Danh mục: Tin tức Uncategory

  • ĐOÀN QUÂN TRỞ VỀ

    ĐOÀN QUÂN TRỞ VỀ

                                                


    Đào tạo sỹ quan dự bị là khóa học thường niên của mỗi một khóa sinh viên ra trường.


    Năm 2009 khóa 46 tốt nghiệp, Nhà trường đã tuyển chọn 50 sinh viên ưa tú đến từ 2 khoa công trình (30 sinh viên) và Năng lượng (20 sinh viên) có đủ điều kiện sức khỏe tham gia vào hàng ngũ quân đội đi xây dựng tổ quốc.










    PGS.TS Lê Đình Thành thay mặt Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường chúc mừng các sỹ quan dự bị đã hoàn thành khóa học của mình.


    Sau 4 tháng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo sỹ quan dự bị của mình, chiều ngày 27 tháng 11 năm 2009 các anh đã về lại mái trường yêu dấu dưới sự chào đón ân cần của Nhà trường. Đón các sỹ quan dự bị có PGS.TS Lê Đình Thành, đại diện lãnh đạo các phòng, ban liên quan. Thay mặt Đảng ủy, Ban giám hiệu PGS.TS Lê Đình Thành chúc mừng 50 sỹ quan dự bị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trở về, trong lời phát biểu của mình thầy nói: “Nhà trường rất tự hào về các em, giờ đây khi các em đã hoàn thành xong nhiệm vụ trở về nhà trường tạo mọi điều kiện có thể để các em tìm kiếm được việc làm phù hợp với từng em”.


    50 sinh viên đã hoàn thành nhiệm vụ trở về trong con người của  các anh dường như có hai dòng nhiệt huyết đang chảy của người sỹ quan dự bị và của những tân kĩ sư đi xây dựng những công trình cho đất nước. Sỹ quan dự bị Nguyễn Đức Thiện sinh viên lớp 46C3 thay mặt cho 50 chiến sĩ đã cảm ơn sự quan tâm của nhà trường và hứa dù sau này công tác trên cương vị nào thì chúng em vẫn luôn luôn hướng về mái trường đã dìu dắt chúng em vào đời.


    Trong số 50 sinh viên lên đường tham gia lớp sĩ quan dự bị năm 2009 sau khi tốt nghiệp đã có 7 sinh viên đạt loại danh hiệu chiến sĩ xuất sắc đó không chỉ là niềm vinh hạnh của các anh mà còn là niềm tự hào của nhà trường.










    Tặng quà của Nhà trường cho các sỹ quan dự bị


    Giờ đây các anh sẽ làm viêc trên một cương vị khác nhưng chúng ta tin chắc rằng tin thần của anh bộ đội cụ Hồ của những ngày tháng rèn luyện ngắn ngủi tại Trường Đào tạo sỹ quan dự bị vẫn luôn ở trong trái tim các anh  các anh sẽ đóng góp công sức của mình xây dựng trường Đaị học Thủy Lợi nói riêng và tổ quốc nói chung của chúng ta ngày càng vững mạnh.


    Văn Đông


  • Chàng giám đốc 19 tuổi thích đi xe đạp

    Chàng giám đốc 19 tuổi thích đi xe đạp

    (SVVN)Sinh viên trường Thủy lợi, hiếm ai là không biết Hoàng Đức Minh – sinh viên năm 2, chương trình Tiên tiến kỹ thuật tài nguyên nước. Bởi cậu bạn 19 tuổi này là một trong số không nhiều “chuyên gia” hàng đầu Việt Nam hiện nay về lĩnh vực Biến đổi khí hậu.


    Niềm đam mê từ người cha


    Niềm đam mê về các lĩnh vực môi trường, tự nhiên của Minh được truyền lại từ người cha say mê nghiên cứu khoa học của mình. Năm cấp 2, cậu bạn có nụ cười dễ mến này được giao bài tập lớn đầu tiên của đời mình: giúp bố dịch và phân loại các tài liệu liên quan tới biến đổi khí hậu.


    Vốn tiếng Anh của một cậu học sinh năm đầu chuyên ngữ không đủ để Minh thực hiện “bài tập” trôi chảy, cậu phải lần mò thêm từ điển, wikipedia và cả rất nhiều nguồn khác.


    Tiếng Anh khoa học không dễ, đòi hỏi độ chính xác cao về mặt học thuật. Vậy mà bố của Minh còn đòi hỏi cậu hoàn thành “bài tập” với mức độ hoàn thiện: không chỉ chính xác, mà còn phải có sự mạch lạc và chau chuốt như một bài văn.


    Đề khó không làm Minh bó tay, không chỉ vượt qua bài tập này mà từ đó về sau, đề bài tự chọn môn Văn được Minh ưa thích nhất là viết về các vấn đề môi trường.


    18 tuổi, và hành trình tới Hawaii


    Thi đại học xong, nhờ những ngày lần mò giúp bố chuẩn bị tài liệu cho các hội thảo khoa học, dịch thuật và tham gia dẫn chương trình cho vài diễn đàn, Minh lọt vào “mắt xanh” của Giám đốc Trung tâm dự báo thiên tai Hawaii.


    Một lời đề nghị hấp dẫn được đưa ra: “Nếu Minh đỗ ĐH Thủy lợi, trung tâm sẽ “bao” toàn bộ vé máy bay và chi phí sinh hoạt cho cậu đến Hawaii thực tập. Ngược lại, cậu sẽ lo từ A đến Z”. Không suy nghĩ lâu, cậu bạn gật đầu ngay tắp lự với niềm tin… chắc chắn sẽ đỗ. Và kết quả là Minh đỗ thật.


    Những ngày ở Hawaii là những ngày thực sự được note đỏ trong cuộc đời cậu. Được giao một văn phòng riêng, cùng đủ thứ máy móc và thiết bị hiện đại, Minh được học về hệ thống GIS (Geography Information System) and Disater Management-Hệ thống thông tin địa lý và quản lý thiên tai toàn cầu.


    Giám đốc chỉ thích… đi xe đạp








    Hoàng Đức Minh – 50NK – B-Day:11/08/90 – Email:[email protected]

    18 tuổi, Minh trở thành giám đốc Dự án Nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho giới trẻ. Nói là giám đốc cho oai, thực chất, Minh là trưởng nhóm dự án gồm những bạn trẻ đam mê các vấn đề về môi trường, công việc chính là truyền thông kiến thức biến đổi khí hậu cho mọi người.


    Điều nhóm tự hào nhất, là việc dịch thuật được rất nhiều tài liệu hữu ích với văn phong gần gũi, giản dị và dễ hiểu. Đấy là lý do vì sao mà khi tham gia Diễn đàn quốc gia Nâng cao nhận thức về Biến đổi khí hậu cho trẻ em, các em nhỏ nghe những câu chuyện của Minh một cách đầy thích thú.


    Minh không thích đi xe máy! Sự thật, cậu vẫn nghĩ một người hoạt động về môi trường, trước hết phải có ý thức bảo vệ nó đã. Vỗ vỗ vào con ngựa sắt thân quen, Đức Minh cười toe, vì nhờ có nó, cậu vẫn đi lại khắp nơi để chuẩn bị cho những dự án trong tương lai của mình…


    Đi nhiều, nhưng chưa bao giờ kết quả học tập của cậu bạn tụt hạng cả. Có lần, Minh khoe, cả đêm không ngủ ở nhà. Hỏi thế ngủ ở đâu, cậu “bắn” ra một câu trả lời cực sốc: ghế đá sân trường. Thì ra anh bạn đi xem phim buổi tối ở trường, không có bus về mà lại hết tiền, nên chọn khách sạn “ngàn sao” làm chốn ngủ.


    Tháng 10 này, Minh là thành viên cốt cán trong ban tổ chức diễn đàn Thanh niên quốc gia về Biến đổi khí hậu. Tháng 11, “giám đốc” lại vi vu sang Philippines dựå hội nghị các vấn đề biển Đông.


     Là người Việt Nam duy nhất được Tiến sĩ Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Trung tâm nghiên cứu giáo  dục môi trường và phát triển thuộc Liên hiệp các Hội KH và KTVN đề cử cho giải thưởng lớn của hãng Rolex, nhìn Đức Minh mê mải kể về những kế hoạch tương lai của mình, có thể tin chắc bạn ấy sẽ còn tiến rất xa với niềm đam mê khoa học của mình.


    Việt Anh


    Theo báo SVVN Online


     


     

  • Thông báo tổ chức thi Olympic cấp trường môn Sức bền vật liệu và Cơ học kết cấu

    BỘ MÔN SỨC BỀN – CƠ HỌC KẾT CẤU



    THÔNG BÁO


    (V/v tổ chức thi Olympic cấp trường năm học 2009-2010)


     


    Kính gửi: Các lớp khoá 48 và khóa 49


    Theo kế hoạch, Bộ môn Sức bền – Cơ học kết cấu sẽ tổ chức cuộc thi Olympic môn Sức bền vật liệu cấp trường cho khóa 49 và môn Cơ học kết cấu cho khóa 48 và 49.


    Thời gian: 8h00, chủ nhật, ngày 08 tháng 11 năm 2009.


     Địa điểm: Thông báo sau.


     Nội dung chính:   


    Môn Sức bền vật liệu : học phần 1


    Môn Cơ học kết cấu: toàn bộ


     Bộ môn nhận danh sách đăng ký từ ngày 05/10/2009 đến ngày 02/11/2009 (Sinh viên có thể nộp danh sách tại Bộ môn: P410-A1, hoặc giáo viên phụ trách môn Cơ học kết cấu và môn Sức bền vật liệu của lớp mình đã và đang theo học).Đề nghị các em sinh viên đã đăng ký đi đầy đủ và đúng giờ.


                

        BỘ MÔN SỨC BỀN – CƠ HỌC KẾT CẤU


     

  • Thế hệ trẻ chúng tôi tiếp nhận Di chúc của Bác cách đây 40 năm

    Độc giả thân mến!


    Ban biên tập chúng tôi nhận được bức thư của cựu sinh viên Ngô Mậu Chiến – Lớp 10C2, trong thư có đoạn viết: “…Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thực hiện di chúc Bác Hồ và kỷ niệm thành lập Trường, tôi có viết bài “thế hệ trẻ chúng tôi tiếp nhận di chúc Bác Hồ cách đây 40 năm, đây cũng là ký ức của bản thân, lớp trẻ chúng tôi hồi đó…”        


    Xin trân trọng gửi đến độc giả bài viết của tác giả Ngô Mậu Chiến, tuy lời lẽ còn mộc mạc, chưa được “gọt dũa” nhiều, nhưng nó phản ánh lên hiện thực cùng cảm xúc chân thật của tác giả thời ấy.


    Xin trân trọng giới thiệu.


     


    Thế hệ trẻ chúng tôi tiếp nhận Di chúc của Bác cách đây 40 năm


     


    Cách đây 40 năm thế hệ trẻ chúng tôi lúc đó nhiều người đang chiến đấu ở chiến trường, có người vừa sản xuất, vừa chiến đấu tại quê hương mình, trên các công – nông trường – xí nghiệp – nhà máy. May mắn hơn các bạn bè trang lứa, chúng tôi đang học tập trên các giảng đường Đại học.


    Tôi nhớ lại ngày 3 tháng 9 năm 1969 trời mưa tầm tã, chúng tôi đi lấy gạo cho bếp ăn tập thể  của lớp, trên đường về lúc đó khoảng 9 giờ thì nghe bản tin đặc biệt của Đài tiếng nói Việt Nam thông báo Bác Hồ kính yêu đã qua đời, tin sét đánh đó làm cho chúng tôi bàng hoàng, chân tay rã rời, ai cũng thấy mệt moit nhưng cố gắng để về xem lớp mình thế nào…Chiều và tối hôm đó theo chỉ đạo của đồng chí Bí thư chi bộ và đồng chí lớp trưởng, chúng tôi lập bàn thờ Bác Hồ tại nhà ở sinh viên. Chúng tôi lấy hoa sim, hoa mua ở gần bên nhà ở làm vòng hoa và đi tìm ảnh Bác, thời đó có nơi lấy ảnh của Bác ở trong báo để thờ. Tuy rất buồn đau và lo lắng nhưng công việc làm rất tự giác, sáng tạo…Sau mấy ngày toàn trường tập trung làm lễ truy điệu Bác tại Hợp tác xã Nông nghiệp ở gần gốc đa Dùm, xã Nghĩa Phương – huyện Lục Nam – Hà Bắc. Trời mấy ngày liên tục mưa nhưng đến chiều hôm làm lễ truy điệu Bác trời tạnh, khô ráo. Cả nước làm lễ truy điệu theo tường thuật của Đài tiếng nói Việt Nam. Buổi lễ quá tôn nghiêm, gần 5 ngàn người đứng yên phăng phắc, lâu lâu nghe “phịch” một cái, cứ 5-7 phút lại có người ngã (vì ngất), đội cấp cứu làm việc không xuể, phải có những người khác hỗ trợ đưa người ngã vào trong lán sơ cứu. Người còn lại cứ chăm chú nghe điếu văn của đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất của Đảng đọc sang sảng  và vô cùng cảm động. Kết thúc điếu văn, chúng tôi hô vang 5 lời thề 3 lần như tiếng sấm vì đã dồn nén trong lòng nay lại vang lên. Có thế nói trong lứa tuổi của chúng tôi chưa bao giờ được chứng kiến một lễ tôn nghiêm và cảm động đến như thế. Ngay sau ngày Bác mất, chúng tôi được đọc bản di chúc của Bác công bố lần đầu tiên. Theo chỉ đạo của Đoàn trường và Chi bộ, chi bộ đoàn phát động học tập di chúc. Học di chúc lúc đó đơn thuần là học thuộc lòng điều Bác viết trong di chúc. Tôi là Bí thư chi đoàn lớp 10C2 (Khoa Thủy công) chữ lại đẹp, nên được giao nhiệm vụ viết lại bản di chúc của Bác trên nền giấy rô ky. Cả đêm hôm đó chúng tôi đã thức trắng để can giấy rô ky và viết lại bản di chúc. Ngày hôm sau treo lên phía tường lớp học, nhiều sinh viên đã chép lại toàn bộ di chúc của Bác và chỉ mất vài ngày sau tất cả các Đoàn viên đều thuộc lòng bản di chúc,  không phải chi đoàn lớp tôi mà lớp nào cũng vậy. Chúng tôi cảm nhận lúc đó di chúc của Bác, Bác dặn dò đầy đủ, Bác khẳng định cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù kinh qua gian khổ, hy sinh  nhưng nhất định thắng lợi. Bác dặn với Đảng phải xây dựng đoàn kết, phải chăm lo thanh thiếu niên, giáo dục họ thành người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bác dặn sau giải phóng phải chăm lo đời sống của nhân dân, tích cực củng cố phong trào cộng sản quốc tế, nhắc nhở Đảng, Nhà nước ta phải cảm ơn các nước giúp đỡ ta về việc riêng Bác để cuối cùng (hồi đó chúng tôi đếm đúng 79 chữ). Bác dặn khi Bác qua đời không nên phúng điếu linh đình, điều chúng tôi tâm huyết và cảm động nhất vì cả cuộc đời Bác đã một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, Bác chỉ tiếc và tiếc rằng là không được phục vụ lâu hơn nữa.


    Theo chỉ đạo của Đoàn Trường và liên chi đoàn khoa, các chi đoàn làm lễ phát động phong trào học tập và rèn luyện theo di chúc Bác. Trong buổi lễ, đại diện đoàn viên nam nữ lên phát biểu cảm tưởng, bày tỏ quyết tâm, mỗi người một ý, nhưng người nào phát biểu cũng rất cảm động và tỏ rõ quyết tâm cao, biến đau thương thành hành động cách mạng, cùng đoàn kết đi theo con đường Bác đã chọn, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Đảng, tổ chức phân công, trước mắt là học tập và rèn luyện tốt.


    Đúng như lời hứa quyết tâm, tình hình chi đoàn tôi và toàn trường có sự chuyển biến đáng kể trong học tập, lao động và rèn luyện. Kết quả thi học kỳ I (1969-1970) đạt kết quả cao, xong học kỳ I chúng tôi bắt đâu chuyển về địa điểm trước khi sơ tán – học viện thủy lợi điện lực Đống Đa – Hà Nội. Dù có về Hà Nội nhưng phong trào tự quản của lớp vẫn giữ truyền thống, các nề nếp như quân đội, giờ nào việc đó. Sáng thể dục, ngày lên giảng đường – chiều thể thao, thể dục, tối tự học và kết quả thi học kỳ II đạt kết quả cao hơn nữa.


    Những năm 1969 – 1970 chiến trường miền Nam đang đánh mạnh, Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp có chủ trương gọi sinh viên vào Quân đội. Lớp sinh viên chúng tôi hồi đó đang học năm thứ 3, 4 vẫn tư thế sẵn sàng lên đường. Nhiều sinh viên làm đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu. Những năm 1970, 1791,1972 lớp lớp sinh viên tạm xếp bút nghiên vào quân đội, kể cả giáo viên trường Đại học cũng lên đường. Tôi nhớ lại khi chúng tôi hành quân vào dốc Bò Lăn – ranh giới Thanh Hóa và Nghệ An là giỗ đầu Bác Hồ và kỷ niệm một năm thực hiện di chúc của Bác. CHúng tôi đề xuất với chi đoàn Đại đội 2, E16, F325 sinh hoạt trao đổi tâm tư tình cảm và tự kiểm điểm sau một năm Bác đi xa, nhiều đồng chí ôn lại những kỷ niệm ban đầu, khi tiếp xúc với bản di chúc, làm bàn thờ Bác ở nơi sơ tán, những kỷ niệm vui buồn thời sinh viên…Và sau cái lần đó chúng tôi huấn luyện đi chiến trường, người đi ra Hà Nội về Quân chủng Phòng không – không quân, một số sau khi huấn luyện loại tên lửa mới lại hành quân vào Nam chiến đấu. Những ngày tháng gian khổ ở Trường Sơn thiếu muối, thiếu gạo, thiếu nước…cũng có lúc suy tư nhưng chúng tôi vượt qua. Hành quân gần 4 tháng đến Cà Chay (Campuchia), sau vài ngày chúng tôi tham gia chiến đấu liên tục từ đường 13 Bên Cát, Bình Long, Phước Long, Bù Đốp, Bù Đăng, núi Bà Đen, rừng Sát (miền Đông Nam bộ) và xuống đồng bằng sông Cửu Long chiến đấu. Những mùa mưa (mùa nước nổi) địch càn quét liên tục, trên trời trực thăng 2 lớp, dưới thì bộ binh đi trên xe M113 (xe lội nước), tàu vào các sông, pháo bầy, B52 cày xới đêm ngày, nhưng chúng tôi vẫn giữ niềm tin mà Bác khẳng định trong Di chúc: chúng ta nhất định sẽ chiến thắng. Lịch sử đã đặt sứ mệnh lên trên vai của chúng tôi rồi phải cùng nhau mà gánh đi – mỗi người gánh một ít sẽ nhẹ đi và đi đến đích nhanh hơn, tất cả chúng tôi đều nghĩ vậy…


    Sau giải phóng, chúng tôi có dịp gặp nhau, có năm họp lớp, có năm về tựu trường, có khi thăm đơn vị cũ, gặp lại thủ trưởng cũ ai cũng thừa nhận khi lớp sinh viên chúng tôi vào đơn vị, phong trào huấn luyện chiến đấu, phong trào văn hóa, văn nghệ không khí đơn vị thay đổi hẳn.


    40 năm qua, thực hiện di chúc Bác Hồ, lớp trẻ chúng tôi hồi đó là lớp sinh viên vào quân đội, nay người còn  người mất. Có nhiều người đã cống hiến xương máu và một phần xương máu cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sau giải phóng, đại bộ phận sinh viên trở lại học tập tại Trường, có một số ở lại cũng được quân đội cho đi đào tạo các trường trong quân đội để cống hiến cho sự nghiệp đổi mới, công cuộc CHN-HĐH đất nước và xây dựng quân đội. Nhiều anh chị em trưởng thành, nhiều người trở thành các bộ cấp cao trong và ngoài quân đội. Ai ai cũng tự hào có được nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, thử thách để chiến thắng, trước hết phải chiến thắng chính mình, đó là lớp người chúng tôi đã mang trong mình hành trang là Bản di chúc của Hồ Chủ Tịch.


     


     


    Ngô Mậu Chiến


    Hội Cựu chiến binh tỉnh Khánh Hòa


    Cựu sinh viên lớp 10C2 – Đại học Thủy Lợi.

  • Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam thành công tốt đẹp


    Sáng 8/8/2009, Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam (VNCOLD) đã họp tại Hội trường T35 Đại học Thủy lợi.  Gần 200 đại biểu từ nhiều miền của đất nước, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, các trường đai học, viện nghiên cứu, ban quản lý dự án, các doanh nghiệp, các chuyên gia, .. đã về dự Đại hội, trong đó có các vị:


    –          Nguyên Bộ trưởng Thủy lợi,Chủ tịch danh dự VNCOLD Nguyễn Cảnh Dinh,


    –          Nguyên Bộ trưởng Xây dựng, GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm,


    –          Chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN Trần Ngọc Hùng.


    –          Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN, TS. Phạm Sĩ Liêm,


    –          Thứ trưởng Nông nghiệp & PTNT Nguyễn Ngọc Thuật


    –          Thứ trưởng Nông nghiệp & PTNT, GS.TS. Đào Xuân Học


    –          Thứ trưởng Tài nguyên & Môi trường, TS. Nguyễn Thái Lai











    Các đại biểu trước sảnh lớn của Đại học Thủy lợi


     


    Sau phần họp trù bị thông qua một số sửa đổi Điều lệ Hội và Danh sách Ủy viên Ban Chấp hành khóa 2, Đại hội tiến hành họp chính thức và nghe:


    – Báo cáo Kết quả  hoạt động nhiệm kỳ I và phương hướng hoạt động nhiệm kỳ 2 (Chủ tịch VNCOLD, GS.TSKH. Phạm Hồng Giang trình bày),   


    – Báo cáo Tài chính trong nhiệm kỳ (Tổng thư ký VNCOLD Trần Tiếp Đệ trình bày).


    Nhiều đại biểu đã phát biểu ý kiến bày tỏ sự nhất trí cao với các báo cáo được trình bày, thông qua dự thảo Nghị quyết Đại hội (Chủ tịch Chi hội Miền Trung Giả Kim Hùng) khẳng định những thành tựu to lớn về nhiều mặt đã đạt được trong 5 năm qua, những hạn chế và biện pháp khắc phục trong thời gian tới, những nhiêm vụ quan trọng của nhiệm kỳ 2.


    Các tập thể:


    – Trung tâm Tư vấn khoa học – công nghệ Tài nguyên nước,


    –  Ban Biên tâp Web site của VNCOLD


    được Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật VN khen thưởng.


    !4 cá nhân được Tổng hội Xây dựng VN khen thưởng.


    Phó Chủ tịch VNCOLD, GS.TS. Lê Kim Truyền phát biểu bế mạc và Đại hội kết thúc trong không khí phấn khởi, tin tưởng vào thành công và bước tiến mạnh mẽ của Hội Đập lớn Việt nam trong những năm tới. 







    Các Ủy viên Đoàn Chủ tịch và Ban Thư ký nhiệm kỳ 2 và các vị khách quý tại Đại hội

       


    Theo www.vncold.vn

  • Bí kíp” bớt run trước ngày thi

    Đêm 2/7, Hội trường T45 của Đại học Thủy Lợi chật cứng các sĩ tử và phụ huynh đến tham dự chương trình “Đồng hành cùng sĩ tử”.


    Tại đây các em đã gửi câu hỏi của mình đến những thầy cô của trường và những chuyên gia tâm lý.


    Các câu hỏi của thí sinh chủ yếu về phần tâm lí và những tình huống ứng xử trong khi làm bài thi. Điều sĩ tử băn khoăn nhất chính là: “Làm sao để có được tinh thần tốt trước khi vào thi?”, hay “làm cách nào để bớt run” và những câu hỏi có nội dung tương tự.


    Thạc sĩ Vũ Huy Vỹ và thạc sĩ Nguyễn Hải Yến – giảng viên bộ môn Kỹ năng đã hướng dẫn các em những động tác để có được tinh thần tốt nhất. Thạc sĩ Vũ Huy Vỹ cho rằng: Thí sinh nên chuẩn bị tốt kiến thức từ khi ở nhà và chỉ có cách ấy thì các em mới bớt run. Còn riêng Thạc sĩ Nguyễn Hải Yến thì lại khuyên thí sinh nếu căng thẳng trước giờ thi quá thì nên làm những động tác mát-xa mặt, mắt để tinh thần thoải mái.


    Còn nhiều em hỏi các tình huống như: khi “bí” quá mà thấy các bạn làm bài “tằng tằng” nên dễ có cảm giác lo sợ, sau đó khó lấy lại tinh thần tiếp tục làm bài, hay thấy bạn “quay bài” mình mà giám thị không biết thì làm sao?


    Theo 2 giảng viên, thí sinh ở bất kể tình huống nào nên tập trung cao độ vào bài thi của mình. Thầy Vỹ khẳng định: “Cứ có khối lượng kiến thức vững thì nên tập trung tối đa nhất vào bài thi”.


    Nguyễn Đức Hải (Đông Hưng, Thái Bình) dự thi khoa Kỹ thuật Thủy điện – Tái tạo năng lượng – tâm sự: “Khi nghe các thầy cô tư vấn em cũng đỡ run hơn và em thấy tự tin hơn nhiều. Hơn thế, em càng có quyết tâm thi đỗ vào trường vì các anh chị sinh viên rất nhiệt tình”.


    Hoàng Thị Lụa – thủ khoa năm 2007– 2008 và Nguyễn Văn Hiền – người đạt thành tích xuất sắc trong học tập hai năm liền là SV ưu tú (2007, 2008) cùng chia sẻ kinh nghiệm. Hai bạn khuyên các sĩ tử nên làm câu dễ trước rồi sau đó quay trở lại làm bài khó.


    Hoàng Thị Lụa bật mí: “Cấu trúc bài thi phân chia điểm rất đều, rõ rệt nên các bạn cố gắng làm phần dễ và dành thời gian để làm bài khó. Như vậy, bạn mới đạt được điểm cao”. Lụa chính là người đạt điểm 30/30, trong kì tuyển sinh của trường năm 2007 – 2008.


    Bác Nguyễn Văn Định – phụ huynh em Nguyễn Văn Cường ở Trực Ninh (Nam Định) – nhận xét: “Có thầy cô động viên, nói chuyện chúng tôi mới yên tâm. Ban đầu cũng không hiểu con mình học khoa này là như thế nào? Nhưng nghe các thầy cô giải thích mới biết rõ”.


    Đây là lần đầu tiên, Trường Đại học Thủy Lợi tổ chức chương trình tư vấn cho thí sinh nên về chất lượng chương trình cũng có nhiều hạn chế. Chương trình này do chính sinh viên tạo ra và được phát triển nòng cốt ở CLB Phát triển kĩ năng của trường nên cũng đáng được ghi nhận dưới góc độ sinh viên tổ chức.

    (Theo Vietnamnet)

  • Ngọn đèn trước gió Kỳ 7 – Đối mặt sự thật

    Ngọn đèn trước gió Kỳ 7 – Đối mặt sự thật

    Một tháng trôi qua, tôi phải lên viện để điều trị tiếp. Đi trong sương gió của buổi sớm, tự dưng trong tôi có cảm giác se lạnh. Những làn khói trắng bốc lên từ bếp nhà ai đó đang bay là là trước mắt càng khiến tôi thêm lưu luyến không muốn rời xa nơi này.


    Bạn cũ, bạn mới


    Tôi ngủ một giấc dài trong suốt chuyến đi, tới bệnh viện là khoảng hơn mười giờ trưa. Sau khi làm các thủ tục nhập viện tôi được chuyển vào ở cùng phòng với Thắng.


    Thắng vào viện từ cách đấy một tuần và đang truyền hóa chất. Đợt điều trị vừa rồi tôi cũng nằm ở phòng này, trong phòng có hai giường bệnh là giường số 14 và giường số 16. Lần này tôi nằm ở giường số 16. May mà tôi chỉ phải nằm một mình một giường. Thắng nằm chung giường với chú Dương.


    Chú Dương quê ở Thái Bình, cán bộ trong ngành ngân hàng. Chú mới nhập viện và đang chờ kết quả xét nghiệm. Ngoài Thắng là người tôi quen từ trước còn có chị Biên.


    Chị truyền xong hóa chất của đợt ba và cũng sắp xuất viện. Trông chị gầy hơn trước nhiều, môi khô nứt nẻ và có phần hơi mệt. Mẹ chị nói chị đang bị men gan cao nên ăn kém, hay bị nôn. Đó cũng là tình trạng chung của hầu hết bệnh nhân sau khi truyền hóa chất.


    Chiều, sau khi được các chị y tá lấy máu làm xét nghiệm, tôi đến các phòng để xem còn có ai mà tôi đã quen hay không. Đi qua một phòng, tôi thấy có tivi đang chiếu những môn thi đấu tại Seagames 24. Đây là phòng tự nguyện nên chỉ có hai bệnh nhân, tôi chưa gặp bao giờ. Thấy tóc trên đầu tôi rụng gần hết, một bác hỏi:


    – Cháu điều trị ở đây được mấy đợt rồi?


    – Dạ cháu đã điều trị ở đây được một đợt. Đợt này là đợt thứ hai.


    – Bệnh của cháu ở thể gì?


    – Dạ, bệnh của cháu ở thể L2


    – Vậy là giống với bệnh của bác rồi.


    Tên bác là Kiên – cán bộ ngành nông nghiệp. Bác cũng quê ở Nam Định nhưng ở khác huyện với tôi, mới nhập viện được hai tuần và đây là đợt điều trị đầu tiên. Bên cạnh là giường bác Phi. Bác là người Hà Nội, bệnh của bác ở thể M2, bác đang truyền hóa chất đợt cuối cùng. Ngày nào truyền thuốc xong, bác cũng đi xe về nhà. Gần sáu mươi tuổi nhưng trông bác khỏe, không ai nghĩ bác là bệnh nhân.


    Phũ phàng


    Lần đầu tiên tiếp xúc, tôi thấy bác Phi rất vô tư, thoải mái. Bác nói không bao giờ bác nghĩ về bệnh tật của mình, thậm chí cũng không quan tâm đến tên bệnh mình đang mắc phải, tình hình tiến triển hay phải truyền bao nhiêu đợt hóa chất nữa. Mới đây bác sĩ thông báo hết đợt điều trị này bác được đi khám định kỳ và bệnh của bác ở thể M2. Thấy ba chúng tôi nói chuyện với nhau vui vẻ, một chú xem tivi cùng tôi chen vào giọng buồn rầu:


    – Hai bác với anh đây truyền hóa chất mà trông khỏe quá! Không biết mấy hôm nữa con gái em truyền hóa chất, nó có chịu nổi không nữa?


    – Thế con gái chú bệnh gì?- Bác Kiên vội hỏi.


    – Thì ung thư máu thôi.


    – Ai chẳng biết là ung thư. Ở đây ai mà chẳng thế. Tôi muốn hỏi là bệnh của nó ở thể M hay thể L hay dòng hạch cơ.


    Chú đó lắc đầu:


    – Em cũng không biết nữa. Bác sĩ ở khoa C7 bảo chuyển cháu lên khoa C8 để truyền hóa chất, nhưng mà họ bảo chỉ kéo dài thêm được bảy, tám tháng thôi vì bệnh của con em nặng lắm rồi.


    Nghe bác Kiên nói vậy, tôi vội giải thích:


    – Khoa này có tên là Khoa Ung thư Máu, nhưng đâu phải ai cũng bị bệnh này. Bệnh của bác cháu mình là bệnh bạch cầu cấp dòng lympho thể L2 cơ mà.


    Bác Kiên cười:


    – Cháu điều trị ở đây một đợt rồi mà không biết. Ai phải vào đây, nghĩa là bị ung thư máu. Không tin cháu cứ đọc mấy cuốn sách kia đi.


    Bác Kiên chỉ tay vào một đống sách đang được đặt trên bàn. Tôi tiến lại gần, lấy ra một cuốn sách và bắt đầu đọc. Tôi không nhớ rõ nhan đề của cuốn sách đó là gì, chỉ biết nội dung của nó nói về những bệnh ung thư. Bệnh ung thư máu được nói đến ngay ở trang đầu tiên của cuốn sách. Trong đó tác giả của cuốn sách có viết: Bệnh ung thư máu gồm những bệnh như U Lympho, bạch cầu tủy, bạch cầu dòng Lympho cấp. Nó còn có tên gọi khác là Lơ-xơ-mi cấp, Lơ-xơ-mi có nghĩa là máu trắng.


    Đọc đến đây tự dưng tôi thấy choáng váng, tim đập dồn dập như vừa nghe được tin sét đánh. Tiếp tục đọc, tôi được biết những bệnh nhân như tôi thường có lượng bạch cầu trong máu tăng cao. Mà bạch cầu lại có màu trắng nên bệnh này còn được gọi là bệnh máu trắng.


    Triệu chứng của những người bị bệnh giống như người bị cảm thông thường như sốt, đau đầu, ra mồ hôi trộm, chân tay nhức mỏi. Số lượng hồng cầu, tiểu cầu trong máu thường thấp nên sẽ gây ra hiện tượng khó thở, mệt và xuất huyết.


    Ngoài ra, đối với những bệnh nhân như chúng tôi, kích thước của gan và lá lách đều to hơn bình thường do tế bào lạ tập trung ở đây.


    Người viết cuốn sách này cũng thật tàn nhẫn, đọc từ đầu đến cuối mà tôi cũng chẳng thấy chỗ nào đề cập đến những thành tựu mới nhất của y học, để bệnh nhân  còn có chút hy vọng. Cuốn sách chỉ nói chung chung, nước đôi như bác sĩ nói với những bệnh nhân bị ung thư máu là bệnh đã thuyên giảm, chứ không nói là bệnh đã khỏi hoàn toàn, vì trong tương lai bệnh có thể sẽ tái phát.


    Rồi những bệnh nhân không may mắc phải căn bệnh này thường bị suy sụp về tâm lý vì vậy mà gia đình, người thân, bạn bè là niềm động viên tốt nhất đối với họ. Nếu như cuốn sách đó không phải là của bác Kiên mà là của tôi thì khi đọc xong nó, tôi sẽ vứt đi ngay lập tức.


    Tôi trở về phòng, mọi người đi đâu hết. Có lẽ mẹ tôi đang nấu cơm ở dưới sân bệnh viện. Căn phòng bình thường chật hẹp là thế mà sao tự dưng tôi thấy trống vắng quá.


    Trời mùa Đông thật u ám


    Chiều nay, bệnh viện đột nhiên mất điện càng khiến cho căn phòng thêm tối tăm. Những gì tôi vừa mới đọc được cứ lần lượt hiện lên trong đầu tôi. Vậy là điều tôi nghi ngờ, và không mong muốn nhất giờ đã thành sự thực.


    Tôi đã bật khóc.


    >> Kỳ sau: Bùa hộ mệnh



    Sau khi Tiền Phong trích đăng loạt bài từ tự truyện Những ngọn đèn trước gió của Nguyễn Văn Toán,  ngày 13/6, Ban Giám hiệu Trường Đại học Thủy lợi đã về thăm Nguyễn Văn Toán và gia đình tại Nghĩa Hưng- Nam Định. Đoàn đi có GS-TS Phạm Ngọc Quý, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Thủy lợi, PGS-TS Lê Xuân Roanh, Phó Trưởng khoa Kỹ thuật biển (Toán đã theo học) cùng hơn 10 giảng viên của trường.


    Các thầy mang đến cho Toán tin vui: Toán được trường nhận về học, tiếp tục là sinh viên năm thứ nhất của trường tại khoa Kỹ thuật biển. Trước đó, vì phải điều trị bệnh, Toán đã bảo lưu kết quả một năm. Thời gian điều trị kéo dài hai năm nên không đủ điều kiện trở lại học ở trường. Toán chia sẻ: “Các thầy về bất ngờ, em rất vui, và hạnh phúc nhất là em đã được các thầy tạo điều kiện tới trường học”.


    Từ hôm qua (15/6), tự truyện Những ngọn đèn trước gió của Nguyễn Văn Toán được phát hành. 


    Hải Yến


    Nguyễn Văn Toán


     Theo Báo Tiền Phong











    Nguyễn Văn Toán đứng giữa cùng mẹ và anh trai trong buổi ra mắt sách Những ngọn đèn trước gió tại Hà Nội



  • 50 năm hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải (5/1959-5/2009): Bắc Hưng Hải mãi mãi nhớ ơn Bác Hồ

    50 năm hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải (5/1959-5/2009): Bắc Hưng Hải mãi mãi nhớ ơn Bác Hồ


    Theo lời kể của Cố Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn



        Tham gia cách mạng từ lâu năm, nhưng năm 1958 tôi mới bước vào ngành Thuỷ lợi từ công trường Bắc Hưng Hải. Sau đó 15 năm liên tục làm lãnh đạo ngành thuỷ lợi.
    Đối với tôi: công trình Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải là hệ thống thuỷ lợi mà lúc nào tôi cũng quan tâm.


    Dạo ấy (1958) tôi đang giữ chức Tư lệnh trưởng sư đoàn 350, bảo vệ Thủ đô, thì được Trung ương và Bác Hồ giao nhiệm vụ Trưởng ban chỉ huy Công trường Bắc Hưng Hải. Tôi báo cáo với Bác Hồ rằng: “Từ 1945 đến nay cháu là quân đội, chưa biết gì về Thuỷ lợi. Nay cháu được giao nhiệm vụ chỉ huy, cháu lo không hoàn thành nhiệm vụ. Bác ôn tồn khuyên nhủ, nay tôi còn nhớ được một số ý chính như là: “ Chú này lẩn thẩn, chưa biết gì thì cứ vừa làm vừa học rồi khắc biết, trước chú chưa học quân sự ngày nào, mà sao vẫn chỉ huy bộ đội đánh giặc được”







     


      


     Bác Hồ đến thực địa góp ý cho Quy hoạch hệ thống Bắc Hưng Hải


    Tôi hăng hái lên công trường Bắc Hưng Hải. Cùng theo lệnh của Đảng và Chính phủ, hàng trăm cán bộ, quân, dân, chính Đảng ở TW và địa phương, dân công ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương các đơn vị bộ đội, thầy giáo và sinh viên các trường Đại học, nhất là trường Đại học Bách Khoa… đều hăng hái đến công trường lao động. Gần mười năm chinh chiến trận mạc, nhiều lúc cũng lo lắng về trách nhiệm. Nhưng đứng trước một sự nghiệp vĩ đại như thế này, lại được Bác giao, tôi mất ăn, mất ngủ lo không hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chỉ huy trưởng một đại công trường thuỷ lợi hàng mấy vạn người, nhưng lúc mới bắt đầu tôi có biết đâu là “ta luy” là “ góc nghỉ”, “góc trượt” của đất, đâu là ứng suất beton… Nhưng vâng lời Bác tôi tranh thủ học hỏi ngay các kỹ sư giúp việc cho tôi lúc bấy giờ. Càng làm tôi càng thấm lời Bác dạy. Trước khi khởi công ngày 20/9/1958, Bác Hồ đã xuống đê Xuan Quan thăm hỏi và nói chuyện với cán bộ, công nhân, và nhân dân gấp rút chuẩn bị. Bộ áo nâu giản dị, mái tóc bạc phơ, chúng tôi hàng ngàn người vây quanh Bác bên mái đê Xuân Quan, lắng nghe tiếng nói ấm áp của người: “Cán bộ cần phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của toàn thể nhân dân”.


    Bác căn dặn cụ thể, đối với dân công phải: “Giáo dục tốt, phải công tác chính trị tốt. Phải làm cho mọi người hiểu rằng: Công trường BHH là ích lợi chung, ích lợi to, ích lợi lâu dài cho nhân dân ba tỉnh. Đó là việc ích nước, lợi nhà. Phải làm cho mọi người hăng hái góp công sức”


    Bác bảo phải tổ chức thật tốt, phải lãnh đạo thật tốt, dân công cũng như quân đội phải có kỷ luật chặt chẽ và dụng cụ phải sẵn sàng đầy đủ. Đối với cán bộ Bác nói: “Phải đồng cam cộng khổ với nhân dân, phải khuyến khích và giúp đỡ nhân dân phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất”.


    Toàn ban chỉ huy chúng tôi lao vào công việc, cùng với chuyên gia Trung Quốc. Những việc tưởng chừng như nan giải như: Giải phóng mặt bằng, dời đi một nửa làng Bát Tràng cổ kính, gần hàng trăm hộ nhà gạch, hoặc cắt hàng trăm mẫu lúa vừa trổ bông… Nhưng làm theo lời Bác, làm cho dân hiểu, dân tin là mọi việc đều đâu vào đấy. Trong chưa đầy nửa tháng, không ai phải giải thích đến hai ba lần.


    Đất nước vừa mới giải phóng. Kinh tế kỹ thuật còn hết sức nghèo nàn lạc hậu, trang thiết bị chủ yếu là dụng cụ cầm tay nhưng trong 6 tháng phải hoàn thành một khối lượng gần ba triệu mét khối đất, gần 8000 mét khối bê tông và hơn hai chục vạn mét khối đá xây lát. Cán bộ và công nhân kỹ thuật rất thiếu và rất yếu về trình độ, kinh nghiệm… lực lượng thì du kích nhưng bắt buộc phải đánh kiểu trận địa, tốc chiến tốc thắng, 6/1/1957 mở nước vào đồng 1/5/1959 hoàn thành công trình trước khi lũ đến.


    Một sự cố kỹ thuật xảy ra khi mở cống Xuân Quan đến cốt… Buộc phải dịch chuyển vị trí cống. Toàn công trường hết sức lo lắng. Tôi cùng ban chỉ huy và các đồng chí chuyên gia thức trắng hàng tuần lễ. Bác Hồ cũng thường xuyên theo dõi săn sóc việc xử lý sự cố. Bác thường xuyên nhắc chúng tôi thảm kịch lịch sử “Đê Văn Giang vỡ 18 năm liền” dưới triều đại Tự Đức. Nhưng với quyết tâm cao của toàn công trường, việc xử lý thành công tốt đẹp, và cuối tháng 11/1958 tôi đã lên báo cáo với Bác Hồ là 6/1/1959 công trường dẫn nước vào tưới vụ chiêm, hứa với Bác là 1/5/1959 công trình sẽ hoàn thành, Đê cống Xuân Quan sẽ chắc chắn vững vàng hơn bất cứ đoạn nào trên sông Hồng.


    Hàng tháng tôi vẫn phải lên Hà Nội trực tiếp báo cáo với Bác về tình hình công trường. Bác luôn hỏi tôi về đời sống dân công, mức ăn uống, rau tươi, thực phẩm… đến nơi ăn chốn ở, điều kiện vệ sinh, năng suất lao động… Mỗi lần báo cáo với Bác là mỗi lần tôi được học hỏi sâu thêm về công tác thuỷ lợi, về chỉ huy công trường.


    Ngày 16/10/1958, Bác lại về thăm dân công ở Công trường thuộc 3 tỉnh đào mương Gia Thuận nạo vét sông Đình Dù để chuẩn bị đón nước cống Xuân Quan… Bác đã thân mật nói chuyện với hơn 6000 người tại cống Lạc Đạo (Văn Lâm). Ngày 25/12/1958, Bác lại xuống thăm công trường Cống Xuân Quan và đào kênh ngoài. Tôi được báo quá gấp, chưa có sự chuẩn bị nào thì Bác đến. Hôm ấy mưa phùn và giá rét. Toàn công trường vẫn hăng hái lao động với quyết tâm rất cao … Bác bảo tôi dẫn đi thăm công trường. Tôi ngại Bác vất vả nên xin khất Bác lần khác vì hôm nay quá mưa rét và đường trơn. Bác đã bảo tôi: “Bộ đội dân công còn lao động ngoài mưa rét, sao Bác lại không ra tận nơi thăm hỏi được”.


    Và thế là Bác cứ đi. Tôi và đồng chí trong Ban chỉ huy chỉ còn cách chạy theo: Bác leo lên dàn giáo cống Xuân Quan hỏi thăm anh em công nhân sắt, mộc, bêtông. Tôi vừa đi vừa báo cáo với Bác nội dung công việc đang tiến hành. Bác tươi cười bảo tôi: “Chú tiến bộ lắm về kỹ thuật thuỷ lợi rồi đó” Sau khi thăm cống Xuân Quan tôi muốn mời Bác nghỉ nhưng Bác gạt đi. Quần xắn cao tới đầu gối dưới làn mưa bụi, chiếc mũ cát trắng của Bác nhấp nhô giữa biển người, kéo một mạch từ Xuân Quan ra Bát Tràng. Chốc chốc Bác lại dừng chân thăm hỏi. Qua những đoạn bùn lầy quá trơn, có người xin cõng nhưng Bác gạt đi, tụt dép cầm tay và cứ thế tiến lên. Chúng tôi cố len lách xô đẩy cũng không đuổi kịp. Tiếng hô: “ Hồ Chí Minh muôn năm” vang lên như sấm, hôm đó Bác còn lao vào làng mới Bát Tràng nơi những hộ di chuyển đến, để thăm hỏi và động viên. Thủa ấy máy móc rất ít, chỉ có con người chạy đua với thời gian. Mục tiêu phải hoàn thành công trình trước mùa lũ phải giành cho được. Bình quân hơn 2 vạn con người, lúc cao điểm hơn 3 vạn, đủ các thành phần dân công, học sinh, sinh viên, cán bộ Trung ương và địa phương, các đoàn khách quốc tế… được tổ chức tốt, năng suất lao động tăng cao. Ngày 20/2/1959, trước khi hoàn thành công trình, Bác lại về thăm công trường và động viên chúng tôi giữ vững quyết tâm.


    Ngày 1/5/1959, mọi công việc hoàn thành, Cống Xuân Quan với 4 cửa lấy nước và 1 cửa âu mở toang cho nước sông Hồng tuôn về đồng ruộng, giữa tiếng gieo hò của hàng vạn cán bộ công nhân viên và nhân dân ba tỉnh.


    Trên 15 năm tiếp theo, với cương vị lãnh đạo ngành Thuỷ lợi. Trong đó có hơn 10 năm đứng đầu ngành, tôi còn được nhiều lần báo cáo với Bác về Thuỷ lợi nói chung và về Bắc Hưng Hải nói riêng.


    Trong mối quan tâm chung, Bác hằng quan tâm đến vùng Bắc Hưng Hải, “mười năm chín hạn”. Nói đúng thêm còn phải chín úng nữa. Vì hễ năm nào úng là có hạn. Năm 1969 lũ sông Hồng lên rất to. Nằm trên giường bệnh, bệnh tình rất nặng Bác vẫn lo cho dân. Khi thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm Bác nói: “Nước đang lên to đấy, chú Kỳ bảo Bác sơ tán lên chỗ cao, nhưng Bác không đi đâu. Bác ở với dân. Các chú đừng để lụt, đừng để vỡ đê”. Sau khi đồng chí Phạm Văn Đồng đích thân đi kiểm tra đê và cùng với tôi vào báo cáo Bác mới yên tâm. Đến nay đê Xuân Quan vẫn giữ được lời đã hứa với Bác. Qua 35 năm phấn đấu Bắc Hưng Hải ngày nay đã trở thành một Đại thuỷ nông; trong đó hàng triệu nhân dân đã và đang hưởng hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm như Bác đã tiên đoán khi về thăm công trường trước lúc khởi công.


    Bổn phận của chúng ta là phải giữ gìn, tu tạo lấy cơ sở vật chất – kỹ thuật đã tạo nên hạnh phúc to lớn ấy, để dân giàu nước mạnh, để thế hệ này nối thế hệ khác hạnh phúc lâu dài và để không phụ lòng quan tâm của Bác đối với Bắc Hưng Hải. Đó là phải quản lý khai thác thật tốt toàn hệ thống để đem lại hạnh phúc lâu dài hàng trăm năm cho dân./.


    Tháng 5 năm 1994
    Theo Tập san 50 năm Hệ thống Thủy lợi Bắc Hưng Hải – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn


     


  • Chủ động phòng chống dịch trong Nhà trường

    Trong thời gian qua, tình hình dịch sốt xuất huyết diễn biến phức tạp.Theo dự báo mùa hè năm 2009 miền Bắc sẽ có những đợt nắng nóng kéo dài,nguy cơ phát sinh dịch bệnh, đặc biệt dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm…
    Các biện pháp phòng chống dịch:
    Xem tại đây


     

  • Thông tư liên tịch Hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo






    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ NỘI VỤ

    _______________

    Số: 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ____________________________

                  Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2009

     

     

    THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

    Hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
    về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với
    đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo

    ___________________________

    Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;

    Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngayg 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    Căn cứ Nghị định số 48/2008/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ;

    Căn cứ Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi tắt là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP);

    Sau khi thống nhất với Bộ Tài Chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo như sau:

     

    CHƯƠNG I

    QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    1. Thông tư liên tịch này hướng dẫn việc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo (sau đây gọi tắt là đơn vị) có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.

    Nội dung chi tiết trong tệp đính kèm.












    BỘ TRƯỞNG
    BỘ NỘI VỤ
    (Đã ký)

    Trần Văn Tuấn

    BỘ TRƯỞNG
    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    (Đã ký)

    Nguyễn Thiện Nhân

    Nơi nhận:

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Văn phòng Quốc hội và các Uỷ ban của QH;

    – Ban Tuyên giáo Trung ương;

    – Văn phòng Chính phủ;

    – Các bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ;

    – Kiểm toán nhà nước;

    – UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

    – Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

    – Các Vụ, Cục, Thanh tra, Văn phòng thuộc Bộ GDĐT, BộNV;

    – Cục KT VBQPPL (Bộ Tư pháp);

    – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

    – Các ĐH, HV, Trường ĐH, CĐ, TCCN;

    – Các Sở GDĐT, các Sở Nội vụ;

    – Công báo;

    – Website Chính phủ, Website Bộ GDĐT;

    – Lưu VT, PC, TCCB (BGDĐT); VT, PC, TCBC (BNV).

    Nội dung chi tiết