Tác giả: Data Old

  • Thủy lợi có một thiên đường

    Nằm trên đường Tây Sơn, ngôi trường mang tên Đại học Thủy lợi được bao bọc bởi màu xanh hiền hòa và tươi mát của rất nhiều cây cối.Có lẽ giữa cái ồn ào náo nhiệt của phố phường Hà Nội mà tìm được một nơi với không khí trong lành thoáng đãng như khuôn viên của trường Đại học Thủy lợi thật không dễ chút nào. Chả trách mà mỗi khi đến trường vào mỗi buổi sáng sớm hay chiều tối, tôi đều thấy sân trường mình có một không khí gì đó rất kỳ lạ. Vào những khi ấy, đã rất nhiều lần tôi chọn cho mình một chỗ ngồi trên ghế đá để được ngắm nhìn và cảm nhận vẻ đẹp riêng của trường.


    Trường Đại học Thủy lợi đã có bề dày truyền thống trên 50 năm xây dựng và phát triển, không biết đấy có phải là lý do mà khiến cây ở trường to, nhiều, đẹp và mát đến thế không? Nằm gọn trong lòng sân trường có một con phố đi bộ mà không biết tự bao giờ nó đã trở nên thân quen, hấp dẫn với rất nhiều người. Con phố nhỏ và đẹp ấy bỗng trở nên đông đúc lạ thường mỗi lúc sáng sớm hoặc buổi chiều tối khi giờ tan tầm. Đó là âm thanh vui nhộn của những khu tập thể dục nhịp điệu hoặc nhảy Hiphop, tiếng nói, tiếng cười khỏe khoắn của những cụ ông cụ bà về hưu đi bộ thể dục cùng nhau, tiếng hô dõng dạc của các bạn tập võ… Đã bao lần dạo bước trên sân trường tôi đã không thể đi tiếp khi bị cuốn hút vào những hoạt động thú vị trên sân. Và khi ấy tôi mới thực sự cảm nhận một điều thật thấm thía: ” Trường học là ngôi nhà thứ hai của mình”. Tôi đã tìm thấy được mình trong đó, cả tuổi thơ đầy ắp tiếng cười và hạnh phúc của tôi bị đánh thức bởi hình ảnh những em nhỏ đang háo hức, xúm xít trên những chiếc xe đạp xinh xinh. Đằng sau cuộc sống xô bồ hiện đại thì đây thực sự là những giây phút thư giản thoải mái, thảnh thơi nhất. Đôi khi tôi bị căng thẳng về một điều gì đó trong học tập hoặc cuộc sống tôi thường chọn một nơi nào để giải tỏa, không chỗ nào có thể tốt hơn là trường học lúc này. Ngồi trên ghế đá, dước tán cây xanh mượt và mát rượi, thả lỏng người nhìn ra xung quanh vươn vai và hít một hơi thật sâu, mọi căng thẳng dường như bị xua tan.


    Có rất nhiều người bạn của tôi ở những ngôi trường khác nhau đã đến chơi và thăm trường, hầu hết họ đều tỏ ra vô cùng thích thú với không gian xanh và kiến trúc rất đẹp, nền nã đặc trưng chỉ có ở Thủy lợi, các bạn ấy đã tự nhiên thôt lên rằng” biết trường Thủy lợi đẹp như thế này thì ngày xưa mình đã thi vào rồi” – và tôi tất nhiên là vô cùng tự hào vì điều ấy, tự hào khi là sinh viên K51 của trường


    Tháng sáu về, gọi mùa hạ đến trong âm thanh trong trẻo và rộn ràng của tiếng ve ngân nga. Sân trường chợt bừng sáng bởi màu đỏ chói chang của những chùm hoa phượng vĩ và sắc tím yêu kiều của hoa bằng lăng. Chỉ ngần ây thôi cũng đủ làm cho sân trường có sức hút lạ lùng, bỗng chốc đông vui và nhộn nhịp hơn mỗi khi chiều xuống. Một chút lưu luyến bâng khuâng nhớ về mùa hạ cũ của những năm về trước, một chút lo lắng bồn chồn khi mùa thi đang đến gần, một chút xao xuyến khi nhớ về ngày xưa ngồi nhặt cánh hoa rơi đặt vào cuốn lưu bút… và còn nhiều kỷ niệm nơi góc sân trường mà chỉ có mình biết, cây biết và hoa biết thôi – Những kỷ niệm ngọt ngào, dịu êm của một thời sinh viên sẽ là những hành trang không thể thiếu trên con đường đi tìm ước mơ và sự thành công của mỗi người.


    Trong muôn vàn thanh âm vang trên sân trường khi ấy, có tiếng bước chân nhẹ nhàng tự tin, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kỳ diệu sẽ mở ra. Ngày mai con người đó sẽ được đặt chân lên nhiều con đường, góc phố khác to hơn, đẹp hơn, sang trọng hơn nhưng hẳn sẽ không bao giờ quên con phố đi bộ của Thủy lợi khi xưa, đó là con thuyền chở đầy những kỷ niệm ngọt ngào của một thời áo trắng tinh khôi… Một cánh hoa nhẹ rơi xuống mái tóc, tôi chợt giật mình sau những phút giây mơ màng khó hiểu, tôi như đang mơ, và có khi nào giấc mơ đó biến thành sự thật, tôi sẽ không trả lời vội đâu vì tôi hiểu và cũng sợ một sự thật rằng ngày mai đó tôi sẽ phải rời xa nơi đây để đến với những miền đất mới, và tôi sẽ kể cho các bạn niềm tự hào của riêng mình: ” trường Thủy Lợi của tôi có một thiên đường mang tên con phố đi bộ”.


         


    NGUYỄN THỊ THÙY KHÁNH – 51C4, CLB PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG.

  • Huyền thoại về Ngã ba Đồng Lộc

    Huyền thoại về Ngã ba Đồng Lộc

    “ Ai về thăm dòng sông La. Ai qua ngã ba Đồng Lộc. Nghe chuyện mười o con gái. Cuộc đời đã hóa bài ca…”

            Đã gần 43 năm trôi qua nhưng khi cất những vần thơ ấy lên mỗi người con đất Viết vẫn rưng rưng xúc động về câu chuyện mười nữ Thanh niên xung kích ở Ngã ba Đồng Lộc ( Can Lộc – Hà Tĩnh) đã chiến đấu anh dũng, hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho lý tưởng cao đẹp của dân tộc. Ghé thăm Ngã ba Đồng Lộc vào một ngày giữa tháng 5, khi thầy trò chúng tôi đang tiếp tục cuộc hành trình tham quan các Công Trình Thủy Lợi – Thủy Điện từ Hà Nội đến Hà Tĩnh. Dải đất Can Lộc hôm nay trải dài một màu xanh bát ngát, và chính ngã ba này năm xưa đã từng oằn mình hứng chịu mỗi m2 đất gần chục tấn bom đạn của giặc Mỹ.

           Hẳn rằng ai cũng biết câu chuyện huyền thoại ấy, nhưng một lần nữa vẫn xin được nhắc lại như lời tri ân sâu sắc của tuổi trẻ hôm nay gửi đến “ Mười đóa hoa Đồng Lộc bất tử ” khi được một lần chạm vào huyền thoại cao đẹp của dân tộc.

           Ngã ba Đồng Lộc thuộc địa phận xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nằm trên đường mòn Hồ Chí Minh qua dãy Trường Sơn, là giao điểm của quốc lộ 15A và tỉnh lộ 2 của Hà Tĩnh.

     

     

    Ngã ba Đồng Lộc hôm nay yên bình một màu xanh


    Vào những năm kháng chiến chống Mỹ, mọi con đường từ Bắc vào Nam đều phải đi qua đây. Ngã ba có diện tích khoảng 50ha nằm gọn trong một thung lũng hình tam giác, hai bên là đồi núi trọc, giữa là con đường độc đạo, mặt đường giống như một lòng máng nên khi bom đạn của địch trút xuống phía nào, đất đá cũng lăn xuống đường cản trở giao thông. Chính vì sự hiểm yếu và tầm chiến lược quan trọng như vậy mà giặc Mỹ liên tục đánh phá, ném bom nhằm cô lập và cắt đứt huyết mạch giao thông của quân dân ta hướng về chiến trường miền Nam. Chúng âm mưu biến Ngã ba Đồng Lộc thành một “ tọa độ chết”, chỉ tính riêng 240 ngày đêm từ tháng 3 đến tháng 10/1968, không quân địch đã trút xuống đây 48.600 quả bom các loại. Nhưng quân và dân ta vẫn tập trung mọi nguồn lực để quyết giữ con đường huyết mạch này. Cũng tại đây hàng trăm chiến sỹ bộ đội, thanh niên xung kích đã anh dũng hy sinh.

          Vào 17h ngày 24-7-1968, Tiểu đội 4 TNXP được lệnh đến trọng điểm ở khu vực địch vừa thả bom để san lấp hố bom sửa chữa đường, hầm trú ẩn, khơi sâu rãnh thoát nước ở đoạn đường độc đạo, nhanh chóng thông đường cho xe qua. Nhận nhiệm vụ xong, các cô đến ngay hiện trường gấp rút triển khai công việc. Họ làm việc không ngơi tay, vừa cười, vừa nói, vừa í ới gọi nhau. Bỗng một tốp máy bay phản lực của địch xuất hiện. Hết tiếng máy bay, các cô gái lại chồm dạy làm việc. Bất ngờ tốp máy bay quay lại và thả một loạt bom rơi vào đội hình 10 cô gái. Các tiểu đội TNXP đi sau chồm lên gào thét, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy cũng lao ra gọi tên từng người. Khi đến nơi chỉ thấy một hố bom sâu hóm, một vài chiếc xẻng, cuốc văng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người. Cả mười cô gái trẻ ấy đã hy sinh.

     

     

    Những hố bom năm xưa vẫn mãi còn đó dù gió mưa, thời gian…


          
    Mười đóa hoa ấy vừa độ mười tám, đôi mươi – cái tuổi đẹp nhất của tuổi trẻ, của đời người và đã mãi mãi ra đi, mang trong tim bao nhiệt huyết, khát vọng của ước mơ, hoài bão. Mười đóa hoa ấy đã hy sinh cả tuổi thanh xuân, đã kiên cường chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp của dân tộc và rồi đã hòa vào lòng đất, góp phần tô đẹp thêm “ trời mô xanh bằng trời Can Lộc, nước mô xanh bằng dòng nước sông La ’’ hôm nay. Các chị đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng và Ngã ba Đồng Lộc được công nhận là di tích lịch sử. Nơi đây là chứng tính hùng hồn về cuộc chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Hà Tĩnh, là bản hùng ca chiến đấu anh dũng của tuổi trẻ Việt Nam.

     

     

    Tượng đài “ mười o con gái. Cuộc đời đã hóa bài ca…”

     

    Khu du tích Ngã ba Đồng Lộc ngày nay đã được tôn tạo, trở thành một không gian tưởng niệm thiêng liêng của dân tộc. Nơi đây ngày ngày vẫn luôn ngát khói hương của hàng trăm người tới viếng, tri ân những người anh hùng đã hy sinh vì tổ quốc. Khu mộ của các chị nằm dưới một ngọn đồi thoai thoải, yên nghỉ ngàn thu trong tư thế sóng hàng theo đội hình của người xung trận giữa bao la đất trời.

     

     

    Nơi đây vẫn ngày ngày ngát khói hương

           Can Lộc – một ngày với những cơn mưa nhẹ bất chợt càng làm cho không gian nơi đây nhuốm màu huyền thoại. Những hố bom năm xưa vẫn còn đây, vẫn bất tử như chính tinh thần quả cảm và kiên cường của các chị. Tiếng mưa rơi cứ ngỡ như tiếng hát, tiếng cười trong trẻo của các thiếu nữ ấy năm xưa…vẫn sống mãi trong tiềm thức của chúng ta hôm nay.

            Trải dài giữa ngút ngàn màu xanh của thung lũng Đồng Lộc ấy là sắc tím của những đồi hoa sim, hoa mua. Có lẽ máu xương và linh hồn của các chị đã hòa vào lòng đất mẹ, để tô điểm thêm hương sắc cho màu hoa. Men theo con đường mòn nho nhỏ tím ngát màu hoa ấy, thầy trò chúng tôi đến thăm Tháp chuông đền thờ Đồng Lộc. Tháp chuông được xây dựng do sự đóng góp công đức từ các tổ chức, cá nhân trong đó có trường Đại học Thủy Lợi của chúng ta. Đây là công trình thể hiện sự tri ân, lòng biết ơn những anh hùng người đã hy sinh vì tổ quốc, nơi đây là biểu tượng sáng ngời của ý chí và sức mạnh Việt Nam.

         Hôm nay, mảnh đất Can Lộc không còn bị bom cày đạn xới, bầu trời đen kịt khói bom nữa. Sự sống vẫn đang hồi sinh từng ngày nơi đây. Cũng bởi vì mười cô gái ấy đã:

                                       “ ..Hòa vào cây có xanh tươi

                                        Nở mười đóa hoa thơm ngát

                                        Tỏa hương dâng tặng cho đời…”

                                    ( Trích “ Như mười đóa hoa thơm”- Mai Hữu Phước )

     

    (Bài viết có tham khảo tư liệu lịch sử từ Báo Nhân dân, Lịch sử quân sự Việt Nam)

     
    Nguyễn Thị Giang

     

  • Kế hoạch tổ chức Hội nghị kỷ niệm 45 năm Khoa Công trình







           TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    KHOA CÔNG TRÌNH


     


          


               CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


     


     


                        Hà Nội, ngày 23  tháng 5  năm 2011


     


    KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HỘI NGHỊ KHOA HỌC


    KỶ NIỆM 45 NĂM KHOA CÔNG TRÌNH


     


    Để thiết thực kỷ niệm 45 năm thành lập khoa Công trình – trường Đại học Thủy lợi, Ban chủ nhiệm khoa thông báo kế hoạch tổ chức Hội nghị Khoa học của khoa như sau:


    I. Nội dung Hội nghị:


    Trình bày các kết quả hoạt động khoa học – công nghệ của cán bộ, giáo viên, cộng tác viên, nghiên cứu sinh (NCS), học viên cao học và các cựu sinh viên khoa Công trình trong thời gian 5 năm qua (2006 – 2011), về tất cả các hướng chuyên môn của khoa.


    II. Thành phần tham gia Hội nghị


    –          Toàn thể cán bộ, giáo viên khoa Công trình, Viện Kỹ thuật Công trình;


    –          Các NCS, học viên cao học của khoa.


    –          Đại biểu là lãnh đạo trường và các khoa, phòng, ban.


    –          Các đại biểu là cộng tác viên, cựu sinh viên của khoa.


    –          Đại biểu của các trường, các tổ chức khoa học – công nghệ trong và ngoài nước có hợp tác với khoa.


    III. Quy định về báo cáo tham gia Hội nghị.



    1. Nội dung: là các kết quả nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, tổng kết thực tiễn về các lĩnh vực: công trình thủy lợi, giao thông, xây dựng dân dụng và công nghiệp và các vấn đề khác liên quan.

    2. Hình thức trình bày: theo quy cách của bài viết trên Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường (Đại học Thủy lợi), độ dài không quá 8 trang A4.

    3. Ấn phẩm của Hội nghị:

    –          Tuyển tập Báo cáo của Hội nghị.


    –          Các Báo cáo sẽ được tham gia tuyển chọn để đăng Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường.



    1. Sản phẩm gửi tham gia: Báo cáo (bản cứng) và file.

    2. Địa chỉ liên hệ:

    –          Gửi bài: Văn phòng khoa Công trình – Đại học Thủy lợi, 175 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội


    (ngoài bì ghi: Báo cáo khoa học)


    –          Thường trực nhận thông tin: Trần Thị Thúy Lam, văn phòng khoa Công trình – Đại học Thủy lợi.


    Điện thoại: (04) 38522024 (trong giờ hành chính)


    Email: [email protected].


    IV. Kế hoạch cụ thể :



    1. Thông báo kế hoạch : từ 24 đến 31/5/2011.

    2. Nhận bài : từ 01/8 đến 30/9/2011.

    3. Phản biện và biên tập : từ 01/10 đến 20/10/2011.

    4. In và phát hành tuyển tập : từ 21/10 đến 15/11/2011.

    5. Tổ chức Hội nghị khoa học : trong khoảng từ 16 đến 19/11/2011 (sẽ có thông báo và giấy mời cụ thể).

    Kính mời tất cả thầy, cô giáo và quý vị đại biểu quan tâm gửi Báo cáo tham gia Hội nghị.


     


                                                                      TRƯỞNG KHOA CÔNG TRÌNH


     


                                                                            (đã ký)


     


                                                         GS. TS. NGUYỄN CHIẾN


    Nơi gửi :


    –          BGH (để báo cáo)


    –          P9, Viện Kỹ thuật công trình, CS2, ĐH2.


    –          Các BM trong khoa.


    –          Trang Web của trường (để thông báo rộng rãi)


    –          Lưu VPK


     


     

  • Nhân kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác Hồ: Bác Hồ “dụng nhân như dụng mộc”

    Nhân kỷ niệm 121 năm ngày sinh Bác Hồ: Bác Hồ “dụng nhân như dụng mộc”

    Trong lịch sử nhân loại, từ khi có Nhà nước thì việc dùng người luôn luôn quyết định sự thành bại của mỗi chế độ chính trị, quyết định sự nghiệp của từng nhà chính trị, tướng lĩnh, chỉ huy … Phép dùng người của Bác Hồ  là một nét đặc sắc nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nhân kỷ niệm 121  năm ngày sinh của Bác chúng ta hãy suy ngẫm về tài dụng nhân độc đáo của Người  …









     

    Đổi mới cán bộ.


    Mỗi thế hệ cán bộ sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, mỗi người đều có sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất định, tuyệt nhiên không ai giống ai. Bác nhắc nhở phải thấy cái giới hạn khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế, bổ sung cho tổ chức những lớp người mới, đủ sức lực và tài năng đảm đương các nhiệm vụ theo những yêu cầu mới. Theo Người, cần cán bộ già đồng thời cũng cần nhiều cán bộ trẻ… công việc ngày càng nhiều, càng mới. Một mặt Đảng phải đào tạo, dìu dắt những đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học”. Việc đổi mới cán bộ phải rất khách quan, công minh cần lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làm căn cứ, phải tổng kết từ phong trào thực tiễn, phát hiện những nhân tố mới, những cán bộ trẻ có đức có tài để trao nhiệm vụ cho họ. Mặt khác cũng cần tạo điều kiện cho số cán bộ lớn tuổi đã công tác quá lâu trong các văn phòng có điều kiện thâm nhập thực tế để khỏi lạc hậu với thực tế. Vấn đề luân chuyển cán bộ hiện nay là chủ trương đúng phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.


    Con người là vốn quý


    Với Bác Hồ, con người không bao giờ là phương tiện của các nhà chính trị, đảng chính trị… Nhân dân mới chính là người chủ sở hữu của quyền lực chính trị, con người vừa là mục đích vừa là động lực và sức mạnh của mọi sự nghiệp chính trị. Bác nói: Có lúc đường lối, chính sách đúng nhưng chúng ta quên rằng “vô luận việc gì, đều do con người làm ra và từ nhỏ tới to, từ gần tới xa, đều thế cả”. Công việc Đảng, nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức tốt để thực thi công vụ. Bác quan niệm “Vô luận việc gì đều do con người làm ra”, và kết luận: “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý…”.


    Dùng một người vì nhiều người.


    Động cơ thôi thúc Bác là tiến hành sự nghiệp vĩ đại: Giải phóng dân tộc, xã hội, con người, trong đó có độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào; làm cho mọi người ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Chính động cơ ấy đã trở thành triết lý nhân sinh, thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chính sách dùng người ở Bác.


    Tư tưởng Hồ Chí Minh đã gặp gỡ mong muốn đời thường của mọi người lao khổ. Mọi người tập hợp dưới ngọn cờ của lãnh tụ, phấn khởi, tự hào được là lính Cụ Hồ, tuân theo sự điều khiển của lãnh tụ: “Bác bảo đi là đi”, bởi họ họ tin rằng “Bác bảo thắng là thắng”.


    Khoan dung để đắc nhân tâm


    Các Mác từng nói: Muốn mọi người đối xử với mình thế nào thì hãy đối xử với mọi người như vậy. Ngay sau khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ra đời, Bác đã gửi thư tới các cấp phê phán thói “Kiêu ngạo, tưởng mình ở trong cơ quan nhà nước là thần thánh rồi, coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin của dân, hại đến uy tín của Chính phủ”. Người căn dặn cán bộ, công chức các cấp: “Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”… Người không những có sức cảm hóa, những người có cùng chí hướng, và những người có cảm tình với cách mạng mà còn cả những người không có cùng chính kiến, thậm chí cả kẻ thù của mình. Sở dĩ như vậy là vì ở Người luôn toát lên sự thẳng thắn, trung thực, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng con người và luôn ứng xử với nguyên tắc “Lý lẽ phân minh, nghĩa tình trọn vẹn”, luôn giải quyết công việc có lý, có tình”, xuất phát từ thực tế.


    Vào tháng 8-1945, Bác Hồ gửi thư cho một sĩ quan Mỹ có thiện cảm đã giúp cách mạng Việt Nam một số việc, Bác viết; “Chiến tranh đã kết thúc, mọi thứ đều thay đổi. Nhưng tình bạn của chúng ta vẫn thế, không bao giờ thay đổi… Tôi rất tiếc vì những người bạn Mỹ đã rời chúng tôi quá nhanh và do đó mối quan hệ giữa chúng ta sẽ trở nên khó khăn hơn. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên ông, ông cũng đừng quên chúng tôi nhé! Ngày mai tươi sáng sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ vào ngày đó”.


    Đối với quan lại chế độ cũ, Bác nói với cương vị chủ tịch nước: “Các ủy ban địa phương cần phải tỏ rõ thái độ rộng lượng với các cựu công chức và quan lại ấy. Nếu không thấy nhân dân oán hờn họ thì cứ để họ sống yên ổn… Chính phủ muốn để cho họ tự giác ngộ, khiến họ tự ý tham gia vào phong trào kháng chiến, kiến quốc một cách thành thực và mong chuộc lại lỗi lầm xưa”.


    Biết mình và biết người…


    Xưa nay, các vĩ nhân làm nên sự nghiệp lớn đều có chung một tư tưởng: “biết mình biết người”, “biết địch biết ta”. Sự “Biết” ấy chính là bí quyết của thành công. Bác nói: “…muốn biết sự phải trái của người ta, thì trước hết phải biết sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình thì chắc chắn không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”.


    Bác đã chỉ ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tự biết được mình. Đó là: Bệnh cậy thế kiêu ngạo, bệnh ưa người ta phỉnh nịnh mình. Bệnh “tư túng”, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, máy móc, giáo điều. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý mắc những bệnh tật ấy, không hiểu được cái mạnh, cái yếu của mình, nên không thể biết được người khác. Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”. Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét để hiểu cán bộ một cách thấu đáo, “không nên chỉ xét mặt ngoài, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ”.


    “Dụng nhân như dụng mộc”


    Theo Bác, muốn dùng cán bộ đúng thì người cán bộ lãnh đạo cần phải:


    1. “Mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi”.


    2 “Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình không ưa”,


    3. “Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ”,


    4. “Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn nịng bợ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”. “Phải có thái độ vui vẻ thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình”. Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp sức lực và tài năng của mọi người vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung.


    5. Nếu dùng cán bộ mà để họ “hoang mang sợ hãi, buồn rầu uất ức hoặc công việc không phù hợp, chắc không thành công được. Vì vậy muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc”. Phải làm cho người cán bộ mạnh dạn, giám nói, giám nghĩ, giám làm, dám đề xuất ý kiến. Làm cho cán bộ có tinh thần chủ động, dám phụ trách, làm chủ trong công việc.


    6. Phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ. Bác Hồ đặc biệt chú trọng đến việc làm, đến hoạt động thực tiễn của cán bộ. Nhiều lần Người cho rằng không chỉ tin vào việc viết hay, nói giỏi mà phải xem một tổ chức, một cán bộ bất cứ ở cấp bậc nào, họ có “nói đi đôi với làm” hay không. Đây là một tư tưởng đã trở thành nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh.


    Phải thường xuyên giáo dục cán bộ


    Muốn có cán bộ tốt thì cơ quan lãnh đạo, quản lý “Phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối qúy báu”. Muốn dùng người thì phải quan tâm săn sóc, giúp đỡ, phải nâng cao người cán bộ, cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, làm cho người cán bộ ngày càng “lớn lên” cùng với sự nghiệp cách mạng, phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để bất cứ cán bộ nào cũng “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn”


    Vun trồng lòng tự trọng …


    Bác cho rằng: “Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự tin là vô dụng”. Vì vậy phải xem xét kỹ trước khi cất nhắc, giúp đỡ, vun trồng, khuyên răn, khích lệ lòng tự tin, tự trọng; kiểm tra, uốn nắn thường xuyên, không để “tích tiểu thành đại”. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay, để vun trồng các thói có gan phụ trách, có gan làm việc của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ “Bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”


    Bác đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cán bộ cấp trên. Người đã nhiều lần nhắc nhở Đảng viên, cán bộ cấp trên phải làm gương tốt cho cán bộ cấp dưới và người ngoài Đảng. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Nếu cán bộ cấp trên không gương mẫu thì làm sao bảo ban, hướng dẫn được cấp dưới, làm sao duy trì được kỷ luật đảng và trật tự kỷ cương phép nước..


    Đổi mới cách lãnh đạo


    Nhân dân phải là người được tham gia vào quá trình ra quyết định thường chỉ “nhìn từ trên xuống”, còn người thi hành quyết định chỉ “nhìn từ dưới lên”, cả hai đều có hạn chế. “Vì vậy, muốn giải quyết vấn đề cho đúng, ắt phải hợp kinh nghiệm cả hai bên lại”. Kiểm soát là điều bắt buộc của lãnh đạo, “muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát”. Việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường xuyên. “Người đi kiểm soát phải là những người có uy tín”. “Phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, phải kiểm soát bằng 2 cách, từ trên xuống và từ dưới lên, “tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó”. Phép dùng người của lảnh tụ Hồ Chí Minh đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm, khẳng định thành chân lý.


    Nguyễn Tấn Tuấn


    Nguồn: Báo Pháp lý 

  • Nghị quyết Về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội






    CHÍNH PHỦ


    ________


    Số: 11/NQ-CP   


    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    _________________________


    Hà Nội, ngày 24 tháng  02 năm 2011


    NGHỊ QUYẾT


    Về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, 
    ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội


    __________


    Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới hiện đang diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới tiếp tục xu hướng tăng cao. Trong nước, thiên tai, thời tiết tác động bất lợi đến sản xuất và đời sống; một số mặt hàng là đầu vào quan trọng của sản xuất như điện, xăng dầu vẫn chưa thực hiện đầy đủ theo cơ chế giá thị trường buộc phải điều chỉnh tăng; mặt khác, chúng ta phải nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khoá để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng kinh tế trong thời gian qua. Tình hình trên đây đã làm giá cả tăng cao, tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta. Vì vậy, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay.


    Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước tập trung chỉ đạo, thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:


    1. Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng


    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    a) Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát; điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 – 16%; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán.


    b) Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, nhất là các loại lãi suất và lượng tiền cung ứng để bảo đảm kiềm chế lạm phát.


    c) Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường. Tăng cường quản lý ngoại hối, thực hiện các biện pháp cần thiết để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý, bảo đảm thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối.


    d) Kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng; trong quý II năm 2011 trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới.


    đ) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về thu đổi ngoại tệ, kinh doanh vàng. Ban hành quy định và chế tài xử lý vi phạm, kể cả việc đình chỉ, rút giấy phép hoạt động, thu tài sản; quy định khen, thưởng đối với việc phát hiện các hành vi vi phạm hoạt động thu đổi, mua bán ngoại tệ, vàng. Xử lý nghiêm theo pháp luật đối với hành vi cố tình vi phạm.


    2. Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước


    a) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Chỉ đạo phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước 7-8% so với dự toán ngân sách năm 2011 đã được Quốc hội thông qua. Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới.


    – Các Bộ, cơ quan, địa phương chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm chi tiền lương và các khoản có tính chất lương, chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm 10% chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đầu năm). Các Bộ, cơ quan, địa phương tự xác định cụ thể số tiết kiệm, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3 năm 2011. Số tiết kiệm thêm 10% này các Bộ, cơ quan, địa phương tự quản lý; từ quý III năm 2011 sẽ xem xét, bố trí cho các nhiệm vụ cấp bách phát sinh ngoài dự toán hoặc chuyển về ngân sách Trung ương theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tạm dừng trang bị mới xe ô-tô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu,…; không bố trí kinh phí cho các việc chưa thật sự cấp bách. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm tiết giảm tối đa chi phí hội nghị, hội thảo, tổng kết, sơ kết, đi công tác trong và ngoài nước… Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán, trừ các trường hợp thực hiện theo chính sách, chế độ, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Xử lý nghiêm, kịp thời, công khai những sai phạm.


    – Giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP. Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn. Thực hiện rà soát nợ Chính phủ, nợ quốc gia, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh của Chính phủ. Bảo đảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.


    b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Không ứng trước vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2012 cho các dự án, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách.


    – Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2011, thu hồi về ngân sách Trung ương các khoản này để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011.


    – Thành lập các đoàn kiểm tra, rà soát toàn bộ các công trình, dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ đã được bố trí vốn năm 2011, xác định cụ thể các công trình, dự án cần ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện trong năm 2011; thu hồi hoặc điều chuyển các khoản đã bố trí nhưng chưa cấp bách, không đúng mục tiêu, báo cáo và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ biện pháp xử lý trong tháng 3 năm 2011.


    – Kiểm tra, rà soát lại đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp xử lý, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài.


    c) Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ nguồn vốn tín dụng nhà nước.


    d) Các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Chưa khởi công các công trình, dự án mới sử dụng vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách và các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án được đầu tư từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2011 trong phạm vi quản lý để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011.


    – Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các dự án cắt giảm đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, danh mục các dự án cắt giảm đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước trong phạm vi quản lý, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2011.


    đ) Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại các dự án đầu tư, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4 năm 2011 danh mục các dự án cắt giảm đầu tư, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ trong phiên họp thường kỳ tháng 5 năm 2011.


    3. Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng


    a) Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Trong quý II năm 2011, ban hành và thực hiện quy định về điều tiết cân đối cung – cầu đối với từng mặt hàng thiết yếu, bảo đảm kết hợp hợp lý, gắn sản xuất trong nước với điều hành xuất nhập khẩu; tiếp tục chỉ đạo, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh để đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ; chỉ đạo điều hành xuất khẩu gạo bảo đảm hiệu quả, ổn định giá lương thực trong nước, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc điều hành dự trữ quốc gia để bảo đảm an ninh lương thực; thường xuyên theo dõi sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để kịp thời có biện pháp điều tiết, bình ổn thị trường, nhất là các mặt hàng thiết yếu. Chủ động có biện pháp chống đầu cơ, nâng giá.


    – Xây dựng kế hoạch điều hành xuất, nhập khẩu, phấn đấu bảo đảm nhập siêu không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu. Xây dựng quy trình, nguyên tắc kiểm soát nhập khẩu hàng hóa, vật tư, thiết bị của các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn do Chính phủ bảo lãnh, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước; phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra, giám sát bảo đảm thực hiện nghiêm Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng hàng hóa, vật tư, thiết bị sản xuất trong nước, nhất là các dự án sử dụng máy móc, thiết bị, vật liệu nhập khẩu; chủ động áp dụng các biện pháp phù hợp kiểm soát nhập khẩu hàng tiêu dùng, hạn chế nhập siêu.


    – Chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các công ty thành viên có kế hoạch huy động tối đa công suất các nhà máy điện để đáp ứng nhu cầu phụ tải điện trong mùa khô, ưu tiên bảo đảm điện cho sản xuất; phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc sử dụng điện tiết kiệm, phân bổ hợp lý để bảo đảm đáp ứng cho các nhu cầu thiết yếu của sản xuất và đời sống.


    b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Chủ động áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý về thuế, phí để điều tiết lợi nhuận do kinh doanh xuất khẩu một số mặt hàng như thép, xi măng… thu được từ việc được sử dụng một số yếu tố đầu vào giá hiện còn thấp hơn giá thị trường.


    – Xem xét, miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu như dệt may, da giầy, thuỷ sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm,…; tiếp tục thực hiện tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011.


    – Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc kê khai, áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo cam kết tại các thoả thuận thương mại tự do, các chính sách ưu đãi về thuế tại các khu phi thuế quan theo đúng quy định. Rà soát để giảm thuế đối với các mặt hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được; nghiên cứu tăng thuế xuất khẩu lên mức phù hợp đối với các mặt hàng không khuyến khích xuất khẩu, tài nguyên, nguyên liệu thô.


    c) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo đảm ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa thiết yếu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng; hạn chế cho vay nhập khẩu hàng hóa thuộc diện không khuyến khích nhập khẩu theo danh mục do Bộ Công Thương ban hành.


    d) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn, tăng xuất khẩu, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, bảo đảm an ninh lương thực.


    đ) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ tình hình sản xuất, tiêu dùng tại địa phương, chỉ đạo sản xuất, dự trữ, lưu thông, phân phối hàng hóa thông suốt, trước hết là các hàng hóa thiết yếu như lương thực, thực phẩm, xăng dầu,…; tăng cường quản lý giá, bình ổn giá trên địa bàn.


    e) Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, tái cơ cấu, kiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất, đổi mới quản trị doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm giá sản phẩm hàng hoá, dịch vụ ở mức hợp lý; tập trung vốn cho ngành nghề sản xuất kinh doanh chính.


    g) Các Bộ, cơ quan, địa phương tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo triển khai quyết liệt, tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các quy định về tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng và thực hiện chương trình tiết kiệm điện, phấn đấu tiết kiệm sử dụng điện 10% theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ; đồng thời, áp dụng các biện pháp cần thiết và phù hợp để khuyến khích, khuyến cáo các doanh nghiệp, nhân dân sử dụng tiết kiệm năng lượng (điện, xăng dầu), sử dụng các công nghệ cao, công nghệ xanh, sạch, công nghệ tiết kiệm điện.


    4. Điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo


    a) Tiếp tục thực hiện lộ trình điều hành giá xăng dầu, điện theo cơ chế thị trường.


    – Bộ Tài chính chủ động điều hành linh hoạt giá xăng dầu theo đúng quy định tại Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, bảo đảm giá xăng dầu trong nước bám sát giá xăng dầu thế giới.


    – Trong năm 2011 thực hiện điều chỉnh một bước giá điện; Bộ Công Thương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong quý I năm 2011 cơ chế điều hành giá điện theo cơ chế thị trường.


    b) Nhà nước có chính sách hỗ trợ hộ nghèo sau khi điều chỉnh giá điện.


    5. Tăng cường bảo đảm an sinh xã hội


    a) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương:


    – Thực hiện đồng bộ các chính sách an sinh xã hội theo các chương trình, dự án, kế hoạch đã được phê duyệt; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ.


    – Tập trung chỉ đạo hỗ trợ giảm nghèo tại các địa phương, nhất là tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ các hộ nghèo, địa phương nghèo xuất khẩu lao động; cho vay học sinh, sinh viên,….


    – Chỉ đạo các cơ quan, địa phương triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng các quy định hỗ trợ đối tượng chính sách, người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (già yếu cô đơn, không nơi nương tựa,…),…


    b) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan, địa phương bố trí kinh phí để thực hiện các chính sách an sinh xã hội theo chuẩn nghèo mới.


    c) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và các Bộ, cơ quan, địa phương chỉ đạo việc triển khai thực hiện quy định về hỗ trợ hộ nghèo khi giá điện được điều chỉnh.


    6. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền


    a) Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, các cơ quan chủ quản thông tin, truyền thông, báo chí:


    – Chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và nội dung của Nghị quyết này thông tin, tuyên truyền đầy đủ, kịp thời, nhất là các nội dung thuộc lĩnh vực tài chính, tiền tệ, giá cả, các chính sách an sinh xã hội, chính sách hỗ trợ hộ nghèo trực tiếp chịu tác động của việc thực hiện điều chỉnh giá điện để nhân dân hiểu, đồng thuận.


    – Xử lý nghiêm, kịp thời theo thẩm quyền các hành vi đưa tin sai sự thật, không đúng định hướng của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.


    b) Các Bộ, cơ quan, ban ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo và chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch cho báo chí, nhất là những vấn đề mà dư luận quan tâm.


    7. Tổ chức thực hiện


    a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động triển khai thực hiện nghiêm túc, triệt để các nội dung quy định tại Nghị quyết này; định kỳ hàng tháng, hàng quý, kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP và Nghị quyết này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Chính phủ tại phiên họp thường kỳ hàng tháng.


    b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư:


    – Theo dõi tình hình và kết quả triển khai Nghị quyết của các Bộ, cơ quan, địa phương; tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại giao ban 15 ngày hàng tháng của Thường trực Chính phủ.


    – Trình Thủ tướng Chính phủ để báo cáo Quốc hội trong tháng 3 năm 2011 về các giải pháp tổng thể, toàn diện phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.


    c) Đề nghị Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương và các tổ chức thành viên chỉ đạo các cấp hội tổ chức tốt công tác thông tin, tuyên truyền, vận động để cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân nhận thức đúng, hiểu rõ, tham gia tích cực, thiết thực, tạo đồng thuận cao trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết. Các hội, hiệp hội ngành nghề tổ chức để cộng đồng doanh nghiệp tích cực thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước, các nội dung của Nghị quyết.


    d) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện các nội dung của Nghị quyết này.


    Thực hiện nhiệm vụ kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội trong điều kiện có nhiều khó khăn, nhưng sau 25 năm đổi mới, tiềm lực của đất nước ta đã được tăng cường, chính trị, xã hội ổn định; dưới sự lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận, nỗ lực của tất cả các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội sẽ thực hiện được./


     


     







     


    Nơi nhận:


    – Ban Bí thư Trung ương Đảng;


    – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;


    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;


    – VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;


    – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;


    – Văn phòng TW và các Ban của Đảng;


    – Văn phòng Chủ tịch nước;


    – Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;


    – Văn phòng Quốc hội;


    – Tòa án nhân dân tối cao;


    – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;


    – Kiểm toán Nhà nước;


    – UB Giám sát tài chính QG;


    – Ngân hàng Chính sách Xã hội;


    – Ngân hàng Phát triển Việt Nam;


    – Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;


    – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;


    – Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước;


    – Các hiệp hội ngành hàng;


    – VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT,


      các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;


    – Lưu: Văn thư, KTTH (10b).


    TM. CHÍNH PHỦ


    THỦ TƯỚNG


     


      Nguyễn Tấn Dũng

  • Thông báo về việc nộp học phí học kỳ 2 năm học 2010-2011

     








    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


          


    Số:  323       /TB-ĐHTL


     


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


                     


                            Hà nội, ngày 26 tháng 4 năm 2011


     


     


    THÔNG BÁO


    Về việc nộp học phí học kỳ 2 năm học 2010-2011


     


     


    Căn cứ Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 Ban hành Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo;


    Căn cứ Quyết định số 641/QĐ-ĐHTL ngày 22/7/2009 Ban hành Quy định về học phí đối với sinh viên hệ chính quy của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy Lợi;


    Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên thông báo về việc nộp học phí học kỳ 2 năm học 2010-2011 với sinh viên hệ chính quy, hệ liên thông như sau:


    1. Hạn nộp học phí:


    – Sinh viên khóa 49, 49TL hạn đóng học phí đến hết ngày: 30/6/2011


    – Sinh viên khóa 50 hạn đóng học phí đến hết ngày: 30/5/2011


    – Sinh viên khóa 51 hạn đóng học phí đến hết ngày: 30/5/2011


    – Sinh viên khóa 52 hạn đóng học phí đến hết ngày: 30/5/2011


    2. Địa điểm nộp học phí:


    – Đối với khóa 49: Sinh viên nộp học phí tại Phòng Tài vụ của trường (Tầng 2/Nhà A1)


    – Đối với khóa 50,51, 52: Sinh viên chuyển tiền vào thẻ ATM của Ngân hàng Viettin Bank, học phí sẽ tự động trừ trong tài khoản của sinh viên khi đến hạn. Với những sinh viên chưa có thẻ ATM của Viettin Bank, sinh viên liên hệ trực tiếp với Ngân hàng Viettin Bank Đống Đa, 169 Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội để được giải quyết.


    Nếu quá hạn, sinh viên không nộp đủ học phí sẽ bị xử lý theo Quy định tại Quyết định số 641/QĐ-ĐHTL ngày 22/7/2009 của trường.


     








    Nơi nhận:


    – BGH (để b/c)


    – Các khoa, P3, P4, P5


    – Các lớp K49 ÷ K52


    – Lưu : VT, Phòng CTCT & QLSV


    TL. HIỆU TRƯỞNG


    KT.TRƯỞNG PHÒNG CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ & QLSV


    PHÓ TRƯỞNG PHÒNG


     


    (Đã ký)


     


    Ths. Nguyễn Ngọc Ánh


     


     

  • Gặp mặt lưu học sinh nhân dịp Tết cổ truyền CHDCND Lào 2011

    Gặp mặt lưu học sinh nhân dịp Tết cổ truyền CHDCND Lào 2011

    Những ngày giữa tháng Tư, một cái Tết cổ truyền dân tộc lại về trên đất nước “triệu voi” với những lễ hội tưng bừng: té nước, xây tháp cát, phóng sinh, buộc chỉ cổ tay…  Trong không khí đó, hướng về cái Tết nơi quê nhà các em, để chia vui cũng như san sẻ giúp các em lưu học sinh vơi bớt nỗi nhớ nhà, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật giữa lãnh đạo Nhà trường và các lưu học sinh Lào đang học tập tại trường ngày 13/4/2011.


    Đến dự với buổi gặp mặt  có PGS.TS Lê Đình Thành Phó hiệu trưởng Nhà trường cùng lãnh đạo một số Phòng Ban chức năng: Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Trung tâm Quản lý nội trú, Đoàn TNCS HCM…


    Hiện nay, tại trường Đại học Thủy lợi có 7 LHS Lào đang theo học nhiều chuyên ngành các Khóa từ 49-51. Bên cạnh việc học tập, trường đại học Thủy lợi đã giành những sự quan tâm, chăm lo sâu sắc nhất đến lưu học sinh trong mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần… Tình hữu nghị Việt – Lào đã được vun đắp từ những việc làm hết sức cụ thể của tập thể CBGV và sinh viên Trường Đại học Thủy lợi.







     PGS.TS Lê Đình Thành – Phó Hiệu trưởng Nhà trường chúc Tết các LHS Lào trong dịp Tết cổ truyền CHDCND Lào
    PGS.TS Lê Đình Thành động viên các em cố gắng học tập tốt để hoàn thành các nhiệm vụ của Khóa học một cách xuất sắc, trở thành người kỹ sư giỏi xây dựng quê hương và là cầu nối cho những mối quan hệ bền chặt lâu đời giữa hai nước anh em. Nhà trường mong muốn các em dù xa nhà những vẫn có thể đón một cái Tết đầm ấm, đậm đà bản sắc dân tộc, hương vị quê nhà và ấm áp tình thân tại Việt Nam. Với tình cảm đó, Nhà trường đã tặng Đoàn LHS Lào bó hoa tươi thắm nhân dịp Tết cổ truyền. Sinh viên Hutsađi Namanisay – đại diện Đoàn Lưu học sinh Lào đã nhận hoa và phát biểu cảm ơn sự quan tâm của Nhà trường.


    Hà Linh Ngọc


     

  • LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

    Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật.

    Chi tiết xem tại đây.

  • Kế hoạch Tổ chức Hội chợ việc làm cho sinh viên Lần thứ Năm – năm 2011






     BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT                            


                    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


                   


    Số  228         /KH-ĐHTL


                                


         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


                    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


                                   


     


                 Hà Nội, ngày 22 tháng 03 năm 2011


    KẾ HOẠCH


    Tổ chức Hội chợ việc làm cho sinh viên Lần thứ Năm – năm 2011


     


    1.Mục đích:


    –          Giúp sinh viên và doanh nghiệp gặp gỡ nhau và cùng nhau thảo luận về việc làm.


    –          Tạo diễn đàn để sinh viên và các nhà tuyển dụng liên lạc trực tiếp với nhau.


    2. Thời gian & địa điểm tổ chức:


    –          Thời gian: Buổi chiều Thứ sáu, ngày 25/3/2011


    –          Địa điểm: Hội trường T45


    3.Quy mô tổ chức:


    * Về phía sinh viên tham dự:


    Toàn bộ sinh viên có nhu cầu tham gia Hội chợ


    * Về phía nhà tuyển dụng:


                Dự kiến khoảng 10 đơn vị có nhu cầu tuyển dụng


    4.Chương trình:


    * Tiền sảnh Hội trường T45: Từ 14h00 đến 14h15


    – Khai mạc Hội chợ việc làm lần thứ năm


    * Vườn hoa Hội trường T45:


    Mỗi đơn vị 1 bàn để phỏng vấn sinh viên tại chỗ và ký kết bản ghi nhớ với sinh viên để tham gia cuộc phỏng vấn chính thức sau khi tốt nghiệp.


    5 .Phân công nhiệm vụ:


    5.1. Phòng CTCT và QLSV:


    Trang trí khánh tiết bên ngoài Hội trường, phụ trách âm thanh, chụp ảnh,đưa tin, làm biển cho các đơn vị tham gia.


    5.2. Phòng Quản trị:


    – Vệ sinh, kê bàn ghế trước tiền sảnh T45 (2 dãy bàn đại biểu, 20 bàn và 60 ghế Xuân hoà xung quanh vườn hoa trước cửa Hội trường T45, 1 bàn đón tiếp đại biểu ngoài HT – T45)hoàn thành trước 12h ngày 25/3/2011.


    – Bổ sung bàn ghế ra bên ngoài hội trường  ( nếu có đề nghị của P7) 


    – Đảm bảo điện.


    5.3. Phòng Hành chính tổng hợp:


    – Phục vụ nước uống đại biểu và khăn trải bàn


    5.4. Phòng Bảo vệ:


     Bảo đảm an ninh trật tự cho buổi Hội chợ & hướng dẫn lối vào cho các đơn vị tuyển dụng.


    5.5.Các Khoa, Hội sinh viên: Nhắc nhở sinh viên các lớp tham gia đầy đủ.


    5.6. Đoàn Thanh niên: Cử 15 sinh viên tình nguyện đảm bảo trật tự buổi Hội chợ và phối hợp với các đơn vị








    Nơi nhận


    –          ĐU, BGH, CĐ, ĐTN, HSV;


    –          Các P, K, B, TT;


    –          Lưu VT,CTCT&QLSV.


    KT. HIỆU TRƯỞNG

    PHÓ HIỆU TRƯỞNG

    (đã ký)

    PGS.TS Lê Đình Thành


     


  • Chào mừng Quốc tế Phụ nữ 8/3 tại Cơ sở 2

    Chào mừng Quốc tế Phụ nữ 8/3 tại Cơ sở 2

    Nằm trong chuỗi các hoạt động chào mừng kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ Nữ  8-3, Cuộc thi “khéo tay” được tổ chức vào sáng ngày 06/03/2011 như một món quà ý nghĩa, lời chúc tốt đẹp nhất mà các bạn sinh viên đang học tập tại cơ sở 2 đại học Thủy lợi dành tặng cho các bà, các mẹ, các chị.

    Từ 7h sáng cho cuộc thi Không khí chuẩn bị đã vô cùng sôi động và náo nhiệt. Ban tổ chức tất bật chuẩn bị bàn ghế cho các đội thi, treo băng rôn. Theo quan sát của chúng tôi, các đội thi cũng tỏ ra rất chuyên nghiệp trong khâu chuẩn bị nguyên vật liệu, dụng cụ nấu ăn và những vật dụng cần thiết để thi tài nấu nướng và cắm hoa.

    Cuộc thi đã thu hút đông đảo các bạn sinh viên và cổ động viên đến từ các lớp. Theo thể lệ của cuộc thi, mỗi đội thi gồm 1 nam và 1 nữ. Nữ nấu ăn, Nam cắm hoa. Nấu ăn và Cắm hoa chiếm 40% số điểm, thuyết trình chiếm 60% số điểm. Hầu hết các đội chơi đều thể hiện khả năng khéo tay qua các món ăn như Bún riêu cua, Nem(chả giò), Cơm rang thập cẩm, Cá hấp, Bánh trôi nước, Chè hoa cau v.v… và các lẵng hoa được cắm hết sức tỷ mỉ, công phu.

    Q
    ua cuộc thi “Khéo tay”, điểm chung nhất mà chúng ta có thể thấy được là không những các bạn nữ của trường Đại học Thủy lợi cơ sở 2 đảm đang mà các bạn nam cũng không hề thua kém trong việc nội trợ, điều này được thể hiện qua việc cắm hoa rất khéo léo và điệu nghệ.

    Nhân ngày 8-3, các bạn sinh viên của Đại học Thủy lợi xin gửi đến tất cả các bà, các mẹ, các chị, các em những món ăn ngon lành nhất, những lẵng hoa đẹp nhất để tỏ lòng biết ơn đến công lao, những sự hi sinh to lớn của một nửa thế giới. Xin chân thành cám ơn.


    * Chùm ảnh cuộc thi “Khéo tay” chào mừng ngày 8-3-2011
    Quá trình chuẩn bị:



















        Và đây là sản phẩm:














    PV WRU tại Cơ sở 2