Danh mục: Tin tức Uncategory

  • Thông báo tổ chức học lại theo hình thức lớp riêng môn Giáo dục quốc phòng học kỳ 1 năm học 2009 – 2010







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


    Số: 962 /TB-ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


    Hà Nội, ngày 07 tháng 9 năm 2009


     


    THÔNG BÁO


    V/v: Tổ chức học lại theo hình thức lớp riêng


    môn Giáo dục quốc phòng học kỳ 1 năm học 2009 – 2010


     


     



    1. Thời gian tổ chức học và thi môn GDQP theo hình thức lớp riêng học kỳ 1 (2009 – 2010):























































    TT


    Học phần


    Số tiết


    Ngày học (Buổi học)


    Giảng đường học


    Ngày thi


    (Giờ thi)


    Giảng đường thi


    1


    GDQP-HP1


    45


    19/09/2009 (Chiều,tối)


    20/09/2009 (Sáng, chiều)


    101 – B4


    18/10/2009


    (7h30 ÷ 8h30)


    328 – A4


    2


    GDQP-HP2


    45


    26/09/2009 (Chiều)


    423 – A2


    18/10/2009


    (8h45 ÷ 9h45)


    328 – A4


    26/09/2009 (Tối)


    27/09/2009 (Sáng, chiều)


    328 – A4


    3


    GDQP-HP3


    (Chương trình cho K49 trở về trước)


    75


    03/10/2009 (Chiều)


    04/10/2009 (Sáng, chiều)


    11/10/2009 (Sáng, chiều)


    Trước Hội trường T45


    18/10/2009


    (10h00 ÷ 11h00)


    Trước Hội trường T45


    4


    GDQP-HP3


    (Chương trình cho K50)


    45


    03/10/2009 (Chiều)


    04/10/2009 (Sáng, chiều)


    Trước Hội trường T45


    18/10/2009


    (10h00 ÷ 11h00)


    Trước Hội trường T45


    5


    GDQP-HP4


    (Chương trình cho K50)


    30


    10/10/2009 (Chiều)


    11/10/2009 (Sáng, chiều)


    Trước Hội trường T45


    18/10/2009


    (11h15 ÷ 12h30)


    Trước Hội trường T45


    Thời gian học: Buổi sáng: 8h00 ÷ 11h30;          Buổi chiều: 14h00 ÷ 17h30;    Buổi tối: 18h30 ÷ 21h00


     



    1. Kinh phí học lại: Sinh viên đóng kinh phí học lại với mức bằng mức vào học với lớp chung:

                      + Sinh viên K48 trở về trước, mức đóng: 35.000 đ/ĐVHT


                      + Sinh viên K49 – K50, mức đóng: 60.000 đ/TC (hệ ĐH), 50.000 đ/TC (hệ CĐ)


    Ghi chú:           – Sinh viên thắc mắc về danh sách (sai tên, sai học phần…), viết đơn gửi về phòng CTCT & Quản lý sinh viên trước ngày 14/9/2009 để được giải quyết. Quá hạn, Nhà trường không giải quyết.


                            – Đối với kinh phí SV đã nộp, Nhà trường trả lại phần kinh phí thừa như sau:


                                        + Thời gian trả: từ ngày 28/9/2009 đến 02/10/2009


                                        + Địa điểm trả: phòng CTCT & Quản lý sinh viên (Bộ phận trực tiếp SV)


     








    Nơi nhận:


    – BGH (để b/c)


    – Các K,B, BM, P3, P4, P1, P11


    – Trang Web Trường


    – Lưu VT, CTCT&QLSV


    KT. HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


     


    (đã ký)


     


    TS. Trịnh Minh Thụ


    Danh sách sinh viên học lại lớp riêng GDQP kỳ 1 (2009 – 2010): Xem tại đây

  • Quyết định ban hành Quy định về xét khen thưởng sinh viên của trường Đại học Thuỷ lợi







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


    Số: 631 /QĐ-ĐHTL


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2009


    QUYẾT ĐỊNH


    Ban hành Quy định về xét khen thưởng sinh viên


    của trường Đại học Thuỷ lợi


     


    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


          Căn cứ Quyết định số 351QĐ/TL ngày 28/04/1964 của Bộ Thủy lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) quy định nhiệm vụ, quyền hạn trường Đại học Thủy lợi;


          Căn cứ Quyết định số 1249/BNN-TCCB ngày 29/4/2009 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về phê duyệt Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Thuỷ lợi;


          Căn cứ Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và TCCN hệ chính quy ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;


          Xét đề nghị của Trưởng phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên,


     


    QUYẾT ĐỊNH:


     


    Điều 1: Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản “Quy định về về xét khen thưởng sinh viên của trường Đại học Thuỷ lợi”.


    Điều 2: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ.                  


    Điều 3: Các ông/bà Trưởng Phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, các Khoa,  Giám đốc Cơ sở 2, trung tâm ĐH2, các cá nhân và đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.


     








    Nơi nhận:


    –                – BGH (để b/c)


    –                – Như điều 3


    –                – Các lớp trong trường


    –                – Lưu VT, CTCT&QLSV


    KT.HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


    (Đã ký)


     


    PGS.TS. LÊ ĐÌNH THÀNH


     


    Quy định về về xét khen thưởng sinh viên của trường Đại học Thuỷ lợi”: Xem tại đây

  • Thông báo về việc trúng tuyển Sĩ quan dự bị năm 2009

    Thông báo về việc trúng tuyển Sĩ quan dự bị năm 2009







    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI


                       


    Số: 625 TB/ĐHTL


    V/v: Trúng tuyển SQDB năm 2009


    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


                               


     


                        Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 2009


      


    THÔNG BÁO


    (Về việc trúng tuyển Sĩ quan dự bị năm 2009)


     


    Căn cứ Công văn số 2299/BGDĐT – GDQP ngày 24/03/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc giao nhiệm vụ tuyển chọn sinh viên nam tốt nghiệp đại học đi đào tạo Sĩ quan dự bị (SQDB) năm 2009, Trường Đại học Thủy lợi đã tuyển chọn chính thức 50 em và 06 em dự bị đi đào tạo SQDB năm 2009 (có danh sách kèm theo).


    Nhà trường tổ chức họp sinh viên trúng tuyển SQDB vào 9h00 ngày thứ sáu 26/06/2009 tại Phòng 123 nhà A1.


    Chú ý:


     1. Khi đến họp mặt, yêu cầu sinh viên mang theo các giấy tờ sau:


    – Bản sao giấy khai sinh (không nhận bản phô tô).


    – Đơn tình nguyện đào tạo SQDB phục vụ Quân đội (với sinh viên tình nguyện)


    2. Sinh viên thuộc diện tuyển SQDB năm 2009 vẫn nhận bằng tốt nghiệp trong buổi Lễ trao bằng ngày 25/06/2009. Hồ sơ sinh viên (bảng điểm, bản sao bằng tốt nghiệp, lý lịch) nhà trường sẽ giữ lại và trả sau khi sinh viên hoàn thành khoá học SQDB (với sinh viên thuộc diện dự bị đi đào tạo SQDB, Nhà trường sẽ trả hồ sơ vào 10/08/09 tại Phòng CTCT & QLSV nếu Bộ Quốc Phòng không gọi).


    Nhà trường đã gửi danh sách tuyển Sĩ quan dự bị của Trường tới Bộ Giáo dục và Đào tạo để Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi Bộ Quốc phòng ký lệnh gọi sinh viên đi đào tạo Sĩ quan dự bị năm 2009. Trong quá trình chờ lệnh gọi, Nhà trường yêu cầu sinh viên nắm bắt thông tin của Trường qua bảng tin và trang Web, nếu có thay đổi số điện thoại phải báo cho Nhà trường qua Phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên.


    Sinh viên không thực hiện nghiêm túc lệnh gọi Sĩ quan dự bị sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.


    Đề nghị các đơn vị liên quan trong Trường và sinh viên có tên trong danh sách thực hiện nghiêm thông báo này ./.


     








     


    Nơi nhận:


    – BGH;


    – Khoa C, Khoa NL;


    – Website;


    – Lưu VT, CTCT&QLSV.


     


    KT/ HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


     


     


    (Đã ký)


     


     PGS.TS Lê Đình Thành

     


    DANH SÁCH SINH VIÊN K46 ĐI ĐÀO TẠO SQDB NĂM 2009


    (Kèm theo Thông báo 625TB/ĐHTL ngày 19/6/2009 của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi)




















































































































































































































































































































































































































    TT


    Họ tên


    Ngày sinh


    Nơi sinh


    Lớp


    Ghi chú


    1


    Vũ Văn Chung


    20/09/84


    Hà Nam


    46Đ1


     


    2


    Nguyễn Hải Đăng


    02/11/86


    Vĩnh Phúc


    46Đ1


     


    3


    Nguyễn Quý Đôn


    16/08/86


    Quảng Ninh


    46Đ1


     


    4


    Đoàn Quang Huy


    07/12/86


    Hoà Bình


    46Đ1


     


    5


    Phạm Hoàng Long


    06/04/85


    Hà Tây


    46Đ1


     


    6


    Trần Ngọc Phác


    20/06/86


    Nam Định


    46Đ1


     


    7


    Đinh Quang Sơn


    25/10/84


    Nghệ An


    46Đ1


     


    8


    Nguyễn Thế Vinh


    12/02/85


    Hoà Bình


    46Đ1


     


    9


    Bùi Thế Vinh


    07/07/86


    Hải D­ương


    46Đ1


     


    10


    Nguyễn Đức Xuân


    28/05/85


    Hà Nam


    46Đ1


     


    11


    Nguyễn Văn Ba


    03/04/84


    Bắc Ninh


    46Đ2


     


    12


    Lư­ơng Thành Công


    22/09/86


    Nam Định


    46Đ2


     


    13


    Nguyễn Đình Giang


    06/02/85


    Vĩnh Phúc


    46Đ2


     


    14


    Đoàn Văn Huân


    07/09/85


    Nam Định


    46Đ2


     


    15


    Phạm Văn Lâm


    03/05/85


    Thái Bình


    46Đ2


     


    16


    Hồ Sỹ Mão


    08/08/86


    Nghệ An


    46Đ2


     


    17


    Nguyễn Văn Quỳnh


    09/10/86


    Bắc Ninh


    46Đ2


     


    18


    Nguyễn Hồng Thắng


    25/08/84


     Hà Nội


    46Đ2


     


    19


    Đinh Nghĩa Trọng


    30/04/86


    Hà Tây


    46Đ2


     


    20


    Đỗ Ngọc Duyến


    22/08/86


    Nam Định


    46Đ2


    Tình nguyện


    21


    Nguyễn Thanh Hà


    10/08/86


    Nam Định


    46TNC


     


    22


    Đỗ Ngọc Quang


    24/12/86


    Nam Định


    46TNC


     


    23


    L­u Văn Quyết


    12/11/86


    Bắc Ninh


    46TNC


     


    24


    Đinh Văn Thắng


    05/12/86


    Hà Nội


    46TNC


     


    25


    Nguyễn Trọng Thế


    21/12/85


    Thái Bình


    46TNC


     


    26


    Đào Huy Trọng


    14/10/84


    Thanh Hoá


    46TNC


     


    27


    Nguyễn Văn Hiệp


    16/08/85


    Hà Tĩnh


    46C1


     


    28


    Trần Trọng Phi


    23/10/85


    Hải Dư­ơng


    46C1


     


    29


    Phạm Xuân Trư­ờng


    26/03/84


    Nam Định


    46C1


     


    30


    Trịnh Anh Tuyển


    16/11/85


    Thanh Hoá


    46C1


     


    31


    Phạm Văn Bằng


    02/10/86


    Nam Định


    46C2


     


    32


    Nguyễn Việt Hùng


    06/02/85


    Bắc Ninh


    46C2


     


    33


    Trần Duy Lai


    03/03/85


    Hải Phòng


    46C2


     


    34


    Trần Nhật Lâm


    10/09/85


    Vĩnh Phú


    46C2


     


    35


    Vũ Quý Phát


    17/04/84


    Ninh Bình


    46C2


     


    36


    Nguyễn Hồng Thái


    20/04/85


    Thái Bình


    46C2


     


    37


    Lê Đình Thao


    10/09/85


    Nghệ An


    46C2


     


    38


    Nguyễn Văn Tiến


    02/07/85


    Thanh Hoá


    46C2


     


    39


    Phạm Quang Tuân


    19/08/85


    Hải D­ơng


    46C2


     


    40


    Nguyễn Minh Tuấn


    25/05/85


    Hà Tây


    46C2


     


    41


    Hoàng Thanh Tùng


    20/05/86


    Thái Bình


    46C2


     


    42


    Phạm Tuấn Anh


    07/01/85


    Hà Nội


    46C3


     


    43


    Vũ Văn Dực


    01/07/85


    Thái Bình


    46C3


     


    44


    Triệu Đình Hùng


    12/08/84


    Nam Định


    46C3


     


    45


    Kiều Quang Minh


    07/05/84


    Hà Tây


    46C3


     


    46


    Lê Nh­ Nghĩa


    15/09/86


    Thanh Hoá


    46C3


     


    47


    Đỗ Văn Tâm


    10/10/85


    Thanh Hoá


    46C3


     


    48


    Nguyễn Đức Thiện


    20/04/83


    Ninh Bình


    46C3


     


    49


    Mai Thanh Tr­ờng


    17/07/86


    Yên Bái


    46C3


     


    50


    Tr­ơng Mạnh Uỷ


    06/05/85


    Bắc Ninh


    46C3


     


    51


    Phạm Văn C­ờng


    19/06/86


    Thái Bình


    46TNC


    Dự bị


    52


    Ngô Văn Tuyên


    16/01/86


     Hà Nội


    46C1


    Dự bị


    53


    Nguyễn Ngọc Minh


    22/07/86


    Nam Định


    46C2


    Dự bị


    54


    Nguyễn Anh Tuân


    13/10/84


    Vĩnh Phú


    46C3


    Dự bị


    55


    Trần Thế Hoà


    31/12/85


    Hoà Bình


    46Đ1


    Dự bị


    56


    Nguyễn Thế Thông


    20/03/85


    Hải Dư­ơng


    46Đ2


    Dự bị


     


     


     


     


     


     


     


     


     


     


     

  • Thông tư về việc ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt






    BỘ TÀI CHÍNH


    ___________


    Số 100/2009/TT-BTC


     


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    __________________________


    Hà Nội, ngày 20 tháng 5  năm 2009


     


    THÔNG TƯ


    Về việc ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt


    ________________________


     


    Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;


    Căn cứ Nghị định số 170/2003/ NĐ- CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá, Nghị định 75/2008/NĐ-CP ngày 9/6/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2003/NĐ-CP;


    Căn cứ Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch;


    Bộ Tài chính ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt như sau:


     


    Điều 1.  Ban hành khung giá tiêu thụ  nước  sạch sinh hoạt các hộ dân cư (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng) theo bảng phụ lục kèm theo Thông tư này.


     


    Điều 2. Căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá tiêu thụ nước sạch theo hướng dẫn của Liên Bộ Tài chính – Xây dựng – Nông nghiệp và phát triển nông thôn và khung giá quy định tại Điều 1 Thông tư này, Uỷ  ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt cụ thể tại địa phương.


     


    Điều 3. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký. Bãi bỏ các quy định trước đây trái với Thông tư này./.


     


     






    Nơi nhận:


    – Thủ tướng, các phó Thủ tướng Chính phủ;


    – Văn phòng Chính phủ;


    – Bộ Xây dựng;


    – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn;


    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao;


    – Tòa án nhân dân tối cao;


    – Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, Tp trực thuộc TW;


    – Sở TC,  các tỉnh, Tp trực thuộc TW;


    – Sở Xây dựng, Sở NN&PTNT các tỉnh, Tp trực thuộc TW;


    – Hội cấp thoát nước VN;


    – Cục kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);


    – Công báo;


    – Kiểm toán Nhà nước,


    – Website Chính phủ;


    – Website Bộ Tài chính;


    – Cục QLN&TCĐN; Cục TCDN; Vụ ĐT; Vụ HCSN;


    – Lưu: VT (2), Cục QLG (10b).


    Thông tin chi tiết


  • Thông báo về Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2009









    Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước


    ——————————-


    Số:  42/HĐCDGSNN


     


    Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    ———————-


     


    Hà Nội, ngày 11  tháng  5 năm  2009


     













    THÔNG BÁO


    về Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2009


     


               








    Kính gửi:


    Thủ trưởng các Bộ, các cơ quan ngang Bộ


    Thủ trưởng các Cơ sở giáo dục đại học


    Các cơ quan Thông tấn báo chí


     


                Thực hiện Nghị quyết của kỳ họp thứ nhất của Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước nhiệm kỳ 2009 – 2014, do GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Chính Phủ, Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước chủ trì, tại Hà Nội, ngày 21.4.2009, Thường trực Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước xin thông báo Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2009 (gửi kèm theo Công văn này gồm Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2009 và Thông báo về các kết luận của kỳ họp thứ nhất Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước nhiệm kỳ 2009 – 2014).


                Thường trực Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước xin lưu ý: Đây là đợt xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư đầu tiên theo Quyết định 174/2008/QĐ-TTg, ngày 31.12.2008 ban hành quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư, nên đề nghị các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ sở giáo dục đại học và các ứng viên thực hiện nghiêm túc Quyết định 174/2008/QĐ-TTg , của Thủ tướng Chính phủ.











    Nơi nhận:


     


    – GS. Nguyễn Thiện Nhân, Chủ tịch HĐ;


    – GS. Bành Tiến Long, Phó chủ tịch HĐ;


    – Tổng thư ký HĐ;


    -Các thành viên HĐCDGSNN


    – Chương trình VTV1 Đài TH VN, Báo Vietnamnet, Báo Nhân dân,
    Báo GD và Thời đại, Trang Web của Bộ GD&ĐT, Trang Web của HĐCDGSNN


    – Chánh VP,  Vụ TCCB, Cục NG, Vụ Pháp chế Bộ GD&ĐT (để phối hợp)


    –  Lưu VP HĐCDGSNN


    TM. Thường trực HĐCDGSNN


    Tổng thư ký


     


    (Đã ký)


     


     


    GS. Trần Văn Nhung


    LỊCH XÉT CÔNG NHẬN ĐẠT TIÊU CHUẨN CHỨC DANH
    GIÁO SƯ, PHÓ GIÁO SƯ ĐỢT NĂM 2009
    (Ban hành theo Công văn số 42/HĐCDGSNN của TT HĐCDGSNN ngày 11 tháng 5 năm 2009)


































































    Ngày tháng


     


    Nội dung công việc


    21/4


    Kỳ họp đầu tiên của Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN) nhiệm kỳ 2009 – 2014


    24/4


    Thông báo về kết luận tại kỳ họp đầu tiên của HĐCDGSNN nhiệm kỳ 2009 – 2014


    11/5


    Thông báo về đợt xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2009


    22/.5


    Thành lập các HĐCDGS ngành, liên ngành (HĐCDGSN,LN)


     


    22 – 29/5


    Các HĐCDGSN, LN họp:


    – Bầu Phó chủ tịch, Uỷ viên Thư ký Hội đồng


    – Nghiên cứu, thảo luận để quán triệt các Văn bản của HĐCDGSNN


    – Lâp danh mục tạp chí khoa học chuyên ngành được tính điểm


    31/5


    Hạn cuối cùng ứng viên ghi tên đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS đợt năm 2009 tại cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH)


    04/6


    Hạn cuối cùng các CSGDĐH nộp công văn và hồ sơ đề nghị thành lập các Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở (HĐCDGSCS)


    15/6


    Hạn cuối cùng ký quyết định thành lập các HĐCDGSCS


     


    19/6


    – Hạn cuối cùng cho tất cả các ứng viên nộp Bản đăng ký xét đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS tại Văn phòng HĐCDGSNN


    – Các ứng viên thuộc đơn vị không có HĐCDGSCS nộp tại VP HĐCDGSNN: đơn, công văn của giới thiệu của cơ quan cấp Bộ chủ quản và một bản đăng ký có xác nhận của đơn vị chủ quản để được giới thiệu xét tại  HĐCDGSCS của CSGDĐH có mời ứng viên thỉnh giảng,


    25/6


    Hạn cuối cùng Thường trực HĐCDGSNN giới thiệu về các HĐCDGSCS các ứng viên của các đơn vị không có HĐCDGSCS


    30/6


    Hạn cuối nộp hồ sơ đăng ký xét chức danh GS và PGS tại HĐCDGSCS


    01 – 07/7


    Tập huấn xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS đợt năm 2009


     08/7-10/8


    Các HĐCDGSCS xét đề nghị công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS và PGS


    15/8


    – Hạn cuối cùng chuyển đến Văn phòng HĐCDGSNN công văn của các Bộ và Cơ quan ngang Bộ  đề nghị cho các ứng viên xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS


    – Hạn cuối cùng HĐCDGSCS chuyển các tài liệu của đợt xét năm 2009 và hồ sơ của  ứng viên đã được thông qua HĐCDGSCS đến Văn phòng HĐCDGSNN


    15 – 25/8


    Văn phòng HĐCDGSNN xử lý  các tài liệu từ các HĐCDGSCS chuyến đến và bàn giao hồ sơ của các ứng viên cho các HĐCDGSN, LN


    25/8-25/9


    Các HĐCDGSN,LN xét đề nghị công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS và PGS


     


    30/9


    Hạn cuối cùng các HĐCDGSN,LN nộp báo cáo và các tài liệu xét đề nghị công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS và chuyển toàn bộ hồ sơ của các ứng viên tới Văn phòng HĐCDGSNN


    20 – 30/10


     HĐCDGSNN họp xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS đợt 2009


     20/11


    Tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS và trao giấy công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS năm 2009 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám


     


               


     

  • Hồ Pa Khoang – lấp lánh một vùng Điện Biên

    Hồ Pa Khoang – lấp lánh một vùng Điện Biên

     

     

    Những ngày này, từ muôn nơi du khách đến với Điện Biên để thăm Bảo tàng Chiến Thắng – nơi tái hiện những chiến công lẫy lừng của quân dân ta. Đến với Điện Biên là đến với đồi A1, rừng Mường Phăng, đồi Him Lam, hầm Đờ Cát,… những địa danh đã kiêu hãnh đi vào lòng mỗi người dân đất Việt và bạn bè bốn phương.

    Đến với Điện Biên hôm nay, chúng tôi còn đến với hồ Pa Khoang, một công trình thủy lợi quan trọng bậc nhất của tỉnh Điện Biên. Mặt hồ Pa Khoang trải rộng trên diện tích 600ha, được xây dựng năm 1974 và khánh thành năm 1979. Ngày ấy, trong chúng tôi có nhiều người vừa tốt nghiệp Trường đại học Thủy lợi, đã hăng hái lên Điện Biên để đắp đập, xây hồ Pa Khoang (nằm trong công trình Đại Thủy nông Nậm Rốm). Không ít những vần thơ, nốt nhạc nảy nở, ngợi ca sự say mê tạo biển giữa rừng của tuổi trẻ.

    Suốt 30 năm qua, hồ đã cấp nước tưới cho hơn 3.300ha lúa và hơn 400ha màu; nuôi cá, chống lũ, cải tạo khí hậu và đặc biệt tăng sức hấp dẫn cho du khách khi đến với Điện Biên.

    Nước hồ, cây rừng xanh đến vô ngần

    Xung quanh hồ có 11 bản làng với những nếp nhà sàn xinh xắn. Những cô gái Thái, lộng lẫy trong sắc phục dân tộc cùng du khách soi bóng xuống mặt hồ. Cảnh và người làm cho Pa Khoang thêm hữu tình.

    Toàn cảnh đập chính và cống lấy nước

    Cánh đồng Mường Thanh sản sinh ra gạo đặc sản Điện Biên nổi tiếng là nhờ nước hồ Pa Khoang. Hơn nữa, hồ Pa Khoang nằm giữa núi non hùng vĩ, ẩn hiện trong mây cùng với những di tích lịch sử nổi tiếng và sự mến khách của người Tây Bắc đã, đang thu hút ngày càng nhiều bạn bè trong và ngoài nước đến với Điện Biên.

    Nhìn từ thượng lưu tràn xả lũ

    Mười ba bậc nước nối tiếp sau ngưỡng tràn

    Ngắm nhìn hồ Pa Khoang, chúng tôi càng tự hào về lớp lớp sinh viên tốt nghiệp Trường đại học Thủy lợi đã góp phần tạo nên bao công trình thủy lợi, thủy điện làm giàu đẹp cho Tổ quốc, trong đó có Điện Biên giàu truyền thống và mến khách.

     

     

    Bài và ảnh: VIỆT BẮC

    Theo Báo Quân đội nhân dân ngày 23/04/2009

  • Bắc Hưng Hải – bản tình ca châu thổ

    Bắc Hưng Hải – bản tình ca châu thổ

                                                                             Bút ký của Hà Quang
                Đ
    êm trước hôm lên đường về Bắc Hưng Hải tôi cứ trằn trọc mãi không tài nào chợp mắt được. Tôi trở dậy, lặng lẽ lên sân thượng nhìn về phía đông thành phố. Nơi ấy là vùng châu thổ sông Hồng, có công trình đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải đã in sâu vào tâm trí tôi từ ngày còn quàng khăn đỏ, cắp sách đến trường. Bắc Hưng Hải lấy tên ghép của ba tỉnh thuộc vùng hưởng lợi của công trình là: Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương, nhưng  về phạm vi xây dựng, nhiệm vụ của công trình thì còn phải kể thêm Gia Lâm của Hà Nội nữa. Với diện tích tự nhiên hơn 20 vạn héc-ta, khu vực Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi bốn con sông: Sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc và sông Thái Bình. Tôi còn nhớ, trong một cuộc họp về công tác thuỷ nông ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hồi đầu năm ngoái, đồng chí Thứ trưởng Đào Xuân Học đã nhấn mạnh: Bắc Hưng Hải là một công trình tiêu biểu không chỉ của ngành thuỷ lợi chúng ta mà còn là của đất nước, của chủ nghĩa xã hội! Bởi vậy, chúng ta phải luôn nâng niu, gìn giữ, phải  quản lý và khai thác cho tốt để nâng cao hiệu quả công trình; càng phải điểm tô cho vóc dáng vĩ đại của công trình thế kỷ ấy…


                May mắn sao, trên đường về Bắc Hưng Hải hôm nay tôi lại được đi với anh  Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi cũ, một trong những người đầu tiên tham gia khảo sát, đặt nền móng cho công trình ngay từ năm 1957. Tôi vẫn muốn gọi đồng chí Thứ trưởng năm xưa ấy bằng anh, mặc dù năm nay ông đã bảy mươi lăm tuổi. Ở cái tuổi ” thất thập cổ lai hy” ấy nhưng trông anh Trần Nhơn còn rất khoẻ và tinh anh. Anh bảo đã lâu anh không được ra ngoài hóng gió, có tuổi đi đâu cũng ngại nhưng đi thực địa công trình, nhất là lại được về Bắc Hưng Hải thì anh xúc động lắm, phấn chấn lắm.


                Trên chuyến xe về Bắc Hưng Hải hôm nay chỉ có ” ba thày trò Tam Tạng vi hành”. Ngoài anh Trần Nhơn và tôi, trên xe còn có kỹ sư Vũ Văn Phán, phó Giám đốc Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Bắc Hưng Hải. Phán lĩnh trách nhiệm đưa chúng tôi đi thực địa công trình nên anh rất nhanh nhẹn và chu đáo. Xe còn đang chạy trên cầu Thanh Trì, Phán đã khoát tay về phía bên phải, giọng oang oang: – Báo cáo các “sếp”, qua cầu bên kia chúng ta rẽ về phía tay phải, đi dọc đê sông Hồng xuôi về phía hạ lưu chừng ba cây số nữa là đến cống Xuân Quan – “đầu rồng” của Bắc Hưng Hải đấy!


             






    Công trình đại thủy nông Bắc Hưng Hải những ngày đầu ra quân
       Tôi nhìn theo tay Phán chỉ. Dưới màn mưa xuân giăng mờ, dòng sông Hồng hiện ra như một dải lụa khổng lồ, uốn lượn giữa đôi bờ xanh mướt. Mùa này nước sông Hồng đã cạn, thấp thoáng những bãi bồi nhấp nhô dưới làn nước đỏ phù sa chảy xuôi lặng lẽ. Vâng, chính dòng nước phù sa quý giá của sông Hồng là nguồn khởi xướng đã tạo ra một Bắc Hưng Hải kỳ vĩ, tạo ra một vùng châu thổ màu mỡ, giàu đẹp từ đói nghèo và lạc hậu. Nơi đây, ngay từ đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp đã từng trăn trở phương án đào kênh lấy nước từ sông Hồng qua cống Xuân Quan để dẫn nước vào cải tạo vùng đất phù sa cổ rộng lớn có diện tích tự nhiên gần 20 vạn héc-ta, rất phức tạp về địa hình tự nhiên và điều kiện canh tác lạc hậu từ ngàn đời nay. Bởi vậy, ngay sau khi Hoà bình lập lại, Đảng và Chính phủ, trực tiếp là Bộ Kiến trúc và Thuỷ lợi cũ đã quan tâm chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Hệ thống Bắc Hưng Hải. Trong quá trình thiết kế kỹ thuật, chuẩn bị cho thi công cống đầu mối Xuân Quan, ngay từ cuối năm 1957, Bộ đã cử hai nhóm cán bộ kỹ thuật sang Viện nghiên cứu khoa học Bắc Kinh và Viện khảo sát thiết kế Thuỷ lợi Bắc Kinh, Trung Quốc để học tập kinh nghiệm về thiết kế, thi công công trình. Một trong số những cán bộ kỹ thuật đó là ông Nguyễn Văn Thụy, nguyên Chủ nhiệm thiết kế công trình, người có nhiều đóng góp cho sự thành công của Bắc Hưng Hải…  Bất giác, tôi bỗng nhớ tới lời Bác trong lần Người về thăm cán bộ, công nhân và dân công đang gấp rút  chuẩn bị công trường Bắc Hưng Hải ngày 20 tháng 9 năm 1958: ” Ngày trước, dưới chế độ thực dân phong kiến, ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương mười năm chín hạn, năm nào cũng đói kém, nhân dân cực khổ nghèo nàn. Từ ngày cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giả phóng, đời sống nhân dân ba tỉnh được cải thiện ít nhiều, nhưng vẫn còn nhiều ruộng thiếu nước cấy và thu hoạch vẫn bấp bênh. Nay Đảng và Chính phủ quyết tâm cùng nhân dân xây dựng công trình thuỷ lợi Bắc Hưng Hải để đưa nước vào ruộng cho đồng bào…” Mải nghĩ, xe chúng tôi đã đến đầu mối Xuân Quan từ lúc nào. Đón chúng tôi là một chàng trai trẻ, người nhỏ thó nhưng gương mặt, đặc biệt là đôi mắt rất sáng. Anh là Đào Văn Chương, Trạm trưởng trạm đầu mối Xuân Quan. Đứng trên đỉnh cống Xuân Quan, Chương vui vẻ bắt tay chúng tôi, bộ dạng có vẻ lúng túng khi anh định giới thiệu về công trình, bởi biết người đứng trước mặt mình nguyên là Thứ trưởng phụ trách công tác thuỷ nông. Biết vậy, anh Trần Nhơn xua tay, vui vẻ: – Cứ nói, cậu cứ nói! Có gì nói hết, không ngại, chúng mình là khách mà !


                Chương chưa kịp nói thì Phán đã nhanh nhảu, giọng hồ hởi: – Các anh biết đấy, cống đầu mối Xuân Quan này được xây dựng cách đây đã năm mươi năm, với quy mô 4 cửa lấy nước kích thước 3,5 x 4 m và 1 cửa thông thuyền 8,5 x 5 m. Nhiệm vụ chính ban đầu của công trình là lấy nước từ sông Hồng, cùng với cống Báo Đáp và hệ thống kênh đảm bảo tưới cho hơn 11 vạn héc-ta lúa và hoa màu thuộc ba tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương…


                Nghe đồng chí Phó giám đốc Công ty Bắc Hưng Hải nói, tôi bỗng thấy lòng mình xốn xang. Năm mươi năm đã đi qua, Bắc Hưng Hải vẫn hiện về  đậm nét trong ký ức của những người làm công tác thuỷ lợi và nhân dân địa phương vùng châu thổ sông Hồng này. Ngày ấy, ngày 1 tháng 10 năm 1958 lịch sử , chính nơi tôi đang đứng đây, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã bổ nhát cuốc đầu tiên khởi công xây dựng cống Xuân Quan, mở ra đại công trường Bắc Hưng Hải, mở ra cuộc đời mới cho hàng triệu con người. Thật cảm động làm sao, đáng trân trọng biết bao! Vì lợi ích lâu dài, chỉ trong vòng hơn một tuần lễ, gần 150 hộ gia đình ở phố cổ Bát Tràng đã vui vẻ, tự nguyện rỡ nhà, rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình để nhường chỗ cho đào kênh dẫn nước vào cống Xuân Quan. Ban chỉ huy công trường do đồng chí Hà Kế Tấn, lúc đó là Tư lệnh trưởng Sư đoàn 350 bảo vệ Thủ đô được chính Bác Hồ giao nhiệm vụ làm Trưởng Ban, làm việc khẩn trương, quyết liệt như Bộ chỉ huy chiến dịch. Được sự giúp đỡ tích cực của Đoàn chuyên gia Trung Quốc, các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trên công trường đã đề ra các phương án thiết kế, biện pháp thi công tối ưu.  Vâng lời Bác Hồ, theo tay Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hàng vạn bộ đội, dân công, học sinh mang theo cơm nắm muối vừng  nô nức lên công trường, ra quân với khí thế quyết thắng. Cả một vùng châu thổ trùng trùng dân công từ  Gia Lương, Thuận Thành, Bắc Ninh sang, từ  Gia Lộc, Bình Giang, Thanh Miện lên, từ Kim Động, Khoái Châu, Văn Giang… kéo về như ngày hội lớn. Các xã xung quanh công trường huy động thanh thiếu niên phát quang đường sá, dọn vệ sinh nhà cửa, vét giếng, sửa cầu náo nức đón tiếp dân công. Các cửa hàng lương thực, thực phẩm, cửa hàng bách hoá Bắc Hưng Hải hoạt động nhộn nhịp. Dọc theo ven đê Xuân Quan, Bát Tràng, khẩu hiệu giăng kín, cờ đỏ sao vàng bay phấp phới, tiếng loa truyền thanh vang vang suốt đêm ngày.Các đơn vị thi công khắc phục mọi khó khăn, tranh thủ ngày đêm thi công cho kịp tiến độ… Thật diệu kỳ, chỉ sau 7 tháng, đúng ngày 1 tháng 5 năm 1959 công trình được hoàn thành với khối lượng khổng lồ: Xây đúc 7.500 m3 bê tông, xây lát đá 226.000 m3, đào đắp gần 3 triệu m3 đất…


                Đứng trên mặt đê, phía thượng lưu cống Xuân Quan, tôi lặng lẽ ngắm công trình.









     Ông Vũ Văn Phán – Phó GĐ Công ty khai thác Công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải và tác giả (bên phải) bên cống Xuân Quan


    Dưới màn mưa xuân giăng mờ cả một vùng sông nước, cống Xuân Quan vẫn sừng sững hiện  lên dưới con đê sông Hông, vững chắc như một bức tường thành. Phía xa, từ cửa sông, dòng nước đỏ phù sa lặng lẽ chảy theo dòng kênh dẫn, reo vui qua 4 cửa lấy nước dưới đê, rào rạt  xuôi về cống Báo Đáp. Một chiếc thuyền nan lặng lẽ xuôi dòng kênh tưới chính. Chàng thanh niên vừa chèo thuyền bằng chân vừa giơ tay vẫy vẫy chúng tôi, nét mặt rạng rỡ…Tôi còn đang mải ngắm khung cảnh khu đầu mối, bỗng nghe tiếng anh Trần Nhơn từ phía cửa âu thuyền vọng lại: – Mời kỹ sư Hà Quang lại đây xem tác phẩm của các bậc tiền bối !


      Tôi chạy lại chỗ anh Trần Nhơn. Anh chỉ tay xuống âu thuyền, giọng oang oang:


     – Cậu nhìn xem, thời xưa khó khăn, thiếu thốn là thế, sắt phải tính từng cân, xi măng tính từng yến mà chúng ta làm ăn, chất lượng công trình tốt thế! Mấy chục năm rồi mà cống vẫn ra cống, mặt bê tông vẫn như khúc giò lụa thế kia, mưa nắng chẳng hề hấn gì!


                Đúng là như vậy. Từ ngày khởi công xây dựng đến giờ, đưa vào khai thác sử dụng đã năm mươi năm, qua bao mùa giông bão, chiến tranh tàn phá nhưng chất lượng công trình đầu mối Xuân Quan vẫn đảm bảo. Phần thuỷ công cống và âu thuyền hầu như không phải sửa chữa, vẫn chắc chắn, phẳng phiu, đẹp như tranh vẽ, vẫn đảm bảo hoạt động tốt theo nhiệm vụ thiết kế. Tôi nghĩ, được như thế, ngoài việc đảm bảo chất lượng, quy trình quy phạm khi thi công, còn phải kể đến công sức không nhỏ của những người trực tiếp quản lý công trình. Nghĩ vậy, tôi quay sang Vũ Văn Phán: – Anh nghĩ thế nào về nhận xét của anh Trần Nhơn? Công trình được như ngày hôm nay rõ ràng là phải có sự đóng góp tích cực của anh em quản lý ở Trạm này nữa chứ !


                Nghe tôi hỏi, Phán bỗng sôi nổi hẳn lên: – Đúng thế đấy anh ạ! Em công nhận là ngày trước cha anh mình thi công quá tốt, không hề có chuyện ăn bớt xi măng, sắt thép, đã làm là làm đến nơi đến chốn. Chính vì hiểu rõ nhiệm vụ to lớn của công trình, cảm phục những người lính tiên phong đi trước nên khi được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình chúng em cũng hết sức cố gắng…


                Tôi hiểu những điều Phán nói, hiểu rõ gan ruột của người cán bộ lãnh đạo Công


     ty ấy khi anh tâm sự về cái nghề ” áo bông, quần cộc “của mình. Sinh ra và lớn lên ở Khoái Châu, Hưng Yên, vùng đồng đất ” Mười năm chín hạn”, Phán càng thấu hiểu cảnh cơ cực, lam lũ của người dân quê mình thuở xưa. Ngay từ ngày còn học phổ thông anh đã muốn sau này theo nghề thuỷ lợi. Và Phán đã toại nguyện. Tốt nghiệp Đại học Thuỷ lợi khoá 19, anh ra nhập quân đội, sau 3 năm, từ năm 1985 Phán  chuyển về công tác ở Bắc Hưng Hải, gắn bó với Trạm đầu mối Xuân Quan  gần hai mươi năm trời. Anh bảo làm công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi  thật khó. Gần hai mươi năm ở cống Xuân Quan, anh đã cùng với anh chị em cán bộ, công nhân ở đây lăn lộn ngày đêm, mưa nắng, chịu biết bao khó khăn để đưa nước thường xuyên về với ruộng đồng Bắc Hưng Hải. Để quản lý, khai thác tốt công trình,  các anh cũng đã phải đối mặt với bao thách thức về thời tiết diễn biến phức tạp, về sự vi phạm công trình  của người dân do lập bến bãi, đào ao thả cá, khai thác cát trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình. Đặc biệt, trong những năm gần đây các khu công nghiệp, làng nghề xuất hiện ngày một nhiều, bên cạnh mặt tích cực cũng có những tác động xấu do chất thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng nước tưới của hệ thống.


           Trước khi tạm biệtTrạm đầu mối Xuân Quan, tôi đề nghị mấy anh em trong Đoàn chụp một tấm ảnh kỷ niệm công trình. Dự định chỉ chụp một kiểu ảnh rồi đi, nhưng mê cống Xuân Quan nên ai cũng dùng dằng, cuối cùng phải chụp đến cả chục kiểu ảnh rồi mới lên đường được. Gần trưa. Nắng đã hửng, chúng tôi lại khăn gói lên đường tiếp tục đi sâu vào nội đồng hệ thống Bắc Hưng Hải. Xe bon bon đi trên bờ kênh trục Bắc Hưng Hải mà như đi trên đường quốc lộ. Ngang dọc đồng đất Châu Giang, đường liên huyện, liên xã, đường vào các thôn xóm thẳng tắp, phẳng lì, đan nhau như bàn cờ. Nhờ có Bắc Hưng Hải, Đầm Dạ Trạch bốn mặt bùn lầy, cỏ cây rậm rạp, giao thông chỉ bằng thuyền độc mộc của Triệu Quang Phục thuở xưa giờ đã thành những làng xóm, khu công nghiệp, trang trại trù phú. Đôi bờ sông Kim Sơn, sông Cửu An bát ngát cánh đồng lúa, nhìn hút tầm mắt. Mùa này lúa đang đẻ nhánh. Những cây lúa no nước phù sa sông Hồng mơn mởn vươn lên, rì rào trong gió xuân nhè nhẹ. Một đàn cò trắng bay dọc sông Kim Sơn, ngang qua Kênh Cầu xuôi về Lực Điền,  chớp trắng trên nền trời xanh nhạt…


                                                                  +


                                                                +   +


           Sau bữa cơm trưa với các món ăn đặc sản cá sông Kim Sơn, chia tay Ban Giám đốc Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Bắc Hưng Hải, tôi trở về quê. Quê tôi nằm ngay bên bờ sông Kẻ Sặt, thuộc huyện Bình Giang, Hải Dương. Bình Giang là một trong những huyện nằm trọn trong khu tưới tiêu của công trình Bắc Hưng Hải, được bao bọc bởi ba con sông: Sông Kim Sơn, Tây Kẻ Sặt và Đình Đào. Từ nhiều năm nay, Bình Giang được coi ” tâm điểm” của tỉnh về năng suất lúa và chuyển đổi mạnh về cơ cấu trong nông nghiệp.


                Một mình, tôi lững thững đi bộ trên bờ kênh chính trạm bơm Cầu Sộp. Đoạn kênh này giáp với đường tỉnh lộ 20, chạy từ Thị trấn Kẻ Sặt xuống tận Thanh Miện, vừa được gia cố chắc chắn. Mái kênh được lát đá phẳng phiu, trông thật đẹp mắt. Dòng nước phù sa sông Hồng chảy từ sông Kim Sơn vào, qua cống lấy nước đầu cầu Sặt, xuôi xuống tận Bá Đông, Phủ Bình. Trước đây, con kênh chính này gọi là sông Phú Hải, được đào từ những năm 1962-1963 trong phong trào Bắc Hưng Hải. Phú Hải là con sông mang tên hai tinh kết nghĩa thời nước nhà chưa thống nhất là: Phú Yên và Hải Dương. Tôi vẫn nhớ mãi, hồi còn học cấp II Bình Giang, mới lớp 6 lớp 7 mà chúng tôi đã được tham gia lao động đào sông Phú Hải và trạm bơm Cầu Sộp. Ôi cái ngày xưa ấy, cái ngày của phong trào đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải ở quê tôi sao mà hồ hởi, quyết tâm, sao mà hăng say đến thế! Lũ trẻ con chúng tôi chỉ có khoai luộc, cơm nắm rau lang chấm muối vừng mà cũng thi nhau ra công trường vác đất, gánh gạch xây cống, đào kênh dưới trời nắng chang chang…


                Chiều cuối xuân. Nắng vàng mơ và mênh mang gió châu thổ. Tôi mê mải ngắm cánh đồng lúa xung quanh. Trước mắt tôi, cả một vùng đồng bằng rộng tới vài trăm héc-ta hiện lên như một tấm thảm xanh khổng lồ, nhìn hút tầm mắt. Nổi lên giữa những cánh đồng lúa xanh mướt là hệ thống kênh mương ngang dọc, thẳng tắp, từ đầu mối trạm bơm Cầu Sộp toả về các xã: Vĩnh Tuy, Vĩnh Hồng, Thúc Kháng, Tráng Liệt. Nước trong kênh chảy rào rạt, reo vui như khúc nhạc đồng quê. Tôi bỗng thấy lòng rưng rưng. Những hình ảnh của một thời đói nghèo, lam lũ thuở xưa lại hiện về trong tâm trí tôi. Làm sao có thể quên được những chân ruộng nẻ trắng có thể đút vừa cả bàn chân trong mùa khô hanh nhưng lại mênh mông nước, phải đi bằng thuyền trong mùa mưa. Làm sao có thể quên được những tháng ba ngày tám với bát cơm độn rau má, khoai lang, bưng lên miệng mà lòng xót sa. Đáng quý và đáng thương biết bao những bà mẹ đồng chiêm, trong đó có mẹ tôi, với tấm áo nâu sồng, mắt ướt, ” chân voi” lầm lũi ra đồng sớm hôm!…Tất cả, tất cả đã đi vào quá khứ nhưng lại hiện ra trong bức tranh đẹp của ngày hôm nay. Vâng, hôm nay, cả vùng châu thổ rộng lớn này đã thật sự đổi thay và đang đi lên từng ngày. Sau 50 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Bắc Hưng Hải  đã cơ bản hoàn chỉnh từ đầu mối tới mặt ruộng, với 11 công trình đầu mối lớn trên trục chính, 400 trạm bơm lớn nhỏ, gần 900 cống tưới tiêu lớn, 225 km sông trục chính và hàng nghìn km kênh nội đồng. Nhiều trạm bơm lớn có công suất từ 4000 m3/ s đến 8000 m3/s như  các trạm bơm: Như Quỳnh, Văn Giang, Mai Xá, Bình Hàn, Cầu Sộp v.v. đã phát huy tác dụng tốt trong những năm qua. Nửa thế kỷ đưa vào vận hành phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, ” con rồng vàng ” Bắc Hưng Hải đã đem lại hiệu quả lớn lao, đảm bảo cung cấp nước tưới cho gần 12 vạn héc-ta diện tích lúa màu, cây công nghiệp và tiêu úng cho hơn 19 vạn héc-ta diện tích lưu vực. Nhiều vùng trũng như Tứ Kỳ, Gia Lộc ( Hải Dương ), Tiên Lữ ( Hưng Yên ) vĩnh viễn không còn cảnh ” sống ngâm da, chết ngâm xương” nữa. Nhờ đảm bảo chủ động tưới tiêu, năng suất lúa của khu vực tăng vọt. Nếu trước đây, khi chưa có công trình Bắc Hưng Hải, năng suất lúa bình quân chỉ đạt từ 2,5 T/ha đến 3 T/ha một năm thì hiện nay con số này tăng lên từ 3 đến 3,5 lần. Có những địa phương như Gia Lộc, Ân Thi, năng suất lúa đạt tới 60 tạ/ha/ vụ.  Đặc biệt huyện Bình Giang, địa phương đang xếp trong tốp đầu về năng lúa của tỉnh còn đạt tới 65 tạ/ ha/vụ; có xã như Cổ Bì, Tân Việt còn vươn lên trên con số đó. Tổng sản lượng lúa cả năm toàn vùng hưởng lợi Bắc Hưng Hải đạt trên 1,2 triệu tấn là một con số khổng lồ, đáng được ghi nhận… Do có hiệu quả từ ” con rồng vàng” mang lại, chẳng những diện tích, năng suất và sản lượng lúa tăng lên đáng kể mà cơ cấu trong nông nghiệp cũng được chuyển đổi mạnh, mang lại hiệu quả lớn. Những trang trại, hộ gia đình có thu nhập bình quân từ 150 triệu đến 350 triệu đồng trên 1 héc-ta/ năm đã xuất hiện ngày một nhiều ở Thuận Thành ( Bắc Ninh ), Gia Lâm ( Hà Nội ), Ninh Giang, Bình Giang, Gia Lôc ( Hải Dương ), Khoái Châu, Yên Mỹ ( Hưng Yên )…Bắc Hưng Hải – Công trình của ý Đảng lòng dân, tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết, tự lực cánh sinh của ngày hôm qua,  nay đang vươn lên tầm cao mới trong quản lý khai thác, phát huy cao nhất hiệu quả công trình, nâng cao vai trò lớn lao của ngành thuỷ lợi.


                Bất giác, tôi lại nhớ tới những ” người hùng” của một thời – Những người đã góp phần làm nên một Bắc Hưng Hải kỳ vĩ như: Nguyên Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi Hà Kế Tấn, Kỹ sư cao cấp Nguyễn Văn Thụy, nguyên Trưởng ty Thuỷ lợi Hải Dương Quách Đại Rong và các chị: Vũ Thị Tỵ, Phạm Thị Vách, Trần Thị Xuân Đào…Các bác, các anh các chị giờ đang ở nơi đâu? Tôi tin là mai sau, mai sau  cháu con chúng ta  sẽ vẫn còn nhắc tới …


                Có tiếng hát của một cô gái đột ngột vút lên ở ruộng  lúa phía sau làm tôi giật mình. Tôi quay lại. Cô thôn nữ đang vừa tỉa lúa vừa hát. Trên bờ ruộng, cô dựng chiếc xe máy tay ga màu đỏ còn mới, lấp loá bên thảm lúa xanh rờn. Tôi chợt hiểu. Ra thế, bây giờ nhiều cô gái quê tôi đi làm đồng bằng xe máy, thay cho đôi chân lấm lem, cóc cách thuở nào. Tôi thấy vui vui. Cô gái hình như không để ý đến tôi. Cô vẫn vừa làm vừa hát say sưa, lời ca nghe mênh mang, mênh mang: ” Hải Dương quê em, dạt dào đồng xanh bao la. Hải Dương quê em…” . Ôi, tiếng hát nghe mới ngọt ngào, xao xuyến làm sao! Tôi bỗng thấy lòng mình lâng lâng, ngân vang khúc tình ca châu thổ.


     


    Hải Dương – Hưng Yên, vụ lúa xuân 2009


                           HÀ QUANG


    ( Cục Quản lý Xây dựng công trình, Bộ Nông nghiệp và  PTN T,


    Số 10-Nguyễn Công Hoan-HN. )


     

  • giao đề tài thiết kế tốt nghiệp cho sinh viên các lớp đại học vừa làm vừa học K39 Hà Nội

                               


     








    BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT


    TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     



    Số   117  /QĐ-ĐHTL


     


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


     


     



    Hà Nội, ngày 23 tháng 02 năm 2009


     


     


     


    QUYẾT ĐỊNH


    Về giao đề tài thiết kế tốt nghiệp cho sinh viên các lớp đại học vừa làm vừa học K39 Hà Nội, Điện Biên 1 , Phú Thọ 1, Sông Đà 1 , Hà Giang 1, Hội An 9


     



    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI


     


    Căn cứ Quyết định số 351/TC/QĐ ngày 24/04/1964 của Bộ Thuỷ lợi cũ (nay là Bộ Nông nghiệp & PTNT) quy định trách nhiệm, quyền hạn của Trường đại học Thuỷ lợi;


    Căn cứ Quyết định số 3767/GD-ĐT ngày 09/02/1994 của Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định việc thi và xét công nhận tốt nghiệp sinh viên tại chức các trường đại học và Cao đẳng;


    Căn cứ kế hoạch đào tạo khoá học 2004 – 2009 cho khoá đại học vừa làm vừa học K39 Hà Nội, Điện Biên 1 , Phú Thọ 1, Sông Đà 1 , Hà Giang 1, Hội An 9;


    Căn cứ kết quả học tập của sinh viên các lớp đại học vừa làm vừa học K39 Hà Nội, Điện Biên 1 , Phú Thọ 1, Sông Đà 1 , Hà Giang 1, Hội An 9;


    Xét đề nghị của ông Trưởng phòng Công tác chính trị và Quản lý sinh viên, Trưởng khoa Tại chức, Trưởng khoa Công trình và Trưởng khoa Kỹ thuật tài nguyên nước.


    QUYẾT ĐỊNH:


    Điều 1.  1/ Giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn cho 416 sinh viên lớp K39 Hà Nội, Điện Biên 1 , Phú Thọ 1, Sông Đà 1 , Hà Giang 1, Hội An 9 và các sinh viên khoá cũ xin làm thiết kế tốt nghiệp với khoá sau.(Danh sách 1 kèm theo)


        2/Giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn có điều kiện cho 13 sinh viên  còn nợ 1 HP môn học  (Danh sách  2 kèm theo)


        3/ Không giao đề tài thiết kế tốt nghiệp và giáo viên hướng dẫn cho 05 vì còn nợ trên 2HP môn học. (Có danh sách 3 kèm theo)


    Điều 2. 1/Thời gian làm thiết kế tốt nghiệp là 14 tuần từ 23/02/2009 ÷ 29/05/2009, trong thời gian trên sinh viên chịu sự quản lý về mọi mặt của Nhà trường và thực hiện đầy đủ các yêu cầu của giáo viên hướng dẫn.


                 2/ Những sinh viên được giao đề tài có điều kiện vì nợ điểm học tập được thi trả nợ vào ngày 27/02/2009, nếu qúa hạn trên sinh viên thi không đạt sẽ không được tiếp tục làm thiết kế tốt nghiệp và chịu mọi phí tổn làm thiết kế tốt nghiệp .


                3/ Những sinh viên không được giao đề tài thiết kế tốt nghiệp phải học và thi trả nợ các học phần còn thiếu, khi trả nợ xong phải có đơn để Nhà trường xem xét cho làm với khoá sau.


    Điều 3. Các ông Trưởng phòng Công tác chính trị & Quản lý sinh viên, Trưởng khoa Tại chức, Trưởng khoa Công trình và Trưởng khoa Kỹ thuật tài nguyên nước, các đơn vị có liên quan, giáo viên và sinh viên có tên trong danh sách trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.


     








    Nơi nhận:


     


    –          Như điều 3


          –     Lưu VT,CTCT&QLSV


     


    KT.HIỆU TRƯỞNG


    PHÓ HIỆU TRƯỞNG


    (đã ký)


    TS. TRỊNH MINH THỤ


     


     Danh sách 1

  • Tin tưởng và hy vọng

    Tin tưởng và hy vọng


    Hằng năm, cứ vào mùa xuân chúng ta lại có dịp nhìn lại chặng đường phấn đấu gian khổ nhưng đầy vinh quang vì dân, vì nước của Đảng.
    Sinh ra trong một nước nô lệ, hàng triệu người đã tham gia Đảng, hi sinh cho Đảng trước hết vì lòng yêu nước. Chính bởi sẵn sàng hi sinh mọi quyền lợi cá nhân, vì nước quên thân nên các đảng viên luôn được dân tin, dân yêu, dân theo. Được dân tin, dân yêu, dân theo nên sau 15 năm chỉ với vài nghìn đảng viên, Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám. Cũng bởi được dân tin, dân yêu, dân theo nên giữa vòng vây thù trong giặc ngoài, Đảng đã lãnh đạo thành công hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, đánh dấu bằng chiến thắng lịch sử Điên Biên phủ chấn động địa cầu và chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Bằng những kỳ tích vang dội đó, Đảng ta đã trở thành hình mẫu của một đảng cộng sản kiên cường, trung thành với lợi ích của dân tộc, có kinh nghiệm dày dạn trong lãnh đạo nhân dân đánh đuổi ngoại xâm, tiến hành chiến tranh chính nghĩa bảo vệ chủ quyền đất nước, được nhân dân trong nước và bè bạn trên thế giới ngưỡng mộ











    Nhưng cũng từ đây, đất nước bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên chấn hưng. Cần nhanh chóng khôi phục kinh tế, hàn gắn các vết thương sau 80 năm nô lệ và 30 năm chiến tranh tàn khốc. Cần xóa đói giảm nghèo, đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu, đứng vào hàng ngũ các nước đang phát triển để tiến tới có mặt trong số các nước công nghiệp phát triển trong thế kỷ XXI. Tất cả đặt lên vai những người suốt đời chỉ biết đánh giặc.
    Trong không khí háo hức sau chiến thắng và hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, thiếu một mô hình có trước, chúng ta đã để cho hơn 10 năm kinh tế trì trệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, xã hội nhiều bất ổn. Nhưng cũng từ cuối những năm 70, manh nha của quá trình đổi mới được tích lũy để đến Đại hội VI, đổi mới toàn diện đất nước đã trở thành cương lĩnh của Đảng. Một lần nữa, bản lĩnh của người cộng sản được tôi luyện trong một môi trường hoàn toàn mới. Dám nhìn thẳng vào thực trạng xã hội, dám nhìn thẳng vào yếu kém, khuyết điểm, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân. Với bản lĩnh đó, Đảng đã phát động được một phong trào quần chúng ngang tầm với một cuộc cách mạng rộng lớn và sâu sắc. Nhờ đổi mới, chúng ta đã trụ vững trước việc Liên Xô sụp đổ, các nước XHCN tan rã, phong trào cộng sản và công nhân rơi vào bế tắc, khủng hoảng. Cũng nhờ đổi mới, nước ta đã vượt qua được cơn bão khủng hoảng tài chính trên thế giới, phá vỡ vòng vây cấm vận, hội nhập với toàn cầu. Sau hơn 20 năm, nước ta đã đứng thứ hai trong số những nước có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới; một trong những địa chỉ đầu tư hấp dẫn; một trong những nước xuất khẩu hàng nông sản, hàng thủy sản, hàng công nghiệp nhẹ có tỷ trọng lớn; một quốc gia có tiềm năng về đóng tàu, sản xuất khoáng sản, điện năng, dầu thô, giao thông vận tải, tin học… được thế giới công nhận là một quốc gia thành công hàng đầu trong xóa đói giảm nghèo,bình đẳng giới, có bước phát triển mạnh mẽ trong đầu tư vào giáo dục, y tế, giải quyết thất nghiệp, chăm lo cải thiện điều kiện sống của con người… Từ cuối năm 2008 đến nay, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang gây khó khăn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thực hiện đồng bộ các giải pháp của Chính phủ, chúng ta đã ngăn chặn lạm phát đạt hiệu quả bước đầu và hiện đang vừa ngăn chặn lạm phát, vừa tích cực phòng ngừa thiểu phát. Từ những thành tựu đó, có thể khẳng định rằng Đảng ta không chỉ có năng lực lãnh đạo cuộc đấu tranh giành và bảo vệ dân tộc mà còn có năng lực lãnh đạo kinh tế, năng lực tự đổi mới và lãnh đạo đổi mới.
    Nhưng bên cạnh những thuận lợi, cũng không ít nguy cơ mà nguy cơ hàng đầu là sự tha hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ đảng viên. Trước đây, đảng viên là hi sinh trước dân, sung sướng sau dân, mọi gian khổ, hiểm nguy “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” nên được dân tin, dân yêu. Giờ đây Đảng đã có chính quyền, nghĩa vụ đảng viên gánh vác đi liền với quyền lợi, trong đó có những quyền lợi đảng viên được hưởng mà quần chúng bình thường chưa dễ được hưởng. Một dẫn chứng, ngày nay đảng viên là một tiêu chuẩn để có thể có chức, có quyền. Có chức có quyền thì mới có điều kiện cậy quyền, cậy chức, tham nhũng, lãng phí, chà đạp quyền dân chủ của người dân. Kinh nghiệm cho thấy, hầu hết các vụ tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật đều có sự dính líu của đảng viên. Tham nhũng, lãng phí càng lớn, số đảng viên, nhất là các đảng viên có chức, có quyền dính líu càng sâu, càng nhiều. Trong hoàn cảnh mới, để Đảng tiếp tục trong sạch, vững mạnh, để lòng tin của người dân vào Đảng không bị hao mòn, đổ vỡ là một vấn đề vô cùng khó khăn. Nhưng dù khó khăn, Đảng vẫn kiên quyết làm điều đó. Những năm qua, hàng nghìn đảng viên đã bị xử lý kỷ luật, hàng trăm người khác đã phải ra trước vành móng ngựa trong đó nhiều người đã phải nhận mức án cao nhất để giữ nghiêm kỷ luật Đảng, giữ vững niềm tin của quần chúng với Đảng.
    Đón mùa xuân về cũng là lúc cả nước tiếp tục hưởng ứng đợt 2 cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chuyển trọng tâm từ học tập sang hành động theo gương Bác. Đạo đức Hồ Chí Minh là tinh hoa đạo đức của dân tộc, là tiêu chuẩn đạo đức của Đảng, tiêu chuẩn đạo đức của người cộng sản nhân ái, trong sáng.
    Ngày nay, hoàn cảnh đã thay đổi, học tập đạo đức Hồ Chí Minh không phải là sự sao chép một cách hình thức chẳng hạn như chỉ ăn cà muối, cá kho, rau muống luộc; mặc áo sẫm màu để đỡ tốn xà phòng; đi dép cao su, dùng quạt lá cọ, nằm giường gỗ… Học tập đạo đức Hồ Chí Minh là học đức hi sinh cả đời mình cho dân tộc, đất nước; học tấm lòng nhân ái thương người không kể giới tính, quốc gia, chủng tộc; học lối sống thanh bạch, cần kiệm; học đức bao dung, không kèn cựa, tranh cạnh. Vận động đông đảo đảng viên và quần chúng học tập và làm theo được tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng ta sẽ thêm vững mạnh, lòng dân sẽ thuận, vận nước từ đấy mà hưng thịnh. Đó là niềm hi vọng và tin tưởng khi xuân về trong lòng mỗi người Việt Nam./.


     Duy Vũ – Theo Báo Đảng Cộng sản Việt Nam