định giá dịch vụ thủy lợi, trong quá trình chuyển đổi mô hình và hình thức quản lý hệ thống công trình thủy lợi. Những khó khăn hiện nay đang gặp trong phương pháp tính và làm sao đưa ra được phương pháp phù hợp với đặc thù từng vùng từng hệ thống.

    Ông Nguyễn Hồng Khanh – Cục Quản lý khai thác công trình Thủy lợi, Tổng cục Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Tương tự, chia sẻ tại buổi Hội thảo, đại diện Tổ chức phát triển quốc tế (IDH) và chuyên gia Tổ chức đối tác về nước Australia (AWP) cũng chia sẻ với các đại biểu những kinh nghiệm, phương pháp xác định tính toán giá nước tại Australia và đưa ra những khuyến nghị, bài học cho tính toán giá dịch vụ nước tưới trong các hệ thống thủy lợi.

    Ông Rob Rendell – Chuyên gia tổ chức AWP phát biểu tại Hội thảo

    Trong khuôn khổ Hội thảo, các đại biểu đã được nghe 04 bài tham luận của các chuyên gia, trong đó 01 tham luận của chuyên gia Australia, 01 tham luận của Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển thủy lợi sông Nhuệ, 01 tham luận của trường Đại học Thủy lợi và 01 tham luận của Hợp tác xã Phú Nghĩa, Phú Xuyên, Hà Nội.

    Ông Đặng Hữu Chỉnh – Chủ tịch HĐQT HTX Phú Nghĩa, Phú Xuyên, Hà Nội phát biểu tại Hội thảo

    Kết luận Hội thảo, TS. Đỗ Văn Quang – Trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi đại diện cho đơn vị tổ chức chủ trì buổi thảo luận và tổng kết các kết quả thảo luận của Hội thảo như: (1) Qua Hội thảo này các chuyên ra đã đưa ra 04 phương pháp xác định giá dịch vụ tưới cho sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện Việt Nam, bao gồm: định giá theo phương pháp chi phí trung bình; phương pháp định giá hai thành phần; phương pháp định giá theo bậc thang; phương pháp định giá theo định mức Kinh tế kỹ thuật; (2) Cần bổ sung trong tính giá nước theo các kịch bản áp lực đầu ra (với hệ thống tưới áp lực), mức độ chất lượng dịch vụ, thời gian sử dụng điện.

    TS. Đỗ Văn Quang – Trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại Hội thảo

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Hội thảo Khoa học quốc tế “Thúc đẩy công bố kết quả nghiên cứu của giảng viên lĩnh vực Khoa học Giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”

    Hội thảo Khoa học quốc tế “Thúc đẩy công bố kết quả nghiên cứu của giảng viên lĩnh vực Khoa học Giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”

    1. Ngôn ngữ sử dụng tại Hội thảo

    – Tiếng Việt hoặc tiếng Anh

    2. Thời gian, địa điểm tổ chức Hội thảo

    – Thời gian: Ngày 15/4/2022

    – Địa điểm: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành – 300A Nguyễn Tất Thành – Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nội dung chi tiết xin xem Tại đây.

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Tìm giải pháp khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng

    Tìm giải pháp khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng

    Tham dự hội thảo có đại diện các Bộ, Ngành trung ương; các tổ chức quốc tế; các trường Đại học, Viện nghiên cứu; các sở, ban, ngành liên quan. Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp và trực tuyến.

    Các đại biểu tham dự hội thảo

    Bãi tắm Cửa Tùng là một bãi tắm nổi tiếng không chỉ của Quảng Trị mà của miền Trung và cả nước, là một trong những điểm đến du lịch trên tuyến Hành lang kinh tế Đông Tây và có một vai trò hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển tổng thể của tỉnh Quảng Trị.

    Phát biểu tại hội thảo, ông Hà Sỹ Đồng – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, những năm qua bãi tắm Cửa Tùng đã bị xâm thực nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống dân sinh và sự phát triển KT – XH của tỉnh Quảng Trị.

    Nhằm mục đích ngăn cát, chống bồi lấp luồng, tỉnh đã triển khai xây dựng kè phía Nam cửa sông Bến Hải vào năm 2004, kè phía Bắc năm 2013. Đồng thời nỗ lực triển khai các biện pháp để tìm giải pháp ổn định cho bãi tắm Cửa Tùng và khu vực xung quanh nhưng cho đến nay tình trạng xâm thực bãi tắm vẫn tiếp tục diễn ra.

    Bãi tắm Cửa Tùng ngày càng bị thu hẹp do sự xâm thực gia tăng cả về quy mô lẫn cường độ. Từ chỗ bãi cát trắng mịn rộng hàng trăm mét với độ dốc thoải nay chỉ còn khoảng 20 m – 30 m và độ dốc bãi đã tăng lên đột biến làm giảm mạnh lượng khách du lịch đến với bãi tắm này. Bên cạnh đó, cửa sông Bến Hải luôn có xu thế bị bồi lấp đã làm ảnh hưởng rất lớn đến giao thông thủy, tàu bè ra vào neo đậu khu vực cảng Cửa Tùng.

    Bãi tắm Cửa Tùng ngày càng bị thu hẹp do sự xâm thực gia tăng cả về quy mô lẫn cường độ

    Từ chỗ bãi cát trắng mịn rộng hàng trăm mét với độ dốc thoải nay chỉ còn khoảng 20-30m và độ dốc bãi đã tăng lên đột biến làm giảm mạnh lượng khách du lịch đến với bãi tắm Cửa Tùng

    Xác định rõ việc khắc phục xâm thực bãi biển Cửa Tùng nói riêng và giải pháp tổng thể, căn cơ hiệu quả cho toàn bộ khu vực Cửa Tùng nói chung là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp, cần có những nghiên cứu khoa học chuyên sâu, vì vậy UBND tỉnh Quảng Trị đã kêu gọi các trung tâm khoa học của quốc gia nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khắc phục.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị mong muốn thông qua hội thảo lần này, các nhà khoa học trong cả nước, các tổ chức quốc tế, các địa phương cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm thực hiện dự án chống xói lở bờ biển và nuôi bãi để tìm ra giải pháp tối ưu nhất nhằm hoàn trả lại bãi tắm Cửa Tùng.

    Công trình kè chắn sóng phía bờ Nam Cửa Tùng bị hư hỏng nghiêm trọng

    Hội thảo đã nghe báo cáo tham luận về nguyên nhân gây xâm thực, giải pháp phục hồi và bảo vệ bãi tắm Cửa Tùng, chia sẻ những kinh nghiệm về chống xói lở bờ biển, nuôi bãi, tôn tạo bãi biển, khắc phục xói lở bờ biển, đề xuất giải pháp tổng thể và đồng bộ cho toàn bộ khu vực Cửa Tùng và vùng lân cận của các chuyên gia đến từ Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Viện Địa lý, Viện Tài nguyên và Môi trường biển.

    Bên cạnh đó, hội thảo cũng được nghe những chia sẻ của đại diện Cơ quan Phát triển Pháp trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ quốc tế về thích ứng với biến đổi khí hậu, đóng góp ý kiến Công ty TNHH DHI Việt Nam (Viện Thủy lực Đan Mạch) thông qua các các dự án chống xói lở bờ biển ở Việt Nam và trên Thế giới.

    Kết luận hội thảo, ông Hà Sỹ Đồng – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cảm ơn các ý kiến đóng góp tâm huyết của các nhà quản lý, nhà khoa học và các chuyên gia. Các ý kiến này có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp tỉnh Quảng Trị tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng nhằm tìm ra giải pháp tối ưu nhất để hoàn trả lại bãi tắm.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị khẳng định, ngoài sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Quảng Trị, tỉnh cần tiếp tục có sự ủng hộ của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương, các tổ chức quốc tế, sự chung tay, góp sức của các nhà đầu tư và sự đồng hành, hỗ trợ của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong việc khắc phục hiện tượng xâm thực bãi tắm Cửa Tùng, thúc đẩy phát triển KT – XH của tỉnh.

    Trong khuôn khổ hội thảo, sáng cùng ngày, các chuyên gia đã tiến hành khảo sát thực địa bãi biển Cửa Tùng và bãi biển phía Nam cầu Cửa Tùng để có cái nhìn tổng quan về hiện trạng bãi tắm Cửa Tùng và khu vực xung quanh.

    Theo Báo Quảng Trị

  • Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL V/v ban hành Quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi

    Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL V/v ban hành Quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi

    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Số: 2060/QĐ-ĐHTL

    Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 2022

    QUYẾT ĐỊNH

    Về việc ban hành quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi

    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    Căn cứ Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi ban hành theo Quyết định số 1249/BNN-TCCB ngày 29/4/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

    Căn cứ Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi ban hành theo Nghị quyết số 19/NQ-HĐT4 ngày 04/01/2022 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thủy lợi;

    Căn cứ Tờ trình về quy định hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trường Đại học Thủy lợi;

    Theo đề nghị của Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này bản quy định về công tác quản lý hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi.

    Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế các văn bản ban hành trước đây quy định về công tác quản lý sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi.

    Điều 3. Trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Trưởng các khoa, Giám đốc các trung tâm đào tạo, Trưởng các đơn vị và cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

    Nơi nhận:

    • BGH (để b/c);
    • Như điều 3;
    • Lưu: VT, KHCN (NTH.14b).

    KT. HIỆU TRƯỞNG

    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

    (đã ký)

    PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái

    QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HỌC THUẬT CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

    (Ban hành kèm theo Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi)

    Chương I

    QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

    Văn bản này quy định về hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi, bao gồm: xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động sinh hoạt học thuật (SHHT) của giảng viên; quản lý hoạt động SHHT của giảng viên; trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên tham gia báo cáo SHHT.

    Văn bản này được áp dụng đối với giảng viên đang công tác tại Trường Đại học Thủy lợi.

    Điều 2. Mục tiêu hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên

    Bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên trong Trường Đại học Thủy lợi.

    Khuyến khích, hỗ trợ và công nhận giờ NCKH cho giảng viên tham gia hoạt động SHHT.

    Điều 3. Yêu cầu về hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên

    1. Phù hợp với nội dung môn học của bộ môn và chuyên ngành đào tạo do bộ môn quản lý.

    2. Định hướng phát triển ngành đào tạo chuyên môn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Nhà trường và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

    3. Nâng cao năng lực nghiên cứu, kinh nghiệm chuyên môn và kỹ năng tay nghề cho giảng viên và cán bộ khoa học của Trường.

    4. Các đăng ký sinh hoạt học thuật phải đảm bảo qui định chưa được trình bày tại hội thảo, hội nghị khoa học do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì tổ chức.

    Điều 4. Nội dung hoạt động sinh hoạt học thuật của giảng viên

     Nội dung sinh hoạt học thuật cần bám sát các tiêu chí sau:

    1) Nâng cao trình độ kiến thức, lý luận dạy học, kinh nghiệm chuyên môn của đội ngũ giảng viên và cán bộ của Trường.

    2) Truyền bá, phổ biến kiến thức mới liên quan đến chuyên môn của bộ môn nhưng chưa được phổ biến rộng rãi.

    3) Công bố khoa học, giới thiệu kết quả NCKH mà tác giả đã và đang thực hiện (không thuộc các đề tài do trường Đại học Thủy lợi là cơ quan chủ trì thực hiện).

    Chương II

    XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HỌC THUẬT CỦA GIẢNG VIÊN

    Điều 5. Xây dựng kế hoạch hoạt động sinh hoạt học thuật sinh hoạt học thuật của giảng viên

    1. Hàng năm phòng KHCN thông báo kế hoạch hoạt động SHHT vào đầu học kỳ I và đầu học kỳ II của năm học.

    2. Kế hoạch SHHT của giảng viên là một phần kế hoạch khoa học và công nghệ của Trường, bao gồm các nội dung:

    a) Xác định danh mục báo cáo SHHT, triển khai thực hiện và tổ chức hội nghị báo cáo SHHT của giảng viên.

    b) Tổ chức hoạt động thông tin SHHT của giảng viên.

    3. Số lượng tối đa mỗi giảng viên đăng ký 01 báo cáo học thuật/01 học kỳ.

    Điều 6. Xác định danh mục SHHT và triển khai thực hiện báo cáo SHHT của giảng viên

    1. Xác định danh mục SHHT của giảng viên:

    a) Giảng viên đề xuất SHHT với Bộ môn chuyên môn.

    b) Bộ môn chuyên môn xác định danh mục SHHT của giảng viên thuộc Bộ môn và gửi cho Khoa/Trung tâm tổng hợp chung theo đơn vị (Mẫu 01-SHHT).

    c) Khoa/Trung tâm tổng hợp danh mục đăng ký báo cáo SHHT của đơn vị và gửi và gửi về phòng KHCN trước ngày 10/9 hàng năm (Mẫu 02-SHHT).

    d) Thời gian hoàn thành việc xác định danh mục SHHT của giảng viên là tháng 9 hàng năm.

    đ) Hiệu trưởng phê duyệt danh mục SHHT của giảng viên.

    2. Triển khai thực hiện báo cáo SHHT của giảng viên:

    a) Giảng viên triển khai thực hiện báo cáo SHHT theo đăng ký đã được duyệt.

    b) Thời gian thực hiện báo cáo SHHT của giảng viên diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm đối với học kỳ 1, và từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm đối với học kỳ 2 của năm học.

    Điều 7. Tổ chức hội nghị SHHT của giảng viên

    1. Giảng viên nộp báo cáo SHHT cho Bộ môn chuyên môn trước 10 ngày tổ chức hội nghị SHHT.

    2. Bộ môn chuyên môn rà soát, thẩm định báo cáo SHHT và gửi thông tin về tiêu đề, nội dung bản báo cáo SHHT, tên báo cáo viên và địa điểm tổ chức SHHT về Phòng KHCN trước 10 ngày tổ chức hội nghị SHHT.

    3. Bộ môn chuyên môn chịu trách nhiệm chủ trì tổ chức hội nghị SHHT của giảng viên thuộc Bộ môn.

    4. Trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày diễn ra hội nghị SHHT, giảng viên là báo cáo viên chính của báo cáo SHHT nộp 01 hồ sơ gồm các tài liệu sau đây về phòng KHCN: biên bản hội nghị SHHT (Mẫu 03-SHHT), danh sách đại biểu tham dự (Mẫu 04-SHHT), phiếu nhận xét của chuyên gia phản biện và toàn văn báo cáo học thuật.

    Chương III

    QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT HỌC THUẬT CỦA GIẢNG VIÊN

    Điều 8. Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Khoa học Công nghệ

    1. Giúp Hiệu trưởng chỉ đạo, quản lý hoạt động SHHT của giảng viên.

    2. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động SHHT của giảng viên.

    3. Làm thủ tục công nhận kết quả hoạt động SHHT cho giảng viên.

    Điều 9. Nhiệm vụ của các Khoa/Trung tâm đào tạo, Bộ môn và các đơn vị liên quan

    1. Nhiệm vụ của các Khoa/Trung tâm đào tạo:

    Đăng ký, phối hợp với Phòng KHCN và các đơn vị chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch SHHT của giảng viên theo đăng ký.

    2. Nhiệm vụ của các Bộ môn trong Khoa/Trung tâm:

    a) Chủ trì thông báo rộng rãi đến các nhà khoa học thuộc Bộ môn, Khoa quản lý và các nhà khoa học thuộc các tổ chức khác tham dự hội nghị SHHT.

    b) Phân công cán bộ khoa học có uy tín, kinh nghiệm, trách nhiệm và năng lực làm chuyên gia phản biện báo cáo SHHT.

    c) Chịu trách nhiệm về chất lượng nội dung của hội nghị SHHT.

    3. Nhiệm vụ của các đơn vị liên quan:

    Các đơn vị liên quan trong Trường có trách nhiệm tạo điều kiện tốt nhất cho giảng viên SHHT theo quy định của Trường.

    Điều 10. Trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên tham gia SHHT

    1. Trách nhiệm của giảng viên:

    a) Thực hiện báo cáo SHHT theo kế hoạch đã phê duyệt của Trường.

    b) Trung thực, cháp hành nghiêm chỉnh các quy định hiện hành về hoạt động khoa học và công nghệ.

    c) Giảng viên là báo cáo viên chính chịu trách nhiệm cập nhật thông tin về hoạt động SHHT trên phần mềm cơ sở dữ liệu tại web: khcn.tlu.edu.vn tương tự như các hoạt động KHCN khác.

    2. Quyền hạn của giảng viên:

    a) Được tạo điều kiện sử dụng các thiết bị sẵn có của Trường để tiến hành hoạt động báo cáo SHHT theo quy định hiện hành về quản lý và sử dụng tài sản của Trường.

    b) Số giờ NCKH được tính cho mỗi báo cáo học thuật tối đa là 30 giờ và chỉ tính cho báo cáo viên chính (tác giả chính).

    Chương IV

    TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Điều 11: Điều khoản thi hành

    1. Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký quyết định han hành và áp dụng từ năm học 2022 – 2023.

    2. Trưởng các đơn vị có liên quan và CBVC trong Trường chịu trách nhiệm thi hành quy định này.

    Điều 12. Sửa đổi, bổ sung

    1. Trong quá trình thực hiện, tùy thuộc vào yêu cầu thực tế, quy định này sẽ được bổ sung và điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.

    2. Việc bổ sung, điều chỉnh, sửa đổi bản quy định này do phòng KHCN xem xét và quyết định dưới sự cho phép của Ban Giám hiệu.

    Tải Quyết định số 2060/QĐ-ĐHTL xem Tại đây.

    Mẫu bảng tổng hợp đk của Bộ môn xem Tại đây.

    Mẫu bảng tổng hợp đk của Khoa, TT xem Tại đây.

    Mẫu biên bản SHHT xem Tại đây.

    Mẫu danh sach đại biểu tham dự hội nghị SHHT xem Tại đây.

    Mẫu phiếu nhận xét phản biện báo cáo học thuật xem Tại đây.​

  • Danh mục Báo cáo Sinh hoạt học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Danh mục Báo cáo Sinh hoạt học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Quý Thầy Cô có đăng ký thực hiện triển khai theo đúng kế hoạch đã đăng ký và thông tin về Phòng KHCN, Email: [email protected] .

    Chi tiết Danh mục Báo cáo Sinh hoạt học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023: xem tại đây.

    Kính thông báo.

  • Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 9/2022

    Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 9/2022

    Tại hội thảo ngày 24/9/2022 nhóm ROOM (Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ/Research of Organic Matter) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Nghiên cứu về ô nhiễm của một số hợp chất hữu cơ độc trong môi trường và ứng dụng kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam”. Tại hội thảo nhóm ROOM đã trình bày 03 bài tham luận về: (1) Một số kết quả nghiên cứu mới về ô nhiễm các chất POPs trong không khí tại Việt Nam do PGS.TS Từ Bình Minh trình bày; (2) Mô hình kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, phục vụ phát triển bền vững vùng Đông Nam Bộ do PGS.TS Nguyễn Hồng Quân trình bày; (3) Nghiên cứu ô nhiễm của một số hợp chất hữu cơ gây rối loạn nội tiết (PAE, Paraben) trong môi trường tại Việt Nam do bà Lê Minh Thùy trình bày.

    Tương tự, ngày 25/9/2022 nhóm MLIC (Nghiên cứu Kỹ thuật học máy và điều khiển thông minh/Machine Learning Techniques and Intelligent Control) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Mạng Nơ ron tích chập đồ thị GCN” do PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh trình bày. Tại hội thảo nhóm MLIC giới thiệu về mạng nơ ron tích chập đồ thị GCN (Graph Convolutional Networks). GCN là một kiến trúc mạng nơ ron rất mạnh mẽ cho học máy trên đồ thị. Một cách làm việc trực quan và toán học phía sau của GCN được đã trình bày và thảo luận trong seminar này.

    Ngày 30/9/2022 nhóm GRAT (Ứng dụng GIS và viễn thám/GIS and Remote sensing Application) đã tổ chức thành công hội thảo với chủ đề “Xác định các tham thông số nhám cho mô hình thủy lực” do PGS. TS. Trần Kim Châu trình bày. Nghiên cứu này xác định việc xác định các thông số nhám cho các thí nghiệm thủy lực là công việc mất rất nhiều thời gian. Đây là công việc đòi hỏi người làm thí nghiệm phải có nhiều kinh nghiệm trong việc tạo độ nhám cho mô hình thủy lực. Nghiên cứu này dựa trên các thí nghiệm về việc sắp xếp các hạt nhám (đường kính, khoảng cách cát hạt) và so sánh với trường hợp mô phỏng không có hạt nhám, để tìm ra quan hệ giữa các thông số nhám. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng  cho nhà máy thủy điện Ialy.

    Nhìn chung, việc xác định các thông số nhám là thực sự cần thiết cho các mô hình thủy lực. Kết quả nghiên cứu đóng góp đáng kể vào việc giảm thời gian để sắp xếp, bố trí các hạt nhám. Có thể áp dụng kết quả nghiên cứu cho nhiều bài toán thủy lực khác.

    Nhóm Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ (ROOM) tại buổi hội thảo

    Nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GRAT) tại buổi hội thảo

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • UBND tỉnh Quảng Bình nghe báo cáo về giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh

    UBND tỉnh Quảng Bình nghe báo cáo về giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh

    Tham dự buổi làm việc có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương liên quan; các nguyên lãnh đạo tỉnh và ngành NN&PTNT qua các thời kỳ.

    Ông Đoàn Ngọc Lâm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình đặt vấn đề tại buổi làm việc

    Đặt vấn đề tại buổi làm việc, ông Đoàn Ngọc Lâm – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình nêu rõ, xuất phát từ tình hình lũ lụt thường xuyên xảy ra trong nhiều năm trên địa bàn 2 huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh, đặc biệt sau trận lũ lụt lịch sử tháng 10-2020 đã gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng, UBND tỉnh đã đề xuất Bộ NN&PTNT hỗ trợ tìm giải pháp để thoát lũ hiệu quả, giúp người dân địa phương chung sống an toàn, bền vững.

    Theo đó, Trường đại học Thủy lợi đã được Bộ NN&PTNT giao thực hiện đề tài nghiên cứu, tìm giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy và Quảng Ninh.

    Theo PGS.TS. Trần Thanh Tùng – Đại diện nhóm nghiên cứu của Trường đại học Thủy lợi, nguyên nhân gây ngập lụt kéo dài ở vùng Lệ Thủy và Quảng Ninh là do mưa lớn bất thường, cửa sông Nhật Lệ bị bồi lấp, lũ chồng lũ và đỉnh lũ trùng với đỉnh triều cường, các công trình hạ tầng hai bên bờ sông cản trở dòng chảy và do đặc điểm địa hình.

    PGS.TS. Trần Thanh Tùng – Đại diện nhóm thực hiện đề tài thuyết minh về các nhóm giải pháp tăng khả năng thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh

    Dựa theo các kết quả phân tích, điều tra, khảo sát và xây dựng bản đồ ngập lụt cho khu vực Lệ Thủy, Quảng Ninh, nhóm nghiên cứu Trường đại học Thủy lợi đã đề xuất 2 nhóm giải pháp, gồm: Nhóm giải pháp tăng khả năng thoát lũ với các phương án được đề xuất là: Nạo vét, nâng cao khả năng thoát lũ cửa Nhật Lệ; cải tạo hành lang thoát lũ; mở cửa thoát lũ mới ra biển (gồm các phương án: kênh dẫn kết hợp các hồ chứa tại huyện Lệ Thủy; kênh dẫn ra biển, ranh giới Lệ Thủy và Quảng Ninh, kênh dẫn ra biển Bảo Ninh).

    Đối với nhóm giải pháp phòng ngập lụt, chống lũ, nhóm nghiên cứu đề xuất các phương án: Nâng cấp đập Mỹ Trung kết hợp với mở rộng khẩu độ của cống để tăng khả năng thoát lũ…; nâng cấp tuyến đê sông để kết nối với đập Mỹ Trung.

    Trong 2 nhóm giải pháp được đưa ra, đề tài nghiên cứu thiên về ưu tiên thực hiện Nhóm giải pháp tăng khả năng thoát lũ.

    Ông Phạm Phước, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình phát biểu tại buổi làm việc

    Tại buổi làm việc, các đại biểu đã có nhiều ý kiến thảo luận, phân tích về cơ sở khoa học, tính phù hợp, khả thi của từng phương án. Các đại biểu đánh giá cao công trình nghiên cứu công phu, được thực hiện trong thời gian khá gấp rút của nhóm chuyên gia Trường đại học Thủy lợi; đồng thời cho rằng, cần bổ sung thêm các dữ liệu có liên quan để chứng minh tính khả thi của đề tài; xác định rõ chiến lược thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh ở mức độ nào; đánh giá tác động môi trường khi thực hiện các phương án cụ thể…

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Thủy lợi phát biểu tại buổi làm việc

    Phát biểu kết luận tại buổi làm việc, ông Đoàn Ngọc Lâm – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bìnhghi nhận công trình nghiên cứu có tính khoa học và công phu của Trường đại học Thủy lợi, là tiền đề quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo.

    Mặt khác, đề tài đã góp phần giúp cho các cấp, ngành chức năng của tỉnh Quảng Bình có cái nhìn tổng quát hơn đối với nguyên nhân gây ngập lụt kéo dài do lũ và định hướng một số giải pháp để thoát lũ hiệu quả cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh.

    Quang cảnh buổi làm viêc

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình nhấn mạnh, lũ lụt ở vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh là do nhiều nguyên nhân gây ra và đây cũng là các địa phương thường xuyên xảy ra lũ lụt.

    Vì vậy, để giải quyết vấn đề này cần phải có một giải pháp tổng hợp, đồng bộ, với những bước thực hiện phù hợp, có tính khả thi cao, mang tính bền vững, thân thiện với môi trường và bảo đảm cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. 

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng đề nghị nhóm thực hiện đề tài của Trường đại học Thủy Lợi trong điều kiện có thể, tiếp thu thêm những ý kiến đóng góp của các đại biểu, nhất là các vấn đề có tính thực tiễn, bổ sung thêm các dữ liệu để hoàn thiện báo cáo nhiệm vụ “Đánh giá nguyên nhân gây ngập lụt kéo dài do lũ và định hướng giải pháp thoát lũ cho vùng Lệ Thủy, Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”.

    Ông Đoàn Ngọc Lâm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Bình phát biểu kết luận tại buổi làm việc

    Theo Báo Quảng Bình

  • Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 8/2022

    Các Nhóm nghiên cứu mạnh Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo tháng 8/2022

    Tại hội thảo ngày 06/8/2022, nhóm AICOST (Trí tuệ nhân tạo cho biến đổi khí hậu và điều khiển hệ thống/Artificial Intelligence for Tackling Climate Change and Controlling System) đã tổ chức thành công hội thảo với 03 bài tham luận do ThS. Nguyễn Quang Đạt; PGS.TS. Nguyễn Ngọc Doanh như sau: (1) Mô hình lai ARIMA-ANN dùng trong dự báo chuỗi thời gian; (2) Mô hình lai sử dụng Seasonal, Online ARIMA và Online RNN dự báo phụ tải điện ngắn hạn; (3) Online SARIMA ứng dụng trong dự báo ngắn hạn phụ tải điện. Qua 03 bài tham luận trên cho thấy, các kết quả nghiên cứu của nhóm AICOST tập trung vào một số điểm chính sau đây:

    (1) Mô hình truyền thống có nhiều ứng dụng mạnh trong dự báo chuỗi thời gian. Mỗi mô hình có những điểm mạnh và yếu khác khau. Khi kết hợp các mô hình đơn lẻ lại trở thành một mô hình lai (hybrid model) thì chúng ta có thể kết hợp các điểm mạnh của từng mô hình đơn lẻ, đồng thời có thể hạn chế được nhiều nhược điểm trong các mô hình đó. Vì vậy, mô hình lai được hy vọng sẽ cho ra kết quả dự báo chính xác hơn.

    (2) Mô hình truyền thống là mô hình được huấn luyện trên bộ dữ liệu có sẵn. Mô hình được cố định sau khi đã huấn luyện xong. Tuy nhiên khi dữ liệu thực tế là dạng được cập nhật liên tục theo thời gian thực thì mô hình không tận dụng được các giá trị mới cập nhật này.

    (3) Mô hình online được đưa ra nhằm tận dụng được việc cập nhật dữ liệu này. Tại các thời điểm có dữ liệu mới được thêm vào dữ liệu của chúng ta, mô hình sẽ tiến hành cập nhật một số tham số của mô hình (nhưng các siêu tham số – hyperparameters – thì vẫn giữ nguyên). Từ đó làm cho kết quả của mô hình tốt hơn.

    (4) Nhiều dữ liệu thực tế là các dữ liệu có tính mùa. Việc phân tích tính mùa trong dữ liệu đem lại hiệu quả tốt hơn cho mô hình. Mô hình SARIMA là một mô hình có sử dụng được tính mùa của dữ liệu. Khi tạo một mô hình online đối với SARIMA thì khi đó ta vừa tận dụng được tính mùa từ mô hình SARIMA, đồng thời cũng tận dụng được việc cập nhật dữ liệu để cập nhật mô hình liên tục. Khi đó, chúng ta có thể hy vọng mô hình mới sẽ có kết quả tốt hơn so với mô hình ARIMA online không có tính mùa.

    Nhóm Trí tuệ nhân tạo cho biến đổi khí hậu và điều khiển hệ thống (AICOST) tại buổi hội thảo

    Tương tự, ngày 28/8/2022 nhóm GRAT (Ứng dụng GIS và viễn thám/GIS and Remote sensing Application) đã tổ chức thành công hội thảo với chủ đề “Xác định các tham số đặc trưng đường cong IDF cho dữ liệu mưa Tân Sơn Hòa, TP. Hồ Chí Minh” do TS. Lê Thị Hòa Bình trình bày. Nghiên cứu này xác định việc xác định đường cong IDF là mối quan tâm hàng đầu trong việc thiết kế hệ thống thoát nước đô thị; hiện nay có khá nhiều công thức biểu diễn mối quan hệ IDF, trong đó công thức của Sherman được sử dụng khá phố biến. Từ kết quả nghiên cứu đã đạt được, nhóm nghiên cứu đã đưa ra đề xuất: sử dụng công thức của Sherman và đề xuất các tham số địa phương phù hợp. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng vào các lĩnh vực quy hoạch, thiết kế các dự án cơ sở hạ tầng.

    Nhìn chung, việc xác định đường cong IDF có ý nghĩa thiết thực trong công tác quy hoạch, thiết kế hệ thống tiêu thoát nước, cơ sở hạ tầng. Do vậy nên áp dụng phương pháp nghiên cứu cho các vùng khác nhau để thấy được sự khác biệt ncủa đường cong IDF của các vùng mưa.

    Nhóm Ứng dụng GIS và viễn thám (GRAT) tại buổi hội thảo

    Ngày 27/8/2022 nhóm MLIC (Nghiên cứu Kỹ thuật học máy và điều khiển thông minh/Machine Learning Techniques and Intelligent Control) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Mạng Nơ ron tích chập đồ thị và ứng dụng” do PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh trình bày. Trong nghiên cứu này, nhóm MLIC giới thiệu về cách thực hiện học sâu trên các đồ thị với mạng nơ ron tích chập đồ thị GCN (Graph Convolutional Networks), một loại mạng nơ ron mạnh mẽ được thiết kế để làm việc trực tiếp trên các đồ thị và tận dụng thông tin cấu trúc của nó. Bên cạnh đó nhóm MLIC cũng giới thiệu một số ứng dụng điển hình của nó.

    Nhóm Nghiên cứu Kỹ thuật học máy và điều khiển thông minh (MLIC) tại buổi hội thảo

    Ngày 30/8/2022 nhóm ROOM (Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ/Research of Organic Matter) đã tổ chức hội thảo với chủ đề “Đánh giá thực trạng và nghiên cứu rủi ro môi trường tại một số tỉnh thành phía Bắc của Việt Nam”. Tại hội thảo nhóm ROOM đã trình bày 03 bài tham luận về: (1) Nghiên cứu về sự cố môi trường trong nông nghiệp, nông thôn khi có thiên tai xảy ra do PGS.TS Bùi Quốc Lập trình bày; (2) Nghiên cứu phân tích, đánh giá sự xuất hiện của hợp chất methylsiloxane mạch vòng dễ bay hơi trong môi trường Hà Nội do NCS Nguyễn Nữ Mỹ Hà trình bày; (3) Đánh giá thực trạng môi trường các vùng nuôi tôm tỉnh Nam Định do bà Pham Trương Thảo Nguyên trình bày.

    Nhóm Nghiên cứu các hợp chất hữu cơ (ROOM) tại buổi hội thảo

    Thu Hiền – Phòng KHCN

  • Đăng ký kế hoạch báo cáo học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Đăng ký kế hoạch báo cáo học thuật học kỳ 1 năm học 2022-2023

    Thời gian các đơn vị (Khoa/Trung tâm) gửi hồ sơ tổng hợp đăng ký về phòng KHCN: đến trước 11h00 ngày 31/8/2022. 

    Thời gian Khoa/Trung tâm tiếp nhận hồ sơ từ Bộ môn do Khoa/Trung tâm qui định.

    Hồ sơ gồm mẫu 1 và mẫu 2.

    Bản in gửi về phòng KHCN: Phòng 510, Tòa nhà Hành chính A1, Trường Đại học Thủy lợi.

    Bản mềm gửi về địa chỉ email: [email protected]

    Kính thông báo.