Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Trước sông Tiền mùa nước đỏ

    TRƯỚC SÔNG TIỀN MÙA NƯỚC ĐỎ

    Tác giả Nguyên Hùng

    •   Sinh năm 1955 tại Nghệ An.

       

    •   Tốt nghiệp kỹ sư công trình thủy (Hà Nội, 1979).

       

    •   Bảo vệ Tiến sĩ Thủy công – Nền móng (Nga, 1994).

       

    •   Hiện là Trưởng phòng Khoa học Kỹ thuật & Đối ngoại của Công ty Tư vấn Xây dựng  Điện 2, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

       

    •   Làm Thơ từ thời sinh viên .

       

    •  Có thơ in trên các báo, tạp chí TW và địa phương từ năm 1980 đến nay.

       

    •   Hiện là cộng tác viên chuyên mục “Chân trời văn học” của tạp chí Tài Hoa Trẻ (chuyên đề của Báo Giáo dục và Thời đại)

     

     

     

     

     

    Trước sông Tiền mùa nước đỏ

     

     

    Tôi đã qua nhiều suối nhiều sông 
    Để được dừng lại đây ngắm Cửu Long 
    ………………………………..tự xẻ dòng xòe ra chín ngả 
    Hẳn thiên nhiên muốn chia đều cho con người – tất cả 
    Lòng ưu ái của đất trời, từ mỗi hạt phù sa… 

    Tôi yêu con sông nước chảy hiền hòa 
    Không bãi không đê, chỉ có hai bờ đất 
    Là hai miệt vườn xanh chạy dài tít tắp 
    Thuyền buông neo, trái chín đã sẵn chờ… 

    Nhưng lòng tôi thầm tiếc đến sững sờ 
    Dòng nước đỏ mải đi làm ngọt biển 
    Mà vườn Ba Tri phù sa chưa đến 
    Ruộng Gò Công còn nhiễm mặn chua phèn… 

    Chiều tạnh giông. Trước sóng đỏ sông Tiền 
    Tôi như thấy sông Hồng dâng trong ngực 
    Cầu Thăng Long nối đôi bờ mơ – thực 
    Bao cuộc hẹn hò in bóng khúc sông sâu 

    Như thấy núi cao sỏi đá cũng tươi màu 
    Đất miền Trung xanh nụ cười trẻ lại 
    Nước từ nay theo bàn chân trai gái 
    Gột cái nghèo muôn thuở bám ông cha… 

    Tôi cũng nghe đâu đây từ suối nhỏ Tà Sa 
    Đến hùng vĩ Sông Đà, mênh mông Đồng Nai thượng 
    Những dòng sông đang ngày đêm chuyển mình 
    ……………………..………………sản sinh dòng năng lượng 
    Cho mọi nẻo đường ánh điện lóa trăng sao… 

    Bỗng bên tôi những đợt sóng dội vào 
    Tàu rẽ nước hay dòng sông trăn trở? 

    Tiền Giang, 1984.

     

     

     

     

     

     

  • Bài thơ “Đêm không ngủ trên công trường Thủy lợi”

    BÀI THƠ “ĐÊM KHÔNG NGỦ TRÊN CÔNG TRƯỜNG THỦY LỢI”

    Đêm không ngủ trên công trường thủy lợi

     

     

     

    Đêm không ngủ trên công trường thủy lợi

     

     

    Tiếng máy khoan khảo sát lòng hồ

     

     

    Cả vùng đồi hoang vu thức dậy

     

     

    Nghe mặn mòi từng giọt mồ hôi

     

     

     

    Ta đã đi qua miền khô khát

     

     

    Đất bazan tung bụi đỏ mịt mờ

     

     

    Cây héo úa, mắt lá nhìn ngơ ngác

     

     

    Bát nước cuối cùng bầy trẻ chia nhau.

     

     

     

    Tiễn ta đi, mẹ đứng ngóng thật lâu

     

     

    Lưng mẹ như lưng đồi nắng đốt

     

     

    Và em ta, tóc cháy vàng khô khét

     

     

    Đêm ngủ mơ thấy nước mát tràn trề.

     

     

     

    Những đêm dài ta thức có hề chi

     

     

    Gắng thêm nữa cho ngày vui mau tới

     

     

    Ta ngăn sông dẫn nước về đồng nội

     

     

    Bát cơm thơm hể hả mẹ ta chờ.

     

     

     

    Cùng bạn bè ta thức giữa trời khuya

     

     

    Từng mũi khoan sâu thăm dò lòng đất

     

     

    Lau giọt mồ hôi thầm ngân nga câu hát

     

     

    Mảnh trăng bên trời dường như chẳng cô đơn.

     

     

     

    Trương Minh Phố

     

     

    CT HĐQT kiêm GĐ Công ty Cổ phần tư vấn khảo sát và Xây dựng số 2 (Tổng Công ty Tư vấn khảo sát Thủy lợi VN – CTCP)

     

     

    (Cựu sinh viên Khóa 12 Khoa Tổng hợp Tại chức – Đại học Thủy lợi)

     

     

     

     

     

  • Em đi làm thuỷ điện

    EM ĐI LÀM THUỶ ĐIỆN


    Xin giới thiệu cùng độc giả tác phẩm thơ “Em đi làm Thủy điện” của tác giả Dinh Dinh, hãy đọc và chia sẻ cảm xúc cùng tác giả……” Trần Thị Hằng sau khi tốt nghiệp Đại học Thuỷ lợi HN vào công tác tại Công ty Khảo sát và Thiết kế Điện Quảng Nam – Đà Nẵng, Mới ra trường nhưng Hằng đã tỏ ra là một cô gái mạnh mẽ,  hoạt bát và đam mê với nghề nghiệp…Khi phong trào làm thuỷ điện nhỏ tại Quảng Nam – Đà Nẵng đang phát triển mạnh, Hằng đã phát huy tốt chuyên môn được đồng nghiệp tin yêu, lãnh đạo tin cậy, nhưng sau một thời gian Quảng Nam – Đà Nẵng có điện lưới cao thế về, thuỷ điện nhỏ bị ngừng… và Công ty cũng giải thể. Hằng chuyển công tác. Khi độ chín của nghề nghiệp đang được khẳng định thì Hằng bị một căn bệnh hiểm nghèo, mặc dầu cái chết đã đến gần nhưng Hằng không bao giờ cho mình bị bệnh mà vẫn lạc quan yêu đời động viên chồng, con và bạn bè đồng nghiệp vui vẻ, học tập và công tác tốt…Sự ra đi của Hằng để lại bao nhiêu tình thương không những cho gia đình mà cho tất cả bạn bè, đồng nghiệp và cả cho ai đã một lần làm việc với Hằng…”  

     

     

     

    Em đi làm thuỷ điện

     

     

     

                           Tưởng nhớ Trần Thị Hằng K21C

    Sương lãng vãng đỉnh đồi

    Hoa sim chiều tím ngắt

    Dòng suối trong xanh vắt

    Giọt nắng hồng bờ môi

    Em lang thang trên đồi

    Cheo leo trên sườn núi

    Tìm điểm dừng dòng suối

    Dồn nước về tua bin

    Như con nai trong rừng

    Chuyền đồi không mệt mõi

    Em đi với thời gian

    Để có nguồn điện mới.

    Em – con gái Thuỷ lợi

    Yêu đời cùng yêu nghề

    Với phong cách mạnh mẽ

    Thuỷ điện – nguồn đam mê.

    Em đi xa chưa về

    Dõi tìm theo con suối…

    Dõi tìm theo ngọn núi…

    Suối vọng lời – Mẹ ru.

     

                     Một nén hương cho em

                                     Dinh Dinh

     

     

  • Bài thơ: “ Kỷ niệm sông Cầu”

    Có lẽ trong số những người làm thơ của ngành Thủy lợi, Trần Quang Thịnh là người có thơ đăng báo sớm nhất. Bài thơ “ Cái bờ” của ông được đăng trên tuần Báo Văn nghệ ngay sau ngày cải cách ruộng đất.Từ đó đến nay, hơn 55 năm qua, thày giáo Trần Quang Thịnh – nguyên là giảng viên Học viện Thủy lợi, luôn gắn bó với nghề và tâm huyết với thơ. “ Kỷ niệm sông Cầu” là một trong số những bài thơ ông viết về nghề thủy lợi, chan chứa tình đất và nước nhưng cũng rất sâu nặng tình người.

     

                               KỶ NIỆM SÔNG CẦU

     

    Chuyện mấy chục năm vẫn rất gần

    Những ngày chống lũ ở Kim Chân

    Nội Doi – kỷ niệm còn in đậm

    Nghĩa nặng tình sâu quân với dân.

    *

    Nước xoáy thân đê, vòm cống sập

    Con đê đang lúc lắm nguy nan

    Bạn về cùng lính điều phên sắt

    Cắm xuống ngăn sông, gắn đá liền…

    *

    Con đê lại vững, dáng xanh tươi

    Bảo vệ làng quê rộn tiếng cười

    Năm tháng qua đi, tình thắm lại

    Sông Cầu, kỷ niệm những nguồn vui.

                                         

                                                      Bắc Ninh, tháng 2 năm 2014

                                                               Trần Quang Thịnh

  • Bài thơ: Nơi thắp sáng ước mơ

    NƠI THẮP SÁNG ƯỚC MƠ

      

      (Nhân kỷ niệm 55 năm Trường Đại học Thuỷ lợi)

     

    Tôi sinh ra từ làng quê

    cánh đồng quê tôi chưa mưa đã úng

    vừa nắng lên đã héo hắt cây trồng

    mẹ cha nuôi bằng những giọt mồ hôi lẫn trong bùn đất,

    lẫn trong phập phồng lũ réo ngoài đê

    tuổi tôi được tính bằng những mùa nắng hạn, những mùa nước dâng

    vớt trái bàng rụng chín trong nước đục

    lũ trẻ chúng tôi mơ ước

    bắt mưa, nắng phải cúi đầu

    dâng màu xanh cho cánh đồng bốn mùa no ấm

    mười tám đôi mươi tạm biệt cánh đồng

    đến với giảng đường học nghề thuỷ lợi

    thầy cô dạy chúng tôi hiểu

    điều gì làm lên sức mạnh của đoạn đê cong trong mùa lụt lội

    từ phấn trắng, bảng đen

    hình thù những công trình ngăn sông,

    những vùng hồ giữa núi non,

    đưa nước về cho miền đất khô cằn một màu xanh tươi phơi phới

    từ giảng đường này, thầy cô mở ra cho chúng tôi những chân trời mới…

     

    Rồi chúng tôi thầy cô, tạm biệt giảng đường

    cuộc đời chúng tôi gắn với những công trình

    mưa nắng bão giông luyện nên chân cứng đá mềm

    cho những người kỹ sư thuỷ lợi

    để những làng quê gặt ước mơ xưa trên những cánh đồng vàng.

     

                  Thơ: Trương Minh Phố

                     Cựu sinh viên ĐHTL
  • Bài thơ: Về trường Thủy Lợi

    VỀ TRƯỜNG THỦY LỢI

    NHÂN DỊP 55 NĂM NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI 1959-2014

    Nghề Thủy lợi mình các bạn ơi

    Nhà nông mến quý khắp nơi nơi

    Nay trường kỷ niệm năm mươi tuổi

    Ký ức sinh viên nhớ một thời.

     

    Học tập lời Thầy thật thiết tha

    Mái trường yêu dấu tình bao la

    Năm năm gắn bó chung đèn sách

    Đoàn kết thương yêu như một nhà.

     

    Lưu luyến chia tay tốt nghiệp ra

    Mỗi người mỗi ngả vui chan hòa

    Hăng say công tác chăm rèn luyện

    Nhiều bạn vinh danh tiến bước xa.

     

    Mấy chục năm qua vẫn mặn mà

    Mong ngày gặp mặt cùng hòa ca

    Thi đua vượt khó nay thành đạt

    Hạnh phúc gia đình đẹp tựa hoa.

     

    Chào đón bạn bè trường chúng ta

    Mừng vui xin gửi tặng bài ca

    Ơn Thầy truyền dạy nghề cao quý

    Nghĩa nặng tình sâu mãi đậm đà.

     

     

    Nguyễn Đức Hà

    Xí nghiệp KT.CT Thủy lợi Bình Giang – Hải Dương

    (Sinh viên lớp 20N1 Đại học Thủy lợi)

  • Trường Đại học Thủy lợi với công tác đào tạo Sau Đại học

    1. Đào tạo tiến sĩ

    Trường Đại học Thủy lợi được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ từ năm 1979 với 6 chuyên ngành  theo Quyết định số 93/TTg ngày 20/03/1979 của Thủ tướng chính phủ:

    TT

    Chuyên ngành đào tạo

    Mã số

    1

    Thuỷ văn lục địa và nguồn nước

    01-07-06

    2

    Thuỷ lực học, thuỷ văn công trình và thuỷ lợi

    02-06-09

    3

    Cải tạo đất và thuỷ nông

    04-01-07

    4

    Kết cấu xây dựng 

    02-15-04

    5

    Xây dựng công trình thủy

    02-15-07

    6

    Cơ học đất, cơ học nền móng, công trình ngầm

    02-15-03

    Năm 2004, căn cứ vào danh mục các chuyên ngành đào tạo sau đại học ban hành theo Quyết định số 44/2002/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Thủy lợi được giao nhiệm vụ đào tạo 13 chuyên ngành theo Quyết định số 5378/QĐ-BGD&ĐT-ĐH&SĐH ngày 17/09/2004:

    TT

    Chuyên ngành đào tạo

    Mã ngành

    1

    Cơ học vật thể rắn

    62-44-21-01

    2

    Cơ học chất lỏng

    62-44-22-01

    3

    Thủy văn học

    62-44-90-01

    4

    Phát triển nguồn nước

    62-44-92-01

    5

    Chỉnh trị sông và bờ biển

    62-44-94-01

    6

    Xây dựng công trình thủy

    62-58-40-01

    7

    Địa kỹ thuật xây dựng

    62-58-60-01

    8

    Cấp thoát nước

    62-58-70-01

    9

    Vật liệu và công nghệ vật liệu xây dựng

    62-58-80-01

    10

    Tưới tiêu cho cây trồng

    62-62-27-01

    11

    Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước

    62-62-30-01

    12

    Môi trường đất và nước

    62-85-02-05

    13

    Công nghệ môi trường nước và nước thải

    62-85-06-01

    Để quản lý tốt công tác đào tạo tiến sĩ, Trường Đại học Thuỷ lợi đã sớm xây dựng các quy định về quản lý học tập đối với nghiên cứu sinh, trong đó có quy định rõ về tiến độ học tập của nghiên cứu sinh, phân cấp quản lý về quá trình học tập của NCS phù hợp với các Quy chế đào tạo sau đại học như Quy định về quản lý học tập đối với nghiên cứu sinh của Trường Đại học Thuỷ lợi số 585 ĐHTL-SĐH/TT, ngày 25/09/2000, Quy định về tổ chức và quản lý đào tạo của Trường Đại học Thuỷ lợi ban hành theo Quyết định sô 228 ĐHTL-ĐT/QĐ ngày 29/04/2003 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ lợi trong đó có phần Quản lý đào tạo tiến sĩ. Xây dựng văn bản hướng dẫn học tập chuyên đề tiến sĩ, đưa công tác tổ chức và quản lý đào tạo tiến sĩ của trường vào nề nếp.

    Kết quả đào tạo trong các giai đoạn từ năm 1979 đến 2009:

    TT

    Giai đoạn

    1979- 1989

    1990-1994

    1995- 1999

    2000– 2004

    2005-

    2009

    Tổng số

    1

    Số lượng NCS đã bảo vệ

    17

    4

    18

    21

    16

    76

    2

    Số lượng tuyển mới

    41

    25

    33

    34

    25

    158

    2. Đào tạo Thạc sĩ

                Trường Đại học Thủy lợi được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ năm 1992 với một chuyên ngành đào tạo là: Thủy văn (theo Quyết định số 997/QĐ-SĐH ngày 15/05/1992), đến năm 1993 trường được giao đào tạo 2 chuyên ngành là: Công trình thủy lợi (Quyết định số 1480/QĐ-SĐH ngày 10/07/1993); Thủy nông (Quyết định số 2904/QĐ-SĐH ngày 21/12/1993).

                Năm 2004, căn cứ vào danh mục các chuyên ngành đào tạo thạc sĩ ban hành theo Quyết định số 44/2002/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường Đại học Thủy lợi được giao nhiệm vụ đào tạo 7 chuyên ngành (Quyết định số 5378/QĐ-BGD&ĐT-ĐH&SĐH ngày 17/09/2004):

    TT

    Chuyên ngành đào tạo

    Mã ngành

    1

    Thủy văn học

    60-44-90

    2

    Phát tiển nguồn nước

    60-44-92

    3

    Xây dựng công trình thủy

    60-58-40

    4

    Cấp thoát nước

    60-58-70

    5

    Tưới tiêu cho cây trồng

    60-62-27

    6

    Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước

    60-62-30

    7

    Khoa học môi trường

    60-85-02

         Năm 2007 Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo thử nghiệm thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

          Hình thức đào tạ Theo niên chế

          Thời gian đào tạ Hình thức tập trung 2 năm; Hình thức không tập trung 3 năm.   

         Căn cứ vào nhu cầu đào tạo của các cơ quan Trung ương và địa phương, năng lực đào tạo của nhà trường và Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ (ban hành theo Quyết định số 45/QĐ-BGD-ĐT ngày 05/08/2008). Trường Đại học Thủy lợi đã tiến hành nâng cấp và chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ 8 chuyên ngành đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ:

    TT

    Chuyên ngành đào tạo

    Mã số

    1

    Thủy văn học

    60-44-90

    2

    Phát tiển nguồn nước

    60-44-92

    3

    Xây dựng công trình thủy

    60-58-40

    4

    Cấp thoát nước

    60-58-70

    5

    Tưới tiêu cho cây trồng

    60-62-27

    6

    Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước

    60-62-30

    7

    Khoa học môi trường

    60-85-02

    8

    Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường

    60-31-16

    Xây dựng và đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho mở mới 9 chuyên ngành :

    TT

    Chuyên ngành đào tạo

    Mã số

    1

    Xây dựng công trình biển

    60-58-45

    2

    Quản lý biển, đảo và đới bờ

    60-58-46

    3

    Thủy điện và năng lượng tái tạo

    60-58-46

    4

    Quản lý xây dựng

    60-58-41

    5

    Khoa học môi trường

    60-85-02

    6

    Kỹ thuật môi trường

    60-85-04

    7

    Kỹ thuật máy và thiết bị xây dựng, nâng chuyển

    60-52-10

    8

    Chỉnh trị sông và bờ biển

    60-44-94

    9

    Quản lý và giảm nhẹ thiên tai

    60-44-96

    Hình thức đào tạ theo phương thức học chế tín chỉ với tổng số tín chỉ là 44 tín chỉ và 4 tín chỉ hỗ trợ tiếng Anh.

    Thời gian đào tạ một năm rưỡi.

    Từ khi trường được giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ cho đến nay trường đã 5 lần điều chỉnh và nâng cấp chương trình đào tạo, để phù hợp với các Quy chế mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo và kịp thời cập nhật các kiến thức mới trong đào tạo thạc sĩ.

    Năm 1992, chương trình chuyên ngành Thuỷ văn bao gồm 2040 tiết, trong đó lên lớp học các môn cơ sở và chuyên ngành là 1600 tiết, tiếng Anh 240 tiết và Luận văn tốt nghiệp 200 tiết.

    Năm 1994 trường tổ chức tuyển sinh 3 chuyên ngành và điều chỉnh chương trình với số tiết lên lớp từ 1435 tiết đến 1480 tiết. Thăm quan và đi thực tập 1 tuần và làm luận văn tốt nghiệp 6 tháng.

    Căn cứ vào Quy chế đào tạo và bồi dưỡng sau đại học ban hành theo Quyết định số 647/GD_ĐT ngày 14/02/1996, chương trình được chuyển đổi:   

     Chuyên ngành Công trình thuỷ lợi: giảng trên lớp 95 đơn vị học trình (ĐVHT)

    Chuyên ngành Thuỷ văn: giảng trên lớp                 93 ĐVHT

    Chuyên ngành Thuỷ nông: giảng trên lớp               93 ĐVHT

    Các chuyên ngành đều đi thực tập 1 tuần và làm luận văn tốt nghiệp 6 tháng.

    Năm 1998, Chương trình được cải tiến, các chuyên ngành đều có thời lượng thống nhất là 99 ĐVHT, lên lớp 84 ĐVHT (76 ĐVHT bắt buộc, 8 ĐVHT tự chọn), thăm quan thực tập 2 tuần, làm luận văn tốt nghiệp 15 ĐVHT.

    Năm 2004, trên cơ sở Quy chế đào tạo sau đại học ban hành theo Quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 8/06/2000 và căn cứ vào danh mục các chuyên ngành đào tạo thạc sĩ ban hành theo Quyết định số 44/2002/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho Trường Đại học Thủy lợi theo Quyết định số 5378/QĐ-BGD&ĐT-ĐH&SĐH ngày 17/09/2004, Trường tiến hành xây dựng chương trình 7 chuyên ngành đào tạo và đề cương chi tiết cho các môn học trong các chương trình với thời lượng của các chuyên ngành là 84 ĐVHT, lên lớp 64 ĐVHT (56 ĐVHT bắt buộc, 8 ĐVHT tự chọn), Thăm quan thực tế 4 ĐVHT; Luận văn tốt nghiệp 14 ĐVHT. Chuyển đổi các chuyên ngành được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ trước đây sang chuyên ngành mới:

    1. Công trình thuỷ lợi chuyển thành chuyên ngành Xây dựng công trình thuỷ;

    2. Thuỷ nông chuyển thành chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước;

    3. Thuỷ văn chuyển thành chuyên ngành Thuỷ văn học.

                Từ năm học 2008-2009 trường tuyển sinh đào tạo thạc sĩ 5 chuyên ngành:

    1.Xây dựng công trình thuỷ;

    2. Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước;

    3. Thuỷ văn học;

    4. Khoa học môi trường;

    5. Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

    Tháng 9 năm 2009 căn cứ vào Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ được ban hành theo Quyết định số 45/QĐ-BGD-ĐT ngày 05/08/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Thủy lợi đã tiến hành nâng cấp và chuyển đổi chương trình đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ 8 chuyên ngành đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ và xây dựng đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và PTNT cho mở mới 9 chuyên ngành mới. Đến tháng 8/2009 với sự cố gắng lớn của các khoa chuyên ngành và Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Trường đã hoàn thành việc xây dựng các đề án nâng cấp và chuyển đổi, các đề án mở chuyên ngành đào tạo thạc sĩ mới với đầy đủ chương trình và đề cương môn học chi tiết và lý lịch khoa học của các cán bộ giảng dạy kèm theo. 

                Quy trình đào tạo thạc sĩ từ khi học viên vào trường đến khi tốt nghiệp đã sớm được xây dựng. Kế hoạch giảng dạy, chương trình học tập đã dược công bố và thông báo đến từng học viên ngay từ đầu khoá học. Công tác quản lý đào tạo thạc sĩ có nề nếp từ nhiều năm.

    Kết quả đào tạo thạc sĩ: Trường đã tuyển được 17 khoá đào tạo thạc sĩ và 14 khoá đã tốt nghiệp, với số liệu trong từng giai đoạn như sau:        

    TT

    Giai đoạn

    1989-1994

    1995-1999

    2000-2004

    2005-2009

    Tổng số

    1

    Số lượng học viên đã tốt nghiệp

    0

    83

    296

    555

    934

    2

    Số lượng học viên tuyển mới

    35

    241

    526

    876

    1678

    Hiện đang học tại trường: 619 học viên.

    Từ khoá 17 (năm học 2009-2010) trường chuyển sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ với thời gian đào tạo 1,5 năm.      

    3. Bồi dưỡng chuyên đề sau đại học

    Hàng năm trường mở trên 15 lớp Bồi dưỡng chuyên đề Sau đại học học, với  trên 1000 học viên tham dự,  thuộc nhiều  lĩnh vực. Nội dung các lớp chuyên đề sau đại học cập nhật các kiến thức mới trong các lĩnh vực chuyên môn có liên quan:

    1.  Bồi dưỡng nghiệp vụ giám sát thi công xây dựng công trình

    2. Tin học ứng dụng trong thiết kế CTTL

    3. Chủ nhiệm địa chất công trình

    4. Chủ nhiệm dự án thiết kế công trình

    5. Nâng cao năng lực thiết kế công trình thuỷ lợi

    6. Bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và vận hành hệ thống thủy lợi

    7. Kỹ thuật công trình bờ biển

    8. Vấn đề an toàn hồ đập

    9. Thiết kế và xây dựng hệ thống kênh mương

    10. Bồi dưỡng chỉ huy trưởng công trường

    11.Thiết kế và thi công đập bê tông đầm lăn

    12.Quản lý tổng hợp tài nguyên nước và môi trường

    13. Bồi dưỡng nghiệp vụ đấu thầu

    14. Bồi dưỡng nghiệp vụ định giá xây dựng

    15. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

    16. Mở các lớp Tiếng Anh TOEFL, IELTS cho các cán bộ khoa học công nghệ trẻ của Bộ Nông nghiệp và PTNT tạo nguồn dự tuyển đi học nước ngoài

    17. Các lớp đào tạo theo đặt hàng của các dự án ADB, WB, EC, PAM,  Uỷ ban sông Mekong …

    Các lớp chuyên đề của trường có nội dung và chất lượng chuyên môn tốt, có uy tín và gây được ấn tượng tốt đối với các cơ quan và đơn vị có học viên tham dự. Số lượng học viên tham dự và số lớp mở ngày càng tăng, các năm 2007, 2008 đã mở được trên 20 lớp mỗi năm. Các lớp tiếng Anh bồi dưỡng cho các cán bộ khoa học công nghệ trẻ của Bộ Nông nghiệp và PTNT có chất lượng tốt, nhiều người thi đạt đủ điểm đi học nước ngoài, tạo được tiếng vang trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT trên khắp cả nước từ đồng bằng sông Cửu long đến miền Trung, Tây nguyên và miền Bắc, năm 2007 mở 3 lớp, năm 2008 mở 4 lớp. 

    Trường đã mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo sau đại học, mời các giáo sư tham gia giảng dạy, nghiên cứu và tổ chức giao lưu với các trường đại học, công ty  viện nghiên cứu của nhiều nước và các tổ chức quốc tế trên thế giới như Hà Lan, Đức, Italia, Nhật Bản, Singapore, Ấn Độ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Mỹ, Úc, Bỉ… các dự án của WB, ADB, UB sông Mekong và nhiều tổ chức nước ngoài khác v.v. để nâng cao chất lượng đào tạo.

     

                                                                                                  PGS.TS. Lê Văn Ước

     

  • Thôn Dùm

    Thôn Dùm

    Thôn Dùm có cây đa Dùm

    Như ngọn núi lớn ôm trùm bóng cây

    Lá xanh ngăn ngắn ken dày

    Che trời nắng gắt che ngày mưa sa

    Làm nơi nghỉ mát người qua

    Làm nơi trường học cho ta một thời

    Thôn Dùm nhà ở ven đồi

    Nhà trên nhà dưới là nơi hữu tình

    Thôn Dùm có mấy nữ sinh

    Con người sơn cước ẩn mình trong hoa

    Thôn Dùm tao hợp ông bà

    Là người chất phác mặn mà kính yêu

    Thôn Dùm sáng sáng chiều chiều

    Có mây lưng núi suối reo bên đường

    Ai về tới xã Nghĩa Phương

    Qua đền Suối Mỡ thơm hương thì dừng!

     

    Xuân 2014

    Nguyễn Công Thịnh

    Phó GĐ NXB Nông nghiệp

  • Chiến lược phát triển Trường Đại học Thủy lợi giai đoạn 2006 – 2020

    Như ngọn đèn soi đường cho Nhà trường hôm nay và tương lai, Chiến lược ra đời tập trung tâm huyết, trí tuệ tập thể, là niềm tin của giảng viên, cán bộ công nhân viên và sinh viên vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới – vinh quang nhưng cũng đầy cam go thử thách với tất cả chúng ta.

    Nền kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực và quốc tế hiện nay cũng như sự phát triển của khoa học đòi hỏi Trường Đại học Thuỷ lợi (ĐHTL) phải trở thành một trường đại học hiện đại, tiên tiến để có thể đảm trách được nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng những yêu cầu của ngành nước. Đồng thời, một nhiệm vụ không kém phần quan trọng của Trường ĐHTL là trở thành trung tâm khoa học công nghệ hàng đầu về lĩnh vực thuỷ lợi.

    Chiến lược phát triển Trường Đại học Thuỷ lợi giai đoạn 2006 – 2020 sẽ đưa ĐHTL trở thành một trong mười trường đại học hàng đầu của Việt Nam, từ đó tạo tiền đề cho việc hoàn thành tốt các mục tiêu đã nêu ra ở trên. Chiến lược phát triển của Trường ĐHTL sẽ được thực thi trong ba giai đoạn năm năm, mười năm và 15 năm trong đó giai đoạn năm năm đầu tiên sẽ đóng vai trò quyết định.

    Nền giáo dục của các nước trong khu vực đã đạt đến trình độ cao, Việt Nam cũng đang nhanh chóng thực hiện đổi mới giáo dục để đạt được trình độ tương tự cả về tốc độ phát triển cũng như chất lượng giáo dục. Có thể thấy rằng Trường ĐHTL cần phải hiện đại hoá để có thể đáp ứng thành công và hiệu quả những yêu cầu về nhân lực, cũng như thực hiện tốt công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho mục tiêu trước mắt và lâu dài của đất nước. Trường ĐHTL hy vọng số sinh viên đăng ký học tại ĐHTL sẽ tăng từ 9494 (6/2006) đến khoảng 20,000 đến năm 2020, với quy mô tuyển sinh 3840 sinh viên năm 2010, 5210 sinh viên năm 2015 và 6240 năm 2020.

    Nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn năm năm tới là tập trung vào việc áp dụng phương pháp tư duy mới cho sinh viên, giảng viên và các cán bộ quản lý; vận dụng các cơ chế thích hợp để cải thiện chất lượng cán bộ, phát triển chương trình đào tạo, nâng cấp và mở rộng các ngành đào tạo, thay đổi phương pháp dạy và học, thu hút đầu tư tài chính, hoàn thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, huy động mọi nguồn lực, mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế, cơ cấu lại bộ máy tổ chức của nhà trường.

    Chiến lược phát triển Trường ĐHTL đã báo cáo trực tiếp với Phó Thủ Tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các vị lãnh đạo các Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo Uỷ ban Nhân dân Tỉnh Hà Tây, đại diện Bộ Tài chính và lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện và các bộ phận của Trường ĐHTL vào ngày 24 tháng 02 năm 2006. Bản Chiến lược phát triển sau đó đã được điều chỉnh theo ý kiến đóng góp của lãnh đạo các Bộ và kết luận của Phó Thủ Tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm.

    Căn cứ xây dựng Chiến lược Phát triển là phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, kinh nghiệm của quá trình phát triển và dự báo nhu cầu phát triển trong tương lai. Các tài liệu liên quan đến thể chế, quy định của Chính phủ Việt nam liên quan đến giáo dục, chiến lược phát triển tài nguyên nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ ngành liên quan khác đều đã được nghiên cứu và phân tích kỹ.

    Các kết luận của Chiến lược phát triển được tóm tắt như sau:

    Tên chính thức của Trường sẽ là “Đại học Thuỷ lợi Việt nam”

    Chiến lược phát triển trường Đại học thủy lợi giai đoạn 2006 – 2020 ra đời là niềm tự hào của cán bộ, giáo viên CNV và sinh viên trong toàn trường với mục tiêu và sứ mệnh cao cả: Trở thành trường Đại học hàng đầu của Việt nam cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng đòi hỏi của ngành nước, trở thành trung tâm khoa học công nghệ có uy tín về thuỷ lợi, thuỷ điện, tài nguyên và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, có năng lực hội nhập khu vực và quốc tế.

    Mục tiêu của chiến lược là : Đổi mới cơ bản và toàn diện đảm bảo mang lại cho cán bộ và giảng viên trong nhà trường một môi trường thuận lợi, có thể phát huy toàn bộ năng lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp đào tạo và phát triển Thủy lợi, tạo cho sinh viên môi trường học tập và nghiên cứu khang trang hiện đại, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng với những kiến thức tiên tiến hiện đại và các kỹ năng cần thiết để tiến thân, lập nghiệp và sáng nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Phấn đấu trở thành một trong 10 trường đại học hàng đầu của Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Tạo dựng được thương hiệu “Đại học Thủy lợi Việt Nam ” có uy tín, quan hệ quốc tế rộng rãi đa phương, đa dạng đủ sức cạnh tranh, hợp tác bình đẳng với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới và chủ động hội nhập.

    Chiến lược đào tạo

    ĐHTL sẽ tập trung chủ yếu vào các hoạt động liên quan đến các ngành như Tài nguyên nước, Tài nguyên và Môi trường, Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Kỹ thuật bờ biển, Phát triển nông thôn, Kinh tế và Quản lý, Kỹ thuật công trình, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật dân dụng và vật liệu xây dựng. Để đạt được điều đó, trường sẽ thành lập mười bảy ngành mới, giảng dạy và nghiên cứu tất cả các lĩnh vực nêu trên. Nhiệm vụ này sẽ được thực hiện trong ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất nâng cấp chín ngành hiện có và mở bảy ngành mới, giai đoạn hai mở bốn ngành mới và giai đoạn ba mở ba ngành mới.

    Đào tạo Thạc sĩ tăng từ 10 chuyên ngành lên 47 chuyên ngành và đào tạo tiến sĩ từ 13 ngành lên 49 chuyên ngành. Thời gian đào tạo bậc Đại học sẽ được rút ngắn từ 5 năm như hiện nay xuống còn 4 năm.

    Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ

    ĐHTL sẽ trở thành một cơ sở nghiên cứu khoa học vững mạnh có khả năng thực hiện các nghiên cứu chiến lược và ứng dụng trong các ngành mũi nhọn. Mục tiêu này có thể đạt được thông qua việc thành lập các Trung tâm, Viện, và Công ty. Giảng viên sẽ được tham gia đầy đủ vào công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới với các cơ chế thích hợp.

    Chiến lược phát triển nguồn nhân lực

    Việc tuyển dụng các nhà nghiên cứu, giảng viên sẽ tuân theo những đòi hỏi nghiêm ngặt của các Viện, Trung tâm chuyên ngành. Việc lựa chọn và sàng lọc cũng sẽ được thực hiện theo quy định tuyển dụng và đào thải giảng viên của ĐHTL. Thêm vào đó, một quy chế toàn diện về chức năng, trách nhiệm và nhiệm vụ của cán bộ, giảng viên cũng sẽ được xây dựng. Mọi hoạt động tuyển dụng và đào tạo cho cán bộ quản lý sẽ tuân theo quy định hiện hành của Nhà nước và Nhà trường.

    Chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng

    Cơ sở hạ tầng của Trường ĐHTL sẽ được xây dựng theo các tiêu chuẩn của Việt nam.

    Cải thiện việc sử dụng không gian của ĐHTL thông qua việc quy hoạch mặt bằng hiện có và tăng diện tích thêm 70 ha cho khu vực Hà nội và 15 ha cho cơ sở II tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giảng đường, phòng thí nghiệm, khu văn phòng, ký túc xá, trang thiết bị giảng dạy, học tập và nghiên cứu đều sẽ được nâng cấp hoặc xây mới. Thư viện ĐHTL sẽ được phát triển thành thư viện điện tử và được kết nối trực tiếp với mạng lưới thư viện quốc gia.

     Triển lãm các phương án thiết kế mở rộng Trường Đại học Thủy lợi

    Chiến lược phát triển Tài chính và tiền lương

    Đa dạng hoá nguồn tài chính sẽ được thực hiện thông qua việc khai thác triệt để các nguồn thu từ giáo dục, nghiên cứu và dịch vụ. Đến năm 2020, nguồn thu từ các hoạt động khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, và các dịch vụ khác sẽ đạt 25% tổng ngân sách của nhà trường. Cơ chế quản lý sẽ được phát triển nhằm tăng thu nhập từ nghiên cứu khoa học và các tổ chức quốc tế hính sách, quy định về cơ cấu tiền lương sẽ được xây dựng nhằm nâng cao thu nhập từ nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, ví dụ như thông qua các thoả thuận hợp tác. Mức lương tối thiếu cho cán bộ giảng viên sẽ được bảo đảm và nâng lên.

    Chiến lược phát triển cũng đề xuất tăng quyền quyết định cho Hiệu trưởng Trường ĐHTL để có thể lãnh đạo trường theo hình thức một cơ quan tự chủ.

    Hợp tác quốc tế và khu vực

    ĐHTL sẽ mở rộng các mối quan hệ quốc tế và khu vực, bao gồm các viện đào tạo, trung tâm nghiên cứu, tổ chức tài chính, tổ chức Phi chính phủ từ các nước thuộc Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ, từ đó tạo cơ hội tiếp cận với tiêu chuẩn giáo dục hàng đầu của các trường đại học tiên tiến trên thế giới, khả năng phát triển hợp tác nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực quan tâm chung. Điều đó cũng tạo tiền đề cho việc thực hiện trao đổi giáo sư, giảng viên, là một hoạt động chính trong công tác chuyên môn của ĐHTL.

    Chiến lược Công nghệ thông tin

    Chiến lược phát triển sẽ đưa trường ĐHTL thành một trường tiên tiến trong khu vực tận dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tư vấn và quản lý, công nghệ đào tạo trực tuyến và Đại học điện tử. Việc đầu tư sẽ được thực hiện và kế hoạch nâng cấp sẽ được áp dụng cho từng khoa, viện, trung tâm để các đơn vị này có thể tự xây dựng chiến lược phát triển công nghệ thông tin của đơn vị mình

    Công tác sinh viên

    Sinh viên sẽ được giáo dục đầy đủ về khoa học, đạo đức, thể chất, văn hoá, có khả năng tìm các công việc phù hợp ngay sau khi tốt nghiệp và dễ dàng theo kịp cơ chế thị trường. Hội của sinh viên  ĐHTL sẽ được thành lập trên cơ sở từng tỉnh, vùng. Việc liên hệ với hội trên và các công ty, doanh nghiệp sẽ giúp ĐHTL cải tiến chương trình đào tạo, hỗ trợ các sinh viên giỏi và khuyến khích họ ở lại làm việc tại trường sau khi tốt nghiệp. Chiến lược phát triển cũng định hướng các cơ chế nhằm tăng lượng sinh viên đăng ký tuyển sinh vào trường ĐHTL.

    Chiến lược quản lý chất lượng đào tạo

    Các nguyên tắc giám sát chất lượng đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ được áp dụng đầy đủ, một cơ cấu tổ chức sẽ được thiết lập và giám sát chất lượng tuyển sinh, đào tạo và nhân sự thông qua kiểm tra định kỳ.

    Chiến lược thành công chỉ khi tất cả các thành viên trong nhà trường thực sự đồng lòng, coi việc tham gia chiến lược không chỉ là trách nhiệm mà còn là vinh dự của mỗi người. Khi đó nội lực của nhà trường mới được phát huy mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu sắc. Với sức mạnh đoàn kết tập thể, cán bộ công nhân viên và giáo viên trong toàn Trường đều mong muốn được đóng góp sức mình trong công cuộc đổi mới của Nhà trường và hy vọng vào một tương lai ngời sáng của nền giáo dục Quốc gia trong đó có dấu son chói lọi mang tên Đại học Thuỷ lợi.

    Rất nhiều khó khăn ở phía trước, song với truyền thống của một đơn vị anh hùng, với quyết tâm của cả tập thể và của mỗi người chúng ta, tôi tin tưởng rằng: Chiến lược phát triển của trường đại học Thuỷ lợi nhất định sẽ thành công.

    (Trích Bài diễn văn của Nguyên Hiệu trưởng GS.TS Đào Xuân Học trong buổi lễ phát động triển khai thực hiện Chiến lược phát triển Trường ngày 11.08.2006)

  • Hợp tác Quốc tế – 55 năm trên đà phát triển

    Trong suốt chặng đường 55 năm qua từ khi thành lập và trưởng thành cho tới nay, trường Đại học Thủy Lợi đã từng bước khẳng định vị thế của nhà trường trong hệ thống giáo dục của đất nước cũng như trên thế giới thì không thể tách rời khỏi công tác Hợp tác Quốc tế.

    Thời kỳ đầu mới thành lập, lực lượng cán bộ giảng dạy chủ yếu được đào tạo từ các nước XHCN, trong đó đặc biêt là sự giúp đỡ của Trung Quốc. Từ khi Đảng ra NQ37 (1981) về “Chính sách khoa học và kỹ thuật”, rồi NQ26 (1991) về “Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới” và gần đây NQTW2 (1996) về “Định hướng chiến lược phát triển KH – CN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000”, trường Đại học Thủy lợi đã chủ động tạo lập thị trường cho KH và CN, đồng thời tranh thủ tạo lập quan hệ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, đã tranh thủ được sự giúp đỡ của nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế chính phủ và phi chính phủ, nhiều chuyên gia giỏi tầm cỡ quốc tế (qua các tiểu Dự án), đến giúp đỡ và hợp tác với Trường thông qua việc mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn ngắn ngày, các lớp chuyên đề, hội nghị, hội thảo quốc tế, tiếp nhận được nhiều công nghệ tiến bộ, phần mềm cũng như phần cứng, phục vụ công tác đào tạo và triển khai KHCN góp phần phát triển ngành Thủy lợi ở nước ta.

    Trong lúc có sự khủng hoảng ở các nước XHCN cũ, các quan hệ HTQT truyền thống tạm thời bị gián đoạn, trường Đại học Thủy lợi đã chủ động và kịp thời mở rộng phạm vi hoạt động sang khối các nước thuộc Cộng đồng châu Â, Bắc Mỹ, khối Asean, châu Á …, khôi phục lại quan hệ truyền thống với Trung Quốc và đã thu được nhiều kết quả tốt. Đó là việc tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ giao tiếp và sử dụng tiếng Anh để giao lưu khoa học – công nghệ, trang bị thêm cơ sở vật chất cho Trường và đa phương hóa, đa dạng hóa các loại hình hợp tác, tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế nhằm xây dựng được danh hiệu “Đại học Thủy Lợi’’ với bạn bè thế giới để họ biết đến và tìm đến nhà trường.    

    Từ những năm đầu của thập kỷ 80, trường đã mở quan hệ hợp tác với Ấn Độ, Pháp, Hà Lan, Thái Lan (AIT) và đã cử được một đội ngũ đông đảo cán bộ giảng dạy đi đào tạo tại các nước này, đặc biệt là Ấn Độ; Trường xin tham gia mạng lưới đào tạo về kỹ thuật nguồn nước do Tổ chức ESCAP và từ tháng 8/1988 là 1/16 thành viên của ESCAP. Đây là cơ hội giới thiệu Trường Đại học Thủy lợi với các trường bạn trong khu vực Châu á Thái Bình Dương.

    Cũng trong thời kỳ này nhà trường chuẩn bị và đã đề nghị xin được một Dự án mang tên ” Tăng cường năng lực trường Đại học Thủy lợi ” do UNDP tài trợ. Dự án VIE 88/007 với kinh phí 603,000 USD cho các lĩnh vực Cơ học công trình và Địa kỹ thuật được thực hiện vào năm 1990. Thông qua dự án, Trường đã có được các thiết bị thí nghiệm, thiết bị văn phòng và phương tiện giao thông hiện đại, cử cán bộ giảng dạy – quản lý tham quan, thực tập ở nước ngoài, là Trường đầu tiên trong khối các trường Đại học thuộc khối xây dựng có Dự án UNDP.

    Từ sau dự án này, Trường đã chủ động mở rộng thêm quan hệ hợp tác KH – CN – ĐT với nhiều trường Đại học, Viện Nghiên cứu của các nước Mỹ (ĐH Quốc gia Colorado), Canada (ĐH Saskatchewan), Anh (ĐH Cambridge, ĐH Southbank, ĐH Southampton, ĐH Glamorgan), Pháp (ĐH Cầu đường Paris), Đức (ĐH Braunchweig, ĐH Karshruhe), Hà Lan (IHE, Delft, Bộ Giao thông Công chính, Quản lý nước và Môi trường, Viện Thủy lực Delft…), Na uy (ĐH Trondheim), Ấn Độ (Đại học Công nghệ Roorkee), Thái Lan (AIT), Malaysia (ĐH Sarawax), Trung Quốc (ĐH Vũ Hán, ĐH Tam Điệp, ĐH Hồ Hải, ĐH Nghi Xương, ĐH Cát Châu), Italia ( ĐH Brescia, ĐH Milan), ĐH Công nghệ Bang dung (Indonesia), Israel và các tổ chức quốc tế như OSB (Australia), ECP (Cộng đồng Châu Âu), OXFAM Anh & Ireland, OXFAM Bỉ, OXFAM Hồng Kông, Quỹ Nhi đồng Anh, MCC, ADB, AF, CIDA (Canada ), ILO, ủy ban Sông Mê Kông, các Công ty tư vấn nước ngoài như: Consultants, EXPERCO LTD, GEO-SLOPE International (Canada), SAGE ENGINEERING LTD (Anh), SMEC (Australia), ITOCHU (Nhật) …

          Với Trung Quốc, sau việc ký kết bản hợp tác giữa hai Bộ Thủy lợi Việt Nam và Trung Quốc, nhân dịp Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Trung Quốc Nữu Mậu Sinh sang thăm Việt Nam và thăm trường Đại học Thủy lợi vào tháng 4/1995, Trường đã thiết lập lại quan hệ với một số trường Đại học, cơ quan thủy lợi ở Trung Quốc như Vũ Hán, Cát Châu, Tam Hiệp, Hồ Hải… Từ đó đến nay, đã có nhiều đoàn qua lại thăm viếng lẫn nhau, giảng bài, ký kết các Bản ghi nhớ hợp tác. Về phía bạn, đã có các đoàn của Đại học Vũ Hán, Cát Châu, Sở Thủy lợi Nghi Xương, Thuận Đức, ủy ban sông Trường Giang,… đến thăm Đại học Thủy lợi. Trường Đại học Thủy lợi cũng đã cử nhiều đoàn gồm cán bộ giảng dạy và quản lý sang tham quan kỹ thuật hoặc ký kết các các văn bản hợp tác, tại các trường bạn. Cho đến nay đã có 4 TS được đào tạo tại ĐH Vũ Hán, 3 NCS đang tiếp tục nghiên cứu; 4 thực tập sinh ngắn hạn. Sau Vũ Hán, trường tiếp tục mở quan hệ với ĐH Hồ Hải và đã gửi 2 NCS. ĐH Tam Hiệp, Nhà máy thiết bị Thủy điện Ngọc Lâm (Quảng Tây)…

          Trường đã thiết lập quan hệ lâu dài với ĐH công nghệ Brescia, Milan (Ý), ĐH Hanover, Brauscheig (Đức) và đã nhận được sự tài trợ của các trường này trong việc cử cán bộ sang đào tạo ở bậc tiến sĩ.   

          Trong 10 năm gần đây, thực hiện NQTW2 (1996) về Định hướng chiến lược phát triển KH – CN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 và các nghị quyết khác của Đảng, trên cơ sở phát huy kinh nghiệm và quan hệ đã có và uy tín của Trường, Trường đã chủ động khai thác chiều sâu hợp tác với một số nước và Tổ chức quốc tế có khả năng như: Đan Mạch, Nhật, Hà Lan, Đức, ILO, WB để mở rộng ngành nghề và phương thức đào tạo. Đặc biệt từ năm 2000, Nhà trường đã nhận được sự giúp đỡ của Chính phủ Hà Lan và Đan Mạch tài trợ cho hai dự án lớn nhằm từng bước nâng cao năng lực và vị thế của nhà trường.

    Dự án “Nâng cao năng lực ngành Kỹ thuật bờ biển” bắt đầu thực hiện từ tháng 4 năm 2001, mở ra một ngành mới kỹ thuật bờ biển, một vùng rộng lớn có tiềm năng phát triển kinh tế xã hội, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và còn rất ít được quan tâm trong việc đào tạo nguồn nhân lực, và mở khoa mới Kỹ thuật bờ biển, xây dựng chương trình khung và các môn học, đào tạo nguồn nhân lực và cung cấp một số trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên cứu nhằm nâng cao năng lực đào tạo cho khoa Kỹ thuật bờ biển.

    Dự án “Tăng cường Năng lực cho ĐH Thủy lợi” Do chính phủ Đan Mạch tài trợ được thực hiện từ năm 10/2001 cũng là cơ hội tốt nhằm nâng cấp nhà trường cả về đội ngũ và cơ sở hạ tầng. Thông qua dự án, chương trình khung đào tạo, giáo trình của một số ngành Thủy văn – Môi trường, Qui hoạch và Quản lý hệ thống công trình, kinh tế thủy lợi ở bậc đại học và sau đại học đã được cập nhật, bổ sung và hiện đại hóa; lực lượng cán bộ được đi đào tạo ở bậc thạc sĩ và tiến sĩ; cơ sở vật chất gồm máy tính, thiết bị dạy học, thiết bị nghe nhìn và đặc biệt là một phòng thí nghiệm thuỷ lực hiện đại đã được Dự án trang bị cho Nhà trưòng. Đó là những cơ sở tốt cho việc đào tạo và nghiên cứu.

    Lễ ký kết HWRU-CE Phase 2 tại Trường Công nghệ Delft do GS.TS Đào Xuân Học làm trưởng Đoàn

    Trong vài năm trở lại đây, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với cộng đồng quốc tế, kể cả lĩnh vực đào tạo, Nhà trường cũng nhận thức việc đổi mới hệ thống giáo dục là điều kiện tiên quyết và sống còn của một cơ sở đào tạo. Và nỗ lực này được các đối tác nước ngoài đánh giá rất cao và tích cực ửng hộ.  

    Dự án “Nâng cao năng lực ngành Kỹ thuật bờ biển” do chính phủ Hà Lan tài trợ tiếp tục kéo dài pha 2 thêm 4 năm và hiện nhà trường vẫn đang thực hiện dự án theo đúng tiến độ. Mục tiêu chính của Dự án trong giai đoạn này là tiếp tục hoàn thiện chương trình đào tạo và giáo trình cho ngành Kỹ thuật Bờ biển và nâng cao năng lực giảng viên của Khoa. Đặc biệt, nhằm hỗ trợ tích cực việc thực hiện Chiến lược Phát triển của Nhà trường, Dự án đã triển khai thêm các hoạt động như hỗ trợ nâng cao năng lực cho Trung tâm Đào tạo Ngoại ngữ, Bộ môn Phát triển Kỹ năng, các bộ môn cơ bản, công tác Kiểm định chất lượng đào tạo… Thông qua dự án, rất nhiều cán bộ của nhà trường đã được đi học tập dài hạn và nâng cao, các lớp ngoại ngữ, các lớp nâng cao kỹ năng giảng dạy được các chuyên gia quốc tế truyền thụ đã thực sự mang lại sự thay đổi về chất cho quá trình đào tạo của nhà trường và tạo cơ hội cho cán bộ, sinh viên tiếp xúc với các kỹ thuật tiên tiến, nhiều thiết bị mới, hiện đại phục vụ học tập và nghiên cứu được trang bị, như phòng Thí nghiệm Địa Kỹ thuật, phòng Thí nghiệm Viễn thám, phòng luyện âm…

    Dự án “Tăng cường Năng lực cho ĐH Thủy lợi” do chính phủ Đan Mạch tài trợ tiếp tục kéo dài pha 2 cho đến hết năm 2007 cũng đã tạo ra rất nhiều thuận lợi để nhà trường tiếp tục hỗ trợ cho cán bộ giảng viên về phương pháp giảng dạy, phát triển giáo trình, tài liệu giảng dạy, chương trình đào tạo hiện đại ở trình độ sau đại học, phát triển khả năng nghiên cứu và phương pháp làm việc khoa học có trợ giúp của tin học và máy tính, cử cán bộ đi giao lưu tại một số nước ở Châu Âu, hỗ trợ bộ môn Phát triển Kỹ năng tổ chức các lớp bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy và quản lý để chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp.

    Ngoài các đối tác là các trường đại học và trung tâm nghiên cứu ở các nước trong vùng và trên thế giới, các hoạt động HTQT của Nhà trường mở rộng sang các tổ chức tài trợ lớn như ADB, WB, WMO cũng như các tổ chức Phi chính phủ nhằm đa dạng hoá các mối quan hệ trong HTQT. Đặc biệt, Nhà trường đã được Chính phủ đồng ý cho thực hiện Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật về “Tăng cường năng lực quản lý Thủy lợi và phục hồi hệ thống Thủy nông“ do ADB tài trợ nhằm chuẩn bị cho một Dự án vốn vay cho tăng cường năng lực quản lý Thủy lợi và phục hồi hệ thống Thủy nông Bắc Hưng Hải trong đó có hợp phần xây dựng mở rộng trường tại Chương Mỹ, Hà Tây.

    Một dự án Hỗ trợ Kỹ thuật khác của ADB cho Bộ NN-PTNT do Nhà trường quản lý về “Công nghệ Địa – Tin học trong đánh giá rủi ro thiên tai“ với tổng kinh phí 625.000 USD cũng đang được triển khai rất tích cực trong năm 2009 – 2010. 

    Ngoài các đối tác ở Trung Quốc, Lào, Đức, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Italia, Nhà trường đã mở rộng thêm nhiều quan hệ với các đối tác ở Mỹ (ĐH Arkansas, Viện Địa lý Mỹ, VEF, tổ chức PDC, ĐH Havaii, ĐH Colorado State University), Tổ chức Hợp tác Phát triển Tây Ban Nha (AECI), Nhật Bản (ĐH Hokkaido, ĐH Tohoku, ĐH Kyoto, ĐH Kyushu, ĐH Tokyo Metroplitan), Ấn Độ (ĐH Roockee), Singapore (ĐH Công nghệ Nanyang, Ngee Ann Polytechnic)… thông qua việc ký kết MoU, trao đổi chuyên gia, sinh viện, đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ, tổ chức các buổi seminar, hội thảo khoa học, nghiên cứu chung… Ví dụ, trong lĩnh vực đào tạo nhân lực, ngoài các chương trình học bổng theo các chương trình của Nhà nước, các hợp tác song phương của Nhà trường đã giúp đào tạo 7Tiến sỹ tại Hà Lan, 2 Tiến sỹ tại Đan Mạch, 5 Tiến sỹ tại Italia, 7 Tiến sỹ tại Singapore cùng nhiều Thạc sỹ và thực tập sinh.

     

    GS.TS Đào Xuân Học – Hiệu trưởng Nhà trường tiếp đoàn chuyên gia Nhật Bản tham dự Hội thảo Cửa sông Việt Nam – Nhật Bản (2006) tại Đại học Thủy lợi

    Một mảng hợp tác mới được mở rộng là trao đổi sinh viên, đón tiếp và tổ chức các đợt thực tập cho sinh viên nước ngoài tại Việt Nam. Trong năm 2007- 2008, Nhà trường đã tiếp nhận 7 sinh viên TUDelft, Hà Lan làm thực tập đò án tốt nghiệp Thạc sỹ và 8 sinh viên NTU, Singapore. Sauk khi kết thúc đợt thực tập, các sinh viên nước ngoài đều có ấn tượng rất tốt về Nhà trường, về phong cảnh và con người Việt Nam.

     

    Có thể nói rằng, HTQT góp phần quan trọng tạo môi trường thuận lợi cho cán bộ và giảng viên phát huy toàn bộ năng lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp đào tạo và phát triển Thủy lợi; từng bước khẳng định uy tín của ĐHTL với các đối tác trong khu vực và trên thế giới.