Tác giả: Data Old

  • Nhiều thí sinh “suy sụp” vì đề Toán

    Nhiều thí sinh “suy sụp” vì đề Toán


    Thí sinh Lê Thu đến từ Ninh Bình tâm sự: “Đề toán quá khó đối với em. Ngồi cắm bút cả tiếng đồng hồ, ra sớm thì ngại mà ngồi lại thì chẳng biết làm gì”.


    Tại trường ĐH Thuỷ Lợi, một nam thí sinh vừa rời khỏi phòng thi gặp người thân đã phải bật khóc. Cho dù được mẹ vỗ về nhưng cũng không làm vơi bớt nỗi buồn của thí sinh này.


    Trần Thanh, một thí sinh đến từ Hà Nội có vẻ khả quan hơn khi làm được khoảng gần 70%. Tuy nhiên theo đánh giá của Thanh thì đề thi khó hơn so với năm 2007 khá nhiều, dù làm được nhiều nhưng ít có thí sinh nào dám khẳng định là bài làm của mình đúng.


    Thí sinh Thu Trang dự thi tại trường ĐH Công Đoàn cũng cho biết: “Sau khi nộp bài, nghe ngóng thì thấy có quá nhiều kết quả nên chẳng biết ai làm đúng ai làm sai. Dù làm được 80% nhưng em cũng không được tự tin cho lắm”.


    Một số thí sinh dự thi ở trường “top” trên cũng tỏ vẻ lo lắng với đề thi môn Toán. Xuân Thịnh đến từ Thanh Hoá dự thi ĐH Bách khoa Hà Nội tâm sự: “Đề có khó hơn năm trước nhưng nói chung vẫn là những kiến thức khá cơ bản. Đề không đánh đố, lách léo nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ”.


    Nhận định về đề thi, thầy giáo Trần Nguyên, Giảng viên trường ĐH Kinh tế kỹ thuật công nghiệp cho rằng đề thi Toán năm nay khó hơn năm 2007 chút ít. Phổ điểm dễ kiếm nhất sẽ chỉ dao động trong khoảng 6-7.


    Theo thầy Nguyên, về cấu trúc đề thi không có gì khác nhiều so với năm 2007. Câu khó vẫn là ý 2 câu 4, để làm được câu hỏi này thí sinh sẽ phải mất khá nhiều thời gian.


    Đối với câu 1, thí sinh dễ dàng có thể làm được vì đây là câu hỏi truyền thống; ý 2 của câu 1 hơi phức tạp một chút khi liên quan đến hệ số góc, tuy nhiên nếu thí sinh hiểu bản chất một chút thì không khó để làm được câu này.


    Câu 2 có mức độ khó trung bình. Ý 1 của câu hỏi không khó nhưng đòi hỏi phải tỉ mỉ, nếu thí sinh nhầm lẫn một chút về hàm sin, cos là có thể dẫn đến sai sót.


    Về ý 2 thì đây là bài toán cơ bản, thí sinh chỉ cần biết phân tích đặt ẩn phụ là có thể giải quyết được ngay.


    Câu 3 là câu hỏi cơ bản, nếu thí sinh học tốt sách bài tập Toán lớp 12 là có thể làm được.


    Câu 4 ý 1 cũng là câu hỏi cơ bản, đây là dạng toán mà thí sinh thường gặp ở các sách hướng dẫn ôn thi.


    Về phần tự chọn thì nói chung là có khó hơn chút ít so với năm 2007. Các câu hỏi đòi hỏi thí sinh phải nắm vững kiến thức và có tư duy nhanh nếu không sẽ mất rất nhiều thời gian để xử lý hết các câu hỏi này.


    Sáng nay, tại hội đồng thi THCS Cát Linh, Phó Hiệu trưởng thầy Vũ Thanh Te cho biết có một thí sinh ngất xỉu khi đang làm bài vì đói. Sau khi ăn bánh mì và uống sữa, thí sinh này đã tỉnh lại và tiếp tục hoàn thành bài thi.


    Theo Dân trí


     


     

  • Bổ nhiệm phó Văn phòng Đảng ủy và Phó Giám đốc Trung tâm Tin học

    Bổ nhiệm phó Văn phòng Đảng ủy và Phó Giám đốc Trung tâm Tin học








    Từ phải qua trái: GS.TS Phạm Ngọc Quý – BTĐU,Phó HT Nhà trường,Th.S Trịnh Hồng Cường, đ/c Ng T Hồng Vĩnh, PGS.TS Dương Thanh Lượng – Phó BTĐU, CT Hội đồng trường


    Công tác kiện toàn, bổ sung nhân sự cho các đơn vị trong trường luôn được nhà trường tiến hành thường xuyên nhằm chọn lựa những cán bổ có phẩm chất và năng lực phù hợp đồng hành với sự phát triển của Nhà trường.


    Lễ công bố quyết định bổ nhiệm cán bộ của Nhà trường ngày 17 tháng 6 năm 2008 gồm 2 quyết định:


    –          Quyết định của Đảng ủy bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Thị Hồng Vĩnh – Đảng viên, Trưởng Bộ môn Kinh tế Chính trị thuộc Khoa Mác Lênin giữ chức vụ Phó Văn phòng Đảng úy Trường Đại học Thủy lợi


    –          Quyết định của Hiệu trưởng bổ nhiệm Th.S Trịnh Hồng Cường – Giảng viên Bộ môn Kỹ thuật máy tính thuộc Khoa Công nghệ thông tin giữ chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm tin học.


    Đây là những nhiệm vụ quan trọng tại các cơ quan đầu mối cho mọi hoạt động của Nhà trường,  yêu cầu đặt ra cho các đồng chí là phát huy năng lực trí tuệ của bản thân vừa làm tốt nhiệm vụ được giao trên cương vị mới vừa đảm bảo tốt công tác giảng dạy theo sự điều hành chung của Khoa và Bộ môn.


    Chúc các đồng chí hoàn thành xuất sắc trách nhiệm vinh dự nhưng còn nhiều khó khăn phía trước, cùng chung vai gánh vác với Nhà trường trong công cuộc đổi mới.

  • Hội thảo “Chiến lược Phát triển Thuỷ lợi đến năm 2020″

    Hội thảo “Chiến lược Phát triển Thuỷ lợi đến năm 2020″

    Ngày 26/5/2008 tại Đại học Thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã tổ chức Hội thảo “Chiến lược Phát triển Thuỷ lợi đến năm 2020”. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT , GS.TS. Đào Xuân Học, chủ trì Hội thảo. Đến dự có các vị lãnh đạo lão thành, các chuyên gia và các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, quản lý thuỷ lợi thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT, đại diện Văn phòng Chính phủ, các Bộ: Kế hoạch – Đầu tư, Tài chính, Công thương, Xây dựng, Tài nguyên – Môi trường, Khoa học – Công nghệ,..các Hội: Đập lớn VN, Thuỷ lợi VN, Tưới tiêu VN,…Sau khi nghe Ban biên soạn trình bày tóm tắt Dự thảo Chiến lược, cử toạ đã thảo luận, khẳng định tầm quan trọng của thuỷ lợi trong công cuộc phát triển đất nước. Thuỷ lợi phải :



    • Đảm bảo an toàn về nước cho phát triển kinh tế – xã hội, nhất là trong điều kiện nguồn nước không chủ động (vì 60% từ các nước láng giềng), có nguy cơ suy thoái, chịu tác động của biến đổi khí hậu, nhu cầu dùng nước ngày càng cao,…
    • Điều hoà nguồn nước, điều phối sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.
    • Góp phần đáng kể giảm nhẹ thiên tai và các tác động bất lợi: lũ lụt, úng ngập, sạt lở, hạn hán, xói mòn, nhiễm mặn,…

    Thứ trưởng Đào Xuân Học đã giao nhiêm vụ cho các cơ quan chỉnh lý, cập nhật thông tin trong báo cáo, hoàn chỉnh các văn bản để  sớm đệ trình Chính phủ phê duyệt.
    Theo www.vncold.vn







     












     

  • Kỷ niệm 118 năm Ngày sinh Bác Hồ (19/5/1890 – 19/5/2008): Những ngày 19 tháng 5

    Kỷ niệm 118 năm Ngày sinh Bác Hồ (19/5/1890 – 19/5/2008): Những ngày 19 tháng 5

    Cứ mỗi dịp Tháng 5 về, lòng mỗi người chúng ta lại bâng khuâng nhớ về kỷ niệm của những ngày 19/5 khi Bác Hồ kính yêu còn sống. Chợt nhớ lại ngày 19/5/1946, lần đầu tiên nhân dân ta kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta. Từ đó trở đi, cứ đến dịp 19/5, toàn dân ta cùng sống những giờ phút đặc biệt, niềm vui lâng lâng, kính yêu Bác vô hạn.

    Cũng vào dịp này toàn dân lại dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất học tập, công tác, mừng Ngày sinh Bác Hồ kính yêu.


      


    Là lãnh tụ tối cao, nhưng Bác Hồ luôn gần gũi nhân dân. Hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm ngày sinh của mình, Bác thường dặn trước các địa phương, các cơ quan là không nên tổ chức chúc thọ linh đình. Vì Người sợ tốn thời giờ, tiền bạc của nhân dân, trong lúc đời sống và cuộc chiến đấu của nhân dân còn khó khăn, gian khổ.


      


    Ở Hà Nội, đúng ngày 19/5, Bác thường đi làm việc, thăm hỏi một nơi khác để tránh những nghi lễ phiền phức tốn kém. Có năm, vào dịp Ngày sinh của Bác, Bác Hồ sang công tác bên Trung Quốc. Hôm ở nhà nghỉ Bắc Kinh, các đồng chí ở đây biết Ngày sinh của Bác nên chuẩn bị chúc thọ, Người nói với cán bộ phụ trách nhà nghỉ: “Tôi sang đây vào dịp này là để tránh việc chúc thọ trong nước. Vìvậy, tôi yêu cầu các đồng chí cũng không tổ chức chúc thọ tôi ở đây”.


     


    Và vào một dịp ngày sinh năm khác, Bác sang Trung Quốc với ý nghĩa như Người đã viết trong thư gửi bà Ðặng Dĩnh Siêu – Cán bộ cao cấp của Ðảng Cộng sản Trung Quốc: “Tôi đi Trung Quốc lần này có mục đích và yêu cầu thật đơn giản, đó là đi du lịch, đi để tránh “chúc thọ”, “tránh tặng quà”.


     







    Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc


    Ngày 19/5, Bác vắng nhà. Bác giao cho những người phục vụ, bảo vệ tổ chức đánh bắt cá thịt tại ao cá mà Người vẫn hằng ngày chăm sóc, để biếu các cụ già, các cháu bé, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước cho anh chị em trong cơ quan phục vụ Bác cải thiện bữa ăn. Việc này vừa thể hiện sự quan tâm chăm lo của Bác đối với mọi người, vừa là để cảm ơn mọi người tận tụy công tác chăm lo cuộc sống hằng ngày của Bác. 







    Vào những dịp đó, Bác thường viết thư, gửi điện cảm ơn đồng bào, đồng chí, các cơ quan đoàn thể trong nước và bầu bạn quốc tế đã dành cho Người những tình cảm thân thiết. Bác làm thơ nói về tuổi tác thay vì những lời cảm tạ. Mỗi bức thư, mỗi dòng thơ của Bác Hồ tuy nói về Ngày sinh của Bác, nhưng lại là tình cảm, trách nhiệm của Bác Hồ đối với non sông đất nước và đồng bào, đồng chí, là nguyên tắc sống của Bác: “Trung với Ðảng, hiếu với dân”, và thể hiện đường lối lãnh đạo của Ðảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, của dân tộc ở trong từng thời điểm lịch sử.


     


    Những ngày này tôi nhớ tới dịp kỷ niệm ngày sinh Bác 40 năm trước (5/1968), năm sức khỏe của Bác giảm sút. Ðó là vào lúc 9h ngày 10/5/1968, Bác viết câu mở đầu vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để gửi lại cho đời sau: “Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây…”. Bởi vậy, sinh nhật năm nay, Bác không vắng nhà. Và như những năm trước, Bác tập trung cho công việc suy nghĩ, sửa chữa vào bản Tài liệu dặn lại cho đời sau. Năm nay, Bác viết thêm vào bản Di chúc, dặn việc phải làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là hàn gắn vết thương chiến tranh, chỉnh đốn Ðảng; chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh.


     


    Tuy Bác không đi công tác xa như những năm trước, nhưng buổi tối 18/5/1968, Bác lên nhà nghỉ ở Hồ Tây. Trưa 19/5, một bữa cơm thân mật được tổ chức ở Hồ Tây, gồm một số anh em phục vụ, lái xe, bảo vệ nhân kỷ niệm lần thứ 78 của Bác Hồ.


      


    6h15 ngày 20/5/1968, Bác Hồ dự khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa III. Họp sớm để tránh hoạt động của máy bay Mỹ. Hội trường sôi động hẳn lên nhất là khi nghe Bác Hồ kết thúc buổi họp vào lúc 8 giờ bằng những lời chân tình và bốn câu thơ:


     


    “Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thế thì tôi thấy già đi. Vì vậy, tôi có bài thơ này:


     


    Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,


    Vẫn vững hai vai việc nước nhà.


    Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,


    Tiến bước! Ta cùng con em ta”


     


    Cũng như mọi năm, vào dịp sinh nhật Bác, Bác cho anh em bảo vệ bắt cá ở ao để cải thiện bữa ăn. Năm nay anh em bảo vệ bắt được con cá trắm cỏ rất to. Khi đưa con cá để Bác xem, Bác bảo cân xem con cá nặng bao nhiêu? Anh em mượn chiếc cân bàn của nhà bếp, khi đặt con cá lên vì cá to đầu, đuôi chạm đất, đang loay hoay tìm cách cân cá, thì Bác bảo: Chú Ðỉnh (lúc đó là tổ trưởng tổ bảo vệ nhà sàn) ôm cá lên, và bước lên cân, trừ cân chú thì còn lại là cân của con cá. Theo chỉ dẫn của Bác, đồng chí Ðỉnh báo cáo, con cá nặng 24 kg. Lúc đó Bác nói vui: Bắt nó lên để cá lớn không nuốt cá bé.


     


    Sự từ chối lễ nghi phiền phức của vị Chủ tịch nước, lãnh tụ tối cao của Ðảng, trong dịp kỷ niệm ngày sinh của mình thể hiện sự khiêm tốn, giản dị, đó là bản chất của người đầy tớ của nhân dân. Nhân cách ấy, sự cao thượng ấy càng làm cho hình ảnh Bác Hồ trở nên cao đẹp và là tấm gương mẫu mực về đức tính khiêm tốn, giản dị và đạo lý làm người cao đẹp nhất.


     


    Bác Hồ đã đi xa gần 40 năm, nhưng mỗi người dân Việt Nam, bạn bè của nhân dân Việt Nam đều cùng chung một tình cảm: Bác Hồ không mất. Bác Hồ vẫn đời đời sống cùng non sông, đất nước và bạn bè khắp nơi. Vì vậy, vẫn như có Bác Hồ, hằng năm tới dịp Tháng 5 là toàn thể nhân dân ở khắp các miền quê Việt Nam, và cả bạn bè năm châu vẫn nô nức tổ chức kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ. Kỷ niệm sinh nhật Bác năm nay đúng vào năm thứ hai toàn Ðảng, toàn dân ta thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.


     


    Ôn lại những bài học quý giá, những việc làm trong sáng của Người trong dịp kỷ niệm Ngày sinh của Người, sẽ là dịp chúng ta soi chung tấm gương lớn, và mong sao mỗi cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức có quyền, gương mẫu học và làm theo Bác, để khắc phục sự suy thoái đạo đức, lối sống bớt đi những tệ tham nhũng, quan liêu, xa hoa, lãng phí.



    • Theo VNM, Nhân Dân

  • Lấp lánh một vùng Điện Biên – Hồ Pa Khoang

    Lấp lánh một vùng Điện Biên – Hồ Pa Khoang

    Mùng 7 tháng 5 năm 2008, 54 năm kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Từ muôn nơi du khách đến với Điện Biên để thăm bảo tàng Chiến thắng – nơi tái hiện những chiến công lẫy lừng của quân dân ta. Đến với Điện Biên là đến với đồi A1, đồi Him Lam, hầm Đờ Cát … những địa danh  đã kiêu hãnh đi vào lòng mỗi người dân Việt và bạn bè quốc tế. Đến với Điện Biên hôm nay không chỉ thưởng thức cơm thơm, đặc sản của cánh đồng Mường Thanh, uống rượu cần đượm tình người, thăm “rừng Đại tướng” đã đi vào huyền thoại, mà chúng ta còn đến với Hồ Pa Khoang, một công trình thủy lợi quan trọng bậc nhất của tỉnh Điện Biên.


    Hồ Pa Khoang trải rộng trên diện tích 600ha, chứa nước của lưu vực 77Km2, được xây dựng năm 1974 và khánh thành năm 1979. Suốt gần 30 năm qua hồ đã cấp nước tưới cho hơn 3300 ha lúa và hơn 400 ha mầu; nuôi cá, chống lũ, cải tạo khí hậu và đặc biệt tăng sức hấp dẫn cho du khách khi đến với Điện Biên.








    Ảnh 1: Nước hồ, cây rừng xanh đến vô ngần



    Xung quanh hồ có 11 bản làng với những nếp nhà sàn xinh xắn. Bóng những cô gái Thái, lộng lẫy trong sắc phục dân tộc cùng du khách soi bóng xuồng hồ. Cảnh và người làm cho Pa Khoang thêm hữu tình.


    Cụm công trình đầu mối của hồ cách thành phố Điện Biên Phủ không xa (hơn 10km), đặt tại xã Mường Phăng – Huyện Điện Biên – Tỉnh Điện Biên gồm: đập chắn, cống lấy nước, tràn xả lũ.


    Đập chắn cao 26 m (cao trình đỉnh đập là +926,0m), một loại đập đất đồng chất. Chiều dài đỉnh đập 198 m. Đập chắn ngang suối Pa Khoang tạo nên hồ có:         


    Mực nước chết (MNC) = +926.0 m


    Dung tích chết (Vc) = 2,8 triệu m3


    Mực nước dâng bình thường (MNDBT) = +922,2 m


                Dung tích hữu ích (Vh) = 34,2 triệu m3


                Mực nước lũ thiết kế (MNLTK) = +925,05 m.


    Một cống lấy nước đặt ở bờ phải đập là loại cống có áp, hình tròn, đường kính 0,8 m, dài 117 m; cao trình ngưỡng cửa vào +905,0 m; lưu lượng thiết kế 3,27 m3/s








    Ảnh 2: Toàn cảnh đập chính và cống lấy nước



    Tràn xả lũ đặt ở eo núi bờ trái hồ; tràn tự do có bề rộng tràn nước 13m; cao trình ngưỡng tràn ở +922,2 (m), cột nước tràn lớn nhất là 2,85 (m). Nối tiếp sau ngưỡng tràn là hệ thống các bậc nước và bể tiêu năng.








    Ảnh 3: Nhìn từ thượng lưu tràn xả lũ









    Ảnh 4: Mười ba bậc nước nối tiếp sau ngưỡng tràn



    Cánh đồng Mường Thanh sản sinh ra gạo đặc sản Điện Biên nổi tiếng là nhờ nước Hồ Pa Khoang. Hơn nữa Hồ Pa Khoang nằm giữa núi non hùng vĩ, ẩn hiện trong mây cùng với những di tích lịch sử nổi tiếng và sự mến khách của người Tây Bắc thu hút ngày càng nhiều bạn bè, du khách trong và ngoài nước đến với Điện Biên.


    Tất cả chúng ta đã và đang nỗ lực cho một Hồ Pa Khoang thêm đẹp, thêm hiệu quả. Hồ Pa Khoang thật xứng đáng là một điểm sáng lấp lánh của Điện Biên lịch sử.


    Bài và ảnh: Việt Bắc (VB)

  • Thông báo đăng ký học lại, thi lại môn Giáo dục thể chất  HP Bơi

    Thông báo đăng ký học lại, thi lại môn Giáo dục thể chất HP Bơi







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


    ——————–


    Số: 318 ĐHTL/CTCT&QLSV-TB


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    ————–


    Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2008


     


    THÔNG BÁO


    (V/v: Đăng ký học lại, thi lại môn Giáo dục thể chất – HP: Bơi)


     
    Kính gửi: – Các Khoa
                  – Các lớp K45 – Hệ đại học chính quy


     Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu, phòng CTCT & Quản lý sinh viên thông báo việc đăng ký học lại, thi lại môn Giáo dục thể chất – Học phần: Bơi như sau:
    1
    . Đối tượng đăng ký học lại, thi lại:
    * Đăng ký học lại:
    Sinh viên được giao đề tài Đồ án tốt nghiệp năm học 2007 – 2008 cùng với K45 chưa đủ điều kiện dự thi (điểm 0o ở lần thi đầu) hoặc đã học nhưng thi chưa đạt (điểm thi dưới 5) môn học Giáo dục Thể chất – Học phần: Bơi
    * Đăng ký thi lại:
    Sinh viên được giao đề tài Đồ án tốt nghiệp năm học 2007 – 2008 cùng với K45 thi chưa đạt (điểm thi dưới 5) môn học Giáo dục Thể chất – Học phần: Bơi (nếu không có nguyện vọng học lại theo lớp riêng)
    2. Thủ tục đăng ký:
    Sinh viên thuộc đối tượng ở mục 1 viết đơn đăng ký và nộp cùng kinh phí học lại (tạm thu) với mức: 40.000 đồng/tiết kế hoạch (SV đăng ký thi lại không phải nộp lệ phí) theo kế hoạch như sau:
    –
    Thời gian: 23/4/2008 đến 29/4/2008.
    – Địa điểm: Phòng tiếp tư vấn sinh viên (Phòng CTCT & Quản lý sinh viên)
    (Nhà trường sẽ trả lại kinh phí học lại – nếu thừa, vào 19/5 đến 21/5//2008 tại địa điểm trên)
    3. Kế hoạch tổ chức:
    Sinh viên đã đăng ký học lại, thi lại liên hệ trực tiếp tại Bộ môn Giáo dục thể chất về kế hoạch học lại, thi lại vào ngày 05/5/2008.
    Thời gian tổ chức học lại, thi lại (dự kiến): từ 12/5/2008 đến 18/5/2008.
    Yêu cầu sinh viên thực hiện theo đùng nội dung thông báo. Quá hạn trên, Nhà trường không giải quyết, sinh viên phải tự chịu trách nhiệm.


     







    Nơi nhận:


    – BGH (để b/c)


    – Như kính gửi


    – BM GDTC


    – Trang Web Trường


    – Lưu VT, P7


    TL. Hiệu trưởng


    Trưởng phòng CTCT & Quản lý sinh viên


     


    (đã ký)


     


    Th.S Dương Văn Bá


     

  • Hồ chứa nước Gò Miếu – Tỉnh Thái Nguyên

    Hồ chứa nước Gò Miếu – Tỉnh Thái Nguyên

    Hồ Gò Miếu, Huyện Đại Từ, Tình Thái Nguyên là công trình do Trung tâm Khoa học và Triển khai Kỹ thuật Thủy lợi – Trường Đại học Thủy lợi thiết kế. PGS. TS Phạm Ngọc Hải là chủ nhiệm công trình giai đoạn Nghiên cứu khả thi; ThS Nguyễn Khắc Xưởng là chủ nhiệm công trình các giai đoạn tiếp theo.


    Cụm công trình đầu mối cấp III bao gồm các công trình: Đập chắn, tràn xả lũ, cống lấy nước 









    Ảnh 1: Tổng thể cụm công trình đầu mối


    Đập chắn là loại đập đất đá hỗn hộp, có cao trình đỉnh đập +113,8 (m), đỉnh trường chắn sóng ở cao trình + 114,5 (m), đáy đập ở cao trình +83,0 (m); chiều cao đập lớn nhất 29,8 (m). Mái đập hạ lưu mh = 3,0; mái thượng lưu mt = 3,0; 3,5. Chiều rộng đỉnh đập là 5m; chiều dài đỉnh đập Lđ = 230m.








    Ảnh 2: toàn cảnh đập Gò Miếu



    Cống lấy nước đặt ở bờ phải là loại cống hộp, chảy không áp, bằng bêtông cốt thép kích thước bxh = 1×1,5 (m). Cống dài 153 m .  Điều chỉnh lưu lượng qua cống bằng cửa van phẳng đặt trong tháp ở mái thượng lưu









    Ảnh 3: Tháp cống lấy nước



    Tràn xả lũ đặt ở bờ trái. Loại tràn tự do, cao trình ngưỡng tràn bằng MNDBT = 110,84 m; ngưỡng đỉnh rộng dài 15m; chiều rộng tràn nước 25 m. Nối tiếp sau ngưỡng là dốc nước dài 125m; độ dốc 10%; mặt cắt ngang dốc hình thang với mái nghiêng m = 0,5; đoạn đầu dốc dài 25m là đoạn thu hẹp, tiếp đến là đoạn dốc nước có bề rộng không đổi b = 15m. Cuối dốc là tiêu năng mũi phun:








    Ảnh 4: Dốc nước sau ngưỡng tràn xả lũ.








                Ảnh 5: hố xói sau mũi phun ở hạ lưu tràn xả lũ


    Đập Gò Miếu chắn suối Ký Phú, với diện tích lưu vực 17 Km2 đã tạo nên hồ chứa nước  có:


    – Mực nước chết MNC = +92,43 (m); dung tích chết V­c = 460.000 m3


    – Mực nước dâng bình thường MNDBT = +110,84 (m);


        Dung tích hữu ích Vh = 5.137.3 00 m3.


        Dung tích hồ ứng với MNDBT là Vk = 5.597.300 m3


    – Mực nước dâng gia cường ứng với lũ p = 1% là MNDGC = 113,27 m


    Hồ Gò Miếu được hoàn thành năm 2000, đã và đang đảm nhận tốt nhiệm vụ của hồ là:


    – Cấp nước tưới cho 868 ha


    – Giữ đất, cải tạo môi trường


    – Chống lũ quét và điều tiết hỗ trợ cho hồ Núi cốc.


    Những lợi ích do hồ Gò Miếu đem lại đã góp phần tạo nên sự phát triển kinh tế, xã hội của 4 xã thuộc huyện Đại Từ , tỉnh Thái Nguyên


    Tin và ảnh: Việt Bắc (VB)

  • Thuỷ điện Đại Ninh

    Thuỷ điện Đại Ninh

    Sông  Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm viên, tỉnh Lâm Đồng có chiều dài hơn 500 km. Trên dòng sông này có thể khai thác 16 dự án thuỷ điện với tổng công suất 3.000 MW. Ở thượng nguồn sau công trình hồ chứa nước Đơn Dương cấp nước cho thuỷ điện Đa Nhim là công trình Thuỷ điện Đaị Ninh


    Hồ chứa và Thuỷ điện Đại Ninh có nhiệm vụ:


    + Cấp nước phát điện với N = 300 MW


    + Cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt cho vùng hạ lưu.


    + Cải thiện khí hậu trong vùng và tạo cảnh quan môi trường


    + Tạo một điểm du lịch lý tưởng cách thành phố Đà Lạt 40 km


    Tổng kinh phí đầu tư khoảng 7.000 tỷ VNĐ


    Các hạng mục công trình: tuyến đầu mối; tuyến năng lượng. Đầu mối ở tỉnh Lâm Đồng. Nhà máy thủy điện ở tỉnh Bình Thuận


    1. Tuyến đầu mối: Hệ thống gồm 2 hồ liên thông với nhau, một trên nhánh sông Đa Nhim, một trên nhánh sông Đa Queyon     


    * Một số thông số cơ bản của hồ chứa:


    + MNC = +860 m, Dung tích chết Vc = 68,04 triệu m3                                      


    + MNDBT = + 880,0 m, Dung tích hồ ứng với MNDBT: Vk = 320 triệu m3


    +  Mực nước lũ lớn nhất ở hồ Đa Nhim là +882,6 m


    +  Mực nước lũ lớn nhất ở hồ Đa Queyon là +883,2 m


    + Đầu mối có các công trình: 2 đập chắn, 4 đập phụ, tràn xả lũ chính, cống xả nước sâu, tràn sự cố, kênh nối hai hồ


    * Đập chính Đa Nhim: – Đập đất  đồng chất có lõi chống thấm,


    – Cao trình đỉnh đập +883,7 m; rộng 8 mét


     – Chiều dài đỉnh đập L = 430m


     – Chiều cao đập lớn nhất Hmax = 56m







    Đập chính Đa Nhim


    * Đập chính Đa Queyon:


    – Đập đất  đồng chất có lõi chống thấm,


    – Cao trình đỉnh đập +884, 3 m; rộng 8 mét


    – Chiều cao đập lớn nhất Hmax = 58m


    * Đập phụ : có 4 đập phụ số 1, 2, 3, 4 có chiều cao lần lượt là 22m, 17m, 31m, 34m


    * Kênh nối hai hồ có đáy rộng 22 m, đáy thấp hơn MNC. Kênh dài 2510 m, lưu lượng thiết kế là 3077 m3 /s


    *Tràn xả lũ chính:


    – Cao trình ngưỡng tràn +862,5m, thấp hơn MNDBT 17,5m


    –Tràn có 3 cửa, van cung kích thước b x h = 15 x 18,75 (m)


    – Ngưỡng tràn thực dụng. Cột nước tràn lớn nhất Hmax = 20,1m


    – N ối tiếp sau ngưỡng tràn là dốc nước . Cuối dốc nước là tiêu mũi phun








    Nhìn từ thượng lưu tràn xả lũ chính









    Nhìn từ hạ lưu tràn xả lũ chính









    Nhìn xuống hạ lưu tràn xả lũ chính









    Cửa van tràn xả lũ chính


     *Tràn sự cố: đặt ở đập phụ, Tràn sự cố kiểu đập đất nước tràn qua đỉnh đập gây vỡ. Cao trình ngưỡng tràn sự cố  +869,0 m, thấp hơn MNDBT 11,0 m   


     * Cống xả sâu: Là loại cống tròn, chảy có áp. Đường kính cống 0,8m đặt ở dưới ngưỡng tràn xả lũ chính. Lưu lương qua cống từ 7 đến 20 m3 /s


     nhằm duy trì dòng chảy ở hạ lưu đáp ứng các yêu cầu khác nhau


    2. Tuyến năng lượng


     * Cửa nhận nước : cao trình ngưỡng cửa vào +850,0m

  • Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học






    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


     ____________


    Số :  06/2008/QĐ-BGDĐT


     


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    _____________________________________


     Hà Nội, ngày 13 tháng 02 năm 2008


    QUYẾT ĐỊNH


    Ban hành Quy định  đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học


    ______________


    BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


     Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;


    Căn cứ Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;


    Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và h­ướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;


    Sau khi có ý kiến thoả thuận của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại văn bản số 2094/BLĐTBXH-TCDN ngày 14 tháng 6 năm 2007;


    Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Đại học và Sau đại học,


    QUYẾT ĐỊNH:


    Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học.


    Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quyết định số 49/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định tạm thời về đào tạo liên thông dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Các quy định trước đây trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ.


    Điều 3. Các Ông (Bà) Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Đại học và Sau đại học; Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc các đại học, học viện; Hiệu trưởng các trường đại học, trường cao đẳng chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.


     







    Nơi nhận:


    – Văn phòng Quốc hội;


    – Văn phòng Chính phủ;


    – Uỷ ban VHGD TNTN&NĐ của QH;    Để báo cáo


    – Hội đồng Quốc gia Giáo dục;


    – Ban Tuyên giáo  Trung ương;


    – Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp);


    – Kiểm toán Nhà nước ;


    – Các Bộ có trường ĐH, CĐ;


    – Các UBND tỉnh, TP trực thuộc TW   Để thực hiện


    – Như Điều 3;


    – Công báo;


    – Website Chính phủ;


    – Website Bộ GD&ĐT;


    – Lưu VT, PC, Vụ ĐH&SĐH.


    KT.BỘ TRƯỞNG


    THỨ TRƯỞNG THƯỜNG TRỰC


     


     


     


     


     


    Bành Tiến Long









           BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


     ____________


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    _____________________________________


    QUY ĐỊNH


    Đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học


    Ban hành kèm theo Quyết định số 06 /2008/QĐ-BGDĐT


    ngày 13 tháng 02 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo


    ______________


    Chương I


    QUY ĐỊNH CHUNG
    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng


    1. Văn bản này quy định về đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học, bao gồm: điều kiện và thẩm quyền đào tạo liên thông; tuyển sinh, đào tạo liên thông; nhiệm vụ và quyền hạn của trường tổ chức đào tạo liên thông; nhiệm vụ và quyền  của người học; chế độ báo cáo và xử lý vi phạm.


    2. Quy định này áp dụng đối với các đại học, học viện, trường đại học và trường cao đẳng (sau đây gọi tắt là trường) được tổ chức đào tạo liên thông.


    Điều 2. Đào tạo liên thông


     Đào tạo liên thông là quá trình đào tạo cho phép sử dụng kết quả học tập đã có của người học để học tiếp ở trình độ cao hơn cùng ngành nghề hoặc khi chuyển sang ngành đào tạo, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác.


    Điều 3. Mục đích


    Quy định về đào tạo liên thông nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các trường xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo và công nhận kết quả học tập, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của người học để quá trình đào tạo liên thông diễn ra thông suốt với chất lượng và hiệu quả cao.


    Điều 4 . Đối tượng đào tạo liên thông


    1. Những người đã có bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳng có nhu cầu học tập lên trình độ cao đẳng hoặc đại học.


    a) Đối với đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp lên trình độ cao đẳng hoặc từ trình độ cao đẳng lên trình độ đại học, người tốt nghiệp loại khá trở lên được tham gia dự tuyển ngay sau khi tốt nghiệp; người tốt nghiệp loại trung bình phải có ít nhất 1 năm làm việc gắn với chuyên môn được đào tạo mới được tham gia dự tuyển.


    b) Đối với đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp lên trình độ đại học, người có bằng tốt nghiệp trung cấp phải có ít nhất 3 năm làm việc gắn với chuyên môn được đào tạo mới được tham gia dự tuyển.


    2. Những người đã tốt nghiệp ở nước ngoài có văn bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp hoặc cao đẳng được công nhận văn bằng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.


     


    Chương II


     ĐIỀU KIỆN VÀ THẨM QUYỀN ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG


    Điều 5. Điều kiện đào tạo liên thông


    1. Có quyết định mở ngành cùng trình độ đối với những ngành đăng ký đào tạo liên thông.


    2. Có quyết định giao chỉ tiêu tuyển sinh. Chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo liên thông nằm trong tổng chỉ tiêu được Nhà nước phê duyệt đầu năm. Các trường đề xuất chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo liên thông trên cơ sở các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh theo năng lực đào tạo của trường.


    3. Đã xây dựng hoàn chỉnh chương trình đào tạo lên thông.


    Điều 6. Thẩm quyền đào tạo liên thông


    1. Đối với đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp lên trình độ cao đẳng hoặc từ trình độ cao đẳng lên trình độ đại học do Hiệu trưởng quyết định và báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo trước khi tổ chức đào tạo.


    2. Đối với đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp lên trình độ đại học phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo chấp thuận bằng văn bản khi nhà trường đủ điều kiện.


    Điều 7.  Hồ sơ đăng ký đào tạo liên thông


    1. Hồ sơ đăng ký đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp lên trình độ đại học gồm có:


                a) Tờ trình Bộ Giáo dục và Đào tạo đăng ký đào tạo liên thông. Nội dung tờ trình phải nêu rõ: ngành và trình độ đăng ký đào tạo liên thông; nhu cầu đào tạo; cơ sở đào tạo; tổ chức quá trình đào tạo; tiêu chí, hình thức và điều kiện tuyển chọn; dự kiến chỉ tiêu đào tạo; điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và những cam kết đảm bảo chất lượng;


                b) Bản sao các quyết định mở ngành đối với những ngành đăng ký đào tạo liên thông;


                c) Bảng đối chiếu chương trình đã được đào tạo của đối tượng tuyển sinh ở trình độ trung cấp và chương trình đào tạo để được cấp bằng tốt nghiệp ở trình độ đại học, làm căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo liên thông;


                d) Chương trình đào tạo liên thông;


                đ) Chương trình bổ sung kiến thức cho người học khác ngành đào tạo liên thông nhưng cùng trong một khối ngành.


                2. Hồ sơ gửi về Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vụ Đại học và Sau đại học).  Chậm nhất 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét ra quyết định giao nhiệm vụ đào tạo liên thông cho trường hoặc trả lời bằng văn bản  về việc chưa giao nhiệm vụ đào tạo liên thông cho trường.


    Chương III


     TUYỂN SINH, ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG


    Điều 8. Tuyển sinh


              1. Đối với những lớp đào tạo liên thông đối tượng tuyển sinh là những người đã có bằng tốt nghiệp trung cấp, các thí sinh phải tham dự thi tuyển 3 môn gồm: hai môn cơ bản và một môn cơ sở ngành (hoặc thực hành nghề). Đề thi các môn cơ bản được lấy từ ngân hàng đề thi của Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề thi môn cơ sở ngành (hoặc thực hành nghề) do Hiệu trưởng nhà trường quy định.


    2. Đối với những lớp đào tạo liên thông đối tượng tuyển sinh là những người đã có bằng tốt nghiệp cao đẳng, các thí sinh phải tham dự một kỳ thi tuyển 2 môn gồm: môn cơ sở ngành (hoặc môn ngoại ngữ tiếng Anh) và một môn của kiến thức ngành.


    Hiệu trưởng nhà trường quy định cụ thể môn thi tuyển sinh để đảm bảo chất lượng tuyển chọn.      


    3. Các quy định cụ thể về công tác tuyển sinh, xét tuyển và triệu tập thí sinh trúng tuyển thực hiện  theo các quy định của Quy chế tuyển sinh hiện hành phù hợp với trình độ và hình thức đào tạo.


    Điều 9. Chương trình và thời gian đào tạo


    1. Chương trình đào tạo liên thông phải được xây dựng theo những nguyên tắc sau:


     a) Chương trình đào tạo liên thông  được thiết kế theo nguyên tắc mềm dẻo, phát triển theo hướng kế thừa và tích hợp, để giảm tối đa thời gian học lại kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích luỹ ở các trình độ khác;


    b) Chương trình đào tạo liên thông phải phản ánh đúng mục tiêu đào tạo, yêu cầu học tập, nội dung, phương pháp dạy và học, thời gian đào tạo, kế hoạch thực hiện và phương pháp đánh giá theo trình độ và theo ngành đào tạo tương ứng;


    c) Chương trình đào tạo liên thông được xây dựng dựa trên việc so sánh giữa chương trình đào tạo trình độ cao đẳng cho những người có bằng tốt nghiệp trung cấp và chương trình đào tạo trình độ đại học cho những người có bằng tốt nghiệp cao đẳng hoặc trung cấp. Việc xây dựng các chương trình đào tạo liên thông nói trên được thực hiện theo nguyên tắc bù đủ những khối lượng kiến thức còn thiếu và kiến thức cập nhật mới phù hợp với thực tế xã hội;


    d) Chương trình đào tạo liên thông phải xây dựng trên cơ sở chương trình khung và được thiết kế phù hợp với các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo.


              2. Thời gian đào tạo liên thông:


                a) Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo;


                b) Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.


    3. Đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp hoặc cao đẳng khác ngành đào tạo nhưng cùng trong một khối ngành, nếu có nhu cầu đào tạo liên thông thì phải học thêm một khối lượng kiến thức bổ sung để có đủ trình độ đầu vào ngành theo học liên thông trước khi dự thi tuyển. Khối lượng kiến thức phải học bổ sung do Hiệu trưởng nhà trường quyết định. Thời gian đào tạo các khoá bổ sung kiến thức không được tính vào thời gian đào tạo liên thông quy định tại khoản 2 của điều này.


    Điều 10. Công nhận giá trị chuyển đổi kết quả học tập


    1. Việc công nhận kết quả học tập của người học trong hệ thống giáo dục quốc dân phải căn cứ vào quy định về nội dung đào tạo, khối lượng kiến thức, kỹ năng thực hành, cấu trúc chương trình và thời gian đào tạo.


    2. Việc công nhận văn bằng tốt nghiệp của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để học liên thông trong các trường cao đẳng, trường đại học của Việt Nam thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.


    Điều 11. Thẩm quyền công nhận kết quả học tập


    Căn cứ quy trình đào tạo tại mỗi trường, người học có thể được công nhận kết quả học tập theo tín chỉ, học phần, chương trình môn học và kết quả toàn khoá học để được miễn trừ khi học chương trình đào tạo liên thông.


    Hiệu trưởng của trường tổ chức đào tạo liên thông quy định cụ thể việc công nhận kết quả học tập của người học.


    Điều 12. Tổ chức lớp đào tạo liên thông


    Việc đào tạo liên thông có thể được tổ chức thành các lớp riêng hoặc ghép học cùng với các lớp đào tạo của trường phù hợp với kế hoạch, chương trình, loại hình đào tạo. Hiệu trưởng quyết định việc tổ chức các lớp đào tạo liên thông.


    Điều 13. Văn bằng tốt nghiệp


                1. Người học theo hình thức học ban ngày, tập trung liên tục tại trường, thực hiện Quy chế về tuyển sinh, Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy, sau khi kết thúc khoá học, nếu đủ điều kiện xét và công nhận tốt nghiệp của hệ chính quy, người học được cấp bằng tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng hệ chính quy.


                2. Người học theo hình thức vừa làm vừa học, thực hiện Quy chế về tuyển sinh, Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học, sau khi kết thúc khoá học, nếu đủ điều kiện xét và công nhận tốt nghiệp của hệ vừa làm vừa học, người học được cấp bằng tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng hình thức vừa làm vừa học.


    Chương IV


      NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA TRƯỜNG  TỔ CHỨC


    ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG


    Điều 14. Nhiệm vụ của trường tổ chức đào tạo liên thông


    1. Tổ chức đào tạo liên thông theo quy định tại văn bản này.


    2. Chủ động nguồn tuyển sinh và nguồn lực phục vụ cho đào tạo.


    3. Xây dựng chương trình đào tạo, thời gian đào tạo liên thông theo quy định tại khoản 1  Điều 9.


    4. Tổ chức các khoá đào tạo liên thông theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tuyển sinh, đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp.


    5. Thông báo công khai từ đầu năm học về chương trình đào tạo liên thông, môn thi tuyển sinh, việc tuyển sinh, đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp.


    Điều 15. Quyền hạn của trường tổ chức đào tạo liên thông


    1. Được đăng ký đào tạo liên thông những ngành đã được giao nhiệm vụ đào tạo ở hệ chính quy cùng trình độ.


    2. Được liên kết đào tạo liên thông trên nguyên tắc trường được giao nhiệm vụ đào tạo liên thông chịu trách nhiệm toàn bộ từ khâu tuyển sinh,  quá trình đào tạo và cấp văn bằng theo Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.


    3. Đề xuất chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo liên thông trên cơ sở các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo và năng lực đào tạo của trường. Chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo liên thông nằm trong tổng chỉ tiêu được Nhà nước phê duyệt đầu năm.


    Chương V


      NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI HỌC


    Điều 16. Nhiệm vụ của người học


    1. Người học muốn thi tuyển để được vào học trong các chương trình đào tạo liên thông cần phải nộp đủ hồ sơ, lệ phí theo quy định. Khi có yêu cầu, người học phải xuất trình bản chính của chứng chỉ hoặc văn bằng đã được cấp.


    2. Tham dự tuyển sinh theo quy định tại Điều 8 của Quy định này.


    3. Phải đóng học phí theo quy định.


    4. Tuân thủ những quy định hiện hành về đào tạo liên thông.


    Điều 17. Quyền của người học


    1. Được cung cấp đầy đủ thông tin về khoá học: điều kiện dự thi, hình thức thi kiểm tra và những yêu cầu khác để tuyển chọn, quy chế đào tạo, quy chế học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo, văn bằng tốt nghiệp, học phí.


    2. Yêu cầu cơ sở giáo dục bảo đảm các điều kiện để đào tạo liên thông với chất lượng như đã thông báo.


    3. Trường hợp người học có bằng tốt nghiệp khác ngành đào tạo nhưng cùng trong một khối ngành, người học phải theo học những khoá đào tạo bổ sung bắt buộc để đủ kiến thức theo học chương trình đào tạo liên thông  ở trình độ cao hơn.


    Chương VI


     CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM


    Điều 18. Chế độ báo cáo


    1. Hằng năm, khi kết thúc năm học các trường tổ chức đào tạo liên thông  phải báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện chương trình đào tạo liên thông.


    2. Ngoài những số liệu đánh giá, nội dung báo cáo phải thể hiện những phân tích của nhà trường về chất lượng và hiệu quả đào tạo.


    Điều 19. Lưu trữ hồ sơ đào tạo


              1. Hồ sơ liên quan đến đào tạo liên thông phải được lưu trữ để phục vụ cho công tác nghiên cứu, giám sát, đánh giá và thanh tra khi cần thiết.


    2. Hồ sơ lưu trữ bao gồm:


    a) Hồ sơ đăng ký đào tạo liên thông;


    b) Quyết định giao nhiệm vụ đào tạo liên thông;


    c) Hồ sơ liên quan đến công tác tuyển sinh đào tạo liên thông;


    d) Kế hoạch lên lớp và sổ theo dõi lên lớp của sinh viên và của giảng viên;


    đ) Kết quả thi, kiểm tra các học phần, thi tốt nghiệp, quyết định công nhận tốt nghiệp;


    e) Học bạ và sổ gốc cấp văn bằng, chứng chỉ.


    Điều 20. Xử lý vi phạm


    Trong khi kiểm tra thường xuyên, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, thi tốt nghiệp, bảo vệ đồ án, khoá luận,  nếu vi phạm, người học sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định hiện hành.                                                            


                                                                                   KT.BỘ TRƯỞNG


                                                                        THỨ TRƯỞNG THƯỜNG TRỰC


     


                                                                                       Bành Tiến Long