Tác giả: Data Old

  • Thư ngỏ Tài trợ cuộc thi Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi 2010.

    Thư ngỏ Tài trợ cuộc thi Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi 2010.

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    WATER RESOURCES UNIVERSITY


     


    THƯ NGỎ


     


    Kính gửi: Các Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm, Công ty, các đơn vị, cá nhân trong và ngoài trường


     


                Hướng tới các ngày lễ kỷ niệm Ngày phụ nữ Việt Nam 20/10, ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, hòa trong không khí tưng bừng của Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; được sự đồng ý của Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường, Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên; BCH Đoàn Thanh niên; Ban Nữ công và Ban Nữ sinh trường Đại học Thủy Lợi tổ chức cuộc thi “Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi 2010”. Cuộc thi bắt đầu từ ngày 08/10 qua các vòng sơ tuyển và cuộc thi chung kết sẽ diễn ra vào lúc 19h ngày 20/10/2010.


                Đây là lần thứ 3 Trường Đại học Thủy Lợi tổ chức cuộc thi “Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi”. Qua 2 lần tổ chức, cuộc thi đã đạt được những thành công rực rỡ và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng khán giả. Cuộc thi “Nữ sinh thanh lịch Đại học Thủy Lợi” lần thứ 3 sẽ thành công hơn, có ý nghĩa lớn lao hơn, hiệu quả thiết thực hơn, để lại ấn tượng sâu lắng hơn cho mỗi khán giả nếu có sự ủng hộ, quan tâm bằng cả về tinh thần và vật chất của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường, những người yêu mến và luôn ủng hộ cho các hoạt động của Trường Đại học Thủy Lợi. Nhà trường luôn trân trọng và ghi nhận mỗi đóng góp của các quý vị.


                Về mặt tinh thần là những kỷ vật, những tặng phẩm, những cuốn sách, tạp chí có ý nghĩa giáo dục sẽ được làm quà tặng trao cho các thí sinh tham gia cuộc thi. Về mặt vật chất- sẽ đóng góp vào kinh phí tổ chức cuộc thi và các giải thưởng của cuộc thi.


                Xin trân trọng cảm ơn mọi sự ủng hộ, quan tâm, giúp đỡ của các quý vị.


                Trân trọng!


                                                                           


    T.M BAN TỔ CHỨC


    P.Bí thư Đoàn trường


    Lê Thị Ngọc Quyên


     


    Mọi sự đóng góp của quý vị xin được gửi về:


    Văn phòng Đoàn Thanh niên – Phòng 304 – Nhà A1 – Trường Đại học Thủy Lợi – 175 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội.


    ĐT: 04 38532745 – DD: 0978080073 (gặp anh Viễn – Chuyên trách văn phòng)


    Email: [email protected]

     


    DANH SÁCH CÁC CÁ NHÂN, ĐƠN VỊ ỦNG HỘ


    CUỘC THI NỮ SINH THANH LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI 2010














































    STT


    Tên đơn vị, cá nhân


    Số tiền


    1


    GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng Ủy – Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Thủy Lợi


    2.000.000 vnđ


    2


    Phòng Đào tạo ĐH & SĐH Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    3


    Phòng CTCT & QLSV Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    4


    Cô Trần Thị Chì – Trưởng Phòng Hành chính – Tổng hợp Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    5


    Thầy Nguyễn Thanh Tùng – GĐ Trung tâm Tin học ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    6


    Phòng Quản trị Trường ĐH Thủy Lợi


    200.000 vnđ


    7


    Trung tâm Tin học Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


    8


    Khoa Tại chức Trường ĐH Thủy Lợi


    500.000 vnđ


     


    …………………………


     


    (Chi tiết
    tại đây)

  • Danh sách thi ngày 15-9-2010

    P.Công tác chính trị và Quản lý sinh viên gửi Danh sách thi vét cho sinh viên K48. Bấm vào liên kết sau để xem:

     Danh sách sinh viên thi ngày 15-9-2010

  • Thăng Long – Hà Nội những chặng đường lịch sử

    Kỳ 1: THĂNG LONG – HÀ NỘI, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ


    1.       Thời kỳ tiền Thăng Long


    Thời Hùng Vương, kinh đô đặt ở Văn Lang, vùng đất Thăng Long – Hà Nội lúc đó là một làng quê. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán (An Dương Vương) thay thế vua Hùng dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống miền Cổ Loa. Kinh đô Cổ Loa đi vào lịch sử với tư cách là kinh thành, thị thành, quân thành, trung tâm đầu não chính trị, kinh tế của nước Âu Lạc. Năm 179 trước Công nguyên, nước Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính. Kể từ đó, Âu lạc rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc kéo dài ngàn năm, vùng đất Thăng Long – Hà Nội trở thành đại bản doanh của chính quyền đô hộ. Nửa sau thế kỷ VIII, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi tổ chức đắp La Thành. Năm 865 – 866, Tiết độ sứ Cao Biền cho đắp đê thành Đại La. Đặc trưng thành Đại La thời Bắc thuộc là quan, quân, dân chúng ở trong một vòng đê ngoài, mang tính chất quân sự, thiếu quy mô sinh hoạt kinh tế, văn hoá của các tầng lớp nhân dân.


    Trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, nhân dân Thăng Long – Hà Nội luôn bất khuất, quật cường khởi nghĩa chống quân xâm lược. Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn đập tan ách đô hộ của nhà Hán, xây dựng kinh đô ở Mê Linh, khôi phục nhà nước độc lập. Năm 542 – 544, Lý Bí hào trưởng Thái Bình (vùng Sơn Tây cũ), dấy binh đánh đuổi giặc Lương, lên ngôi hoàng đế hiệu Lý Nam Đế, chọn đất dựng chùa “Khai Quốc”, đóng đô ở vùng đất thuộc Thăng Long – Hà Nội (ngày nay), đặt quốc hiệu của nước là Vạn Xuân. Khoảng năm 766 – 779, Phùng Hưng thủ lĩnh vùng Đường Lâm khởi binh kéo đại quân từ vùng núi Ba Vì về bao vây thành Đại La, lật đổ ách đô hộ nhà Đường, xây dựng chính quyền độc lập tới năm 791. Năm 905, Khúc Thừa Dụ, hào trưởng đất Hồng Châu nổi dậy chiếm giữ phủ thành Đại La, tự lập làm Tiết độ sứ, xoá bỏ chính quyền đô hộ. Năm 931, hào trưởng Dương Đình Nghệ tiến quân từ Ái Châu (Thanh Hoá) ra Bắc, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi thành Đại La, khôi phục nền tự chủ từ năm 931 đến năm 937 – cũng thời gian này Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Năm 938, vua Nam Hán sai con là Hoằng Thao sang xâm lược nước ta, dưới sự chỉ huy đầy mưu lược với trận địa ở cửa sông Bạch Đằng đã đánh tan quân Nam Hán xâm lược chấm dứt ách đô hộ của phong kiến phương Bắc xây dựng nền độc lập tự chủ cho đất nước.


    Thời tiền Thăng Long các bậc đế vương của nước ta, như: An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền đã chọn đất thuộc vùng Thăng Long – Hà Nội để đóng đô, xây dựng nền độc lập.


    2. Thăng Long thời Lý (1010 – 1225)


    Năm 1010, ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đổi tên thành Đại La là thành Thăng Long. Chọn Thăng Long làm kinh đô, Lý Công Uẩn đã đứng trên “chủ thuyết phát triển” và cái nhìn toàn cục của quốc gia để chọn lấy một dải đất đắc địa bậc nhất của nước Đại Cồ Việt xây dựng trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể hiện cao độ ý chí độc lập, tự cường dân tộc.


    Thời Lý kinh đô Thăng Long được xây dựng theo kiến trúc “Tam trùng thành quách” 3 vòng thành lồng nhau. Vòng thành ngoài gọi là thành Đại La. Vòng thành giữa gọi là Hoàng Thành, nơi có các cung điện hoàng gia và nơi thiết triều của vua. Kinh thành được bao bọc bởi một toà thành bằng đất phát triển từ đê của 3 con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô ở phía Bắc và phía Tây, sông Kim Ngưu ở phía Nam. Nét nổi bật của kinh thành Thăng Long thời Lý là tận dụng tối đa những điều kiện tự nhiên và tạo ra sự hài hoà với kiến trúc nhân tạo. Dấu ấn Thăng Long thời kỳ này còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắc, như: đền Đồng Cổ xây dựng năm 1028, chùa Diên Hựu (chùa Một Cột -1049), tháp Báo Thiên (1057). Trong công trình “Thăng Long tứ trấn”, nhà lý xây dựng hoàn chỉnh ba trấn là: quán Trấn Vũ, đền Bạch Mã, đền Voi Phục…. Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu; năm 1075, mở khoa thi Nho học đầu tiên; năm 1076, tuyển những văn quan có học vào tu nghiệp ở Quốc Tử Giám. Trong công cuộc phục hưng nền độc lập nhà Lý đã đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền tảng sự nghiệp văn hoá, giáo dục, đặt nền tảng cho nền giáo dục đại học và nhiều ngành khoa học của nước nhà, mở ra kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị – kinh tế, văn hoá lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước.


    3. Thăng Long thời Trần (1226 – 1400)


    Sau 215 năm cầm quyền, triều Lý lâm vào tình trạng suy yếu, không giữ được binh quyền. Năm 1226, nhà Trần thay thế nhà Lý chấm dứt tình trạng loạn ly, thiết lập lại trật tự chính trị – xã hội. Nhà Trần có nhiều chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng. Nhìn tổng thể kiến trúc cung đình Thăng Long thời Trần không bề thế như thời Lý. Quy mô kinh thành Thăng Long cơ bản vẫn giữ ranh giới cũ. Năm 1230, nhà Trần sửa chữa thành Đại La và các cung thất, hoạch định lại các đơn vị hành chính; năm 1243 đắp lại Cấm thành. Năm 1253 tu sửa lại Quốc Tử Giám, lập Viện Quốc học, Viện Quốc sử, Giảng Võ đường đào tạo nhiều văn quan, võ tướng tài năng. Nho học được coi trọng và phát triển, chế độ khoa cử được tổ chức chặt chẽ. Từ năm 1247, nhà Trần đặt thêm học vị Trạng nguyên, Thám hoa, Bảng nhãn (Tam khôi). Thăng Long thời Trần thu hút nhiều nhân tài từ các nơi về học tập. Khoa học quân sự thời Trần là yếu tố cấu thành văn hóa Đại Việt, tạo nên hào khí Đông A.


    Kinh đô Thăng Long được quy hoạch lại thành 61 phường với số dân đông đúc hơn, tập trung trong khu vực dân sự, Thăng Long ngày càng rõ nét một thành thị với sự phát triển nhanh của phố, chợ, làng nghề thủ công. Nhà Trần có chính sách ngoại giao thông thoáng nhiều khách buôn nước ngoài đã đến đây làm ăn, sinh sống hoặc cư trú chính trị, như: người Hoa, người Hồi Hột, người Java… Kinh đô Thăng Long thời Trần là thành phố mở, hội tụ tinh hoa văn hoá của nhiều nước trên thế giới. Thời Lý và thời Trần nước Đại Việt nổi tiếng với 4 công trình nghệ thuật “An Nam tứ đại khí” làm bằng đồng: chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Quỳnh Lâm và đỉnh tháp Báo Thiên. Trong vòng 30 năm (1258 – 1288), đế chế Mông Cổ ba lần đem quân đánh chiếm Thăng Long. Quân dân ta đều chủ động, khôn khéo rút lui chiến lược khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng, sau đó bao vây, phản công quét sạch quân xâm lược. Thăng Long góp phần cùng nhân dân cả nước lập nên chiến công vĩ đại, ba lần đại thắng quân Nguyên – Mông. Nền văn minh Đại Việt, hào khí Thăng Long, hào khí Đông A tỏa sáng, Thăng Long xứng đáng là kinh đô anh hùng của đất nước anh hùng.


    4. Thăng Long thời Lê, thời Mạc, Lê Trung hưng (1428 – 1788)


    Nhà Trần trị vì được 175 năm thì lâm vào suy thoái. Hồ Quý Ly đại thần nhà Trần thâu tóm quyền lực. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây dựng Tây Đô ở Thanh Hóa, đổi tên Thăng Long thành Đông Đô, buộc vua Trần dời triều đình vào Tây Đô. Trong 10 năm cuối triều Trần nước ta có hai Đô là Tây Đô và Đông Đô. Tây Đô có triều đình, có vị thế về chính trị nhưng Đông Đô (Thăng Long) vẫn là trung tâm kinh tế lớn nhất của đất nước. Năm 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi Trần Thiếu Đế, lên làm vua. Nhà Hồ ở ngôi 7 năm thì phong kiến nhà Minh sang xâm lược, cha con Hồ Quý Ly bị giặc bắt đưa về Trung Quốc. Sau gần 500 năm giành độc lập, đến nhà Hồ, nước ta lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Năm 1418, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Sau chín năm kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã giải phóng được các vùng từ Nam đến Bắc. Năm 1426, ba đạo quân Lam Sơn tiến ra bao vây thành Đông Quan, chủ động “vừa đánh vừa đàm”,“vây thành diệt viện”, dập tắt mọi hy vọng của giặc Minh trong thành Đông Quan, buộc Vương Thông phải lên đàn thề từ bỏ dã tâm xâm lược và xin rút quân về nước. Ngày 29/4/1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, định đô ở Đông Đô. Năm 1430, đổi tên là Đông Kinh. Thời Hậu Lê, kinh thành Thăng Long được quy hoạch và xây dựng theo quy cách đế đô của quốc gia quân chủ tập quyền. Kinh thành được mở rộng sang phía Đông. Trong Cấm thành, một toà thành hình chữ nhật xây gạch với cửa chính là Đoan Môn, nhà Lê xây dựng và bố trí lại nhiều cung điện, lầu gác, thâm nghiêm nhất là điện Kính Thiên xây dựng trên đỉnh núi Nùng. Ngoài Hoàng thành, nhiều kiến trúc mới cũng xuất hiện. Kiến trúc kinh thành thời Lê đạt đến trình độ mực thước, hài hoà. Khu dân sự tiếp tục phát triển và được quy hoạch lại gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương, mỗi huyện có 18 phường. Đông Kinh lúc này đã có những phố chợ buôn bán tấp nập, nhiều phường thủ công nổi tiếng, như: Nghi Tàm, Thụy Chương dệt vải; Yên Thái làm giấy; Hàng Đào nhuộm điều; tranh Hàng Trống…


    Năm 1428, Lê Lợi cho lập nhà Quốc Tử Giám. Năm 1442, mở khoa thi Hội đầu tiên, long trọng tổ chức lễ xướng danh, treo bảng vàng, ban mũ áo cho người trúng tuyển, khuyến khích học hành. Nước Đại Việt dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã đạt tới đỉnh cao của một quốc gia phong kiến độc lập. Tuy nhiên, những mâu thuẫn trong nội bộ triều Lê Sơ, từ đầu thế kỷ XVI, đã dẫn tới sự phế truất vua Lê của tập đoàn phong kiến Mạc Đăng Dung (1572). Năm 1588, nhà Mạc huy động dân đắp 3 lần luỹ đất để tăng cường hệ thống phòng thủ kinh thành. Nhưng chỉ 4 năm sau, dưới danh nghĩa phù Lê, họ Trịnh chiếm được kinh thành. Kinh đô chính thức trở lại tên gọi Thăng Long. Triều đình của vua Lê đóng trong Hoàng thành cũ. Phủ Chúa Trịnh được xây bên ngoài, gồm nhiều cung điện nguy nga, chạy dài theo bờ tây Hồ Gươm. Tuy có những biến động về chính trị, nhưng thời Lê, Mạc, Lê Trung hưng, Thăng Long vẫn là một thành thị – thương cảng sầm uất nhất cả nước và vào loại lớn ở Châu Á. Bên cạnh các thương điếm của người Hoa, còn có cả những thương điếm của người Anh, Hà Lan, Đức. Khu vực dân cư trong kinh thành Thăng Long đông đúc hơn trước và có cả nhà hai tầng. Nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật, đặc biệt là về tôn giáo đã được xây dựng thêm.


    5. Thăng Long- Hà Nội thời Tây Sơn (1788 – 1802)


    Cuối năm 1788, Kinh đô và đất nước Đại Việt lại phải đương đầu với cuộc xâm lược của đế chế Mãn Thanh. Từ Phú Xuân (Huế), vua Quang Trung thống lĩnh đại quân Tây Sơn tiến ra Bắc, giải phóng Thăng Long. Giặc tan, vua Quang Trung về đóng đô ở Huế. Thăng Long là thủ phủ của Bắc Thành. Hoàng thành Thăng Long vẫn được nhà Tây Sơn cho tu sửa, đắp lại những đoạn bị sụt đổ. Chùa Kim Liên (Nghi Tàm), chùa Tây Phương (Thạch Thất), tượng Tuyết Sơn và 18 vị La Hán được tu bổ, tôn tạo; nhiều chuông to, đẹp được đúc. Sau chiến thắng vua Quang Trung ra lệnh cho quân sĩ và nhân dân thu gom xác giặc, chôn cất và sai lập đàn chẩn tế, tu sửa chùa Bộc làm nơi quy y cho quân sĩ nhà Thanh; ban Chiếu khuyến nông, khuyến khích nhân dân trở về quê cũ khai khẩn ruộng bỏ hoang, phục hồi sản xuất; ban Chiếu lập học khuyến khích các địa phương mở trường học. Lập Viện Sùng Chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức của quốc gia. Lịch sử triều đại Tây Sơn tuy ngắn ngủi, nhưng đã để lại những dấu ấn đậm nét trong trang sử Thăng Long – Hà Nội văn hiến, anh hùng.


    6. Thăng Long – Hà Nội thời Nguyễn và Pháp thuộc (1802 – 1945)


    Lợi dụng cơ hội vua Quang Trung qua đời (1792), tập đoàn phong kiến Nguyễn Ánh từ miền Nam đánh chiếm Phú Xuân (1801), thăng Long (1802). Kinh đô nhà Nguyễn vẫn đặt ở Phú Xuân, Thăng Long được gọi là Bắc Thành. Hoàng Thành bị phá bỏ, thay vào đó là một toà thành mới hình vuông, xây theo kiểu thành Vô – băng của Pháp. Năm 1831, Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội với tỉnh lỵ là phủ Hoài Đức (thành Thăng Long cũ), Thăng Long được gọi là Hà Nội. Quốc Tử Giám, cơ quan giáo dục cao nhất của đất nước bị dời vào Huế. Tuy không còn là trung tâm chính trị, nhưng Hà Nội lúc đó vẫn là trung tâm kinh tế -văn hoá lớn nhất của cả nước


    Cuối thế kỷ XIX, trước những hành động xâm lược của thực dân Pháp, cùng với nhân dân cả nước, Hà Nội đã đứng lên kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo của Kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương và người kế nhiệm là Tổng đốc Hoàng Diệu, nhân dân Hà Nội đã anh dũng chống trả các cuộc tấn công của quân Pháp. Nhưng triều đình nhà Nguyễn nhu nhược đã ký “Hiệp ước hoà bình” (1883), công nhận quyền thống trị của Pháp trên cả nước. Hà Nội trở thành đất “bảo hộ” thuộc Bắc kỳ, đặt dưới quyền cai trị của một viên Thống sứ người Pháp. Tháng 7/1888, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh lập thành phố Hà Nội, gồm đất đai tỉnh lỵ Hà Nội, đứng đầu là một viên Đốc ký.


    Chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn của thực dân Pháp làm diện mạo của Hà Nội từ đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi. Các cơ sở hạ tầng được hoàn thành, trước hết là mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, cầu cống, trong đó có cầu Doumer qua sông Hồng. Thành cổ Hà Nội lại bị phá để xây các “khu nhà binh”, công sở. Điện Kính Thiên cũng bị phá huỷ, thay vào đó là nhà con Rồng hai tầng dùng làm sở chỉ huy pháo binh (1886). Đi đôi với việc hình thành các “khu phố Tây” (nằm trên các đường Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt…ngày nay), một số công trình khác mang phong cách Châu Âu được xây dựng, như: Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ, Ngân hàng Quốc gia, Nhà hát lớn, Nhà thờ lớn, nhà Bưu điện, trường Viễn Đông Bác Cổ, ga Hà Nội…


    Mặc dù thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp, khủng bố tàn bạo, phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội thời Pháp thuộc, đặc biệt là sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (02/1930), lúc âm ỉ, lúc rầm rộ, không bao giờ tắt…Ngày 19/8/1945, thực hiện lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban Quân sự Cách mạng Hà Nội, hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành đã nhất tề xuống đường đấu tranh giành chính quyền.


    7. Hà Nội trong thời đại Hồ Chí Minh


    Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, công bố trước toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1946, tại kỳ họp Quốc hội lần thứ nhất Hà Nội được vinh dự chọn làm Thủ đô của cả nước trong kỷ nguyên mới.


    Bước vào xây dựng cuộc sống tự do, dân chủ chỉ hơn một năm, nhân dân Thủ đô lại phải đương đầu với một cuộc xâm lược mới của thực dân Pháp. Đêm 19/12/1946, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc toàn quốc kháng chiến. Sau tám năm trường kỳ chiến đấu, ngày 10/10/1954, Hà Nội rực rỡ cờ hoa đón chào đoàn quân chiến thắng trở về giải phóng Thủ đô.


    Hoà bình lập lại, Hà Nội khẩn trương bước vào công cuộc khôi phục và xây dựng kinh tế. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đã hoàn thành thắng lợi việc tiếp quản, nhanh chóng ổn định tình hình, khẩn trương bắt tay vào khôi phục, cải tạo và xây dựng thành phố. Chỉ hơn một tháng sau giải phóng, thành phố đã thông qua kế hoạch phục hồi công thương nghiệp. Không khí hòa bình xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố diễn ra sôi động. Một năm sau giải phóng, Hà Nội đã hoàn thành cải cách ruộng đất. Từ năm 1958 đến năm 1960 tiến hành xong cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và hợp tác hoá nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Bộ mặt thành phố đổi mới từng ngày Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 – 1965), Thủ đô đã trở thành trung tâm chính trị, văn hoá và kinh tế quan trọng trong cả nước.


    Giữa năm 1966, giặc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, đánh phá Thủ đô. Tháng 3/1968, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Ngày 2/9/1969, Bác Hồ từ trần. Nhân dân Thủ đô Hà Nội tỏ rõ niềm tiếc thương vô hạn với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, ngày 9/9/1969, hơn 10 vạn cán bộ và nhân dân Thủ đô tới Quảng trường Ba Đình cùng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế dự Lễ truy điệu vĩnh biệt Người với lòng thành kính và biết ơn vô hạn. Tháng 4/1972, Hà Nội trở thành mục tiêu đánh phá lần thứ hai của Mỹ. Cuối năm đó, chỉ trong vòng 12 ngày đêm (18 – 29/12/1972), Mỹ đã trút hàng vạn tấn bom đạn xuống địa bàn Hà Nội. Thể hiện bản lĩnh là “Thủ đô của phẩm giá con người”, quân dân Hà Nội đã lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh sập “uy thế không lực Hoa Kỳ”. Trong hai cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng đường không của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, 358 máy bay các loại của Mỹ trong đó có 23 chiếc pháo đài bay B52, 2 chiếc F111 bị tan xác trên bầu trời Hà Nội; 83 máy bay trong đó có 1 máy bay B52 và 2 máy bay F.111 bị tan xác trên bầu trời Hà Tây. Quân và dân Thủ đô Hà Nội đã góp phần quyết định buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris (01/1973), rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước. Đúng một năm chín tháng sau, ngày 30/9/1974, tại Tổng hành dinh đóng trong Thành cổ Hà Nội, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương duyệt kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Với sự chi viện hết lòng và toàn diện của quân dân Hà Nội và miền Bắc, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975) đã toàn thắng. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc – Nam thống nhất.


    Tháng 4/1976, Hà Nội được Quốc hội chung của cả nước quyết định là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội quyết tâm xây dựng Thủ đô “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Hà Nội dấy lên nhiều phong trào thi đua yêu nước tiêu biểu như: phong trào bốn đổi mới trong công nghiệp, áp dụng khoán trong nông nghiệp, xử lý giá, lương, tiền trong lưu thông phân phối; tập trung quy hoạch phát triển đô thị – giao thông nội đô thống nhất; cải tạo lại mạng lưới điện hạ thế và cấp nước sạch; cải thiện nhà ở, giao thông và chiếu sáng đô thị.


    Các công trình lớn như sân bay Nội Bài, cầu Thăng Long, cầu Đuống, cầu Chương Dương, đường 6 (đoạn Hà Nội – Hà Đông) và nhiều khu nhà cao tầng ở khu Bắc Thanh Xuân, Kim Giang, Đại học Bách Khoa, tập thể Quỳnh Lôi được xây dựng và đưa vào sử dụng. Một số ngành công nghiệp điện tử, công nghiệp chế biến thực phẩm, cơ khí nông nghiệp, hóa chất, chế tạo máy đã được hình thành. Ngành nông nghiệp Thủ đô áp dụng tốt các kỹ thuật thâm canh, tăng vụ, hình thành nhiều vùng chuyên canh rau ở các huyện Từ Liêm, Đông Anh, Thanh Trì. Kinh tế đối ngoại bắt đầu hình thành.


    Với những bước đi quan trọng đó, lần đầu tiên trong kế hoạch 5 năm (1991 – 1995), nhiều mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Hà Nội đã đạt và vượt toàn diện, nhiều mục tiêu đạt và hoàn thành trước thời hạn. Kinh tế Thủ đô liên tục tăng trưởng ở mức cao, điều đáng kể là bước đầu kinh tế Thủ đô đã có tích lũy. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hình thành cơ cấu kinh tế mới theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp.


    Giai đoạn 1996 – 2000, thành phố đã tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất, thương mại, dịch vụ then chốt. Những chủ trương và giải pháp quan trọng đó đã tạo sự phát triển kinh tế – xã hội toàn diện của Hà Nội, góp phần đáng kể cho việc động viên nguồn thu ngân sách Nhà nước. So với cả nước: năm 1990 thu ngân sách địa bàn Hà Nội đạt 9,2%, năm 2000 đạt 16,3%. Năm 2000, Hà Nội chiếm 3,6% về dân số và 2,8% diện tích lãnh thổ quốc gia nhưng đã đóng góp với cả nước 7,8% GDP. Đời sống nhân dân có nhiều cải thiện. Bộ mặt của Thủ đô có nhiều thay đổi, vị thế của Thủ đô được nâng lên. Một vinh dự lớn đối với Thủ đô Hà Nội, năm 1999 được tổ chức UNESCO của Liên Hợp quốc trao tặng danh hiệu vẻ vang “Thành phố vì hòa bình” và lấy làm nơi phát động “Năm quốc tế hòa bình – 2000”. Năm 2000, Hà Nội được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Thủ đô Anh hùng.


    Thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2000 – 2010), về kinh tế, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Hà Nội tập trung trí tuệ đẩy nhanh tiến độ sắp xếp cổ phần hóa vững chắc doanh nghiệp Nhà nước; đổi mới công nghệ, thiết bị và mô hình quản lý; tích cực thu hút vốn đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cấp hạ tầng đô thị. Những năm đầu của thế kỷ XXI, bộ mặt Thủ đô đổi thay nhanh chóng, Hà Nội đã mở ra 4 hướng với những khu công nghiệp hiện đại như: Sài Đồng A, Sài Đồng B, Bắc Thăng Long, Chèm, Mễ Trì, Thượng Đình, Thanh Trì, Cầu Bươu, Cầu Diễn, Nghĩa Đô, Đông Anh, Sóc Sơn…phát triển công nghiệp Hà Nội gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và công nghiệp của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thực hiện thành công bước đi ban đầu chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội trở thành trung tâm du lịch của cả nước, chất lượng dịch vụ du lịch từng bước được nâng cao. Thủ đô Hà Nội tích cực đi đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng văn hóa sinh thái. Cùng với phát triển kinh tế, Hà Nội tiếp tục đạt nhiều thành tựu nổi bật trong sự nghiệp phát triển văn hóa – xã hội và con người, tạo nên sức mạnh và độ bền vững của quá trình phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô.


    Những năm đầu thế kỷ XXI, Hà Nội đổi thay từng ngày. Không gian Hà Nội được phân thành các vùng rõ nét. Khu vực trung tâm được bao quanh bằng các đường La Thành – đường Láng – Trường Chinh – Đại La – Minh Khai và dọc hữu ngạn sông Hồng. Khu phát triển mở rộng, được quy hoạch theo hữu ngạn và tả ngạn sông Hồng. Trong đó hữu ngạn gồm khu vực phía Nam cầu Thăng Long, dọc quốc lộ 32. Ở đây, có khu công nghiệp Cầu Diễn, khu công nghệ cao Nam Thăng Long, khu đô thị Ciputra, các khu dân cư tập trung Mai Dịch, Nghĩa Đô, Cầu Diễn, Tây sông Nhuệ, khu dân cư theo quốc lộ 6 và vành đai 3. Các khu công nghiệp Thượng Đình, công viên mới Mễ Trì, khu trung tâm Thể thao quốc gia, khu đô thị mới Trung Yên, Yên Hòa, Thanh Xuân. Khu công nghiệp Xuân Mai, Định Công, Linh Đàm, Cầu Bươu, Mai Động. Khu Bắc cầu Thăng Long; khu thị trấn Gia Lâm – Sài Đồng – Đức Giang – Yên Viên; khu dọc đường quốc lộ 3.


    Việc cải tạo, xây dựng Thủ đô thành một đô thị văn minh, hiện đại, xứng đáng với tầm vóc của một Quốc gia khoảng trên một trăm triệu dân, trong thế kỷ XXI là một yêu cầu cần thiết. Quốc hội đã có Nghị quyết số 15-2008/QH12 về mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 260/CT-TTg, ngày 4 tháng 3 năm 2008 về việc tổ chức thực hiện chủ trương mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội. Theo đó, Hà Nội mở rộng bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Sau khi hợp nhất, mở rộng Hà Nội có diện tích 3.340 km2 với gần 6,5 triệu dân, 29 đơn vị huyện, quận; 577 xã, phường, thị trấn; 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao sinh sống.


    Đảng bộ và nhân dân Hà Nội đặt mục tiêu sau năm 2010 xây dựng Thủ đô Hà Nội hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc tương xứng với truyền thống ngàn năm văn hiến. Hướng phát triển của thành phố Hà Nội về phía Tây, hình thành chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây; phía Bắc là cụm đô thị Sóc Sơn – Xuân Hòa – Đại Lải – Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) và các đô thị khác. Điều chỉnh xây dựng thêm các khu công nghiệp tập trung mới như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn, Thăng Long, Đông Anh, mở rộng khu công nghiệp Đức Giang, Cầu Diễn, Cầu Bươu. Các hệ thống công viên, khu cây xanh, vui chơi, giải trí, khu du lịch các công trình công cộng… được rà soát, quy hoạch, đảm bảo môi trường sống ngày càng văn minh, hiện đại.


    Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Thăng Long – Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, là nơi kết tinh tinh hoa của dân tộc, hội tụ nhân tài của đất nước. Đảng bộ và nhân dân Hà Nội coi trọng việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể, kết hợp hài hoà trong quy hoạch và xây dựng đô thị, phát huy cao độ truyền thống Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến, đoàn kết xây dựng Hà Nội là “Thủ đô xanh, văn hiến – văn minh và hiện đại”, phát huy tốt vai trò là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế.
    Ban Tuyên giáo Trung ương.

  • Công nhận sửa điểm cho sinh viên đạt giải Olympic cấp Quốc gia.

    Các bạn sinh viên tham dự Olymipc cấp Quốc gia các môn học và đạt giải, vào đây để xem Quyết định được chuyển điểm của mình với các môn học tương đương.
    Chi tiết xem tại đây.

  • KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI NĂM HỌC 2010 – 2011

    Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học kính gửi đến các Thầy/Cô giáo “KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI NĂM HỌC 2010 – 2011“. Kính mời Thầy/Cô xem chi tiết tại địa chỉ sau:

    KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

  • Viết là cảm nhận

    Viết là cảm nhận

    Trong suốt những năm qua, báo chí Việt Nam đã theo sát những bước đi của đất nước, ngay từ những ngày đầu đổi mới với muôn vàn khó khăn cho đến khi xây dựng hội nhập và phát triển như ngày hôm nay.


    Cùng với sự lớn mạnh của báo chí Việt Nam thì cổng thông tin điện tử website của trường Đại học Thủy Lợi đã ra đời, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu trao đổi thông tin của cán bộ giáo viên, các bạn sinh viên cũng như tất cả những ai có niềm đam mê tìm hiểu về Thuỷ Lợi Những ứng dụng của công nghệ thông tin đã được đưa vào để không ngừng nâng cấp đổi mới cho hệ thống website của trường, mở ra những giao diện mới mẻ, đầy tiện ích.


    Sau những khó khăn của ngày đầu tiên thành lập, website trường từ chỗ thiếu bài, thiếu sự đa dạng về nội dung thì nay, số bài báo gửi về Ban biên tập đã không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng. Một website với giao diện rộng, đa dạng về nội dung và hình thức đã đi sâu vào góc cạnh của một ngôi trường  đại học với bề dày lịch sử trên 50 năm, đã có không ít những bài viết về những trang người tốt việc tốt, những giáo viên sinh viên tiêu biểu, những công trình thuỷ lợi, những bài thơ giàu cảm xúc để lại thật nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. Bên cạnh đó là sự hữu ích và cần thiết vô cùng trong hệ thống thông tin trường đối với cán bộ và sinh viên trong trường trong giai đoạn đổi mới và hội nhập như hiện nay, internet là thứ mà sinh viên Thủy Lợi phải tìm hiểu và nắm được ít nhất là cơ bản để nắm bắt các thông tin đào tạo của Nhà trường, phục vụ công việc học tập và nghiên cứu của mình!


    Nói về những thành công hôm nay trên cổng thông tin trường Đại học Thủy Lợi không thể không kể đến sự tham gia đóng góp viết bài của các thầy cô giáo, đặc biệt hơn còn có sự cộng tác nhiệt tình của các bạn cộng tác viên báo chí đầy nhiệt huyết, đem đến những tin bài nóng hổi sức sống tuổi trẻ: “Chúng em đã không ngừng cố gắng nỗ lực rèn luyện, trau dồi học hỏi để nâng cao kỹ năng viết và cũng một phần nào xoá đi quan niệm sinh viên học kỹ thuật thì kỹ năng giao tiếp, diễn đạt còn chưa lưu loát” – Bạn Đinh Ngọc Thăng, sinh viên 49M2 – hai trong số những cộng tác viên xuất sắc được Ban Giám hiệu nhà trường khen thưởng đã phát biểu như thế buổi  trong lễ kỉ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21/6 taị trường Đại học Thuỷ lợi ngày 16/6 vừa qua.









    Lễ kỷ niệm ngày báo chí Việt Nam 21.6 với sự tham dự của BBT Tạp chí Thuỷ lợi – Môi trường, BBT Website Đại học Thuỷ lợi và các cộng tác viên báo chí




    Đời sống sinh viên thật muôn sắc màu với bao hoài bão ước mơ. Bên cạnh việc học tập, mỗi sinh viên lại tìm cho mình một con đường đi riêng. Với các bạn cộng tác viên báo chí của trường thì viết báo và được viết, đó là niềm đam mê thực sự. Ngọn lửa của tình yêu cuộc sống, khát khao tìm hiểu luôn toả sáng. Niềm vui vỡ oà và hạnh phúc dường như được nhân gấp bội phần mỗi khi thấy bài báo mà mình bỏ ra bao tâm huyết nay được đăng trên trang nhất của trường. Làm cộng tác viên còn là một cơ hội để bạn tham gia vào các chương trình, sự kiện và được học hỏi biết bao điều mới mẻ. Làm được những điều đó với một sinh viên học kỹ thuật như sinh viên Thuỷ Lợi há chẳng phải là một điều tuyệt vời hay sao?


    Là một sinh viên K51, thời gian học ở trường còn chưa thật nhiều. Bằng việc hàng ngày cứ đều đặn và chăm chỉ, mỗi tối tôi dành khoảng 30 phút để đăng nhập vào website của trường đọc thông tin. Tình yêu mà tôi dành cho Thuỷ Lợi cũng từ đó được ươm mầm và phát triển. Tôi cảm thấy sâu sắc một điều mỗi ngày đến trường thực sự là một niềm vui. Trường không chỉ cho tôi kiến thức mà còn cho tôi biết đến những người thầy đầy tâm huyết, những người bạn chân thành… Và tôi tự nhủ mình sẽ phải làm gì đó thực sự có ích để tô điểm thêm cho mái trường, biến nó trở thành một môi trường thân thiện, gần gũi hơn với tất cả mọi người.


    Được tham dự buổi gặp gỡ các cộng tác viên báo chí, đó cũng là lần đầu tiên tôi được tham gia một chương trình thực sự hay và có ỹ nghĩa như vậy. Bởi vì tôi biết nó sẽ giúp tôi thực hiện mong muốn bấy lâu nay của mình.


    Bắt đầu từ đây, tôi sẽ viết, sẽ tìm hiểu về trường, sẽ đưa tiếng nói của trường đến gần hơn với các bạn sinh viên. Chính những tâm sự của GS.TS Phạm Ngọc Quý- BTĐU, Phó HT Nhà trường – một trong những cây bút xuất sắc trên các tạp chí khoa học kỹ thuật cũng như Website của trường đã đánh thức ngọn lửa đam mê viết lách trong tôi.


    Tôi rất ấn tượng với câu nói của thầy: “Để trồng được một cái cây thì hãy bắt đầu từ những hạt giống. Xong điều quan trọng nhất có lẽ là mầm giống bên trong phải tự bóc tách lớp vỏ cứng chui ra, vươn lên khỏi mặt đất, bén rễ thành cây.” Người viết báo cũng vậy, đừng ước mơ một cái gì đó quá cao siêu, mơ mộng mà hãy chú ý đến những gì xung quanh ta, dù nó rất nhỏ bé thôi; và quan trọng hơn, đó phải là một tấm lòng, sự nhiệt huyết với công việc.


    Xin cho chúng em được gửi những lời chân thành nhất tới Ban giám hiệu, Đảng uỷ, các phòng ban, các thầy cô đã dành sự quan tâm sâu sắc tới chúng em, tới website của trường  đại học Thuỷ Lợi. Chúng em xin hứa sẽ học tập, làm việc hết mình để không phụ lòng mong mỏi của các thầy cô và mọi người.


    Xin chúc cho cổng thông tin Đại học Thuỷ Lợi càng ngày càng phát triển, vươn xa hơn nữa và sẽ là một trong những hành trang không thể thiếu với mỗi sinh viên, hay kỹ sư thuỷ lợi tương lai.


     


    Nguyễn Thị Thùy Khánh ( CLB PTKN)


     


  • Cảm nhận từ tầm cao toà nhà Ký túc xá 11 tầng

    Cảm nhận từ tầm cao toà nhà Ký túc xá 11 tầng

               Trong tâm trạng của một sinh viên vừa bảo vệ xong Đồ án tốt nghiệp sắp ra trường, tôi xin theo đoàn cán bộ kỹ thuật lên chứng kiến đổ những mét khối bê tông cuối cùng trên đỉnh nóc cao nhất của của toà nhà Ký túc xá  sinh viên Trường Đại học thuỷ lợi cao 11 tầng.












       Tòa nhà Ký túc xá SV khi hoàn thành


     


    Vừa gặp vừa nói chuyện với các kỹ sư thiết kế, giám sát, thi công, tôi càng hiểu tầm quan trọng của toà nhà này đối với những sinh viên từ mọi miền đến Thủ đô để học ở trường Đại học Thuỷ lợi.


     







       Những người đang ngày đêm góp phần làm cho tòa nhà KTX bền, đẹp, tốt



    Cảm nhận về Toà nhà KTX đang từng bước hiện hữu trong khuôn viên trường, xin được chia sẻ với bạn đọc vào một dịp khác. Bởi một tình cảm trào dâng trong tôi, khi từ trên cao này để nhìn khắp khuôn viên trường. Đây khu thư viện, giảng đường lưu luyến quá. Đây khu ký túc xá với 4 toà nhà không to đẹp như toà nhà đang xây, nhưng bạn bè nhiều trường đến thăm đều xuýt xoa mong họ cũng có được chỗ ở như Sinh viên Đại học thuỷ lợi. Kia khu bể bơi, giờ nhìn trên cao sao hoành tráng thế. Lại sân vận động, nhìn xuống cứ như xem tivi ở đâu đó chuẩn bị cho World Cup đang đến gần. Xa kia, Hà nội cũng oách ghê. Bất giác tôi nghĩ: hay là sắp ra trường rồi nên mọi thứ đều lung linh hơn? Nghĩ thế cũng đúng, bởi nhẽ sinh viên Thuỷ lợi tình cảm lắm chứ. Xa nhau ai chẳng để lại nỗi nhớ. 








     Tòa nhà hành chính, khuôn viên trước Thư viện thật uy nghi và trang hoàng!









       Khu ký túc xá sinh viên rộng rãi và thoáng mát









      Bể bơi và sân tennis, trường bạn có không?
    Trường chúng tôi đã có từ lâu rồi!










    Sân vận động cỏ nhân tạo đầu tiên ở Hà Nội – mang tên “Đại học Thủy lợi”  



    Vậy là 5 năm học tập dưới mái trường Thủy lợi thân yêu cũng đã qua. Mới ngày nào còn ngơ ngác khi bước vào khuôn viên uy nghi và đẹp mắt của trường, thế mà giờ đây những hình ảnh quen thuộc ấy đã là kỷ niệm. Năm năm học là năm năm được giáo dục, dạy dỗ dưới một mái trường với những truyền thống tốt đẹp, với những thầy cô tận tâm và nhiệt huyết. Những gì có được không chỉ là những bài học về kiến thức và chuyên môn mà còn cả những bài học làm người, để vững bước vào đời, để xứng với mái trường mà mình đã chọn lựa…..


    Năm năm trước, nắng thu vàng trải mênh mang, ấy là lúc chúng tôi nhập học. Lúc học mong sao cho chóng đến ngày ra trường. Vậy mà thời điểm đó, giờ đã đến, lại ước gì khoan hãy tới! Lòng tôi xao xuyến bùi ngùi khó tả, vội ghi lại:


     


    Ra trường!


    Khao khát bấy năm, giờ đã đến.
     Lại ước gì chưa hết, đời sinh viên
    Cho ta gần bạn,  mình kề nhau
    Cho lơ đãng nhìn ai, vẫn lo bài



    Rồi cuộc sống như dòng sông vẫn chảy
    Mong cho mọi việc đều  đẹp, đều hay


      
    Cảm ơn Thầy, Cô!


    Cảm ơn mái trường Đại học Thuỷ lợi thân yêu!


     


     


    Bài và ảnh: Việt Bắc

  • Lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ học bổng “Lê Văn Kiểm và gia đình”

    Lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ học bổng “Lê Văn Kiểm và gia đình”

    Từ tháng 11/2009, Trường Đại học Thủy Lợi có một quỹ học bổng khuyến học dành cho sinh viên mang tên “Lê Văn Kiểm và gia đình”. Quỹ học bổng này được thành lập từ một cựu sinh viên khóa 6 thành đạt của Trường Đại học Thủy Lợi – cựu sinh viên Lê Văn Kiểm – với số tiền ban đầu của quỹ là 10 tỷ đồng. Quỹ học bổng này mang giá trị nhân văn cao cả, không chỉ bởi nó sẽ giúp được nhiều sinh viên nghèo nhưng học giỏi, cho nhiều sinh viên có điều kiện bứt phá hơn nữa trên kết quả học tập rất tốt của mình, mà còn bởi xuất phát từ tấm lòng nhân ái của một người con luôn hướng về nguồn cội – đó là cựu sinh viên, Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm.


    Có lẽ nhiều người sẽ không còn lạ khi nhắc đến Lê Văn Kiểm với tư cách là một doanh nhân thành đạt của Việt Nam, một con người mang chữ tâm cho các hoạt động từ thiện, những con số mà ông và gia đình dành cho các hoạt động từ thiện là một con số rất lớn, tuy nhiên với một gia đình hảo tâm như gia đình Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm chắc hẳn còn chưa dừng lại ở đó. Bên cạnh việc tài trợ một quỹ học bổng khuyến học, khuyến tài cho sinh viên Đại học Thủy Lợi, ông cũng dành 10 tỷ đồng cho quỹ khuyến học, khuyến tài của Hội cựu chiến binh Việt Nam, và đó cũng là lý do cho buổi ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ học bổng “Lê Văn Kiểm và gia đình” với Trường Đại học Thủy Lợi và Hội cựu chiến binh Việt Nam diễn ra vào ngày 21/5/2010 tại Đồng Nai.


    Trường Đại học Thủy Lợi đến tham dự lễ ký kết này có GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Nhà trường và GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Nhà trường. Bên cạnh đó còn có đại diện của Bộ Giáo dục & Đào tạo – Thứ trưởng Trần Quang Quý, đại diện của Hội cựu chiến binh Việt Nam – Trung tướng Phùng Khắc Đăng – Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, ban thi đua khen thưởng Trung ương, các bạn bè và đồng chí của Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm….đã có mặt đông đủ trong buổi lễ trọng thể này.


    Gia đình người Anh hùng lao động đã có buổi đón tiếp trọng thể các đại biểu đến với lễ ký kết tại Hội trường lớn nằm trong quần thể của sân golf Long Thành, đây là một sân golf rộng, mang đẳng cấp quốc tế. Bước vào sân golf Long Thành mọi người có thể bị chinh phục ngay từ cái nhìn đầu tiên bởi tổng thể của vẻ đẹp rất thiên đường và không khí thật trong lành. Có lẽ vì phong cảnh hữu tình, con người niềm nở nên buổi ký kết diễn ra long trọng mà không kém phần thân mật. Phát biểu trong buổi lễ, Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm đã không quên nhắc lại những năm tháng được Đảng và Nhà nước nuôi dưỡng, được học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Thủy Lợi, sự thành công của ông ngày hôm nay không thể quên những năm tháng đó, không thể quên những lúc khó khăn trên con đường doanh nhân được Đảng và Nhà nước quan tâm, hỗ trợ, vì vậy ông cho rằng những việc làm ngày hôm nay như một lời cảm ơn tới những ngày đã qua, tới những người đã hy sinh cho độc lập của dân tộc.


    Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy Lợi – GS.TS Nguyễn Quang Kim cũng đã bày tỏ niềm tự hào của Nhà trường khi có một sinh viên như Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm, và GS cũng nhấn mạnh “anh là một phần của lịch sử Trường Đại học Thủy Lợi”, đồng thời Hiệu trưởng cũng thay mặt Nhà trường cam kết sẽ sử dụng quỹ học bổng này đúng mục đích và đối tượng, góp phần giáo dục những thế hệ sinh viên của Nhà trường phát huy được truyền thống cao cả đó. GS cũng không quên gửi lời cảm ơn của các cán bộ, giáo viên, sinh viên trong Nhà trường tới gia đình Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm trước tình cảm mà họ đã dành cho Trường Đại học Thủy Lợi.


    Cũng trong buổi lễ còn được nghe lời phát biểu của Thứ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo PGS.TS Trần Quang Quý, Trung tướng Phùng Khắc Đăng – Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt  Nam. Các ý kiến phát biểu đều gửi đến gia đình ông Lê Văn Kiểm lời cảm ơn vì những nghĩa cử cao đẹp, “quỹ khuyến học chắc chắn sẽ là nguồn động viên con cựu chiến binh trên khắp mọi miền đất nước học tập tốt, rèn luyện tốt, thay mặt hàng triệu cựu chiến binh trên cả nước cảm ơn gia đình ông Lê Văn Kiểm” ( Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam – Trung tướng Phùng Khắc Đăng ). ‘Ngành Giáo dục đã nhận được nhiều sự quan đóng góp, trong đó có một phần không nhỏ của golf Long Thành, của AHLĐ Lê Văn Kiểm” và “ mong có nhiều trường Đại học nhận được quỹ học bổng như trường Đại học Thủy Lợi” (Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo – PGS.TS Trần Quang Quý)


    Ngay sau những phát biểu đó là lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ khuyến học này cho Trường Đại học Thủy Lợi và Hội Cựu chiến binh Việt Nam, có lẽ đây là giây phút thực sự xúc động trong nhân cách sống của một gia đình doanh nhân thành đạt, cả gia đình đều có mặt trong lễ ký kết này, điều đó càng làm tăng ý nghĩa của việc làm từ thiện này, con trai Lê Huy Hoàng, con gái Lê Nữ Thùy Dương đều là những doanh nhân thành đạt trẻ sát cánh bên bố mẹ AHLĐ Lê Văn Kiểm và bà Trần Cẩm Nhung với nụ cười luôn nở trên môi. Không cảm nhận được nỗi mệt mỏi nào trên gương mặt họ. Thật khâm phục trước một gia đình như vậy trong cuộc sống đang rất hiện đại ngày hôm nay, mặc dù gia đình ông Lê Văn Kiểm là những doanh nhân thành đạt nhất nhì Việt Nam nhưng họ cũng thật bình dị và gần gũi, có lẽ đó là bản chất của một gia đình có truyền thống cách mạng và lớn lên từ cái nôi ấy dẫu họ là ai trong cuộc sống ngày hôm nay….


    Một lần nữa xin gửi lời cảm ơn trong hàng triệu lời cảm ơn khác tới gia đình người Anh hùng lao động – Lê Văn Kiểm.


    Nguyễn Vân Anh


     Chùm ảnh tại buổi lễ ký kết thỏa thuận tài trợ vĩnh viễn quỹ HB khuyến học “Lê Văn Kiểm và gia đình” diễn ra tại Đồng Nai:







    GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi phát biểu tại buổi lễ.








     Ký kết giữa gia đình ông Lê Văn Kiểm – bà Trần Cẩm Nhung và trường Đại học Thuỷ Lợi đại diện GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng và GS.TS Phạm Ngọc Quý – Bí thư Đảng uỷ, Phó Hiệu trưởng…








     ….đã thành công tốt đẹp.









    Ông Lê Văn Kiểm – nhà tài trợ Học bổng và GS.TS Nguyễn Quang Kim, Trung tướng Phùng Khắc Đăng cùng đại diện ngân hàng Công thương Việt Nam ký kết thoả thuận tài trợ vĩnh viễn qũy Học bổng khuyến học.








     GS.TS Nguyễn Quang Kim và GS.TS Phạm Ngọc Quý thay mặt tập thể trường Đại học Thuỷ Lợi tặng qùa lưu niệm gia đình AHLĐ Lê Văn Kiểm


    Xem Báo Công an nhân dân đưa tin buổi lễ này tại đây.

  • Cùng cổ vũ cho đội tuyển Robocon ĐH Thuỷ lợi tại VCK toàn quốc 2010

    Kết quả bốc thăm chia bảng VCK ROBOCON 2010, đội tuyển IT trường ĐH Thuỷ lợi nằm ở bảng D như sau:


    1. BKIT 4U – ĐH Bách khoa TP.HCM


    2. SUNWARD – ĐH SP Kỹ thuật Hưng Yên


    3. VOI 01 – ĐH Công nghiệp Hà Nội


    4. LH-EROS – ĐH Lạc Hồng


    5. IT-WRU – ĐH Thuỷ Lợi Hà Nội 


    Thời gian thi đấu:


    + Ngày 11-05-2010


                  + 20h – Khai mạc + Truyền hình trực tiếp


                  + Bảng A-B thi đấu


                  + Trường ĐH Thủy Lợi không thi đấu ngày khai mạc


    + Ngày 12-05-2010


                  + 20h  phát trực tiếp trên kênh  VTV 2-> Bảng C,D thi đấu


                  + Trường Thủy Lợi thi đấu 4 trận


                                1. gặp BKIT-4U – ĐH Bách khoa TP.HCM


                                2. gặp VOI 01 – ĐH Công nghiệp Hà Nội


                                3. gặp SUNWARD – ĐH SP Kỹ thuật Hưng Yên


                                4. gặp LH-EROS – ĐH Lạc Hồng


    Kính mời các thầy cô cùng các bạn sinh viên theo dõi và cổ vũ cho đội tuyển của chúng ta giành được những chiến thắng vang dội trên đất Buôn Mê Thuột đầy nắng gió. Vinh dự là một trong 36 đội tuyển tranh tài tại VCK toàn quốc, IT- WRU hứa hẹn sẽ thi đấu một mùa giải đầy hấp dẫn và gay cấn, vì màu cờ sắc áo WRU.


     







    IT – WRU tại vòng loại

  • Khuyến cáo bệnh mùa hè.

    TRẠM Y TẾ ĐHTL


     


    KHUYẾN CÁO PHÒNG CHỐNG BỆNH
    TIÊU CHẢY CẤP NGUY HIỂM VÀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT


     


    I.BỐN KHUYẾN CÁO CHO CỘNG ĐỒNG PHÒNG CHỐNG BỆNH TIÊU CHẢY CẤP NGUY HIỂM


            1. Vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường:


    – Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh


    – Mỗi gia đình có một nhà tiêu hợp vệ sinh.


    – Phân và chất thải của người bệnh phải đổ vào nhà tiêu, cho vôi bột, CloraminB…vào sau mỗi lần đi để sát khuẩn.


    – Tránh tập chung ăn uống đông người như ma chay, cưới xin, cúng giỗ.


    – Hạn chế người ra, vào vùng đang có dịch.


                    2. An toàn vệ sinh thực phẩm:


    – Mọi người mọi nhà đều thực hiện ăn chín uống sôi.


    – Không ăn rau sống, không uống nước lã        


    – Không ăn các thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn đặc biệt là mắm tôm sống, hải sản tươi sống, gỏi cá, tiết canh, nem chua.


                   3. Bảo vệ nguồn nước và dùng nước sạch:


    – Nguồn nước ăn uống phải được bảo vệ sạch sẽ.


    – Tất cả nước ăn uống đều phải được sát khuẩn bằng hoá chất Cloramin B.


    – Cấm đổ chất thải, nước giặt , rẳ và đồ dùng của người bệnh xuống ao, hồ, sông giếng.


                  4. Khi có người bị tiêu chảy cấp:  Phải nhanh chóng thông báo ngay cho cơ sở y tế nơi gần nhất để được điều trị kịp thời.


    II. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG DỊCH SỐT XUẤT HUYẾT


       1. Biểu hiện của bệnh:


    –     Sốt cao đột ngột kéo dài từ 2 đến 7 ngày


    –     Đau đầu, đau mình mẩy, đau các khớp


    –     Mệt mỏi


    –     Da xung huyết, có ban, có thể có chấm xuất huyết dưới da.


                  * Khi có những biểu hiện trên cần đến ngay cơ sở y tế để khám và điều trị.


              2. Bệnh được lây truyền bởi loại muỗi vằn (muỗi đốm hoặc muỗi hoa):


    – Muỗi vằn chỉ thích sống trong nhà, thích đốt hút máu người vào ban ngày. Muỗi thích đậu ở quần áo treo bừa bãi, ở dây, mắc, rèm che cửa, dây điện mắc lung tung, lọ hoa cắm lâu ngày.


    – Muỗi văn thích đẻ trứng nơi nước sạch: Bể, chum, phuy, các dụng cụ có khả năng chứa nước như vại, cối giã cua, giã bèo, bát kê chân trạn, cây cảnh nước. Các phế liệu, phế thải như vỏ hộp xà phòng, lốp xe, mảnh bát, vỏ hộp sữa, bể chứa nước trong nhà vệ sinh.


    3. Phòng bệnh:


         – Diệt bọ gậy: Làm nắp bể, thả cá, thau rửa chum vại 7 ngày/ lần, úp các dụng cụ chứa nước  chưa dùng đến, thay nước thường xuyên cây cảnh nước, thanh toán các phế liệu có khả năng chứa nước


        – Nằm màn khi ngủ ban ngày


        – Tổng vệ sinh trong gia đình không treo quần áo bừa bãi


        – Tổng vệ sinh và diệt bọ gậy vào thứ sáu thứ bảy hàng tuần.