Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Chương trình hành động của các ứng cử viên đại biểu HĐND TP Hà Nội khóa 15 (Quận Đống Đa)

    Chương trình hành động của các ứng cử viên đại biểu HĐND TP Hà Nội khóa 15 (Quận Đống Đa)

    Đơn vị bầu cử số 3 – quận Đống Đa
    Số người ứng cử: 8 người
    Số đại biểu được bầu: 5 đại biểu

    NGUYỄN HỮU ĐỘ
    Sinh ngày: 29 – 8 – 1962

    Tiến sĩ quản lý giáo dục, Cử nhân sư phạm; Cao cấp lý luận chính trị; Thành ủy viên, Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan TP, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội

     

    Nếu tiếp tục được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu HĐND Thành phố nhiệm kỳ 2016 – 2021, tôi sẽ tập trung vào chương trình hành động cụ thể sau:

    1. Phát huy vai trò, trách nhiệm của đại biểu HĐND, phản ánh trung thực các ý kiến của cử tri và đề xuất biện pháp giải quyết kịp thời; tích cực thảo luận, chất vấn và biểu quyết các vấn đề quan trọng của Thành phố như: an sinh xã hội, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí; ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường,…

    2. Tham mưu với Thành phố các chính sách phát triển KT-XH và GD-ĐT, thực hiện hiệu quả NQ 29 của Trung ương về đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT” chú trọng: 2 bản Quy hoạch phát triển giáo dục đến năm 2020 tầm nhìn 2030, đáp ứng đa dạng nhu cầu học tập của nhân dân. Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo; phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực người học, giữ vững chất lượng giáo dục đại trà, nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn; tập trung giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa cho học sinh,…

    3. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo chuyển biến mạnh về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng phục vụ nhân dân; cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư và sản xuất kinh doanh; xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.

    4. Nỗ lực làm việc; nghiên cứu học tập, nâng cao trình độ; tăng cường rèn luyện đạo đức, phẩm chất, cùng với gia đình sống giản dị, chan hòa, đoàn kết, nghĩa tình và chấp hành pháp luật.

    NGUYỄN THANH HÀ
    Sinh ngày: 15 – 9 – 1984

    Cử nhân y khoa; Sơ cấp lý luận chính trị; Bí thư Chi bộ; Trưởng trạm y tế phường Ô Chợ Dừa

     

    Khi trở thành đại biểu HĐND Thành phố Hà Nội, tôi sẽ tập trung vào công tác y tế dự phòng, đặc biệt là công tác phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết và Zika – đây là một trong những giải pháp giúp giảm tình trạng quá tải tại các bệnh viện, cụ thể tôi sẽ:

    1. Thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đại biểu HĐND; nghiêm túc trong công việc và giữ vững đạo đức, lối sống trong sạch.

    2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân cách phòng và chữa bệnh; tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân về tầm quan trọng của công tác loại trừ tác nhân gây bệnh, đặc biệt là tác nhân gây bệnh sốt xuất huyết và Zika.

    3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, cộng tác viên tinh nhuệ phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể khu dân cư trong công tác phòng chống dịch bệnh.

    4. Tăng cường giám sát, phát hiện sớm bệnh nhân tại địa phương để khoanh vùng, xử lý dịch kịp thời, không để dịch bùng phát.

    KHÚC THỊ HIỀN
    Sinh ngày: 25 – 02 – 1977

    Cử nhân luật; Cao cấp Lý luận chính trị; Phó trưởng ban Ban Tổ chức Quận ủy Đống Đa

     

    Nếu được bầu làm đại biểu HĐND Thành phố nhiệm kỳ 2016-2021, tôi sẽ thực hiện chương trình hành động gồm những nội dung sau:

    1. Luôn sâu sát với cơ sở, giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri; lắng nghe, tiếp thu những kiến nghị của cử tri đặc biệt là các vấn đề dân sinh bức xúc như giáo dục, y tế, VSATTP, xây dựng – quản lý đô thị để phản ánh trung thực đến HĐND Thành phố và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết kịp thời; đồng thời trong phạm vi quyền hạn của mình phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan xử lý, giải quyết và báo cáo kết quả với cử tri.

    2. Tham mưu với Quận ủy Đống Đa, Thành ủy Hà Nội thực hiện tốt công tác cán bộ, công tác quản lý đảng viên, công tác chính sách cán bộ nhất là đối với cán bộ lão thành cách mạng, đảng viên cao tuổi Đảng, cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước đã nghỉ hưu.

    3. Đề xuất, kiến nghị, tham mưu đến các cấp lãnh đạo, các ban ngành chức năng nghiên cứu thực hiện các chế độ chính sách về bình đẳng giới, vì sự phát triển toàn diện của phụ nữ nhằm phát huy cao nhất trí tuệ, năng lực của phụ nữ; đảm bảo cơ cấu cán bộ nữ tham gia đảm nhận các chức vụ lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan, đơn vị.

    4. Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, nhiệm vụ của người đại biểu dân cử, xứng đáng với niềm tin của cử tri và nhân dân Thủ đô.

    NGUYỄN ĐÌNH HƯNG
    Sinh ngày: 8 – 02 – 1971

    Thạc sỹ Y khoa; Cao cấp lý luận chính trị; Quận ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

     

    Nếu được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu HĐND Thành phố, tôi sẽ thực hiện Chương trình hành động như sau:

    1. Cùng với ngành y tế đề xuất những biện pháp khả thi trước mắt và lâu dài nhằm giải quyết tình trạng quá tải tại các bệnh viện.

    2. Đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật mới, chuyên sâu và chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế về cả số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Xây dựng mạng lưới y tế gắn kết từ y tế cơ sở cho đến y tế chuyên sâu, hỗ trợ tốt tuyến trên, tuyến dưới để người dân được chăm sóc y tế tốt nhất.

    3. Đóng góp những giải pháp mang tính chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh và kiểm soát VSATTP.

    4. Cải tiến các thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh, hướng đến đảm bảo công bằng trong cung cấp dịch vụ y tế, đặc biệt là nhân dân lao động nghèo.

    5. Vận động các tổ chức, cá nhân, đoàn thể, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp tiếp tục đồng hành với ngành y tế nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động chăm lo sức khỏe cộng đồng và nhân dân lao động nghèo vùng sâu, vùng xa.

    BÙI HUYỀN MAI
    Sinh ngày: 03 – 9 – 1975

    Thạc sỹ Luật học; Cao cấp lý luận chính trị; Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND TP, Phó trưởng Ban Pháp chế HĐND TP

     

    Nếu được bầu làm đại biểu HĐND Thành phố, tôi sẽ nỗ lực thực hiện Chương trình hành động với 4 điểm chính như sau:

    1. Thực hiện tốt trách nhiệm của người đại biểu nhân dân. Thường xuyên liên hệ chặt chẽ với cử tri Thủ đô, nhất là cử tri nơi mình ứng cử, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của cử tri. Hàng năm báo cáo với cử tri về hoạt động của mình, trả lời các yêu cầu, kiến nghị của cử tri.

    2. Tích cực tham gia các kỳ họp của HĐND, thảo luận và bày tỏ ý kiến về các nội dung được bàn tại kỳ họp và xây dựng nghị quyết. Từng bước nâng cao chất lượng công tác giám sát của HĐND Thành phố, trong đó, tập trung giám sát việc thực hiện pháp luật, nghị quyết của HĐND các cấp, coi trọng việc giám sát theo chuyên đề và chất vấn tại kỳ họp, giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri.

    3. Thực hiện tốt vai trò của nữ đại biểu HĐND Thành phố, quan tâm xây dựng các cơ chế, chính sách để bảo vệ quyền và lợi ích của người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em.

    4. Bản thân không ngừng nỗ lực học tập, phấn đấu, rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tư cách của người đại biểu nhân dân, góp sức xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

    LÊ TIẾN NHẬT
    Sinh ngày: 14 – 4 – 1963

    Thạc sỹ quản trị kinh doanh; Cao cấp lý luận chính trị; Thành ủy viên, Bí thư Quận ủy, Chủ tịch HĐND quận Đống Đa, đại biểu HĐND TP Hà Nội nhiệm kỳ 2011 – 2016

     

    Nếu được cử tri tín nhiệm bầu vào HĐND Thành phố nhiệm kỳ 2016 – 2021 tôi sẽ nỗ lực cố gắng hết mình để thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

    1. Thực hiện tốt trách nhiệm người đại biểu nhân dân. Đóng góp tích cực để nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND Thành phố, nhất là quyết định những vấn đề lớn liên quan đến sự phát triển của Thủ đô như: duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội; nâng cao hiệu quả công tác quản lý, quy hoạch và phát triển đô thị; đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp.

    2. Thường xuyên liên hệ chặt chẽ, gần gũi với cử tri và nhân dân. Chủ động tìm hiểu, nắm bắt những vấn đề bức xúc, những nhu cầu cấp thiết của địa phương, của nhân dân, kịp thời chỉ đạo giải quyết trong thẩm quyền hoặc đề xuất, kiến nghị với các cấp, các ngành quan tâm giải quyết những nguyện vọng chính đáng của cử tri.

    3. Cùng tập thể lãnh đạo quận Đống Đa triển khai các nội dung, giải pháp thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015 – 2020, trọng tâm là thực hiện 3 khâu đột phá để đẩy mạnh phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng bộ mặt đô thị kỷ cương, văn minh, sạch đẹp.

    4. Không ngừng trau dồi đạo đức, học tập, rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt nhất là thường xuyên cập nhật những vấn đề mới, kiến thức mới để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

    TRƯƠNG ANH TÚ
    Sinh ngày: 31 – 12 – 1979

    Thành viên Đoàn luật sư TP Hà Nội – Hội luật gia TP Hà Nội; Hiệp hội công thương TP Hà Nội; Hội bảo vệ quyền lợi trẻ em

     

    Chương trình hành động của tôi tập trung giải quyết hai vấn đề bức thiết hiện nay gồm:

    1. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP): Tập trung đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm đẩy lùi tình trạng mất VSATTP đang tồn tại hiện nay, cụ thể kiến nghị Thành phố thành lập đường dây nóng, thành lập văn phòng điều phối chuyên tiếp nhận thông tin, kiểm tra, xử lý các vấn đề liên quan đến VSATTP và các giải pháp khác.

    2. Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của Thành phố nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tôi tập trung giải pháp chính là thực hiện cải cách thủ tục hành chính, hướng đến nền hành chính phục vụ, thực hiện khoán thủ tục hành chính cho cán bộ công chức, từ đó họ sẽ tận tâm hơn, chủ động giúp doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc… và các giải pháp khác.

    Bên cạnh hai vấn đề cần giải quyết trên, khi trúng cử trong suốt nhiệm kỳ nếu phát sinh các vấn đề nóng khác, tôi sẽ cùng cử tri giải quyết. Tôi cam kết sẽ trở thành đại diện cho tiếng nói của nhân dân, là cầu nối nhanh nhất giữa nhân dân với các cấp lãnh đạo Thành phố và Trung ương. Đồng thời không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống để trở thành người đại biểu tốt, trung thành của nhân dân Thủ đô.

    NGUYỄN THẾ VINH
    Sinh ngày: 10 – 6 – 1974

    Tiến sỹ Quản trị kinh doanh, Thạc sỹ Quản trị nguồn nhân lực; Cử nhân Anh văn; Sơ cấp lý luận chính trị; Uỷ viên UB Nghiên cứu Liên đoàn quản trị nhân sự thế giới và Uỷ viên Liên đoàn quản trị nguồn nhân lực châu Á – Thái Bình Dương; Phó Tổng Giám đốc Cty Quản trị nguồn nhân lực M-Talent

     

    Nếu được cử tri tín nhiệm bầu làm đại biểu HĐND TP, tôi sẽ tập trung ưu tiên góp sức cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân vào các nhiệm vụ sau: 

    1. Tham gia đầy đủ các kỳ họp, thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ của HĐND; tham gia đầy đủ các cuộc tiếp xúc cử tri; báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp; phổ biến, vận động và cùng nhân dân thực hiện các nghị quyết và vận động nhân dân chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước.

    2. Tham gia triển khai các dự án việc làm: Định hướng và hỗ trợ tạo việc làm cho lực lượng đoàn viên thanh niên, cử nhân của các trường cao đẳng, đại học và những thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự hiện chưa có việc làm; giúp đỡ, tìm kiếm việc làm phù hợp cho người cao tuổi khó khăn và người tàn tật.

    3. Tích cực tham gia đóng góp ý kiến trong việc cải tiến các chính sách xã hội, giảm nghèo bền vững; giáo dục, y tế; tệ nạn xã hội,…

    4. Hỗ trợ kết nối các doanh nghiệp với các cơ quan chính quyền để kịp thời giải quyết các vướng mắc nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.

  • Cử tri Trường Sa gửi trọn niềm tin trong lá phiếu bầu cử

    Cử tri Trường Sa gửi trọn niềm tin trong lá phiếu bầu cử

     

    Tranh cổ động bầu cử

    Huyện đảo Trường Sa có 3 khu vực bỏ phiếu là thị trấn Trường Sa, xã Sinh Tồn và xã Song Tử; với 21 điểm bỏ phiếu gồm Song Tử Tây, đá Lớn, Cô Lin, Len Đao, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, đá Thị, Sơn Ca, Nam Yết, đá Nam, Trường Sa, Trường Sa Đông, An Bang, Thuyền Chài, đá Đông, đá Tây, Tiên Nữ, Tóc Tan, Phan Vinh, Núi Le, đá Lát.

    Tại xã đảo Song Tử, khắp các lối đi trên đảo trong Ngày hội lớn của đất nước đều được trang trí rực rỡ với những băng rôn khẩu hiệu, lá cờ đỏ sao vàng tung bay. Điểm nhấn là khu vực sân vận động trước cột mốc chủ quyền quốc gia nơi diễn ra chương trình khai mạc bầu cử. Ngay từ sáng sớm, xã đảo Song Tử đã đón những cử tri đang làm nhiệm vụ trên những con tàu xung quanh đảo cập cảng để thực hiện quyền công dân của mình.

    Sau khi làm lễ chào cờ ở khu vực cột mốc chủ quyền và nghe đại diện xã đảo Song Tử phổ biến quy trình thể lệ bầu cử, đúng 7 giờ, các cử tri trên xã đảo đã bắt đầu bỏ phiếu. Là một trong những người bỏ lá phiếu đầu tiên, cử tri Nguyễn Thị Thanh Thoảng phấn khởi vui mừng cho biết: thông qua lá phiếu bầu tôi đã lựa chọn được những đại biểu ưu tú nhất vào các cơ quan dân cử các cấp. Đồng thời kỳ vọng các đại biểu trúng cử sẽ phát huy được trí tuệ, đạo đức của mình đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

    Sư thầy Thích Quảng Kỉnh ở chùa Song Tử Tây hoan hỉ cho biết: là một cử tri thực hiện công tác Phật sự ngoài đảo, tôi mong muốn các đại biểu được lựa chọn vào Quốc hội khóa XIV sẽ phát huy được tinh thần dân chủ, trí tuệ và đoàn kết để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân.

    Tàu cá QNg 96020 của tỉnh Quảng Ngãi bị hỏng bình điện trên tàu khi đang đánh bắt ngoài biển đã cập âu tàu trên đảo Song Tử đúng trong ngày bầu cử. Toàn bộ 15 thuyền viên của tàu đã được tổ bầu cử của đảo hướng dẫn bầu cử theo diện cử tri vãng lai. Ngư dân Đinh Bền, xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi kỳ vọng những đại biểu mà mình lựa chọn sẽ đại diện cho tiếng nói của bà con ngư dân. Quốc hội khóa XIV sẽ tiếp tục ban hành nhiều chính sách hỗ trợ hiệu quả thiết thực hơn nữa cho ngư dân vươn khơi bám biển trên ngư trường truyền thống Trường Sa, Hoàng Sa.

    Cũng trong niềm vui chung của Ngày hội lớn, cử tri Nguyễn Việt Dũng, quê ở Hà Nội đang làm nhiệm vụ trên tàu ở khu vực quanh đảo, rất xúc động khi lần đầu tiên thực hiện quyền công dân của mình tại quần đảo Trường Sa. “Đây một vinh dự rất lớn khi tôi được bỏ lá phiếu gửi gắm trọn niềm tin, sự kỳ vọng của mình đối với các đại biểu mà mình lựa chọn tại xã đảo Song Tử. Một cảm xúc rất thiêng liêng và hạnh phúc”, anh Nguyễn Việt Dũng bộc bạch.

    Đối với các đơn vị trực chiến, sẵng sàng chiến đấu trên đảo Song Tử, cán bộ bầu cử trên đảo đã mang những hòm phiếu di động tới nơi để cán bộ chiến sĩ thực hiện quyền của mình. Trước đó, một chương trình văn nghệ vui tươi để chào mừng ngày bầu cử cũng đã được tổ chức trên đảo Song Tử với nhiều ca khúc ca ngợi tình yêu quê hương, biển đảo, tình quân dân nơi đảo xa.

    Cũng trong điều kiện thời tiết có nắng đẹp và sóng biển hiền hòa, các điểm bỏ phiếu tại xã Sinh Tồn chính thức tiến hành bỏ phiếu lúc 7 giờ 20 phút. Tại trung tâm xã Sinh Tồn, các cử tri đã xếp hàng ngay ngắn, trật tự chờ đợi đến lượt mình để vào phòng bỏ phiếu. Ông Lê Quốc Anh, Chủ tịch UBND xã Sinh Tồn cho biết: tại các điểm bỏ phiếu của xã không có cử tri vãng lai tham gia bầu cử. Các đơn vị đã bố trí cho cán bộ, chiến sĩ đổi ca trực tại các vị trí chiến đấu đảm bảo 100% cử tri đến bỏ phiếu tại thùng phiếu chính.

    Tại thị trấn Trường Sa, không khí của bầu cử cũng rất sôi nổi với sự tham gia của đông đảo cử tri. Đúng 6 giờ 45 phút, tại hội trường lớn của thị trấn, những nghi thức khai mạc của ngày bầu cử đã diễn ra trang trọng. Có mặt tại khu vực bỏ phiếu tại thị trấn Trường Sa, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Trường Sa Phan Ngọc Quang cho biết, tinh thần của cử tri rất phấn khởi khi tham gia bỏ lá phiếu của mình. Các cử tri đều nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ trước khi lựa chọn các đại biểu vào Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.

    Sau khi cử tri hoàn thành bỏ phiếu, các khu vực bầu cử sẽ tổng hợp kết quả sơ bộ báo cáo Ủy ban bầu cử huyện Trường Sa. Sau đó, các khu vực bầu cử sẽ tiến hành kiểm phiếu tại các điểm bỏ phiếu và báo cáo kết quả kiểm phiếu vào bờ./.

    Đỗ Trưởng/TTXVN

  • Rộn ràng ngày bầu cử sớm ở vùng biên cương Tây Bắc

    Rộn ràng ngày bầu cử sớm ở vùng biên cương Tây Bắc

     

    Hơn 5.800 cử tri thuộc ba xã vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn là Tá Bạ, Mù Cả và Tà Tổng 
    của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đã nô nức đi bầu cử sớm. (Ảnh:TTXVN)

    Tại các điểm bầu cử của xã Tá Bạ, từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc nơi đây đã gác lại công việc hằng ngày, khoác lên mình bộ quần áo mang bản sắc riêng, cùng nhau đi đến nơi bỏ phiếu. Dọc các ngả đường dẫn đến điểm bầu cử, sắc màu đặc trưng trên trang phục của đồng bào các dân tộc La Hủ, Hà Nhì đã tạo nên khung cảnh rực rỡ nơi vùng biên giới.

    Cùng với cờ Tổ quốc, cờ Đảng, những tấm băng rôn được treo trên các ngôi nhà, con đường và tiếng loa phát thanh tuyên truyền về ngày bầu cử vang vọng khắp thôn bản làm cho không khí ngày bầu cử thêm rộn ràng, vui tươi. Ngày bầu cử sớm thực sự trở thành ngày hội lớn đối với đồng bào các dân tộc nơi đây.

    Có mặt tại điểm bầu cử từ rất sớm, cử tri Lỳ Xò Pư, sinh năm 1996, người dân tộc La Hủ chăm chú xem lại một lần nữa danh sách những ứng cử viên đại biểu trước khi quyết định lựa chọn bỏ phiếu. Cử tri Lỳ Xò Pư phấn khởi chia sẻ, đây là lần đầu tiên được đi bỏ phiếu, thực hiện quyền công dân nên rất hồi hộp. Từ nhiều tháng nay, được các thầy cô giáo và các cán bộ xã tuyên truyền về tầm quan trọng của ngày bầu cử, Lỳ Xò Pư đã tìm hiểu, xem thông tin của các đại biểu ứng cử lần này rất kỹ. Vì thế, Lỳ Xò Pư tin chắc bản thân sẽ có lựa chọn đúng đắn, bầu cho người có đủ tài năng, trí tuệ để góp phần xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

    Tại điểm bầu cử số 4 xã Tá Bạ , đúng 7 giờ, sau lễ chào cờ, các cử tri đã tiến hành bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021. Lần lượt các cử tri đã cùng nhau thực hiện quyền công dân, bỏ phiếu bầu vào các hòm phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp.

    Rời khỏi phòng bỏ phiếu với khuôn mặt rạng rỡ, cử tri Vàng Pé Dứ năm nay đã hơn 70 tuổi, là cử tri nhiều tuổi nhất tại điểm bỏ phiếu ở trung tâm xã Tá Bá cho biết, nhiều lần đi bỏ phiếu bầu cử, mỗi khi đến kỳ bầu cử, dù bận rộn thế nào ông cũng tạm dừng mọi việc, để cùng con cháu tham gia ngày hội lớn này. Ông kỳ vọng rằng, những đại biểu được lựa chọn sẽ có đủ tài năng, trí tuệ để đại diện cho tiếng nói của đồng bào các dân tộc vùng cao, xứng đáng với sự lựa chọn của nhân dân và sớm đưa ra những chính sách, giải pháp phù hợp để giúp đời sống của đồng bào vùng cao ngày càng được nâng lên.

    Tá Bạ là xã vùng cao, vùng biên giới của huyện Mường Tè. Trong kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, toàn xã có hơn 1.800 cử tri tham gia bỏ phiếu tại 8 tổ bầu cử. Ông Lỳ Nhù Chừ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã cho biết, Tá Bạ là địa bàn đặc biệt khó khăn, có diện tích rộng, địa hình chia cắt phức tạp, dân cư phân bố không tập trung, có những điểm bản cách trung tâm xã đến 60 km. Đặc biệt có những điểm bản người dân phải đi bộ đến các khu vực bỏ phiếu nên chính quyền xã đã bố trí các lực lượng tham gia bầu cử, tham gia phục vụ bầu cử có mặt tại các điểm bỏ phiếu từ ngày 13/5. Trong đợt này, các cử tri trên địa bàn xã sẽ bầu 25 đại biểu trong số 40 người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã khóa II, nhiệm kỳ 2016 – 2021. Đến thời điểm này, thông tin từ các tổ bầu cử báo về cho biết tình hình tại các điểm đều an toàn, không khí bầu cử diễn ra nghiêm túc.

    Cùng với xã Tá Bạ, 4.000 cử tri của hai xã Mù Cả, Tà Tổng cũng đã đi bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 201 6 – 2021 trong sáng15/5. Ông Đao Văn Khánh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Bầu cử huyện Mường Tè cho biết, tại 32 điểm bỏ phiếu sớm trên địa bàn huyện, phần lớn người dân đã tập trung trong buổi sáng để thực hiện quyền công dân của mình. Ngoài ra, các hòm phiếu phụ cũng đã được tổ bầu cử triển khai, mang đến các điểm dân cư không tập trung để người dân thuận tiện trong việc bỏ phiếu. Theo thống kê sơ bộ của Ủy ban Bầu cử huyện Mường Tè, trong sáng 15/5 đã có hơn 80% cử tri đến bỏ phiếu. Các điểm bỏ phiếu không xảy ra sự cố nào, công tác an ninh, trật tự được đảm bảo an toàn tuyệt đối.

    Có thể khẳng định, bầu cử sớm ở 3 xã vùng biên giới, vùng cao ở huyện Mường Tè đã diễn ra dân chủ, đúng luật, tiết kiệm. Các cử tri đồng bào dân tộc vùng biên giới Tây Bắc đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của mình với ý thức trách nhiệm cao. Từ thời điểm này đến 19 giờ cùng ngày, các cán bộ trong tổ bầu cử sẽ tiếp tục làm việc, để các cử tri có thể hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình. Kết quả bầu cử sẽ được các tổ bầu cử, các đơn vị bầu cử tổng hợp gửi về Ủy ban Bầu cử các cấp. /.

    Lê Hữu Quyết/TTXVN

  • Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 7 (phần cuối)

    Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 7 (phần cuối)

    Câu 156: Sau khi đã hết thời hạn hiệp thương lần thứ hai thì có thể bổ sung hoặc thay đổi danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã lập qua hiệp thương lần thứ hai để đưa vào hiệp thương lần thứ ba được không?

    Trả lời:

    Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, công dân ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) phải nộp hồ sơ ứng cử.

    Tuy nhiên, chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử phải tổ chức hiệp thương lần thứ hai. Hội nghị hiệp thương lần thứ hai căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, cơ cấu thành phần và số lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp điều chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và gửi lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú; đối với người tự ứng cử thì còn được gửi lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi người đó làm việc (nếu có). Do đó, khi thời hạn hiệp thương lần thứ hai đã hết thì không thể
    bổ sung hoặc thay đổi danh sách sơ bộ đã lập qua hiệp thương lần thứ hai để đưa vào danh sách hiệp thương lần thứ ba.

    Câu 157: Người tự ứng cử đại biểu Quốc hội, tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đã qua hiệp thương và được đưa vào danh sách sơ bộ những người ứng cử thì có được đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử không?

    Trả lời:

    Công dân ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là những người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử. Vì vậy, công dân xét thấy mình có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật, có thể tự mình làm đơn, nộp hồ sơ ứng cử. Qua hiệp thương lần thứ hai nếu được vào danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội, danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân để gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú và nơi làm việc (nếu có) thì sau đó đưa vào danh sách để hiệp thương lần thứ ba. Trường hợp người tự ứng cử có đủ tiêu chuẩn và điều kiện thì được đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Câu 158: Sau Hội nghị hiệp thương lần thứ ba, vì lý do bất khả kháng, số người ứng cử ở đơn vị bầu cử ít hơn so với quy định của pháp luật thì giải quyết như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thì số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, số người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người.

    Trong trường hợp khuyết người ứng cử đại biểu Quốc hội vì lý do bất khả kháng thì Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.

    Câu 159: Trường hợp Thẻ cử tri do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trước đây ký tên, đóng dấu, nay người đó do sai phạm, khuyết điểm đã bị cách chức, đình chỉ hoặc thôi giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thì Thẻ cử tri đó còn giá trị không?

    Trả lời:

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ký tên, đóng dấu vào Thẻ cử tri và các văn bản khác theo luật định. Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã do phạm sai lầm, khuyết điểm bị cách chức, đình chỉ công tác, thôi giữ chức vụ thì các văn bản, bao gồm cả Thẻ cử tri được vị Chủ tịch này ký khi còn đương chức (nếu các văn bản này không trái với các quy định của pháp luật) vẫn còn giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

    Câu 160: Tại các đơn vị hành chính mới thành lập chưa có Hội đồng nhân dân và Thường trực Hội đồng nhân dân thì trách nhiệm, quyền hạn của Quyền Chủ tịch Hội đồng nhân dân đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Trong việc tổ chức bầu cử tại các huyện, quận, phường thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường quy định tại các Điều 4, Điều 9 và Điều 51 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường có liên quan.

    Quyền Chủ tịch Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Thường trực Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.

    Câu 161: Vi phạm pháp luật về bầu cử là gì? Người có hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử bị xử lý như thế nào?

    Trả lời:

    Người vi phạm các quy định của pháp luật về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Điều 126 Bộ luật hình sự quy định về tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân:

    1. Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến hai năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

    3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

    Điều 127 Bộ luật hình sự quy định về tội làm sai lệch kết quả bầu cử:

    1. Người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

    3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

    Câu 162: Trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến bầu cử?

    Trả lời:

    Công dân có quyền tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử. Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị được thực hiện như sau:

    a) Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng bầu cử quốc gia. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia là quyết định cuối cùng;

    b) Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào thì được gửi tới Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Quyết định của Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng;

    c) Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị nhận được theo thẩm quyền.

    Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử.

    Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng bầu cử quốc gia (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) quyết định xóa tên người đó trong danh sách chính thức những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    Không xem xét, giải quyết đối với những đơn tố cáo không có họ, tên người tố cáo hoặc mạo danh người khác để tố cáo.

    Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Ủy ban bầu cử ở huyện, Ủy ban bầu cử ở xã chuyển toàn bộ hồ sơ về khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết đến Ủy ban thường vụ Quốc hội (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân khóa mới ở cấp tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) để tiếp tục xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    Câu 163: Trường hợp người bị tâm thần nhưng không có điều kiện tổ chức khám và xác nhận của cơ quan y tế thì có được ghi tên vào danh sách cử tri hay không?

    Trả lời:

    Người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.

    Những bệnh nhân tâm thần thường sống tự do trong Nhân dân địa phương, vì mạng lưới y tế chuyên khoa chưa phát triển rộng khắp nên chưa khám và xác định được họ. Tuy nhiên, ở địa phương nếu không có điều kiện tổ chức khám và xác nhận của cơ quan y tế mà gia đình cam kết và chính quyền địa phương xác nhận họ là người bị tâm thần thì họ bị coi là mất năng lực hành vi dân sự và không được ghi tên vào danh sách cử tri.

    Câu 164: Trường hợp người vừa câm, vừa điếc lại không biết chữ thì có được ghi tên vào danh sách cử tri hay không?

    Trả lời:

    Người vừa câm, vừa điếc không thuộc các trường hợp quy định không được ghi tên vào danh sách cử tri, do đó vẫn được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Về việc viết và bỏ phiếu, nếu họ không tự viết được phiếu bầu thì áp dụng theo quy định: cử tri nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình kiểm tra và tự bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.

    Câu 165: Việc xác định người mất trí trong khi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tiến hành như thế nào?

    Trả lời:

    Mất trí là tình trạng mất hết khả năng hoạt động trí óc, khả năng nhận thức, suy nghĩ, phán đoán… Mất trí là một nội dung của khái niệm mất năng lực hành vi dân sự. Việc xác định người bị mất năng lực hành vi dân sự được căn cứ vào quyết định của Tòa án hoặc do bệnh viện tâm thần hoặc chuyên khoa tâm thần của bệnh viện đa khoa xác nhận. Người bị mất năng lực hành vi dân sự sẽ không được thực hiện quyền ứng cử và bầu cử.

    Câu 166: Những sự kiện bất ngờ làm gián đoạn cuộc bỏ phiếu được xử lý như thế nào?

    Trả lời:

    Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục trong ngày bầu cử. Trường hợp có những sự kiện bất ngờ làm gián đoạn cuộc bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.

    Trường hợp vì lý do đặc biệt phải hoãn ngày bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử biết để đề nghị Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng bầu cử xem xét, quyết định.

    Câu 167: Bầu cử lại là gì? Có bao nhiêu trường hợp phải bầu cử lại? Việc bầu cử lại phải tuân theo những trình tự, thủ tục nào?

    Trả lời:

    Trường hợp đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu ở cấp đó.

    Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri.

    Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quyết định ngày bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri sau khi đã báo cáo và được sự đồng ý của Hội đồng bầu cử quốc gia.

    Một trường hợp khác phải tổ chức bầu cử lại là khi ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Khi đó Hội đồng bầu cử quốc gia tự mình hoặc theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh hủy bỏ kết quả bầu cử ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử và quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đó.

    Trong trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.

    Danh sách cử tri của cuộc bầu cử lại được lập theo danh sách cử tri trong cuộc bầu cử đầu tiên và theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Câu 168: Bầu cử thêm là gì? Việc bầu cử thêm phải tuân theo những trình tự, thủ tục nào?

    Trả lời:

    Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Quốc hội chưa đủ số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử ở tỉnh để đề nghị Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó.

    Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân chưa đủ hai phần ba số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản xác định kết quả bầu cử và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó để quyết định ngày bầu cử thêm ở đơn vị bầu cử đó.

    Trong trường hợp bầu cử thêm thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên nhưng không trúng cử. Người trúng cử là người được quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ và có số phiếu bầu cao hơn. Nếu bầu cử thêm mà vẫn chưa đủ số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì không tổ chức bầu cử thêm lần thứ hai.

    Danh sách cử tri của cuộc bầu cử thêm được lập theo danh sách cử tri trong cuộc bầu cử đầu tiên và theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Câu 169: Bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội khi nào và phải tuân theo những trình tự, thủ tục gì?

    Trả lời:

    Việc bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ chỉ được tiến hành khi thời gian còn lại của nhiệm kỳ nhiều hơn 02 năm và thiếu trên mười phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội đã được bầu ở đầu nhiệm kỳ.

    Quốc hội quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội. Ngày bầu cử bổ sung phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử.

    Câu 170: Bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân khi nào và phải tuân theo những trình tự, thủ tục gì?

    Trả lời:

    Việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân trong nhiệm kỳ chỉ được tiến hành khi thời gian còn lại của nhiệm kỳ nhiều hơn 18 tháng và đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

    – Hội đồng nhân dân thiếu trên một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đã được bầu ở đầu nhiệm kỳ;

    – Đơn vị hành chính mới được thành lập trên cơ sở nhập, chia, điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính hiện có có số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân không đủ hai phần ba tổng số đại biểu được bầu theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định và công bố ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã.

    Ngày bầu cử bổ sung phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử.

    Câu 171: Công tác hiệp thương, giới thiệu người ứng cử trong bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử trong bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được tổ chức và thực hiện theo quy định tại Mục 2, Mục 3 Chương V của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn có liên quan. Riêng thời gian tiến hành hiệp thương, giới thiệu người ứng cử trong bầu cử bổ sung thực hiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị quyết này.­

     Thời gian tiến hành hiệp thương, giới thiệu người ứng cử trong bầu cử bổ sung được quy định như sau:

    – Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được tổ chức chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử bổ sung.

    – Sau hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân phố được phân bổ số lượng người giới thiệu ứng cử tiến hành lựa chọn, giới thiệu người ứng cử chậm nhất là 19 ngày trước ngày bầu cử bổ sung.

    – Hội nghị hiệp thương lần thứ hai để thỏa thuận lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được tổ chức chậm nhất là 16 ngày trước ngày bầu cử bổ sung.

    – Việc tổ chức hội nghị cử tri lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác hoặc nơi làm việc (nếu có) về người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện chậm nhất là 14 ngày trước ngày bầu cử bổ sung.

    – Hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được tổ chức chậm nhất là 12 ngày trước ngày bầu cử bổ sung.

    *

    *            *

    (Theo sách “Hỏi – Đáp về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021” do Hội đồng bầu cử quốc gia biên soạn để phục vụ cuộc bầu cử / Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật năm 2016).

  • Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 6

    Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 6

    Câu 131: Ngày bầu cử được quy định như thế nào? Trong trường hợp nào thì hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định? Ai có quyền quyết định?

    Trả lời:

    Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định ngày bầu cử phải là ngày Chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử. Ngày bầu cử do Quốc hội ấn định. Quốc hội khóa XIII đã giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội công bố ngày bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 là Chủ nhật, ngày 22 tháng 5 năm 2016.

    Trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Ủy ban bầu cử trình Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.

    Câu 132: Việc bỏ phiếu được bắt đầu và kết thúc khi nào? Việc bỏ phiếu có thể bắt đầu sớm và kết thúc sớm hoặc muộn hơn không? Ai có quyền quyết định?

    Trả lời:

    Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 5 giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 9 giờ tối cùng ngày.

    Câu 133: Các địa điểm bỏ phiếu (phòng bỏ phiếu) bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được trang trí, tổ chức như thế nào?

    Trả lời:

    Địa điểm bỏ phiếu được bố trí ở những nơi công cộng, như trụ sở Ủy ban nhân dân, trường học, câu lạc bộ, những nơi trung tâm,… thuận tiện cho cử tri cũng như thuận lợi cho việc bố trí các trang thiết bị phục vụ cho cuộc bầu cử.

    Các địa điểm bỏ phiếu cần được trang trí trang nghiêm, thống nhất, bảo đảm tiết kiệm. Ngoài việc trang trí cờ, biểu ngữ… mỗi nơi bỏ phiếu cần có những trang bị thiết yếu như hòm phiếu, bàn ghế, bút, mực… có Nội quy phòng bỏ phiếu, danh sách cử tri, các phòng kín đủ ánh sáng để cử tri thực hiện việc ghi phiếu. Tổ bầu cử có nhiệm vụ bố trí phòng bỏ phiếu.

    Câu 134: Nội quy phòng bỏ phiếu được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Để cho cuộc bầu cử đạt kết quả, bảo đảm dân chủ, hợp pháp của cuộc bầu cử và bảo đảm trật tự, an toàn, nhất là trong ngày bỏ phiếu, các tổ chức phụ trách bầu cử và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và những văn bản pháp luật về bầu cử. Ngoài ra, mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu.

    Nội quy phòng bỏ phiếu do Hội đồng bầu cử quốc gia quy định.

    Nội quy phòng bỏ phiếu căn cứ và Các quy định của Luật bầu cử; Các quy định về bảo đảm an toàn, trị an khu dân cư, nơi công cộng; Các quy định về phòng cháy, chữa cháy; Các quy định hướng dẫn cách bỏ phiếu.

    Câu 135: Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử có phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri không?

    Trả lời:

    Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri để bảo đảm tính công khai, khách quan và thực hiện nguyên tắc nhân dân kiểm tra. Đây cũng là hình thức để cử tri trực tiếp giám sát cuộc bầu cử.

    Đúng 7 giờ sáng hoặc đúng giờ quy định, Tổ trưởng Tổ bầu cử mời đại diện những cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu chứng kiến việc kiểm tra hòm phiếu. Sau khi kiểm tra hòm phiếu (không có gì ở trong), hòm phiếu được niêm phong bằng giấy có đóng dấu của Tổ bầu cử, thì cuộc bỏ phiếu mới được bắt đầu. Trường hợp hòm phiếu có khóa thì Tổ trưởng khóa lại và phải niêm phong.

    Câu 136: Cử tri có được bầu cử thay không?

    Trả lời:

    Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định về nguyên tắc bỏ phiếu như sau: Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.

    Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.

    Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.

    Câu 137: Người không tự mình viết được phiếu bầu có được nhờ người khác viết hộ hay không?

    Trả lời:

    Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì được nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.

    Câu 138: Việc đóng dấu “đã bỏ phiếu” vào Thẻ cử tri được thực hiện như thế nào?

    Trả lời:

    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào Thẻ cử tri.

    Câu 139: Hòm phiếu phụ là gì? Trong trường hợp nào thì dùng hòm phiếu phụ?

    Trả lời:

    Hòm phiếu phụ là hòm phiếu dự phòng và có thể được di chuyển ra khỏi phòng bỏ phiếu. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.

    Câu 140: Việc kiểm phiếu được tiến hành như thế nào? Những ai được chứng kiến việc kiểm phiếu?

    Trả lời:

    Việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc.

    Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu không sử dụng đến và mời hai cử tri không phải là người ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu.

    Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử hoặc người được ủy nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.

    Câu 141: Những phiếu bầu cử nào là phiếu hợp lệ?

    Trả lời:

    Phiếu bầu cử hợp lệ là:

    – Phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát ra;

    – Phiếu có đóng dấu của Tổ bầu cử;

    – Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu đã ấn định cho đơn vị bầu cử.

    Câu 142: Những phiếu bầu cử nào là phiếu không hợp lệ?

    Trả lời:

    Những phiếu bầu cử không hợp lệ là:

    – Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát ra;

    – Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử;

    – Phiếu để số người được bầu nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử;

    – Phiếu gạch xóa hết họ, tên tất cả những người ứng cử; phiếu ghi thêm tên người ngoài danh sách những người ứng cử hoặc phiếu có ghi thêm nội dung khác.

    Trường hợp có phiếu bầu được cho là không hợp lệ thì Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để toàn Tổ xem xét, quyết định. Tổ bầu cử không được gạch xóa hoặc sửa các tên ghi trên phiếu bầu.

    Câu 143: Các khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu được giải quyết như thế nào?

    Trả lời:

    Những khiếu nại, tố cáo tại chỗ về những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử nhận, giải quyết và ghi nội dung giải quyết vào biên bản.

    Trong trường hợp Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải ghi rõ ý kiến của Tổ bầu cử vào biên bản giải quyết khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Ban bầu cử.

    Câu 144: Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử của Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu gồm những nội dung gì?

    Trả lời:

    Sau khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập các loại biên bản sau đây: Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội tại khu vực bỏ phiếu; Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại khu vực bỏ phiếu; Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện tại khu vực bỏ phiếu; Biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại khu vực bỏ phiếu, gồm những nội dung sau đây:

    – Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu;

    – Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu (riêng cho mỗi loại biên bản);

    – Số phiếu phát ra (riêng cho mỗi loại biên bản);

    – Số phiếu thu vào (riêng cho mỗi loại biên bản);

    – Số phiếu hợp lệ (riêng cho mỗi loại biên bản);

    – Số phiếu không hợp lệ (riêng cho mỗi loại biên bản);

    – Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử (riêng cho mỗi loại biên bản);

    – Những khiếu nại, tố cáo nhận được; những khiếu nại, tố cáo đã giải quyết và kết quả giải quyết (riêng cho mỗi loại biên bản);

    – Những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ban bầu cử (với từng loại việc bầu cử cụ thể).

    Biên bản được lập thành ba bản, có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký Tổ bầu cử và hai cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu. Biên bản được gửi đến Ban bầu cử tương ứng và Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã chậm nhất là 03 ngày sau ngày bầu cử.

    Câu 145: Biên bản xác định kết quả bầu cử của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội ở đơn vị bầu cử gồm những nội dung gì?

    Trả lời:

    Sau khi nhận, kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử và tình hình tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

    Biên bản xác định kết quả bầu cử có các nội dung:

    – Số lượng đại biểu Quốc hội được ấn định cho đơn vị bầu cử;

    – Số lượng người ứng cử;

    – Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    – Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    – Số phiếu phát ra;

    – Số phiếu thu vào;

    – Số phiếu hợp lệ;

    – Số phiếu không hợp lệ;

    – Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

    – Danh sách những người trúng cử;

    – Những khiếu nại, tố cáo do các Tổ bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do Ban bầu cử giải quyết;

    – Những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia.

    Biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử được lập thành 03 bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng Ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chậm nhất là 05 ngày sau ngày bầu cử.

    Câu 146: Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm những nội dung gì?

    Trả lời:

    Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm những nội dung:

    a) Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được ấn định cho đơn vị bầu cử;

    b) Số lượng người ứng cử;

    c) Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    d) Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    đ) Số phiếu phát ra;

    e) Số phiếu thu vào;

    g) Số phiếu hợp lệ;

    h) Số phiếu không hợp lệ;

    i) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

    k) Danh sách những người trúng cử;

    l) Những khiếu nại, tố cáo do các Tổ bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do Ban bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia.

    Câu 147: Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm những nội dung gì?

    Trả lời:

    Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm những nội dung:

    a) Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện được ấn định cho đơn vị bầu cử;

    b) Số lượng người ứng cử;

    c) Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    d) Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    đ) Số phiếu phát ra;

    e) Số phiếu thu vào;

    g) Số phiếu hợp lệ;

    h) Số phiếu không hợp lệ;

    i) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

    k) Danh sách những người trúng cử;

    l) Những khiếu nại, tố cáo do các Tổ bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do Ban bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ủy ban bầu cử.

    Câu 148: Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã gồm những nội dung gì?

    Trả lời:

    Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã của Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã gồm những nội dung:

    a) Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được ấn định cho đơn vị bầu cử;

    b) Số lượng người ứng cử;

    c) Tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    d) Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị bầu cử;

    đ) Số phiếu phát ra;

    e) Số phiếu thu vào;

    g) Số phiếu hợp lệ;

    h) Số phiếu không hợp lệ;

    i) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

    k) Danh sách những người trúng cử;

    l) Những khiếu nại, tố cáo do các Tổ bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do Ban bầu cử giải quyết; những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ủy ban bầu cử.

    Câu 149: Nguyên tắc xác định người trúng cử được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Nguyên tắc xác định người trúng cử được xác định:

    1. Kết quả bầu cử được tính trên số phiếu bầu hợp lệ và chỉ được công nhận khi đã có quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri tại đơn vị bầu cử tham gia bầu cử, trừ trường hợp bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai.

     2. Người trúng cử phải là người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ.

    3. Trường hợp số người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ nhiều hơn số lượng đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu thì những người trúng cử là những người có số phiếu bầu cao hơn.

    4. Trường hợp cuối danh sách trúng cử có nhiều người được số phiếu bầu bằng nhau và nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.

    Câu 150: Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm những nội dung gì?

    Trả lời:

    Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của các Ban bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ủy ban bầu cử ở tỉnh lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương.

    Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của Ủy ban bầu cử cấp tỉnh gồm các nội dung sau đây:

    a) Số lượng đơn vị bầu cử;

    b) Số lượng người ứng cử;

    c) Tổng số cử tri của địa phương;

    d) Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của địa phương;

    đ) Số phiếu hợp lệ;

    e) Số phiếu không hợp lệ;

    g) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

    h) Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử;

    i) Những khiếu nại, tố cáo do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết;

    k) Những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết;

    l) Những khiếu nại, tố cáo do Ủy ban bầu cử ở tỉnh đã giải quyết;

    m) Những khiếu nại, tố cáo và kiến nghị chuyển đến Hội đồng bầu cử quốc gia.

    Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được lập thành bốn bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chậm nhất là 7 ngày sau ngày bầu cử.

    Câu 151: Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm những nội dung gì?

    Trả lời:

    Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ủy ban bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà mình chịu trách nhiệm tổ chức.

    Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có các nội dung sau đây:

    a) Tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của đơn vị hành chính;

    b) Tổng số người ứng cử;

    c) Tổng số cử tri của đơn vị hành chính;

    d) Tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị hành chính;

    đ) Số phiếu hợp lệ;

    e) Số phiếu không hợp lệ;

    g) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

    h) Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử;

    i) Những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết;

    k) Những khiếu nại, tố cáo do Ủy ban bầu cử đã giải quyết.

    Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được lập thành sáu bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã được gửi đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Câu 152: Việc công bố kết quả bầu cử, danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được tiến hành như thế nào?

    Trả lời:

    Ủy ban bầu cử cấp tỉnh căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử.

    Ủy ban bầu cử cấp huyện căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử.

    Ủy ban bầu cử cấp xã căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử.

    Câu 153: Thời hạn giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội phải được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội. Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được gửi đến Ủy ban bầu cử chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Hội đồng bầu cử quốc gia có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Ủy ban bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

    Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng.

    Câu 154: Sau khi kiểm phiếu xong, biên bản kiểm phiếu, phiếu bầu cử và các phương tiện khác được giao cho cơ quan nào?

    Trả lời:

    Sau khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải làm biên bản kết quả kiểm phiếu. Biên bản kiểm phiếu phải được lập thành 3 bản, có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký và hai cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu. Biên bản kiểm phiếu được gửi đến Ban bầu cử và Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn chậm nhất là ba ngày sau ngày bầu cử.

    Tổ bầu cử giao biên bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Cụ thể là, sau khi Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử trong cả nước thì Tổ bầu cử có trách nhiệm giao toàn bộ phiếu bầu, con dấu của Tổ bầu cử, hòm phiếu và các phương tiện, tài liệu khác có liên quan đến bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để lưu trữ, bảo quản theo quy định của pháp luật.

    Câu 155: Thẻ cử tri sau khi công dân đã bỏ phiếu xong thì xử lý như thế nào?

    Trả lời:

    Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào Thẻ cử tri. Cử tri được quyền giữ Thẻ cử tri của mình.

    *

    *            *

    (Theo sách “Hỏi – Đáp về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021” do Hội đồng bầu cử quốc gia biên soạn để phục vụ cuộc bầu cử / Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật năm 2016).

  • Hỏi đáp về Bầu cử- Phần 5

    Hỏi đáp về Bầu cử- Phần 5

    Câu 111. Việc tổ chức hiệp thương, giới thiệu người ứng cử gồm những bước, công đoạn nào?

    Trả lời:

    Tổ chức hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là một giai đoạn hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức bầu cử. Việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử được tiến hành thông qua 05 bước cụ thể như sau:

    Bước 1: Tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ nhất.

    Bước 2: Tổ chức giới thiệu người của cơ quan, tổ chức, đơn vị, người của các đơn vị hành chính cấp dưới, của thôn, tổ dân phố để đưa vào danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

    Bước 3: Tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Bước 4: Lấy ý kiến cử tri ở nơi cư trú, nơi công tác đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Bước 5: Tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Câu 112: Hội nghị hiệp thương là gì? Do cơ quan, tổ chức nào triệu tập và chủ trì?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương là hội nghị giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức thành viên được tiến hành ở trung ương và địa phương để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cũng như việc lập danh sách sơ bộ và lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

    Hội nghị hiệp thương ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triệu tập và chủ trì.

    Hội nghị hiệp thương ở địa phương do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở mỗi cấp triệu tập và chủ trì để thực hiện công việc của hội nghị hiệp thương ở cấp mình.

    Để bảo đảm dân chủ và lựa chọn được những người tiêu biểu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, hội nghị hiệp thương sẽ được tiến hành ba lần: hội nghị hiệp thương lần thứ nhất; hội nghị hiệp thương lần thứ hai; hội nghị hiệp thương lần thứ ba.

    Câu 113: Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành hội nghị?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương được tổ chức chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Thành phần hội nghị gồm: Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận.

    Đại diện Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ được mời tham dự hội nghị.

    Những nội dung chủ yếu của hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương gồm:

    – Nghe giới thiệu Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

    – Nghe giới thiệu dự kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân ở cấp tổ chức hội nghị hiệp thương.

    – Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình bày dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng người của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu.

    Số lượng người được dự kiến giới thiệu ứng cử phải nhiều đủ để qua các bước lựa chọn đến hội nghị hiệp thương lần thứ ba bảo đảm số dư người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử ít nhất phải là 02 người.

    Trên cơ sở số lượng người dân tộc thiểu số, số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến phân bổ cho các tỉnh, thành phố, việc dự kiến giới thiệu số lượng người dân tộc thiểu số, phụ nữ ứng cử ở các tỉnh, thành phố được phân bổ phải nhiều đủ để qua các bước lựa chọn đến hội nghị hiệp thương lần thứ ba bảo đảm có 18% tổng số người trong danh sách chính thức người ứng cử đại biểu Quốc hội là dân tộc thiểu số và có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.

    Hội nghị thảo luận để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.

    – Biên bản hội nghị ghi rõ nội dung hội nghị, thành phần hội nghị, tổng số người được triệu tập, số người có mặt, diễn biến và thỏa thuận cuối cùng của hội nghị.

    – Biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở cấp trung ương được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử quốc gia và Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Câu 114: Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho người ứng cử đại biểu Quốc hội được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành hội nghị?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội được tổ chức chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử.

    Thành phần hội nghị gồm: Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện trực thuộc.

     Đại diện Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được mời tham dự hội nghị này.

    Nội dung hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng tương tự như nội dung hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở trung ương.

    Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh.

    Câu 115: Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất về cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội như thế nào?

    Trả lời:

    Sau khi có kết quả hiệp thương lần thứ nhất về thỏa thuận cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi đến, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất về cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội. Mục đích của việc điều chỉnh là nhằm bảo đảm cơ cấu, thành phần, số lượng chung của đại biểu Quốc hội cũng như phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Lần điều chỉnh này là cơ sở cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị tiến hành giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Câu 116: Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương cho người ứng cử đại biểu Quốc hội được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành hội nghị?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương được tổ chức chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử.

    Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triệu tập và chủ trì hội nghị. Thành phần triệu tập và mời dự cũng như thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ nhất.

    Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương là để thỏa thuận, lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú. Hội nghị gồm những nội dung sau:

    – Căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội; việc điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị; căn cứ vào sự thỏa thuận tại hội nghị hiệp thương lần thứ nhất và các biên bản của các cơ quan, tổ chức, đơn vị gửi đến, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo tình hình giới thiệu người ứng cử của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc đối với người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội để hội nghị thỏa thuận về việc lập danh sách sơ bộ những người ứng cử.

    – Bàn kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người trong danh sách sơ bộ những người ứng cử.

    – Biên bản hội nghị ghi rõ thành phần, số lượng người được triệu tập, số người có mặt, diễn biến và thỏa thuận cuối cùng của hội nghị.

    – Ngay sau hội nghị hiệp thương lần thứ hai, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi biên bản và danh sách những người ứng cử đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Câu 117: Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho người ứng cử đại biểu Quốc hội được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành hội nghị?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được tổ chức chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử.

    Thành phần hội nghị, cơ quan triệu tập, chủ trì cũng như hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Nội dung hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ khoản 2 và khoản 3, Điều 44 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ hai căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú; đối với người tự ứng cử thì còn được gửi lấy ý kiến cử tri nơi người đó công tác (nếu có).

    Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị và được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử ở tỉnh.

    Câu 118: Hội nghị cử tri nơi công tác đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành như thế nào?

    Trả lời:

    1. Việc tổ chức hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc để lấy ý kiến đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (gồm người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) được tổ chức ở nơi người ứng cử công tác hoặc làm việc (nếu có). Trường hợp người ứng cử có nhiều nơi công tác hoặc nơi làm việc thì tổ chức lấy ý kiến của cử tri nơi người đó công tác hoặc làm việc thường xuyên.

    2. Thẩm quyền chủ trì và triệu tập hội nghị cử tri nơi công tác được thực hiện như sau:

    a) Người ứng cử đại biểu Quốc hội công tác chuyên trách tại cơ quan Đảng các cấp thì ban lãnh đạo cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác chuyên trách tại cơ quan Đảng các cấp thì người đứng đầu cơ quan phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị;

    b) Người ứng cử đại biểu Quốc hội đang công tác tại các cơ quan của Quốc hội, của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương thì tổ chức lấy ý kiến cử tri tại Văn phòng Quốc hội, Văn phòng
    Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân hoặc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội (ở những nơi đã có Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội). Người đứng đầu cơ quan phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đang công tác tại Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thì tổ chức lấy ý kiến cử tri tại Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân hoặc Văn phòng Hội đồng nhân dân (ở những nơi đã có Văn phòng Hội đồng nhân dân); đang công tác tại Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện thì tổ chức lấy ý kiến cử tri tại Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Người đứng đầu cơ quan phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội đang là Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ thì tổ chức lấy ý kiến cử tri tại Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ; người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đang là Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thì tổ chức lấy ý kiến cử tri tại Văn phòng Ủy ban nhân dân cùng cấp. Người đứng đầu cơ quan phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân công tác tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Kiểm toán nhà nước, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và các cơ quan khác của Nhà nước thì người đứng đầu cơ quan phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn triệu tập và chủ trì hội nghị;

    c) Người ứng cử đại biểu Quốc hội công tác tại cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp các cấp thì ban lãnh đạo của tổ chức triệu tập và chủ trì hội nghị.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác tại cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp các cấp thì người đứng đầu tổ chức phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn triệu tập và chủ trì hội nghị;

    d) Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức kinh tế thì người đứng đầu đơn vị phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn triệu tập và chủ trì hội nghị;

    đ) Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân công tác tại Đảng ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội cấp xã thì tổ chức hội nghị liên tịch giữa Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội cấp xã do người đứng đầu cấp ủy triệu tập và chủ trì hội nghị;

    e) Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các đơn vị vũ trang nhân dân thì do lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì hội nghị;

    g) Trường hợp nơi công tác hoặc nơi làm việc của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chưa có tổ chức Công đoàn thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị triệu tập và chủ trì hội nghị. Trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì cấp phó của cơ quan, tổ chức, đơn vị triệu tập và chủ trì hội nghị.

    3. Số lượng cử tri tham dự hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc để lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ở những nơi có dưới một trăm cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm ít nhất là hai phần ba tổng số cử tri tham dự.

    Nơi có từ một trăm cử tri trở lên thì có thể tổ chức hội nghị đại diện cử tri nhưng phải bảo đảm ít nhất là bảy mươi cử tri tham dự. Tùy đặc điểm, tình hình thực tế của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Ban chấp hành Công đoàn phối hợp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phân bổ số lượng người để các tổ chức công đoàn trực thuộc cử đại diện tham dự; trường hợp không có tổ chức Công đoàn thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phân bổ số lượng người để các đơn vị trực thuộc cử đại diện tham dự.

    4. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được mời tham dự hội nghị.  

    Câu 119: Hội nghị cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành như thế nào?

    Trả lời:

    1. Việc lấy ý kiến của hội nghị cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (gồm người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) được tổ chức ở nơi người ứng cử cư trú thường xuyên tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố) không phân biệt có hộ khẩu thường trú hay tạm trú dài hạn.

    2. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì hội nghị.

    Thành phần dự hội nghị do Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để mời cử tri đến dự.

    3. Số lượng cử tri tham dự hội nghị cử tri nơi cư trú để lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nơi có dưới một trăm cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm trên 50% số cử tri tham dự. Nơi có từ một trăm cử tri trở lên thì phải bảo đảm ít nhất là năm mươi lăm cử tri tham dự.

    4. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân phố đã giới thiệu người ứng cử được mời tham dự hội nghị.

    Câu 120: Nội dung và biên bản của hội nghị cử tri lấy ý kiến nhận xét về người ứng cử gồm những gì, được gửi đi những cơ quan nào?

    Trả lời:

    1. Tại hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc và nơi cư trú, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử.

    2. Biên bản hội nghị cử tri phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị; trong đó, phải ghi rõ tổng số cử tri được triệu tập, số cử tri có mặt, ý kiến phát biểu và sự tín nhiệm của cử tri đối với từng người ứng cử. Việc gửi biên bản được quy định như sau:

    a) Biên bản hội nghị cử tri nơi công tác lấy ý kiến nhận xét về người được cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương dự kiến giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội phải được gửi cùng biên bản hội nghị ban lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận xét về người được giới thiệu ứng cử đến Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước khi hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức;

    b) Biên bản hội nghị cử tri nơi công tác lấy ý kiến nhận xét về người được cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương dự kiến giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội phải được gửi cùng biên bản hội nghị ban lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận xét về người được giới thiệu ứng cử đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trước khi hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức;

    c) Biên bản hội nghị cử tri nơi công tác lấy ý kiến về người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được gửi cùng biên bản hội nghị ban lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó công tác nhận xét về người được giới thiệu ứng cử đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương trước khi hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức;

    d) Biên bản hội nghị cử tri nơi cư trú lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội được cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương giới thiệu phải được gửi đến Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội được cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương giới thiệu phải được gửi đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh ngay sau khi kết thúc hội nghị cử tri;

    đ) Biên bản hội nghị cử tri lấy ý kiến về người tự ứng cử đại biểu Quốc hội phải được gửi đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh ngay sau khi kết thúc hội nghị cử tri;

    e) Biên bản hội nghị cử tri lấy ý kiến về người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, biên bản hội nghị cử tri nơi cư trú lấy ý kiến về người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được gửi đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương ngay sau khi kết thúc hội nghị cử tri.

    Câu 121: Thủ tục tổ chức hội nghị cử tri được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    1. Người chủ trì hội nghị tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu dự hội nghị. Người chủ trì có trách nhiệm sau đây:

    a) Giới thiệu về mục đích, yêu cầu của hội nghị;

    b) Giới thiệu Thư ký hội nghị để hội nghị quyết định;

    c) Báo cáo về số cử tri được mời, số cử tri có mặt;

    d) Giới thiệu danh sách người ứng cử;

    đ) Đọc tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 22 của Luật tổ chức Quốc hội (đối với hội nghị cử tri lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Quốc hội), tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Điều 7 của Luật tổ chức chính quyền địa phương (đối với hội nghị cử tri lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân) và những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Điều 37 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

    2. Thư ký hội nghị đọc tiểu sử tóm tắt của từng người ứng cử.

    3. Cử tri phát biểu ý kiến đối với từng người ứng cử.

    4. Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử phát biểu ý kiến.

    5. Hội nghị biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. Hội nghị cử Tổ kiểm phiếu từ ba đến năm người.

    Trường hợp hội nghị biểu quyết bằng hình thức giơ tay thì Tổ kiểm phiếu đếm, tính kết quả biểu quyết đối với từng người.  

    Trường hợp hội nghị biểu quyết bằng bỏ phiếu kín, thì phiếu tín nhiệm của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc phải có dấu của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc Ban chấp hành Công đoàn của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó. Phiếu tín nhiệm của cử tri nơi cư trú phải có dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã hoặc của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Trên phiếu tín nhiệm ghi rõ họ và tên người ứng cử. Nếu có nhiều người ứng cử thì ghi rõ họ và tên của những người ứng cử, xếp theo vần chữ cái A, B, C… Cử tri gạch tên người ứng cử mà mình không tín nhiệm và bỏ vào hòm phiếu.

    6. Tổ trưởng Tổ kiểm phiếu công bố kết quả biểu quyết.

    7. Hội nghị thông qua biên bản hội nghị cử tri (theo mẫu số 01 hoặc mẫu số 02/BC ĐBQH, ĐBHĐND-UBTVQH).

    Câu 122: Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương như thế nào?

    Trả lời:

    Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm điều chỉnh lần thứ hai về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương.

    Việc điều chỉnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội được tiến hành như sau:

    Sau khi nhận được biên bản của hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở trung ương và địa phương về danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gửi đến và căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ hai, chậm nhất là 55 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Câu 123: Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương cho người ứng cử đại biểu Quốc hội được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành hội nghị?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương do Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử để lựa chọn và lập danh sách chính thức những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Thành phần tham gia hội nghị lần này cũng như ở hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, lần thứ hai.

    Trình tự và nội dung hội nghị này như sau:

    – Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo tình hình và kết quả tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử, tình hình lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc, trong đó cần nêu trường hợp người ứng cử không được sự tín nhiệm của cử tri và những trường hợp cần xem xét do có vụ việc cử tri nêu.

    – Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam báo cáo dự kiến danh sách người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội để hội nghị thảo luận, lựa chọn và thỏa thuận lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Trong trường hợp không thỏa thuận được thì hội nghị biểu quyết bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do hội nghị quyết định.

    – Hội nghị thông qua biên bản và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

    – Chậm nhất là ngày 22 tháng 4 năm 2016, Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Câu 124: Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho người ứng cử đại biểu Quốc hội được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Thành phần tham gia hội nghị lần thứ ba này cũng giống như ở hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, lần thứ hai ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Trình tự và nội dung hội nghị này cũng như hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở trung ương. Căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị và được Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi cùng danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử ở tỉnh.

    Câu 125: Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Hội nghị hội nghị hiệp thương lần thứ nhất đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử.

    Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ nhất: gồm Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đại diện Ủy ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp được mời tham dự hội nghị này.

    Nội dung và cách thức tiến hành hội nghị

    – Nghe giới thiệu về một số nội dung chủ yếu và những điểm mới trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và những quy định có liên quan trong Luật tổ chức chính quyền địa phương.

    – Nghe đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình bày dự kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp về cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử của tổ chức chính trị, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước cùng cấp, đơn vị hành chính cấp dưới, hoặc thôn, tổ dân phố (đối với hội nghị hiệp thương ở cấp xã).

    – Việc dự kiến số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở từng cấp phải nhiều hơn đủ để lựa chọn, đến hội nghị hiệp thương lần thứ ba số người ứng cử ở mỗi đơn vị được bầu 03 đại biểu thì ít nhất để dư 02 người, ở mỗi đơn vị được bầu 04 đại biểu trở lên thì ít nhất để dư 03 người.

    – Trên cơ sở số lượng người dân tộc thiểu số, số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân do Thường trực Hội đồng nhân dân từng cấp dự kiến phân bổ cho cấp mình, việc dự kiến giới thiệu số lượng người dân tộc thiểu số, số lượng phụ nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở từng cấp phải nhiều hơn đủ để đến hội nghị hiệp thương lần thứ ba bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở từng cấp là phụ nữ; bảo đảm số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số nhiều hơn so với số lượng được xác định cụ thể của từng địa phương trong danh sách chính thức người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở từng cấp.

    Nếu hội nghị không thỏa thuận được vấn đề nào đó, thì biểu quyết bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do hội nghị quyết định. Chỉ các đại biểu thuộc thành phần hiệp thương có mặt tại hội nghị mới được quyền biểu quyết. Nếu hội nghị quyết định bằng cách bỏ phiếu kín thì cử tổ kiểm phiếu từ ba đến năm người. Phiếu bầu phải có dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương.

    – Hội nghị thông qua biên bản.

    Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp huyện, cấp xã được gửi ngay đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Đối với những huyện, quận không tổ chức Hội đồng nhân dân, biên bản hội nghị hiệp thương được gửi ngay đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trực tiếp và Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Đối với những phường không tổ chức Hội đồng nhân dân, biên bản hội nghị hiệp thương được gửi ngay đến Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện trực tiếp và Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Câu 126: Nội dung, trình tự dự kiến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Trưởng ban công tác Mặt trận họp với Bí thư chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố dự kiến người của thôn, tổ dân phố ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã theo thông báo của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã về việc phân bổ số lượng và cơ cấu thành phần.

    Trưởng ban công tác Mặt trận triệu tập và chủ trì hội nghị gồm toàn bộ các thành viên của Ban công tác Mặt trận để thảo luận, dự kiến người ứng cử và cử thư ký hội nghị. Thủ tục tổ chức hội nghị được thực hiện như sau:

    – Trưởng ban công tác Mặt trận giới thiệu mục đích, yêu cầu hội nghị và đọc thông báo của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã về việc phân bổ số lượng, cơ cấu, thành phần người của thôn, tổ dân phố được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã; tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Điều 7 của Luật tổ chức chính quyền địa phương và những trường hợp không được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Điều 37 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân;

    – Trưởng ban công tác Mặt trận nêu dự kiến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã;

    – Hội nghị thảo luận và nhận xét về người được dự kiến giới thiệu ứng cử;

    – Trưởng ban công tác Mặt trận kết luận ý kiến của hội nghị nhận xét người được dự kiến ứng cử;

    – Hội nghị thông qua biên bản hội nghị (theo mẫu số 03/BC ĐBHĐND-UBTVQH).

    Câu 127: Quy định cụ thể về việc tổ chức hội nghị cử tri giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố gửi giấy mời tham dự hội nghị cử tri giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố.

    Thành phần mời dự hội nghị gồm:

    – Cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình;

    Số lượng cử tri tham dự hội nghị giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nơi có dưới một trăm cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm trên 50% số cử tri tham dự. Nơi có từ một trăm cử tri trở lên thì phải bảo đảm ít nhất là 55 cử tri tham dự;

    – Toàn thể thành viên Ban công tác Mặt trận;

    – Trưởng thôn, Phó trưởng thôn hoặc Tổ trưởng, Tổ phó tổ dân phố;

    – Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; đối với phường thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân thì mời đại diện Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường.

    Thủ tục tổ chức hội nghị cử tri lấy ý kiến về người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện như sau:

    – Trưởng ban hoặc Phó trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì hội nghị cử tri, tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu dự hội nghị; giới thiệu mục đích, yêu cầu của hội nghị; giới thiệu Thư ký hội nghị để hội nghị quyết định;

    – Người chủ trì hội nghị đọc thông báo của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã về việc phân bổ số lượng và cơ cấu thành phần người của thôn, tổ dân phố được giới thiệu ứng cử; đọc tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Điều 7 của Luật tổ chức chính quyền địa phương và những trường hợp không được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Điều 37 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân;

    – Đại diện Ban công tác Mặt trận đọc danh sách do Ban công tác Mặt trận dự kiến những người của thôn, tổ dân phố để giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Cử tri có thể giới thiệu thêm người ứng cử để Hội nghị xem xét;

    – Hội nghị thảo luận về những người được giới thiệu ứng cử;

    – Hội nghị quyết định danh sách chính thức những người được giới thiệu ứng cử của thôn, tổ dân phố bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. Hội nghị cử Tổ kiểm phiếu từ ba đến năm người.

    Trường hợp hội nghị biểu quyết bằng hình thức giơ tay thì Tổ kiểm phiếu đếm, tính kết quả biểu quyết đối với từng người.

    Trường hợp hội nghị biểu quyết bằng bỏ phiếu kín, thì phiếu tín nhiệm của cử tri phải đóng dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã hoặc dấu của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Trên phiếu tín nhiệm ghi rõ họ và tên của những người được hội nghị cử tri dự kiến giới thiệu ứng cử. Nếu có nhiều người ứng cử thì ghi rõ họ và tên của những người ứng cử, xếp theo vần chữ cái A, B, C… Cử tri gạch tên người ứng cử mà mình không tín nhiệm và bỏ vào hòm phiếu.

    Người được giới thiệu ứng cử là người được trên 50% cử tri có mặt tín nhiệm;

    – Tổ trưởng Tổ kiểm phiếu công bố kết quả biểu quyết;

    – Hội nghị thông qua biên bản hội nghị (theo mẫu số 04/BC ĐBHĐND-UBTVQH).                          

    Câu 128: Hội nghị hiệp thương lần thứ hai cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành hội nghị được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở mỗi cấp do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử.

    Thành phần hội nghị như thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ nhất.

    Nội dung, trình tự, thủ tục của hội nghị như sau:

    – Căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân; việc điều chỉnh lần thứ nhất của Thường trực Hội đồng nhân dân về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị; căn cứ vào sự thỏa thuận tại hội nghị hiệp thương lần thứ nhất và các biên bản giới thiệu người ứng cử của các cơ quan, tổ chức, đơn vị gửi đến, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hiệp thương báo cáo tình hình giới thiệu người ứng cử của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và thôn, tổ dân phố (đối với cấp xã), tình hình người tự ứng cử; ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc đối với người được giới thiệu ứng cử để hội nghị thỏa thuận về việc lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân để gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người tự ứng cử, người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử và lấy ý kiến cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc của người tự ứng cử (nếu có), người được thôn, tổ dân phố giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

    – Hội nghị bàn kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người tự ứng cử, người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử và lấy ý kiến cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc của người tự ứng cử (nếu có), người được thôn, tổ dân phố giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

    – Hội nghị thông qua biên bản và danh sách những người ứng cử.

    – Ngay sau hội nghị hiệp thương lần thứ hai, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi biên bản và danh sách những người ứng cử đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp; Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã gửi biên bản và danh sách những người ứng cử đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Đối với những huyện, quận không tổ chức Hội đồng nhân dân, biên bản hội nghị hiệp thương được gửi ngay đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trực tiếp và Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Đối với những phường không tổ chức Hội đồng nhân dân, biên bản hội nghị hiệp thương được gửi ngay đến Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện trực tiếp và Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    – Ngay sau hội nghị hiệp thương lần thứ hai, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh họp với người phụ trách công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có người ứng cử; với đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, với Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử cư trú thường xuyên để hướng dẫn kế hoạch tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú và nơi công tác hoặc nơi làm việc (nếu có) đối với người tự ứng cử.

    Đối với cấp huyện và cấp xã, nội dung, thủ tục tiến hành tương tự như ở cấp tỉnh. Về thành phần họp, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện họp với đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã họp với các Trưởng ban công tác Mặt trận.

    Câu 129: Hội nghị hiệp thương lần thứ ba cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được tổ chức khi nào? Thành phần, nội dung và cách thức tiến hành Hội nghị được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Hội nghị hiệp thương lần thứ ba ở mỗi cấp do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử.

    Thành phần hội nghị như thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ nhất, lần thứ hai.

    Nội dung, trình tự, thủ tục của hội nghị như sau:

    – Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hiệp thương báo cáo tình hình và kết quả tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử, kết hợp nêu tình hình lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc, trong đó cần nêu trường hợp người ứng cử không được sự tín nhiệm của cử tri và trường hợp cần xem xét do có vụ việc cử tri nêu.

    – Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hiệp thương báo cáo dự kiến danh sách người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân để hội nghị thảo luận, lựa chọn và thỏa thuận lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Trong trường hợp không thỏa thuận được thì hội nghị biểu quyết bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do hội nghị quyết định.

    – Hội nghị thông qua biên bản và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    – Chậm nhất là ngày 22 tháng 4 năm 2016, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp; Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã gửi Biên bản Hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Đối với những huyện, quận không tổ chức Hội đồng nhân dân, biên bản Hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được gửi ngay đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trực tiếp và Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Đối với những phường không tổ chức Hội đồng nhân dân, biên bản Hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được gửi ngay đến Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện trực tiếp và Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Câu 130: Việc điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.

    Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị, thôn, tổ dân phố ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.

    *

    *            *

    (Theo sách “Hỏi – Đáp về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021” do Hội đồng bầu cử quốc gia biên soạn để phục vụ cuộc bầu cử / Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật năm 2016).

  • Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 4

    Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 4

    Câu 92: Thế nào là người được giới thiệu ứng cử và thế nào là người tự ứng cử?

    Trả lời:

    Người được giới thiệu ứng cử là người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan nhà nước ở trung ương hoặc địa phương giới thiệu để được xem xét đưa vào danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Người tự ứng cử là người có đủ điều kiện ứng cử đại biểu Quốc hội, hay đủ điều kiện ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức chính quyền địa phương và xét thấy mình có đủ tiêu chuẩn, trình độ, năng lực, có nguyện vọng ứng cử thì nộp hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (nếu tự ứng cử đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh); tại Ủy ban bầu cử cấp huyện (nếu tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện); tại Ủy ban bầu cử ở cấp xã (nếu tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã).

    Câu 93: Những người nào không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân?

    Trả lời:

    Những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân gồm có:

    – Người chưa đủ 21 tuổi.

    – Người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự.

    – Người đang bị khởi tố bị can.

    – Người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án.

    – Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án tích.

    – Người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

    Câu 94: Một người có thể đồng thời ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được không?

    Trả lời:

    Công dân chỉ được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân tối đa ở hai cấp trong cùng một nhiệm kỳ; nếu nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân ở một cấp. Như vậy, một người đủ điều kiện ứng cử có thể đồng thời nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp nữa.

    Câu 95: Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân gồm những gì?

    Trả lời:

    Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân gồm có:

    – Đơn ứng cử;

    – Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền;

    – Tiểu sử tóm tắt;

    – Ba ảnh chân dung màu cỡ 4cm x 6cm;

    – Bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

    Mẫu các văn bản, giấy tờ nói trên được thực hiện theo hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia.

    Câu 96: Thời hạn nộp hồ sơ ứng cử là khi nào?

    Trả lời:

    Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (cả với người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) phải nộp hồ sơ ứng cử.

    Câu 97: Việc tiếp nhận hồ sơ ứng cử được thực hiện như thế nào?

    Trả lời:

    1. Đối với hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội:

    Hội đồng bầu cử quốc gia có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ ứng cử của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội (mỗi người nộp 2 bộ hồ sơ).

    Ủy ban bầu cử ở tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ ứng cử của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế ở địa phương giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử đại biểu Quốc hội.

    Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người ứng cử, nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng bầu cử quốc gia chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đến Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ủy ban bầu cử ở tỉnh chuyển hồ sơ ứng cử của người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương đến Hội đồng bầu cử quốc gia; chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới thiệu ứng cử, người tự ứng cử tại địa phương đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh để đưa vào danh sách hiệp thương.

    2. Đối với hồ sơ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân nộp một bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở đơn vị hành chính mà mình ứng cử. Người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của địa phương nào thì phải là người đang cư trú hoặc công tác thường xuyên ở địa phương đó.

    Sau khi nhận và xem xét hồ sơ của những người tự ứng cử, người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu thấy hợp lệ theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thì Ủy ban bầu cử chuyển danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của những người ứng cử đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để đưa vào danh sách hiệp thương.

    Câu 98: Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền lập danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử?

    Trả lời:

    1. Về thẩm quyền lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội:

    – Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia biên bản hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội.

    – Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương.

    2. Về thẩm quyền lập danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

    Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp; Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã phải gửi biên bản hội nghị hiệp thương lần thứ ba và danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử cùng cấp.

    Câu 99: Thời hạn gửi, lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    1. Thời hạn gửi, lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội:

    – Căn cứ vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử quốc gia gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh danh sách và hồ sơ những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương.

    – Hội đồng bầu cử quốc gia lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách do Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử ở tỉnh gửi đến chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử.

    2. Thời hạn gửi, lập và công bố danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân:

    Chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử phải lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử.

    Câu 100: Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân gồm những thông tin gì?

    Trả lời:

    Danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải ghi rõ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo từng đơn vị bầu cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C…

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử ở một đơn vị bầu cử.

    Câu 101: Số người ứng cử ở đơn vị bầu cử được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở đơn vị bầu cử đó ít nhất là hai người. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì do Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.

    Số người trong danh sách ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử đó; nếu đơn vị bầu cử được bầu ba đại biểu thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu ít nhất là hai người; nếu đơn vị bầu cử được bầu từ bốn đại biểu trở lên thì số người trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu ít nhất là ba người. Hội đồng bầu cử quốc gia hướng dẫn đối với trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng.

    Câu 102: Khi lập danh sách những người ứng cử, cơ quan, tổ chức, đơn vị nào có trách nhiệm xác minh, trả lời các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử?

    Trả lời:

    Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xác minh, trả lời các vụ việc mà cử tri nêu lên đối với người ứng cử được phân loại thành ba nhóm theo sự việc và theo đối tượng. Cụ thể như sau:

    1. Đối với vụ việc ở nơi công tác:

    Cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người ứng cử có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tùy theo người ứng cử đại biểu Quốc hội hay ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.

    Trường hợp người ứng cử là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xác minh và trả lời. Nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị không có cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ quan, tổ chức, đơn vị đó có trách nhiệm xác minh và trả lời.

    2. Đối với vụ việc ở khu dân cư:

    Cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện hay cấp xã.

    3. Đối với người tự ứng cử:

    Ủy ban bầu cử phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý người tự ứng cử hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, huyện, xã mà người tự ứng cử đã nộp hồ sơ ứng cử.

    Câu 103: Các khiếu nại, tố cáo về người ứng cử và các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử được thực hiện như thế nào?

    Trả lời:

    Công dân có quyền tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử. Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị được thực hiện như sau:

    – Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng bầu cử quốc gia. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia là quyết định cuối cùng;

    – Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào thì được gửi tới Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Quyết định của Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng;

    – Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia phải ghi vào sổ và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị nhận được theo thẩm quyền.

    Câu 104: Thời hạn tạm ngừng việc xem xét khiếu nại, tố cáo, kiến nghị đối với người ứng cử được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử.

    Trong trường hợp những khiếu nại, tố cáo đã rõ ràng, có đủ cơ sở kết luận người ứng cử không đáp ứng đủ tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì Hội đồng bầu cử quốc gia (đối với bầu cử đại biểu Quốc hội) hoặc Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng (đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) quyết định xóa tên người đó trong danh sách chính thức những người ứng cử trước ngày bầu cử và thông báo cho cử tri biết.

    Câu 105: Vận động bầu cử là gì và phải bảo đảm những yêu cầu gì?

    Trả lời:

    Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Việc tổ chức vận động bầu cử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    – Việc vận động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

    – Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử nào thì thực hiện vận động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó.

    – Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này không được vận động cho người ứng cử.

    Câu 106: Các hình thức vận động bầu cử của người ứng cử?

    Trả lời:

    Việc vận động bầu cử của người ứng cử được tiến hành bằng các hình thức sau đây:

    – Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử;

    – Thông qua phương tiện thông tin đại chúng.

    Câu 107: Hội nghị tiếp xúc cử tri trong vận động bầu cử do ai tổ chức và có những nội dung gì?

    Trả lời:

    Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân ở đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Thành phần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tại đơn vị bầu cử tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Thành phần tham dự hội nghị tiếp xúc cử tri gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cử tri ở địa phương.

    Ủy ban nhân dân nơi tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có trách nhiệm thông báo về thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị để cử tri tham dự đông đủ.

    Chương trình hội nghị tiếp xúc cử tri gồm các nội dung sau đây:

    – Tuyên bố lý do;

    – Đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri chủ trì cuộc tiếp xúc cử tri, giới thiệu và đọc tiểu sử tóm tắt của người ứng cử;

    – Từng người ứng cử báo cáo với cử tri về chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

    – Cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm;

    – Người chủ trì hội nghị phát biểu ý kiến kết thúc hội nghị.

    Sau hội nghị tiếp xúc cử tri, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri của người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương, ý kiến của cử tri về từng người ứng cử đại biểu Quốc hội gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia và Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp lập báo cáo tình hình tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri của người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương mình gửi đến Ủy ban bầu cử cùng cấp và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên trực tiếp.

    Câu 108: Việc vận động bầu cử thông qua các phương tiện thông tin đại chúng được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Người ứng cử đại biểu Quốc hội trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương nơi mình ứng cử và trên trang thông tin điện tử về bầu cử đại biểu Quốc hội của Hội đồng bầu cử quốc gia.

    Người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trình bày với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nếu được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân khi trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và trên trang thông tin điện tử về bầu cử của Ủy ban bầu cử (nếu có).

    Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quản lý trang thông tin điện tử thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc đăng tải nội dung vận động bầu cử.

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc đăng tải, thông tin chương trình hành động của người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương.

    Câu 109: Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với việc vận động bầu cử được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Hội đồng bầu cử quốc gia chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử trong phạm vi cả nước; Ủy ban bầu cử các cấp chỉ đạo thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, vận động bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo về vận động bầu cử ở địa phương.

    Các cơ quan báo chí ở trung ương có trách nhiệm đưa tin về quá trình tổ chức công tác bầu cử, tình hình vận động bầu cử trong phạm vi cả nước. Các cơ quan thông tin đại chúng của địa phương có trách nhiệm đưa tin về hội nghị tiếp xúc cử tri, trả lời phỏng vấn của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và việc vận động bầu cử ở địa phương.

    Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội. Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp trong việc tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

    Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tạo điều kiện cho người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp xúc với cử tri ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình.

    Câu 110: Trong vận động bầu cử, pháp luật cấm những hành vi nào?

    Trả lời:

    Những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử gồm:

    – Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.

    – Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.

    – Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.

    – Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.

    *

    *            *

    (Theo sách “Hỏi – Đáp về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021” do Hội đồng bầu cử quốc gia biên soạn để phục vụ cuộc bầu cử / Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật năm 2016).

  • Hội nghị tập huấn cho cán bộ Đoàn chủ chốt là ứng viên Đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 thành phố Hà Nội

    Hội nghị tập huấn cho cán bộ Đoàn chủ chốt là ứng viên Đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 thành phố Hà Nội

    Thực hiện kế hoạch số 177 của Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội về việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động hưởng ứng bầu cử Quốc hội khóa 14 và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; Nhằm trang bị các kỹ năng cần thiết trong việc xây dựng chương trình hành động và vận động bầu cử cho các ứng viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 hiện đang là cán bộ Đoàn chủ chốt của Thành phố Hà Nội. Ngày 4/5/2016 tại Hội trường T45 trường Đại học Thủy Lợi, Ban thường vụ Thành đoàn Hà Nội đã tổ chức Hội nghị tập huấn cho cán bộ chủ chốt là ứng viên Đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 toàn thành phố.

     
    Toàn cảnh Hội nghị 

    Tới dự hội nghị, về phía Trung Ương và thành phố Hà Nội có đồng chí Bùi Nguyên Súy- Phó Trưởng ban Dân nguyện Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đồng chí Nguyễn Chí Dũng- Nguyên Vụ trưởng Cố vấn Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử; về phía trường Đại học Thủy Lợi có  GS.TS Trịnh Minh Thụ- Phó hiệu trưởng nhà trường; cùng sự có mặt của hơn 700 cán bộ đoàn chủ chốt là ứng viên viên Đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp của Thành phố Hà Nội.

     

    Mở đầu, đồng chí Nguyễn Ngọc Việt- Ủy viên BCH Trung Ương Đoàn, Phó bí thư Thành Đoàn, Chủ tịch Hội Liên Hiệp Thanh niên Thành phố Hà Nội lên phát biểu khai mạc hội nghị.

    Tiếp tục hội nghị, đồng chí Bùi Nguyên Súy – Phó Trưởng ban Dân nguyện Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình bày chuyên đề xây dựng hình ảnh trước công chúng: kỹ năng trình bày trước công chúng và tiếp xuc báo chí; kỹ năng lắng nghe, đối thoại và thuyết phục cử tri. Theo ông Nguyễn Chí Dũng nguyên lãnh đạo Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử: “Đợt tập huấn này giúp các ứng viên trẻ có một tâm thế chuẩn bị về nội dung, đặc biệt về tìm hiểu nguyện vọng của cử tri tại đơn vị bầu cử. Trước tiên, các ứng viên trẻ phải biết cách làm cho cử tri biết đến họ. Các buổi tiếp xúc cử tri chỉ là một phần, điều này buộc các ứng viên trẻ phải gặp gỡ cử tri tại địa điểm bầu cử. Những ứng viên trẻ sẽ gặp bỡ ngỡ ban đầu nhưng với sức trẻ và lòng nhiệt huyết, qua đó đề cập đến những vấn đề giới trẻ quan tâm, như vậy các đại biểu trẻ chắc chắn sẽ có tiếng nói trong Quốc hội cũng như HĐND”.

     

    Đ/c Bùi Nguyên Súy – Phó Trưởng ban Dân nguyện Ủy ban Thường vụ QH trình bày chuyên đề xây dựng hình ảnh trước công chúng

    Nhằm cung cấp cho cử tri tham gia ứng cử đại biểu HĐND các cấp các kỹ năng để xây dựng chương trình hành động và vận động bầu cử thành công, đồng chí Nguyễn Chí Dũng- Nguyên Vụ trưởng Cố vấn Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử đã lên báo cáo chuyên đề về xây dựng chương trình hành động và vận động bầu cử; thực hiện vai trò người đại biểu nhân dân.

     
    Đ/c Nguyễn Chí Dũng- Nguyên Vụ trưởng Cố vấn Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử

    Thông qua hội nghị tập huấn, hơn 700 cán bộ đoàn chủ chốt của toàn thành phố Hà Nội đã nắm rõ được nhiều phương pháp và kỹ năng, nhiệm vụ… liên quan tới hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.

    Thực hiện: Bình Dương, Thanh Hằng, Sỹ Nguyên 
  • Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 3

    Hỏi đáp về Bầu cử – Phần 3

    Câu 77: Pháp luật Việt Nam quy định về cử tri như thế nào?

    Trả lời:

    Cử tri là người có quyền bầu cử. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tính đến ngày bầu cử, đủ mười tám tuổi trở lên và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về bầu cử đều có quyền bầu cử.

    Câu 78: Việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam, người được xác định có quốc tịch Việt Nam (là công dân Việt Nam) nếu có một trong những căn cứ sau đây:

    1. Cha, mẹ là công dân Việt Nam, được sinh ra ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài;

    2. Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai, được sinh ra ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài;

    3. Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, nếu cha mẹ có sự thỏa thuận bằng văn bản về việc chọn quốc tịch Việt Nam vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con;

    4. Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài mà được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con;

    5. Được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam;

    6. Được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai;

    7. Người được nhập quốc tịch Việt Nam;

    8. Người được trở lại quốc tịch Việt Nam;

    9. Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai;

    10. Trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì vẫn giữ quốc tịch Việt Nam;

    11. Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi;

    12. Người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    Khi có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của cha mẹ thì quốc tịch của con chưa thành niên sinh sống cùng với cha mẹ cũng được thay đổi theo quốc tịch của họ (nếu người con từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được sự đồng ý bằng văn bản của người con).

    Người đã có quốc tịch Việt Nam mà bị mất quốc tịch Việt Nam, được Chủ tịch nước quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, bị tước quốc tịch Việt Nam thì không còn là công dân Việt Nam.

    Câu 79: Cách tính tuổi công dân để ghi tên vào danh sách cử tri được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Cách tính tuổi công dân để được ghi tên vào danh sách cử tri như sau:

    – Tuổi để thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong Giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021 đã được ấn định (ngày 22-5-2016). Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào Sổ hộ khẩu hoặc Giấy chứng minh nhân dân để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử.

    Mỗi tuổi tròn được tính từ ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm trước đến ngày, tháng, năm sinh dương lịch của năm sau.

    – Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.

    Câu 80: Những người nào không được ghi tên vào danh sách cử tri

    Trả lời:

    Những người thuộc các trường hợp sau đây không được ghi tên vào danh sách cử tri:

    – Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

    – Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án;

    – Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo;

    – Người mất năng lực hành vi dân sự.

    Câu 81: Trường hợp nào được bổ sung vào danh sách cử tri?

    Trả lời:

    Sau khi danh sách cử tri đã được lập và niêm yết, việc bổ sung tên người vào danh sách cử tri được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

    – Trong thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những người thay đổi nơi thường trú ra ngoài đơn vị hành chính cấp xã nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi thường trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; những người chuyển đến tạm trú ở nơi khác với đơn vị hành chính cấp xã mà mình đã được ghi tên vào danh sách cử tri và có nguyện vọng tham gia bầu cử ở nơi tạm trú mới thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi tạm trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

    – Người bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự, nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng ký thường trú và được phát thẻ cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã hoặc được bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng ký tạm trú và được phát thẻ cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

    Câu 82: Trường hợp nào bị xóa tên khỏi danh sách cử tri?

    Trả lời:

    Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Tòa án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Ủy ban nhân dân cấp xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri.

    Câu 83: Việc lập danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?

    Trả lời:

    Việc lập danh sách cử tri được tiến hành như sau:

    Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri, trừ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự.

    Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú.

    Danh sách cử tri do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập theo khu vực bỏ phiếu; đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập danh sách cử tri theo từng khu vực bỏ phiếu.

    Danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng quân. Quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương gần khu vực đóng quân có thể được chỉ huy đơn vị cấp giấy chứng nhận để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi thường trú. Khi cấp giấy chứng nhận, chỉ huy đơn vị phải ghi ngay vào danh sách cử tri tại đơn vị vũ trang nhân dân bên cạnh tên người đó cụm từ “Bỏ phiếu ở nơi cư trú”.

    Cử tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân.

    Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú) hoặc bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nếu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú).

    Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

    Câu 84: Việc niêm yết danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?

    Trả lời:

    Chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách đó tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để Nhân dân kiểm tra.

    Câu 85: Cử tri thay đổi nơi cư trú sau khi niêm yết danh sách cử tri, có được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bỏ phiếu ở nơi cư trú mới hay không?

    Trả lời:

    Trong thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những người thay đổi nơi thường trú ra ngoài đơn vị hành chính cấp xã nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi thường trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; những người chuyển đến tạm trú ở nơi khác với đơn vị hành chính cấp xã mà mình đã được ghi tên vào danh sách cử tri và có nguyện vọng tham gia bầu cử ở nơi tạm trú mới thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi tạm trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

    Người đã có tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú, nhưng đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, mà bị tạm giam, tạm giữ, phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bị xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú và được bổ sung tên vào danh sách cử tri ở nơi có trại tạm giam, nhà tạm giữ, nơi có cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để thực hiện quyền bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

    Cử tri là người bị tạm giam, phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và đã có tên trong danh sách cử tri ở nơi có trại tạm giam, nhà tạm giữ, nơi có cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, mà được trả tự do hoặc đã hết thời gian giáo dục bắt buộc, cai nghiện bắt buộc thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi có trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và được bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng ký thường trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã hoặc được bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi đăng ký tạm trú để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

    Câu 86: Những trường hợp nào cử tri được tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh?

    Trả lời:

    – Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

    – Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình đã có tên trong danh sách cử tri để được bổ sung tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở nơi mình có thể tham gia bỏ phiếu. Khi cấp giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi ngay vào danh sách cử tri tại khu vực bỏ phiếu thuộc địa phương mình bên cạnh tên cử tri cụm từ “Bỏ phiếu ở nơi khác”.

    Câu 87: Những trường hợp nào cử tri được tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện?

    Trả lời:

    – Cử tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân.

    – Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký tạm trú xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

    – Trong thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, những người chuyển đến tạm trú ở nơi khác với đơn vị hành chính cấp xã mà mình đã được ghi tên vào danh sách cử tri và có nguyện vọng tham gia bầu cử ở nơi tạm trú mới thì được xóa tên trong danh sách cử tri ở nơi cư trú cũ và bổ sung vào danh sách cử tri tại nơi tạm trú mới để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

    Câu 88: Những trường hợp nào cử tri được tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử cả ba cấp đại biểu Hội đồng nhân dân?

    Trả lời:

    – Cử tri là người thường trú tại địa phương được tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử cả ba cấp đại biểu Hội đồng nhân dân.

    – Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ nếu có nơi đăng ký thường trú, thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trú xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.

    Câu 89: Những người tạm vắng khỏi nơi cư trú kể từ ngày niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bỏ phiếu vì các lý do khác nhau thì ghi tên vào danh sách cử tri ở đâu để thực hiện quyền bầu cử?

    Trả lời:

    Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình đã có tên trong danh sách cử tri để được bổ sung tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở nơi mình có thể tham gia bỏ phiếu. Khi cấp giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi ngay vào danh sách cử tri tại khu vực bỏ phiếu thuộc địa phương mình bên cạnh tên cử tri cụm từ “Bỏ phiếu ở nơi khác”.

    Câu 90: Quyền bầu cử của những công dân bị Tòa án kết án tù nhưng được hưởng án treo được quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Công dân đủ mười tám tuổi trở lên, đủ năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án kết án tù nhưng được hưởng án treo, nếu không bị tước quyền bầu cử (trong bản án không ghi bị mất quyền bầu cử) vẫn có quyền bầu cử và được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi mình cư trú để tham gia bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.

    Câu 91: Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri được thực hiện như thế nào?

    Trả lời:

    Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai sót thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại với cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại đó. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết kết quả giải quyết.

    Trường hợp người khiếu nại không đồng ý về kết quả giải quyết khiếu nại hoặc hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện có cùng phạm vi địa giới hành chính với cơ quan lập danh sách cử tri. (Theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12).

    Thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 104 Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12 như sau: Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày (Theo quy định tại Điều 104 Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12)2.

    Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán thụ lý ngay vụ án. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc đình chỉ vụ án và trả lại đơn kiện. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên toà xét xử. Bản án, quyết định đình chỉ vụ án giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri có hiệu lực thi hành ngay. Đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị. Tòa án phải gửi ngay bản án, quyết định đình chỉ vụ án cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. (Theo quy định tại Điều 168, Điều 169 và Điều 172 Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12).

    *

    *            *

    (Theo sách “Hỏi – Đáp về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021” do Hội đồng bầu cử quốc gia biên soạn để phục vụ cuộc bầu cử / Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật năm 2016).

  • Công bố danh sách 870 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV

    Công bố danh sách 870 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV


    Cuộc họp báo diễn ra chiều ngày 26/4 (Ảnh: KT)

    Chủ trì họp báo có ông Nguyễn Hạnh Phúc – Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Ủy viên Hội đồng bầu cử Quốc gia, Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia; ông Trương Minh Tuấn – Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy viên Hội đồng bầu cử Quốc gia, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia; ông Trần Văn Túy – Trưởng ban Công tác đại biểu, Ủy viên Hội đồng bầu cử Quốc gia.

    Tại họp báo, ông Nguyễn Hạnh Phúc đã thông tin cụ thể số lượng người ứng cử đại biểu Quốc hội tại 63 tỉnh, thành. Trong đó, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều có tổng số 50 người ứng cử, tổng số đại biểu được bầu là 30 đại biểu.

    Theo ông Nguyễn Hạnh Phúc, trong tổng số danh sách 870 người chính thức ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, số người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV do Trung ương giới thiệu là 197 người, địa phương giới thiệu 673 người, đạt tỷ lệ 1,74 người ứng cử trên 01 đại biểu được bầu (trong đó 11 người tự ứng cử). 

    Cơ cấu kết hợp chung của cả nước như sau: Người ứng cử là phụ nữ: 339 người (tỷ lệ 38,97%); Người ứng cử là người dân tộc thiểu số: 204 người (tỷ lệ 23,45%); Người ứng cử là người ngoài Đảng: 97 người (tỷ lệ 11,15%); Người ứng cử là đại biểu Quốc hội khóa XIII tái cử: 168 người (tỷ lệ 9,31%); Người ứng cử là người trẻ tuổi dưới 40 tuổi: 268 người (tỷ lệ 30,80%).

    Thông tin cụ thể thêm về 197 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV ở Trung ương, ông Nguyễn Hạnh Phúc cho hay: Khối cơ quan Đảng có 12 người; Khối cơ quan Chủ tịch nước và các cơ quan tư pháp có 5 người; Khối các cơ quan của Quốc hội: 113 người; Khối Chính phủ, cơ quan thuộc Chính phủ: 17 người; Bộ Quốc phòng (gồm cả Bộ trưởng và các quân khu, quân chủng): 15 người; Bộ Công an: 3 người; Kiểm toán Nhà nước: 1 người; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên: 31 người. 

    Về cơ cấu kết hợp, trong số 197 người được giới thiệu ứng cử có 29 phụ nữ (14,72%), dân tộc thiểu số 17 người (8,63%), tôn giáo 2 người (1,02%), người ngoài Đảng 7 người (3,55%), tái cử 101 người (51,27%), trẻ tuổi 6 người (3,05%).

    Trong số 673 người ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XIV ở địa phương: Người ứng cử là phụ nữ: 310 người (tỷ lệ 46,06%); Người ứng cử là người dân tộc thiểu số: 187 người (tỷ lệ 27,79%); Người ứng cử là người ngoài Đảng: 90 người (tỷ lệ 13,37%); Người ứng cử là người trẻ tuổi: 262 người, (tỷ lệ 38,93%); Người ứng cử là đại biểu Quốc hội khoá XIII tái cử: 67 (tỷ lệ 9,96%)./.

    Kim Thanh