Danh mục: Tin tức chung

  • Thị ủy Quảng Yên: Làm việc với Trường Đại học Thủy lợi nghiên cứu giải pháp tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực Hà Nam

    Thị ủy Quảng Yên: Làm việc với Trường Đại học Thủy lợi nghiên cứu giải pháp tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực Hà Nam

    Tham dự có Đồng chí Hồ Văn Vịnh, Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy, Chủ tịch HĐND TX Quảng Yên; PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng, Viện trưởng viện Kỹ thuật công trình – Trường Đại học Thủy lợi, đồng chủ trì. Đồng chí Phạm Lê Hưng, Phó Bí thư Thường trực Thị ủy; Các đồng chí Phó Chủ tịch UBND thị xã cùng dự.

    Quảng Yên nằm ở khu vực cửa sông, gần biển, phần lớn diện tích được bao bọc, bảo vệ bởi hệ thống các tuyến đê dài 70km, hệ thống bãi triều ngoài đê có hơn 3.000ha đầm nuôi trồng thủy sản…. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, Quảng Yên đã và đang triển khai nhiều dự án hạ tầng giao thông, KCN, dẫn đến chế độ thủy văn, dòng chảy thay đổi làm ảnh hưởng đến khả năng vận hành của hệ thống tiêu thoát nước trên địa bàn toàn thị xã nói chung, nhất là khu vực Hà Nam. Do vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cho việc tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, có tính đến sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của TX Quảng Yên nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chung.

    Quang cảnh buổi làm việc

    Tại buổi làm việc, PGS.TS Ngô Lê Long, Chủ nhiệm đề tài, đã giới thiệu và báo cáo tiến độ thực hiện Đề tài. Nhấn mạnh thực trạng toàn bộ khu vực Hà Nam của TX Quảng Yên hiện hầu như chưa có hệ thống thoát nước mưa, chủ yếu là chẩy tràn trên bề mặt tự nhiên và thoát ra kênh rạch, ao hồ xung quanh khu dân cư, một số cụm dân cư đã xây rãnh thoát nước chung kiểu tự xây nhưng không đồng bộ, không đáp ứng được nhu cầu thoát nước, nhiều chỗ ứ đọng gây ô nhiễm môi trường.

    PGS.TS Ngô Lê Long, cũng nhấn mạnh đến nguyên nhân xẩy ra tình trạng ngập lụt khu vực Hà Nam: lượng mưa lớn; thủy triều; cao độ địa hình thấp, hệ thống tiêu thoát nước đã cũ, xuống cấp, nhiều tuyến cống trong khu dân cư bị lấn chiếm, bị bồi lấp…; tốc độ đô thị hóa nhanh; chưa có quy trình vận hành khoa học cho 9 cống tiêu đầu mối; hệ thống hạ tầng kỹ thuật thoát nước đầu tư manh mún, chưa khớp nối đồng bộ; công tác duy tu, bảo dưỡng, nạo vét các tuyến kênh chưa được đầu tư kịp thời; nguồn lực đầu tư cho công tác này còn hạn chế.

    Các đại biểu dự họp nghiên cứu bằng bản đồ kết quả mô phỏng hiện trạng ngập lụt khu vực Hà Nam

    Một số định hướng và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Xây dựng hệ thống thoát nước chung các khu dân cư Nam Hòa, Phong Hải, Liên Vị. Các tuyến cống bao thu gom nước thải từ các cống hiện hữu dẫn về tuyến cống chính (theo Quy hoạch mới) và đưa về trạm xử lý; trạm xử lý phân kỳ xây dựng theo các giai đoạn; xây dựng các giếng tách nước mưa trên các tuyến cống bao chạy dọc theo các kênh thoát nước. Xây dựng hệ thống thoát nước riêng  cho các khu dân cư mới.

    Giải pháp ngập lụt: cải tạo, nâng cấp các tuyến thu gom nước mưa hiện có tại các tiểu khu để đảm bảo không bị ngập với  trận mưa có chu kỳ lặp lại 2 năm; Cải tạo các kênh, nhánh thu gom nước mưa hiện có để đảm bảo không bị ngập với trận mưa có chu kỳ lặp lại 5 năm; Cải tạo các kênh, sông chính thu gom nước mưa hiện có để đảm bảo khôn bị ngập với trận mưa có chu kỳ lặp lại 10 năm;  cải tạo các ao, hồ có chức năng điều tiết; Rà soát lại diện tích phục vụ, quy mô, vị trí của 5 trạm bơm (đã có trong quy hoạch); xây dựng quy trình vận hành khoa học cho 9 cống thoát nước đầu mối.

    Đồng chí Phạm Lê Hưng, Phó Bí thư Thường trực Thị uỷ phát biểu tại buổi làm việc

    Đồng chí Lê Mạnh Tuyến, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thị xã phát biểu tại buổi làm việc.

    Tại cuộc làm việc, các đồng chí lãnh đạo TX Quảng Yên đã phát biểu, đưa ra nhiều ý kiến tâm huyết, thực tế trước thực trạng của TX Quảng Yên đối với việc ngập lụt, giảm thiểu môi trường, những đặc điểm về điều kiện tự nhiên của Quảng Yên tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra thiên tai.v.v.

     

    Đồng chí Hồ Văn Vịnh, Bí thư Thị ủy, Chủ  tịch HĐND TX Quảng Yên phát biểu tại buổi làm việc.

    Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Hồ Văn Vịnh, Bí thư Thị ủy, Chủ tịch HĐND TX Quảng Yên thay mặt các đồng chí lãnh đạo thị xã đánh giá cao Đề tài nghiên cứu. Đồng chí nhấn mạnh: TX Quảng Yên luôn băn khoăn, lo lắng và luôn luôn tìm các giải pháp để việc tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường- nhất là các địa phương khu vực Hà Nam, để đảm bảo, ổn định đời sống của người dân. Do vậy, việc xây dựng Đề tài nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, có tính đến việc biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của TX Quảng Yên. Đồn chí mong muốn đơn vị tư vấn tiếp tục cập nhật những cơ sở pháp lý, cũng như hiện trạng hiện hữu của Quảng Yên, giúp cho thị xã có giải pháp thực hiện nhiệm vụ này.

    Về nhiệm vụ cụ thể, đồng chí giao các các cơ quan chuyên môn của thị xã phối hợp chặt chẽ với nhóm nghiên cứu đề tài để cung cấp dữ liệu, cung cấp hiện trạng cũng như thực trạng các khu vực trong thị xã để nhóm nghiên cứu thực hiện Đề tài nghiên cứu, mô phỏng giúp cho Quảng Yên sớm nhận diện rõ những thực trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cũng như việc tiêu thoát nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường…một cách đồng bộ, để Quảng Yên chủ động với mọi tình huống thiên tai xẩy ra./

    Nguồn: https://www.quangninh.gov.vn/donvi/TXQuangYen/Trang

  • “Quả bom nước” nguy cơ vỡ: Chỉ có 15 ngày để cứu

    “Quả bom nước” nguy cơ vỡ: Chỉ có 15 ngày để cứu

    Các vết nứt và sạt trượt là “tai biến”

    Ngày 7/8, Đoàn Công tác của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống thiên tai do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Hoàng Hiệp làm trưởng đoàn, đã kiểm tra thực tế tình hình mưa lũ trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

    Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắk Nông, từ 28/7 đến 6/8, trên địa bàn liên tục xuất hiện mưa lớn kéo dài; tổng lượng mưa đo được là hơn 400mm, có nơi hơn 550mm…

    Hồ chứa nước Đắk N’Ting có nguy cơ bị vỡ sau khi xuất hiện các vết nứt (Ảnh: Đặng Dương).

    Mưa nhiều dẫn đến mực nước trên các sông, suối, hồ đập trong những ngày qua dâng cao, gây ngập úng cục bộ tại nhiều khu dân cư và sụt lún, sạt truợt đất tại một số khu vực.

    Đặc biệt Hồ thủy lợi Đắk N’Ting (xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong) và quốc lộ 14 đoạn qua thành phố Gia Nghĩa; khu vực bon Bu Krắc và bon Bu Prăng (xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức) xuất hiện các vết nứt và sạt trượt kéo dài.

    Kiểm tra thực tế một số khu vực nêu trên, các chuyên gia đánh giá, các vết nứt bất thường này là “tai biến” địa chất, xuất hiện sau khi có mưa to kéo dài, phá vỡ kết cấu của công trình.

    Đoàn công tác của Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống thiên kiểm tra hồ chứa nước Đắk N’Ting (Ảnh: Đặng Dương).

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi (thành viên đoàn công tác) nhận định việc xuất hiện các vết nứt và các khối dịch chuyển xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do mưa nhiều và mưa kéo dài

    “Sạt trượt trên mái dốc thì nguyên nhân chủ yếu là mưa. Số liệu thống kê cho thấy, lượng mưa lớn nhất của tháng 7 hàng năm chỉ khoảng 400mm, nhưng tháng 7 năm nay lượng mưa đã hơn 700mm. Mưa nhiều đã làm tăng mực nước ngầm và làm giảm chỉ tiêu cường độ của đất, đặc biệt là giai đoạn cuối mùa khô, đầu mùa mưa”, PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái nhận định.

    PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi  (Ảnh: Đặng Dương)

    Vị chuyên gia này kiến nghị bên cạnh việc sửa chữa trước mắt, tỉnh Đắk Nông cần khảo sát kỹ lưỡng phạm vi khối trượt để có đánh giá chính xác chiều sâu của mực nước ngầm.

    Các chuyên gia đóng góp ý kiến để tỉnh Đắk Nông có giải pháp bảo đảm an toàn hồ đập (Ảnh: Đặng Dương).

    PGS.TS Phạn Hữu Sy (thành viên đoàn công tác) cho rằng: “Hiện nay phần kết cấu bên dưới của công trình đã bị phá vỡ. Qua kiểm tra, các vết nứt vẫn đang mất ổn định và có nguy cơ sạt trượt tiếp nếu có mưa, chính vì thế Đắk Nông chưa nên tính toán đến việc sửa chữa ngay. Sau khi ổn định, tỉnh có thể dịch chuyển công trình sang vị trí khác để giảm chi phí đầu tư và bảo đảm tính bền vững”.

    Đắk Nông cần sớm công bố tình trạng khẩn cấp

    Tại buổi làm việc với UBND tỉnh Đắk Nông, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết có khoảng 1 triệu m3 đất trước nguy cơ sạt lở, trên diện tích khoảng 10ha.

    Theo đánh giá của các chuyên gia, sạt lở và các vết nứt vẫn chưa ổn định (Ảnh: Đặng Dương).

    Trước tình hình cấp bách hiện nay, Bộ NN&PTNT chỉ đạo tỉnh Đắk Nông hạ tải khu vực này; xả nhanh lượng nước hiện có trong lòng hồ… để bảm đảm an toàn cho hồ chứa và người dân sinh sống phía dưới hạ lưu.

    Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Hoàng Hiệp đề nghị tỉnh Đắk Nông sớm công bố tình huống khẩn cấp (Ảnh: Đặng Dương).

    Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đề nghị, nhiệm vụ trước mắt của tỉnh Đắk nông là cần đảm bảo số lượng và chất lượng rừng, tôn trọng dòng chảy tự nhiên.

    Ông Hiệp cũng cho rằng, trong thời gian tới, tỉnh Đắk Nông và các Bộ, ngành liên quan cần hoàn thiện chi tiết bản đồ sạt lở trên toàn quốc, trong đó áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và máy móc hiện đại để có dự báo chính xác. Bên cạnh đó, địa phương cần đánh giá toàn diện các công trình sạt lở, sạt trượt để có những cảnh báo cho người dân.

    “Đối với các công trình xảy ra sự cố, chủ đầu tư chỉ có 15 ngày để “cứu” công trình này trước khi sẽ có thêm một đợt mưa rất to nữa vào cuối tháng 8. Tôi đề nghị tỉnh Đắk Nông cần công bố ngay tình trạng khẩn cấp về thiên tai để có các giải pháp ứng xử khẩn cấp”, Thứ trưởng Bộ NN&PTNN Nguyễn Hoàng Hiệp nói.

    Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, chủ đầu tư có 15 ngày để “cứu” công trình với nhiều vết nứt xung quanh hồ (Ảnh: Đặng Dương).

    Trước đó, hồ chứa nước Đắk N’Ting có dung tích khoảng 1,2 triệu m3 nước xuất hiện cung trượt lớn, kéo dài, gây dịch chuyển bề mặt cầu giao thông qua tràn, nứt gãy bê tông mái thượng, hạ lưu tràn.

    Để bảo đảm an toàn cho người dân, chính quyền địa phương đã di dời hơn 170 hộ dân khỏi vùng nguy hiểm.

    Hồ chứa nước Đắk N’Ting có dung tích khoảng 1,2 triệu m3 nước hiện xuất hiện cung trượt lớn, kéo dài (Ảnh: Đặng Dương).

    Trong khi đó, các vết nứt và sạt trượt tại quốc lộ 14 (đoạn qua TP Gia Nghĩa) và bon Bu Krắc và bon Bu Prăng (huyện Tuy Đức) tiếp tục mở rộng và kéo dài. 

    Theo Dân Trí

  • Hội thảo “Mathematical models in natural sciences: Existence and stability”

    Hội thảo “Mathematical models in natural sciences: Existence and stability”

    Tham dự hội thảo có TS. Lê Quang Tuấn, Đại diện phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, TS. Tạ Quang Chiểu, đại diện khoa Công nghệ thông tin, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Doanh đại diện UMMISCO, về phía khách quốc tế, có PGS. Steven Senger (Missouri State University), PGS. Tăng Quốc Bảo (University of Graz) cùng các nhà khoa học trong và ngoài trường.

    Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Tạ Quang Chiểu cảm ơn và hoan nghênh các nhà khoa hoc trong và ngoài nước đã tham gia và hợp tác tổ chức hội thảo. TS. Tạ Quang Chiểu cũng nhấn mạnh sự cần thiết tổ chức các hội thảo để tăng cường giao lưu, hợp tác khoa học giữa các cơ sở nghiên cứu, đặc biệt khi trường Đại học Thuỷ Lợi và University of Graz đều là các trường trong mạng lưới ASEA-UNINET. TS. Tạ Quang Chiểu cũng mong muốn hội thảo có thể được tổ chức hàng năm để các nhà nghiên cứu có cơ hội trình bày các kết quả và hướng nghiên cứu mới đồng thời tăng tính kết nối của các trường.

    TS. Tạ Quang Chiểu phát biểu

    Trình bày tại hội thảo có 9 báo cáo, trong đó có 2 báo cáo của các nhà khoa học ngoài nước và 6 báo cáo của các nhà khoa học trong nước, trong đó, các nhà nghiên cứu từ trường Đại học Thuỷ Lợi đóng góp 3 báo cáo. Các báo cáo tại hội thảo tập trung trình bày về các mô hình toán trong khoa học tự nhiên, có những ứng dụng trong Khoa học, kỹ thuật.

    PGS. Steven Senger báo cáo

    Kết thúc hội thảo, thay mặt ban tổ chức, PGS.TS. Đỗ Lân cảm ơn các báo cáo viên, các đại biểu dự hội thảo đã tham gia và có những đóng góp nhiệt tình, cởi mở, trao đổi thẳng thắn trên tinh thần khoa học cao giúp cho hội thảo thành công tốt đẹp. Ban tổ chức hi vọng có cơ hội hợp tác cùng các nhà khoa học trong những hội thảo tiếp theo. BTC cùng các đại biểu đã chụp một số ảnh lưu niệm tại hội thảo.

    Hội thảo chụp ảnh kỷ niệm

    Khoa CNTT

  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn

    Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan phát biểu tại Hội nghị.

    Ông Lê Minh Hoan, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết: “Nghị quyết của Đảng đưa ra 3 đột phá, gồm đột phá về thể chế, đột phá về hạ tầng và đột phá về nhân lực. Hôm nay, chúng ta nói về nhân lực, đặc biệt nhân lực do ngành nông nghiệp để phục vụ cho chiến lực phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững”.

    Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, ba công nghệ nền tảng chủ đạo: tự động hóa, internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra nhiều thách thức cho nguồn nhân lực, không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới. Điều này đòi hỏi trình độ nguồn nhân lực phải bắt kịp với xu thế phát triển của ngành công nghệ để đáp ứng sự thay đổi mạnh mẽ về phân bố nguồn lực sản xuất, cách thức sản xuất, quản lý và tiêu dùng. Thực tế, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, phát triển nông nghiệp 4.0 đã và đang tác động toàn diện đến mọi mắt xích trong chuỗi sản xuất, cung ứng nông sản, thực phẩm nói chung. Một số tác động hiện hữu có thể kể đến: ứng dụng công nghệ tự động hóa, Big data, AI trong trồng trọt và chăn nuôi; ứng dụng AI, Blockchain trong truy xuất nguồn gốc, dự báo nhu cầu, lập kế hoạch sản xuất và phân phối.

    Tại hội nghị, GS.TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi đã trình bày tham luận hợp tác với doanh nghiệp và đối tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Giáo sư đã giới thiệu những nét chính về Nhà trường; đồng thời khẳng định việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho nông nghiệp, nông thôn cần thiết có sự đồng hành, bắt tay gắn kết giữa cơ sở giáo dục và các doanh nghiệp.

    GS.TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi đã trình bày tham luận hợp tác với doanh nghiệp và đối tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học

    Trường Đại học Thủy lợi ký hợp tác đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp với các doanh nghiệp

    Nhiều ý kiến cho rằng, chất lượng lao động còn rất thấp, yếu kém, bất hợp lý về cơ cấu ngành nghề. Biểu hiện của tình trạng đó chính là một bộ phận không nhỏ sinh viên ra trường không tìm được việc làm trong khi các doanh nghiệp, các khu công nghiệp lại thiếu trầm trọng lao động đã qua đào tạo theo đúng nhu cầu, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao… Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á; chỉ số cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế xếp thứ 73/133 quốc gia được xếp hạng.

    Ông Ngô Xuân Liễu, Giám đốc Trung tâm quốc gia về dịch vụ việc làm, Cục Việc làm, Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội nhận định: “Phát triển kinh tế luôn đồng hành cùng sự phát triển thị trường lao động. Tuy vậy, những con số về thị trường lao động năm 2022 đặt ra nhiều thách thức trong kỳ vọng phát triển kinh tế xã hội năm 2023. Cụ thể, năm 2022 lượng lao động đạt 51,6 triệu người. Đáng chú ý, trong đó chỉ có 26,1% tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, với 5% lao động có thể dùng tiếng Anh giao tiếp để làm việc. Còn lại, hơn 70% lao động không có trình độ lao động chuyên môn. Con số này cho thấy, đã đến lúc chúng ta cần phải tiến hành đánh giá toàn diện về thị trường lao động”.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự Hội nghị

    Theo thống kê Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giai đoạn 2005 – 2020, giá trị sản xuất nông nghiệp vùng Đông Nam bộ tiếp tục phát triển tốc độ khá, tăng bình quân 4,63%/năm. Đông Nam bộ đứng đầu cả nước về sản lượng cao su, điều, lợn… tỷ lệ che phủ rừng của vùng 19,42%. Đến hết năm 2021, vùng Đông Nam bộ đã có 368/425 xã (86,59%) đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 44,21% so với năm 2015), là vùng có tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đứng thứ 2 trong cả nước, cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung của cả nước.

    Đối với ĐBSCL, đây là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, hàng năm sản xuất trên 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% các loại trái cây, 95% sản lượng gạo xuất khẩu. Vùng đất này được ca ngợi là “vựa lúa”, “vựa trái cây” và “vựa tôm – cá” của Việt Nam, với đóng góp trung bình 33,54% GDP nông nghiệp cả nước và 30% GDP chung của vùng. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP nông nghiệp ĐBSCL giai đoạn 2004 – 2020 đạt 4,6% cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nước (3,76%).

    Trong thời gian qua, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong vùng đã đạt được những kết quả quan trọng. Nếu như năm 2011, vùng ĐBSCL chỉ có 13 cơ sở giáo dục đại học thì đến năm 2020 đã tăng lên 21 cơ sở giáo dục đại học, với quy mô đào tạo gần 150.000 sinh viên. Đối với vùng Đông Nam bộ, quy mô đào tạo 516.797 sinh viên, với tỷ lệ 30,2% – đứng thứ hai của cả nước.

    Trong số các trường đại học đóng trên địa bàn hai vùng, có nhiều trường đào tạo về nông, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, bao gồm: Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Văn Hiến, Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Kiên Giang, Trường Đại học Đồng Tháp, Phân hiệu Đại học Lâm nghiệp, Phân hiệu Đại học Thủy Lợi… với các chuyên ngành: bảo vệ thực vật, chăn nuôi, lâm học, lâm nghiệp đô thị, nông học, nuôi trồng thủy sản, công nghệ chế biến thuỷ sản, bệnh học thuỷ sản, quản lý tài nguyên rừng, công nghệ chế biến lâm sản, thú y, sư phạm kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ sinh học nông nghiệp…

    Cùng với hệ thống các trường đại học, hiện nay cũng có nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang tham gia đào tạo nhân lực phục vụ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong vùng, như các trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các trường cao đẳng, trường trung cấp, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên thuộc các tỉnh, thành phố.

    Trong giai đoạn 2016 – 2022, 4/28 trường cao đẳng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đào tạo lao động cho các tỉnh Nam bộ với các trình độ: cao đẳng gần 15.000 người, trung cấp trên 41.000 người; sơ cấp và dạy nghề thường xuyên gần 53.000 người. Ngoài ra, thực hiện chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các tỉnh trong vùng đã đào tạo ở các cấp với số lượng là 3.092 người trình độ cao đẳng; 11.702 người trình độ trung cấp, 138.149 người trình độ sơ cấp và 390.136 người đào tạo dưới 3 tháng. Đào tạo nghề dưới 3 tháng vùng Đông Nam bộ là 57.807 người (bằng 7,17% cả nước); vùng ĐBSCL là 332.328 người (bằng 41,23% cả nước).

    ​

    Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao hoa chúc mừng các đơn vị ký kết hợp tác đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp tại Hội nghị. 

    Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như: tăng cường công tác truyền thông để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về công tác đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp; sắp xếp, kiện toàn hệ thống các trường, đổi mới nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành; triển khai thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng và phối hợp thực hiện các chương trình dự án có liên quan của Bộ; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhà nước và xã hội phục vụ việc đào tạo nhân lực chất lượng cao và xây dựng Đề án thu hút nhân lực chất lượng cao làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhà nước và xã hội phục vụ việc đào tạo nhân lực chất lượng cao.

    Ngoài ra, Bộ cũng định hướng học nghề nông nghiệp và bổ trợ kiến thức nông nghiệp, trong đó triển khai học kỳ nông nghiệp cho các trường thuộc Bộ để trang bị kiến thức cơ bản về nông nghiệp, tình yêu đối với ngành nông nghiệp cho các ngành phục vụ nông nghiệp và các ngành phi nông nghiệp; đồng thời nghiên cứu và mở rộng mô hình thí điểm đào tạo nhân lực nông nghiệp trình độ trung cấp trong các trường cao đẳng của Bộ theo mô hình Nhật Bản dành cho học sinh hết phổ thông cơ sở, bảo đảm học sinh tốt nghiệp có kiến thức về văn hóa, kỹ năng nghề, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp, có đủ năng lực làm việc ở các doanh nghiệp nông nghiệp trong nước, đi làm việc ở nước ngoài hoặc tiếp tục học lên bậc học cao hơn.

    Theo Báo Tin tức

  • Bằng độc quyền sáng chế số 36731 về Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    Bằng độc quyền sáng chế số 36731 về Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    ​

    Sáng chế đề cập một giải pháp kỹ thuật phục vụ công tác xử lý bùn nạo vét cho cảng nói riêng cũng như nạo vét bùn ở hồ/sông/biển nói chung.

    Thiết bị tách nước hai cấp cho bùn nạo vét

    Độ sâu luồng vào và độ sâu trước bến có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh khai thác cảng, đặc biệt là với cảng nước sâu ở Việt Nam. Hơn nữa, hàng năm ở khu vực này thường có hiện tượng bị bồi lấp với khối lượng ước tính lên tới triệu mét khối bùn. Nếu không được nạo vét kịp thời, các cảng có thể mất cơ hội đón tàu trọng tải lớn, ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế. Mặt khác, việc xử lý bùn nạo vét là vấn đề hết sức cấp thiết, hiện nay vẫn chủ yếu đề xuất nhấn chìm xuống biển nhưng sẽ gây tác động lớn đến môi trường sinh thái nếu không được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt đối với bùn nạo vét bị ô nhiễm thì xử lý nước lẫn trong bùn càng cấp thiết hơn vì nó gây tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái xung quanh.Việc giảm tỷ lệ nước trong hỗn hợp bùn nạo vét sẽ giúp cho việc vận chuyển hỗn hợp sau tách nước thuận tiện hơn. Bùn nạo vét sau khi tách nước có thể tái sử dụng để san lấp, có thể được xử lý để làm vật liệu tái chế. Sáng chế đề cập đến thiết bị tách nước hai cấp dùng cho bùn nạo vét bao gồm: tang tách nước sơ cấp kiểu trọng lực, sàng rung tách nước thứ cấp và khung đỡ, sàng rung tách nước nằm trong tang tách nước, cả tang tách nước và sàng rung tách nước đều được đỡ bởi khung đỡ. Thiết bị tách nước hai cấp dùng cho bùn nạo vét theo sáng chế có thể lắp đặt trên bờ hoặc đặt trên một thiết bị nạo vét bùn dạng nổi để nạo vét bùn ở hồ/sông/biển.

    Công tác nạo vét bùn cát ở các cảng biển

    Nhóm nghiên cứu

  • Nghiên cứu đánh giá rủi ro xâm nhập mặn khu vực ven biển Thái Bình – Nam Định ứng với các kịch bản mực nước triều và nước biển dâng

    Nghiên cứu đánh giá rủi ro xâm nhập mặn khu vực ven biển Thái Bình – Nam Định ứng với các kịch bản mực nước triều và nước biển dâng

    Lễ bảo vệ luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Văn Đào diễn ra tại Room 5-K1

    Xâm nhập mặn là quá trình phức tạp diễn ra ở các vùng đồng bằng và cửa sông ven biển. XNM có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống xã hội.

    Trong những năm gần đây, theo số liệu thống kê tình hình thiệt hại do XNM càng trở lên nghiêm trọng hơn. Ở Việt Nam nói chung và đồng bằng lưu vực sông Hồng – Thái Bình nói riêng, hiện nay cũng có nhiều nghiên cứu xây dựng bản đồ xác định ranh giới XNM dựa trên việc nội suy tuyến tính độ mặn dọc trên sông chính. Điều đó cho thấy những hạn chế nhất định và mang tính chủ quan khi chưa xét tới việc mặn xâm nhập vào nội đồng. Cùng với đó, các nghiên cứu thường chỉ tập trung vào việc xây dựng các kịch bản, dự báo khả năng và diễn biến XNM mà chưa phân tích đánh giá cũng như dự báo những thiệt hại tiềm tàng dựa trên cơ sở phân tích rủi ro và tính dễ bị tổn thương với các tiêu chí cụ thể. Chính vì vậy, đối với XNM các nhà quản lý cũng còn khá lúng túng khi đưa ra các giải pháp ứng phó phù hợp nhất là trong bối cảnh Biến đổi khí hậu.

    Việc nghiên cứu tiếp cận một hướng mới trong việc xây dựng bản đồ hiểm họa XNM, thể hiện sự phân bố hiểm họa do mặn gây ra theo các khu vực (nội đồng) là cần thiết qua đó có thể nhận định về ranh giới ảnh hưởng của XNM phù hợp hơn. Bên cạnh đó, để đánh giá những tác động do XNM đến các hoạt động phát triển KT-XH thì việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá TDBTT do XNM là rất cần thiết và đó là cơ sở khoa học để đánh giá rủi ro do XNM. Trên cơ sở đó làm rõ được những điểm mạnh, điểm yếu, dự báo những thiệt hại tiềm tàng mà XNM có thể gây ra nhằm hỗ trợ cho các công tác chuẩn bị ứng phó, quản lý và phục hồi được chính xác và khả quan hơn cho các vùng bị ảnh hưởng.

    Các đại biểu tham dự lễ bảo vệ Luận án tiến sĩ cấp Trường của Nghiên cứu sinh

    Luận án có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn, cụ thể:

    Ý nghĩa khoa học: luận án đã đề xuất phương pháp xây dựng bản đồ hiểm họa XNM trên cơ sở xem xét các trường hợp rủi ro XNM; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương và đánh giá rủi ro do XNM theo không gian đến cấp xã cho khu vực ven biển.

    Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác phòng chống XNM, từ đó đề xuất và ra quyết định các giải pháp giảm thiểu tác động của XNM, đảm bảo sự phát triển ổn định cho khu vực.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng phát biểu

    Những đóng góp mới: 
    (1) Luận án đã góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn phương pháp xây dựng bản đồ XNM đến cấp độ xã, có xét đến khả năng lấy nước của hệ thống cống tưới, tiêu kết hợp trên sông chính và phạm vi diện tích cấp nước của cống.

    (2) Luận án đã thiết lập được 1 bộ tiêu chí và các trọng số đánh giá tính dễ bị tổn thương do XNM với 26 biến, có xét tới trọng số của các biến. Từ đó đánh giá TDBTT và RR do XNM trên địa phận các xã vùng ven biển trong phạm vi tỉnh Nam Định và Thái Bình, hạ lưu lưu vực sông Hồng – Thái Bình, chỉ rõ mức độ HH và RR do XNM cho các xã. Đây là cơ sở để các bên liên quan có kế hoạch, giải pháp phù hợp để ứng phó, khắc phục giảm thiểu những tác động của XNM đối với địa phương.

    GS.TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng chúc mừng NCS bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Trường

    Đồng nghiệp chúc mừng NCS bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ

    Thông tin luận án tiến sĩ của NCS: TẠI ĐÂY

    MT

  • Gặp mặt đoàn học viên Cao học miền Nam ra thăm Trường

    Gặp mặt đoàn học viên Cao học miền Nam ra thăm Trường

    Buổi tiếp đoàn có sự tham dự của GS. TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng, GS. TS Nguyễn Trung Việt – Phó Hiệu trưởng; đại diện các Phòng, Ban chức năng; Khoa Kinh tế và Quản lý cùng tập thể học viên cao học lớp 30QLKT11-PH và 30QLKT12-PH.

    Phát biểu tại buổi gặp mặt, GS. TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng đã giới thiệu những nét chính về Trường Đại học Thủy lợi. Trong gần 65 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Thủy lợi đã từng bước trở thành cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chủ động hợp tác với các trường Đại học trong nước và quốc tế.

    Đón tiếp lớp học viên cao học, Giáo sư khẳng định trong thời gian tới, Nhà trường cùng các Phòng, Khoa sẽ tạo những điều kiện tốt nhất để các học viên hoàn thành chương trình học cũng như áp dụng những kiến thức trên giảng đường vào công việc chuyên môn tại địa phương một cách hiệu quả nhất.

    GS. TS Trịnh Minh Thụ – Hiệu trưởng phát biểu

    Đáp lại tình cảm của Nhà trường, đại diện các anh/chị học viên cao học bày tỏ cảm ơn trước sự quan tâm của Ban giám hiệu và các đơn vị trong trường. Bên cạnh đó, các học viên cũng thể hiện quyết tâm hoàn thành tốt chương trình học; vận dụng tốt các kiến thức được đào tạo vào thực tiễn công việc chuyên môn tại địa phương; dành nhiều tình cảm đối với Nhà trường và tạo thành mạng lưới gắn kết hỗ trợ lẫn nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống.

    Đại diện các anh/chị học viên cao học miền Nam chia sẻ tình cảm với Nhà trường

    ​

    Trường Đại học Thủy lợi tặng quà lưu niệm cho các học viên cao học nhân dịp ra thăm trường

    Theo kế hoạch, ngay sau buổi gặp mặt sáng nay, học viên cao học các lớp 30QLKT11-PH và 30QLKT12-PH sẽ tham quan thực tế một số mô hình kinh tế tại Ninh Bình và Hà Nam. Dự kiến ngày 31/7, đoàn sẽ quay trở lại Phân hiệu.

    BV

  • Tham dự chương trình giao lưu quốc tế Bridge to Keimyung Camp 2023 tại Đại học Keimyung, Hàn Quốc

    Tham dự chương trình giao lưu quốc tế Bridge to Keimyung Camp 2023 tại Đại học Keimyung, Hàn Quốc

    Đoàn giảng viên và sinh viên Trường ĐHTL trong phiên khai mạc Chương trình

    Đoàn sinh viên của Trường Đại học Thuỷ lợi bao gồm 21 em là sinh viên các ngành Kỹ thuật cơ khí, Kinh tế và quản lý trong chương trình đào tạo 2+2 liên kết với Trường Đại học Keimyung, Hàn Quốc. Phụ trách đoàn đi gồm có TS. Nguyễn Ngọc Huyên – Phó Trưởng Khoa Cơ khí là Trưởng đoàn, cùng TS. Lê Văn Chính – Phó Trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý và ThS Phạm Thị Hạnh, Khoa Cơ Khí.

    Chương trình giao lưu quốc tế, trao đổi văn hoá sinh viên “Bridge to Keimyung Camp 2023” do Trường Đại học Keimyung, Hàn Quốc tổ chức từ ngày 16-22/7/2023 với sự tham dự của gần 200 sinh viên của hơn 10 trường Đại học đến từ 5 quốc gia trên thế giới gồm có Việt Nam, Myanmar, Thái Lan, Mông Cổ và Trung Quốc. Đây là một chương trình rất bổ ích gồm nhiều lớp học văn hoá cũng như định hướng ngành đào tạo đại học cho sinh viên. Các lớp học văn hoá tại Đại học Keimyung cung cấp nhiều kiến thức văn hoá truyền thống của Hàn Quốc như quốc phục, ẩm thực, nghệ thuật, thể thao và phong tục tập quán. Thông qua các lớp học này giúp cho các bạn sinh viên tham gia hiểu biết thêm về con người, lịch sử của đất nước Hàn Quốc nói chung cũng như quá trình hình thành và phát triển của trường Đại học Keimyung, một trong những đại học hàng đầu của Hàn Quốc. Ngoài trải nghiệm về văn hoá, chuyến giao lưu này còn giúp các em hiểu biết hơn về cơ hội và môi trường học tập trong tương lai tại một trong những trường Đại học lâu đời và nổi tiếng của Hàn Quốc.

    Dưới đây là hình ảnh các hoạt động cụ thể trong chương trình giao lưu văn hoá và định hướng nghề nghiệp tại Đại học Keimyung:

    Tham gia lớp học học nhảy hiện đại K-dance

    Tham gia lớp học nhạc cụ truyền thống

    Trải nghiệm trang phục truyền thống Hanbok

    Văn hóa Trà đạo

    Chương trình biểu diễn võ thuật Tae Kwon Do. 

    ​​

    Tham quan thành phố Daegu và công viên E-world.

    Tham gia buổi học định hướng các ngành học tại Trường Đại học Keimyung và giao lưu với các sinh viên TLU trong chương trình 2+2 đang theo học tại KMU.

    ​

    Nhận chứng chỉ đã tham gia khóa học

    Giới thiệu về Trường Đại học Keimyung và chương trình hợp tác với Trường Đại học Thuỷ lợi:

    Trường Đại học Keimyung là một trong những Trường đại học danh giá và đáng học nhất tại thành phố công nghiệp Daegu, Hàn Quốc. Với bề dày phát triển trên 120 năm, Đại học Keimyung hiện đang liên kết và hợp tác với gần 400 Trường Đại học thuộc 58 quốc gia trong đó có Đại học Thuỷ lợi, Việt Nam. Hiện nay có gần 1000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại KMU.

    Đại học Keimyung đã ký kết hợp tác và liên kết đào tạo với Trường Đại học Thuỷ lợi từ năm 2022. Bắt đầu từ năm 2022 đã tuyển sinh và có 17 sinh viên của TLU thuộc các ngành kỹ thuật cơ khí, điện – điện tử đang theo học chương trình 2+2 tại KMU. Năm 2023, có 11 sinh viên thuộc các ngành kinh tế, kỹ thuật cơ khí của TLU tiếp tục sang KMU theo học chương trình liên kết này.

    Một số hình ảnh về trường KMU:

    ​

    Tin tức từ đoàn công tác tại Trường Đại học Keimyung, Hàn Quốc.

  • Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242

    Giảng viên Trường Đại học Thủy lợi nhận Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242

    Vừa qua, PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Cúc, giảng viên ngành Công nghệ sinh học (CNSH) trường Đại học Thủy lợi và tập thể tác giả đã vinh dự và tự hào được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 3242 về Quy trình nuôi trồng Đông trùng hạ thảo 100% hữu cơ với nguồn nguyên liệu bổ sung tảo xoắn và dịch chiết hoa quả cho sản phẩm có hàm lượng chất có hoạt tính sinh học (Cordycepine và Adenosine) cao.

    Trong quy trình này, giải pháp Thủy lợi (Kỹ thuật tưới hiện đại – công nghệ cao – tưới phun sương nhẹ) đã được nghiên cứu và áp dụng để tạo độ ẩm cao nhưng không ướt và ổn định (70-80%) trong suốt thời gian nuôi. Kỹ thuật tưới này đã được kết hợp nhịp nhàng với giải pháp CNSH (kỹ thuật và nguyên liệu) để tạo ra quy trình tối ưu cho ra sản phẩm Đông trùng hạ thảo hữu cơ 100% có giá trị cao.

    Công nghệ sinh học được hiểu là việc áp dụng các kỹ thuật, công nghệ trên đối tượng sinh vật nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ xã hội loài người. Vậy CNSH cần được đào tạo và nghiên cứu theo hướng nào trong Trường Đại học Thủy lợi? Tài nguyên nước sẽ là nguồn căn của ngành CNSH? Đây chính là suy nghĩ xuyên suốt tháng năm xây dựng đề án mở ngành CNSH tại Trường Đại học Thủy lợi. Nhóm tác giả đã thật may mắn được làm việc và cộng tác với những người Thầy, những người đồng nghiệp tốt để phát triển hướng phát triển  ngành của Trường gắn với thành tựu khoa học truyền thống của Nhà trường về Tài nguyên nước, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của ngành CNSH.

    NTKC