Danh mục: Tin tức chung

  • Trường Đại học Thủy lợi xếp thứ 18/50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019

    Phương pháp xử lý dữ liệu cũng như dữ liệu dùng để phân tích được cung cấp ở cuối bài viết. Nhóm tác giả đã tải dữ liệu, xử lý các lỗi về địa chỉ và tên các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có trong dữ liệu, trước khi thống kê và phân tích những khía cạnh mà các hệ thống dữ liệu khoa học như Scopus không cung cấp sẵn.

    Trong năm 2019, tổng số công bố có địa chỉ từ Việt Nam đã đạt 12,307 công bố các loại. Trong đó, số lượng công bố của các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam chiếm 90.3%, tương ứng với 11,118 công bố. Số còn lại đến từ các bệnh viện, các tổ chức nghiên cứu độc lập, các công ty, các trường cao đẳng, và một số ít các trường trung học.

    Các loại hình công bố của Việt Nam được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu Scopus năm 2019 gồm 11 loại: (1) article và article in press – bài báo; (2) conference paper – báo cáo hội nghị; (3) letter – bài báo ngắn dạng thư gửi tòa soạn; (4) review – bài tổng quan; (5) book – sách chuyên khảo; (6) book chapter – chương sách; (7) data paper – bài báo mô tả dữ liệu; (8) note – bài bình luận; (9) editorial – bài xã luận; (10) erratum – bản đính chính; (11) short survey – bản điều tra.

    Phân tích năng suất

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 1

    Bảng 1. Trường Đại học Thủy lợi ở vị trí 18/50 cơ sở giáo dục đại học công bố quốc tế nhiều nhất Việt Nam năm 2019.

    Top 50 cơ sở GDĐH có năng suất công bố tốt nhất năm 2019 được cho ở bảng 1. Với tốc độ tăng trưởng theo “cấp số nhân” những năm gần đây, trường ĐH Tôn Đức Thắng tiếp tục vượt qua Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam để dẫn đầu các đơn vị có nhiều công bố nhất Việt Nam. Số lượng công bố ở tất cả các loại hình xuất bản của trường này trung bình gấp 2.3 lần đối với cả 3 đơn vị xếp sau.

    Dữ liệu cũng cho thấy, có 4 cơ sở GDĐH đã đạt năng suất trên một nghìn bài trên năm, gồm:

    –       Trường ĐH Tôn Đức Thắng,

    –       Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam,

    –       ĐH Quốc gia TpHCM, và

    –       Trường ĐH Duy Tân.

    Top 10 cơ sở GDĐH có năng suất công bố tốt nhất cả nước năm 2019 gồm:

    ·      7 đại học công lập: trường ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Quốc gia TpHCM, ĐH Quốc gia Hà Nội, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, ĐH Đà Nẵng, trường ĐH Cần Thơ, và ĐH Thái Nguyên;

    ·      1 viện nghiên cứu trọng điểm: Viện Hàn lâm KH&CN VN;

    ·      2 trường đại học tư thục: trường ĐH Duy Tân và trường ĐH Nguyễn Tất Thành. 

    Bên cạnh các cơ sở GDĐH kể trên, trong top 50 còn có một số đơn vị đáng chú ý: trường ĐH Phenikaa, trường ĐH Công nghệ Tp.HCM, trường ĐH Vinh, trường ĐH Quy Nhơn, ĐH Tây Nguyên, Viện Khoa học Nông nghiệp VN,…

    Phân tích rộng hơn cho thấy hiện có tất cả 256 đại học, trường đại học, học viện, trường cao đẳng, viện nghiên cứu có đào tạo đại học và sau đại học có công bố quốc tế trong năm 2019. Tuy nhiên, chỉ với 50 đơn vị đầu tiên số lượng công bố (10,673 công bố) đã chiếm 95.9% của tất cả các đơn vị còn lại (11,118 công bố).

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 2

    Hình 1. Phân bố số lượng công bố quốc tế của các trường theo 27 lĩnh vực. Thứ tự các trường được sắp xếp theo tổng số lượng công bố các loại giảm dần. Màu càng đậm thể hiện số lượng càng nhiều, màu trắng tương ứng số công bố bằng 0.

    Phân tích về phân bố lĩnh vực của các công bố quốc tế (hình 1) cho thấy phần lớn các cơ sở GDĐH tập trung nghiên cứu ở các lĩnh vực (theo thứ tự alphabet): Nông nghiệp và Sinh học – AGRI; Hóa sinh, Di truyền, Sinh học phân tử – BIOC; Kỹ thuật Hóa học – CENG; Hóa học – CHEM; Khoa học Máy tính – COMP; Khoa học Trái đất và Hành tinh – EART; Năng lượng – ENER; Kỹ thuật Công nghệ – ENGI; Khoa học Môi trường – ENVI; Khoa học Vật liệu – MATE; Toán học – MATH; Y học – MEDI; và Vật lý học – PHYS. Trong đó các lĩnh vực trọng điểm nhất của các cơ sở giáo dục và nghiên cứu của Việt Nam là:

    –       Kỹ thuật Công nghệ,

    –       Vật lý,

    –       Khoa học Máy tính,

    –       Khoa học Vật liệu,

    –       Toán học.

    Một số lĩnh vực cũng có lượng công bố tương đối nhưng chưa nhiều như: Kinh doanh, Quản trị và Kế toán – BUSI, Khoa học quyết định – DECI, Kinh tế – ECON, Các lĩnh vực liên ngành – MULT, Dược học – PHAR, và Khoa học Xã hội – SOCI. Trong khi đó các lĩnh vực còn lại có rất ít nghiên cứu, gồm các lĩnh vực Nghệ thuật & Nhân văn – ART, Nha khoa – DENT, Ngành nghề Y tế – HEAL, Miễn dịch và Vi trùng học – IMMU, Thần kinh học – NEUR, Điều dưỡng – NURS, Tâm lý học – PSY, và Thú y – VETE.

     

    Phân tích trích dẫn:

    Cho đến thời điểm dữ liệu được cập nhật lần cuối, tổng trích dẫn của tất cả các công bố từ Việt Nam đăng trong năm 2019 đã đạt 16,211 lần. Đối với 50 cơ sở GDĐH nói trên, tổng trích dẫn của tất cả các công bố là 14,357 lần, chiếm 88.6% trong tổng số. Xin lưu ý rằng tổng trích dẫn của 50 cơ sở GDĐH không phải là sự cộng gộp chỉ số trích dẫn của từng đơn vị, mà được xác định thông qua tổng trích dẫn của tất cả các bài báo có tên ít nhất một trong 50 đơn vị đó.

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 3

    Bảng 2. Tổng trích dẫn các công bố năm 2019 của top 50 cơ sở GDĐH có năng suất tốt nhất Việt Nam. Giá trị “0” tương ứng đơn vị đã có công bố, nhưng chưa được trích dẫn. Ký hiệu “–" cho biết đơn vị không có công bố.

    Dữ liệu ở bảng 2 cho thấy, tổng trích dẫn nhận được từ các công bố đăng trong năm 2019 của hai trường:

    –       Trường ĐH Tôn Đức Thắng,

    –       Trường ĐH Duy Tân

    vượt trội so với các cơ sở giáo dục còn lại. Nếu xét đến vai trò của tác giả trên các công trình, có thể dễ dàng thấy một hiện tượng ở phần lớn các cơ sở giáo dục: đó là trích dẫn có được của các công bố đồng tác giả lớn hơn trích dẫn của các công bố tác giả chính. Chỉ trừ một số đơn vị có xu hướng ngược lại với khác biệt lớn, như trường ĐH Tôn Đức Thắng, trường ĐH Công nghệ Giao thông Vận tải, hay trường ĐH Giao thông Vận tải TpHCM.

    Phân tích chất lượng công bố

    Định lượng chất lượng của công bố nói chung hay các bài báo nói riêng, luôn là một công việc rất khó khăn. Để đánh giá chính xác thì cần phải có chuyên gia cùng hoặc gần chuyên môn, và phải đọc từng công trình. Tuy nhiên, đây là việc làm bất khả thi khi làm việc trên tập dữ liệu bài báo lớn. Do vậy, phương pháp đánh giá trung gian qua chất lượng tạp chí đăng tải bài báo, là một cách làm được các tổ chức tài trợ khoa học, các quỹ nghiên cứu, hay các trường đại học thừa nhận rộng rãi hiện nay. Chất lượng và uy tín tạp chí càng cao, chắc chắn sẽ đòi hỏi chất lượng bản thảo gửi đăng cũng phải tương xứng.

    Một chỉ số thường được nhắc tới khi đánh giá chất lượng tạp chí là Impact Factor (IF), được đưa ra bởi cơ sở dữ liệu khoa học Web of Science của hãng Clarivate. Mặc dù vậy, phân bố của chỉ số IF rất khác nhau giữa các ngành và lĩnh vực khác nhau. Do vậy khó có thể sử dụng IF để đánh giá chất lượng tạp chí thuộc các lĩnh vực khác nhau, càng không thể sử dụng nó để đánh giá chất lượng công bố giữa các trường, đặc biệt giữa trường đa ngành và trường đơn ngành.

    Thay vào đó, cần sử dụng xếp hạng của tạp chí trong từng lĩnh vực (quartile, hay Q). Xếp hạng này hiện cũng được các cơ quan tài trợ khoa học (như quỹ NAFOSTED) và các trường đại học sử dụng để đánh giá tương đối chất lượng công bố. Các cơ sở dữ liệu khoa học lớn như Web of Science hay Scopus đều có bảng xếp hạng cho các tạp chí mà họ chỉ mục. Lấy ví dụ Web of Science, các tạp chí thuộc cùng một lĩnh vực sẽ được xếp từ cao đến thấp theo chỉ số IF, và sẽ được chia thành 4 nhóm tạp chí với số lượng bằng nhau. Nhóm 25% tạp chí có chỉ số IF cao nhất gọi là hạng Q1, 25% tiếp theo là Q2; sau đó là Q3; và cuối cùng là Q4. Cách xếp hạng Q các tạp chí của Scopus cũng tương tự. Ở phân tích này, sẽ sử dụng hạng Q từ Scopus (Scimago Lab).

    Theo nhiều chuyên gia có kinh nghiệm công bố quốc tế, khả năng từ chối đăng bài của các tạp chí thuộc nhóm Q1 là khá cao. Điều đó nghĩa là công trình nghiên cứu có phẩm chất cao, có những phát hiện gây tác động lớn trong chuyên ngành, thì mới có cơ may được nhận đăng. Vì thế, những trường có nhiều công bố trên các tạp chí hạng Q1 hay Q2, đặc biệt những công bố do chính giảng viên của trường làm tác giả chính, thì cũng có thể nói rằng, nội lực nghiên cứu của trường phần nào được xác lập.

    Top 50 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam 2019 - ảnh 4

    Bảng 3. Phân tích hạng tạp chí đăng tải các bài báo của các trường.

     

    Bảng 3 phân tích số bài báo (article và article in press) của top 50 cơ sở GDĐH theo hạng Q của tạp chí đăng các bài báo đó, đồng thời xét đến vai trò của các tác giả trên bài báo. Thứ tự các trường được xếp theo tổng số các bài báo cho trong bảng 1. Ở đây xin lưu ý rằng, một tạp chí có thể được xếp vào nhiều lĩnh vực khác nhau do tính chất liên ngành trong khoa học. Vì vậy, cùng một tạp chí, nhưng có thể sẽ nhận hạng Q khác nhau, tùy theo lĩnh vực. Chẳng hạn, tạp chí Applied Sciences (ISSN: 2076-3417) nhận hạng Q1 trong lĩnh vực Engineering, Q2 trong lĩnh vực Materials Science, và Q3 trong lĩnh vực Computer Science, theo Scimago 2018. Do đó, để đơn giản, trong phân tích này sẽ chỉ giữ lại hạng Q nào tốt nhất trong số các hạng mà một tạp chí nhận được. Ngoài ra, có nhiều tạp chí đã vượt qua vòng đánh giá phẩm chất và được Scopus thu nhận, chỉ mục, và lưu trữ thông tin các bài báo nhưng chưa có hạng Q, thì sẽ không được đưa vào phân tích ở đây.

    Từ Bảng 3 cho thấy phần lớn các cơ sở GDĐH đều có công bố trên các tạp chí hạng Q1-Q4, với tỉ trọng giảm dần từ Q1 đến Q4. Chỉ có một số ít trường không có bài báo tạp chí Q4 như: trường ĐH Đồng Tháp, trường ĐH Y tế Công cộng, trường ĐH Việt-Đức, hay trường ĐH Tây Nguyên. Với tỉ trọng như vậy, chứng tỏ các nghiên cứu của các trường ở Việt Nam có chất lượng tương đối tốt, khi phần lớn các công bố đăng trên tạp chí hạng Q1 hoặc Q2.

    Phân tích sâu hơn về vai trò tác giả trên bài báo cho thấy một xu thế, đó là tỉ trọng bài báo có đồng tác giả lớn hơn bài báo có tác giả chính (tác giả liên lạc, tác giả đầu tiên, hoặc cùng cả 2 vai trò) ở phần lớn các cơ sở GDĐH, và cũng ở phần lớn các hạng tạp chí từ Q1 đến Q4. Mặc dù vậy, sự chênh lệch đó nhìn chung không lớn, ngoại trừ các cơ sở giáo dục như: trường ĐH Nguyễn Tất Thành, trường ĐH Đồng Tháp, trường ĐH Lạc Hồng, hay Viện Khoa học Nông nghiệp VN. Những cơ sở này có bài báo đồng tác giả lớn hơn vài lần bài báo có tác giả chính.

    Riêng với trường ĐH Tôn Đức Thắng, nhận định trên không còn đúng, khi số bài báo mà giảng viên của trường đóng vai trò tác giả chính lớn hơn gấp nhiều lần số bài báo đồng tác giả, ở tất cả các hạng tạp chí từ Q1-Q4. Đó là một “kỳ tích” trong bức tranh nghiên cứu khoa học của Việt Nam hiện nay.

    Cảnh báo công bố trên các tạo chí “rởm” thuộc Scopus

    Tạp chí ‘đội lốt khoa học’, hay gọi bằng cái tên dân dã hơn là ‘rởm’, là một vấn nạn trong thời đại ngày nay; thời đại mà kỹ nghệ máy tính phát triển vượt bậc. Có thể nói chỉ với một cái máy tính, một căn phòng và một người biết chút ít về máy tính là đã có thể tạo ra một tạp chí với quy trình xuất bản y hệt các tạp chí nổi tiếng; có thể đăng tải các bài báo khoa học khắp thế giới gửi về. Những tạp chí kiểu này không chỉ không giúp cho cá nhân nhà nghiên cứu phát triển sự nghiệp, mà còn có thể gây tổn hại đến uy tín và lãng phí nguồn lực của trường đại học nơi người đó làm việc, và rộng ra là Việt Nam.

    Ông Jeffrey Beall, thủ thư một trường đại học tại Mỹ, đã tạo ra danh sách Beall’s List nổi tiếng tập hợp các nhà xuất bản ‘rởm’ và các tạp chí ‘rởm’. Danh sách này được các nhà nghiên cứu khắp thế giới đón nhận; giúp họ tránh đăng phải trên các tạp chí đó. Đường link dẫn tới danh sách đó là https://beallslist.net.

    Điều đáng lo lắng là trong quá trình phân tích dữ liệu, nhóm tác giả đã nhận thấy rằng có nhiều tạp chí, nếu chiếu theo danh sách Beall’s list thì sẽ được coi là “rởm” đã có mặt trong Scopus; và nhiều trường của Việt Nam đã có bài báo gửi đăng trên đó. Đơn cử một số tạp chí: Biointerface Research in Applied Chemistry; Asian Journal of Chemistry; Journal of Electrical Engineering; International Journal of Learning, Teaching and Educational Research.

    Thiết nghĩ các nhà nghiên cứu của các trường cần kiểm tra tạp chí có phải là ‘rởm’ không, hoặc tự trang bị kỹ năng nhận biết các tạp chí như vậy trước khi gửi bản thảo đi. Bên cạnh đó, các phòng quản lý khoa học của các trường cũng cần cập nhật và tập huấn cho cán bộ, giảng viên của trường mình được biết. Có vậy mới làm giảm được tình trạng vẩn đục khoa học mà nhiều chuyên gia đã cảnh báo.

    Theo Báo Tiền phong

     

     

  • “Với tôi – Thủy lợi là tình yêu” một cuộc thi sáng tác ảnh, video năm 2020

    “Với tôi – Thủy lợi là tình yêu” một cuộc thi sáng tác ảnh, video năm 2020

    Và chúng ta hãy cùng lưu giữ những hình ảnh, những video clip đẹp về ngôi trường thân yêu, để mỗi khi nhìn ngắm lại chúng ta thêm yêu nơi này hơn. Trường Đại học Thủy lợi tổ chức cuộc thi Ảnh và Video clip.

    Cuộc thi nhằm mục đích xây dựng nguồn tư liệu ảnh, video về Trường Đại học Thủy lợi; Lưu lại những những khoảnh khắc, những cung bậc cảm xúc về ngôi trường hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành; Thúc đẩy tính sáng tạo qua hình ảnh, video, clip;Tăng tính quảng bá hình ảnh trường thông qua những hình ảnh, video clip mang tính cộng đồng, thu hút nhiều người truy cập tìm hiểu thông tin về trường.

    Chủ đề cuộc thi:  “Với Tôi – Thủy lợi là tình yêu”

    Đây là cuộc thi dành cho các cá nhân, tập thể là cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, cựu sinh viên, cựu viên chức và những cá nhân yêu mến Trường Đại học Thủy lợi đều có thể tham gia cuộc thi.

    Nội dung dự thi gồm có:

    – Các cá nhân gửi bài dự thi là các ảnh, bộ ảnh, video – clip nội dung gắn với chủ đề của cuộc thi; trong đó bao gồm:

    + Hình ảnh, video clip về cơ sở vật chất của trường: thể hiện được sự bề thế, nét đẹp đặc trưng, cảnh đẹp của trường;

    + Hình ảnh, video clip về các hoạt động nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất: thể hiện được sự đa dạng trong các hoạt động, đặc trưng ngành nghề;

    + Hình ảnh về hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao: thể hiện nét nổi bật và tính sáng tạo trong các hoạt động;

    – Ảnh, video clip phải do cá nhân, tập thể tự thực hiện, chưa dự thi tại các cuộc thi khác….

    Thời gian nhận bài và trao giải: 

    – Từ ngày 22/4/2020 đến 24h00 ngày 30/5/2020: Nhận tác phẩm dự thi qua email [email protected]; đồng thời tính lượng tương tác, truy cập website…;

    – Từ ngày 05/6 đến ngày 18/6/2020: Ban tổ chức xét chọn các tác phẩm dự thi;

    – Ngày 21/6/2020 (dự kiến): Công bố và trao giải.

    Chi tiết thể lệ cuộc thi xem TẠI ĐÂY

    Các kênh thông tin để tương tác: 

    Fanpage: Đại học Thủy lợi 

    Youtube: Đại học Thủy lợi

    BAN TỔ CHỨC

  • Tìm hiểu về ngày 23/4 – Ngày sách và bản quyền thế giới

    Tìm hiểu về ngày 23/4 – Ngày sách và bản quyền thế giới

        Đánh giá cao tầm quan trọng của văn hóa đọc, trong kỳ họp lần thứ 28 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc tại Paris (ngày 25/10 – 16/11/1995), UNESCO (Tổ chức văn hoá, giáo dục, khoa học Liên hợp quốc) đã quyết định chọn ngày 23/4 hàng năm làm “Ngày sách và bản quyền thế giới”(World Book and Copyright Day), trong đó nêu rất rõ mục tiêu và các thành phần tham gia ngày tôn vinh những giá trị của sách và sự đóng góp của các tác giả cho sự ra đời của các tác phẩm bất hủ. Ngày này được tổ chức hàng năm tại mỗi quốc gia nhằm bảo đảm cho mọi người khám phá và thỏa mãn sở thích đọc của mình, đồng thời là dịp để tôn vinh những tác giả đã có nhiều đóng góp cho sự tiến bộ văn hóa, văn minh xã hội của nhân loại. Đây cũng là dịp thể hiện sự hợp tác, hợp lực giữa các tác giả, các nhà xuất bản, trường học, các thư viện, các cơ quan Nhà nước, công ty tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tổ chức lễ kỷ niệm về sách và các tác giả.

        Ý tưởng về Ngày Sách và Bản quyền Thế giới bắt nguồn từ một phong tục truyền thống rất đẹp ở Catalonia (Tây Ban Nha): Vào ngày 23/4 hàng năm (là ngày lễ Thánh Goerge), có rất nhiều hội chợ sách và các lễ hội đường phố được tổ chức, mỗi khách hàng sẽ được tặng một bông hồng kèm theo khi mua một cuốn sách trong ngày hôm đó. Ngày 23/4 còn là ngày mà cả ba đại văn hào của thế giới Cervantes, Shakespeare và Inca Garcilaso de la Vega đều qua đời sau khi để lại cho nhân loại những kiệt tác của mọi thời đại. Ngày này cũng là ngày sinh hoặc ngày giỗ của các tác giả nổi tiếng khác Maurice Druon, K.Laxness, Vladimir Nabokov, Josep Pla and Manuel Mejía Vallejo. Chính vì vậy, UNESCO mong muốn Ngày Sách và Bản quyền Thế giới sẽ là dịp để cả thế giới tôn vinh sách và những người sáng tạo ra chúng – những người đã có những đóng góp không gì thay thế được đối với sự phát triển văn hóa nhân loại; dịp để khuyến khích tất cả mọi người, nhất là giới trẻ, khám phá niềm yêu thích đọc sách, tôn vinh văn hoá đọc.

        Hưởng ứng chủ trương của UNESCO, đồng thời để khẳng định những giá trị to lớn của sách báo, hơn 10 năm qua, trên thế giới đã có trên 150 quốc gia tổ chức kỷ niệm “Ngày sách và bản quyền thế giới” với nhiều hoạt động thiết thực dưới nhiều hình thức và chủ đề phong phú khác nhau, thu hút được  nhiều người tham gia, nhất là  xây dựng được mối liên hệ mật thiết giữa các thư viện – nhà xuất bản – cơ quan phát hành – và bạn đọc. Có thể nói khắp nơi đã chào đón Ngày đọc sách thế giới rất nhiệt tình và sôi nổi : Ví dụ “Tặng một cuốn sách – tặng một đoá hồng” là một chiến dịch đặc biệt diễn ra ở nhiều nước trên thế giới nhằm tôn vinh ngày đọc sách thế giới (23-4). Ngoài ra còn có vô số các hoạt động thú vị liên quan đến sách được tổ chức dưới sự khởi xướng và khuyến khích của UNESCO. Đây thực sự là ngày hội của những người yêu quý sách trên khắp hành tinh. Trong khi ở châu Âu và Bắc Mỹ, vào ngày này trên khắp các phương tiện vận chuyển hành khách công cộng, trên những con tem của từng lá thư đều có logo ngày hội sách thì ở châu Phi, các bạn trẻ lại tình nguyện đem sách tới cho những người có hoàn cảnh đặc biệt như người bệnh, người mù lòa và cả những người không biết chữ để đọc cho họ nghe… Điều này một lần nữa tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của sách trong đời sống con người. Đặc biệt là trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, việc tổ chức các ngày sách và văn hóa đọc chính là minh chứng rõ ràng nhất: Sách và văn hóa đọc mãi mãi trường tồn.
        Nhiều năm qua, khi Ngày Sách và Bản quyền thế giới ra đời, Việt Nam đã tích cực hưởng ứng và hiện thực hóa ngày này thông qua các hoạt động vô cùng ý nghĩa như: Triển lãm, trưng bày sách báo, triển lãm thư pháp, giao lưu tọa đàm giữa các nhà văn với bạn đọc, tuyên truyền giới thiệu sách, vẽ tranh theo sách… Bên cạnh đó còn có các hoạt động quyên góp ủng hộ sách, xây dựng tủ sách cho các địa phương khó khăn ở vùng xâu, vùng xa góp phần nuôi dưỡng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.
        Để phong trào đọc sách đi vào hoạt động có nền nếp và ngày càng phát triển sâu rộng trong toàn xã hội, ngày 24/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 284/QĐ-TTg chọn ngày 21/4 hằng năm là “Ngày Sách Việt Nam”. Điều này không chỉ thể hiện được sự hội nhập của Việt Nam với thế giới mà còn góp phần gắn kết các hoạt động được tổ chức trong nước để hưởng ứng Ngày Sách và Bản quyền thế giới. Các chuỗi hoạt động được tổ chức đồng loạt với những hình thức phong phú, đa dạng và ngày càng có chiều sâu đã có sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng; tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa các trung tâm thông tin thư viện lớn đến thư viện trường học, giữa nhà xuất bản với các cơ quan phát hành, giữa tác giả với người đọc… Qua đó không ngừng nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người.

         Các phương tiện thông tin đại chúng cũng góp công không nhỏ, đó là việc đăng tải các bài báo giới thiệu sách, về văn hoá đọc, về bản quyền và vi phạm bản quyền,… trên báo và tạp chí. Những chương trình phát thanh, truyền hình đặc biệt thuộc thể loại phỏng vấn, tranh luận, trò chơi v.vv… cũng ưu tiên cho các đề tài nêu trên.Tính sáng tạo của các nhà báo, nhà văn trẻ, nhà soạn nhạc, nhà làm phim cũng sẽ được công chúng ghi nhận và tán dương trong ngày hội đọc sách thông qua báo chí.

    Hoạt động về quyền tác giả: Ngày này cũng là ngày dành riêng cho việc tuyên truyền nâng cao ý thức của công chúng trong vấn đề bản quyền, là dịp để các luật sư, các tác giả và nhà sáng tạo thảo luận các chủ đề khác nhau về bản quyền, là cơ hội đến tìm hiểu các tổ chức quản lý tập thể và thực tập về luật bản quyền cho sinh viên ngành xuất bản,bản quyền.    

        Với tinh thần đề cao tầm quan trọng của sách báo và tri thức trong đời sống, sự kiện ngày đọc sách thế giới ở Việt Nam đang trở thành một nét sinh hoạt văn hoá, văn minh của những người yêu mến sách báo cần được duy trì và quảng bá rộng hơn trong xã hội và rất cần sự hỗ trợ, quan tâm hơn nữa của các cơ quan  chức năng để Văn hóa đọc luôn là nhu cầu không thể thiếu  của những công dân văn minh trong thời đại ngày nay.

    (Thư viện sưu tầm và biên soạn từ nhiều nguồn)

  • Dâng hoa kỷ niệm 150 năm ngày sinh V.I.Lênin

    Nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh V.I.Lênin (22.4.1870 – 22.4.2020), sáng 21.4, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư Võ Văn Thưởng dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến dâng hoa tưởng nhớ lãnh tụ cộng sản V.I.Lênin tại Tượng đài Lênin ở Q.Ba Đình, Hà Nội.

    Trước Tượng đài V.I.Lênin, Đoàn đại biểu đã bày tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ công lao to lớn của V.I.Lênin đối với sự nghiệp cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam; tỏ rõ lòng quyết tâm tiếp tục thực hiện lý tưởng và con đường cách mạng vô sản của Người cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, văn minh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vô sản.

    Dâng hoa tại Tượng đài V.I.Lênin vào mỗi dịp kỷ niệm ngày sinh V.I.Lênin là hoạt động thường niên của Đảng và Nhà nước ta nhằm tri ân sâu sắc tới nhà lãnh đạo, nhà chính trị kiệt xuất, người thầy của giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn thế giới. Năm nay, lễ dâng hoa được tổ chức trong điều kiện phòng chống dịch Covid-19 nên quy mô và nghi lễ đã được điều chỉnh phù hợp.

    Cũng trong sáng 21.4, ông Võ Văn Thưởng tham dự và cắt băng khai mạc trưng bày chuyên đề V.I.Lênin và thời đại, do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Khu lưu niệm Lênin (Liên bang Nga) tổ chức.

    Theo Báo Thanh niên

  • Quyền tác giả trong số hóa tài liệu và phát triển bộ sưu tập số tại các thư viện đại học

    Quyền tác giả trong số hóa tài liệu và phát triển bộ sưu tập số tại các thư viện đại học

    Bản
    quyền chính là vấn đề quan trọng và là thách thức lớn trong việc phát triển thư
    viện số nói chung, xây dựng các bộ sưu tập số nói riêng. Đây có thể coi là rào
    cản lớn nhất trong công tác phát triển cũng như phổ biến tài liệu số. Hiện tại
    bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ đang là vấn đề toàn cầu không chỉ trong lĩnh vực
    thông tin – thư viện và còn trong các lĩnh vực khác, còn trong các lĩnh vực
    khác. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là các thư viện trong quá trình xây dựng và phát
    triển bộ sưu tập số cần tuân thủ nghiêm chỉnh vấn đề bản quyền nhằm vừa đảm
    bảo công tác lưu trữ và phổ biến thông tin, vừa đảm bảo được quyền lợi của tác
    giả hoặc chủ sở hữu.

    1. Quyền tác giả trong hoạt động thư
    viện

    Với tính chất là một loại hình cơ quan tổ chức
    chuyên thu thập, tổ chức, lưu trữ và phổ biến thông tin, có thể nói hoạt động
    của thư viện luôn gắn liền với vấn đề bảo hộ quyền tác giả. Điều 1 của Pháp lệnh Thư
    viện
     quy định về chức năng, nhiệm vụ của thư viện là “giữ gìn di sản thư
    tịch của dân tộc, thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung
    vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ
    nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân, góp
    phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa
    học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
    hóa đất nước” (1). Như vậy có thể thấy, quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên
    đều gắn với vấn đề bảo hộ quyền tác giả, bởi nguồn tài nguyên thông tin của thư
    viện là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. Bên cạnh dó, các hoạt động thu
    thập, tổ chức khai thác nguồn tài nguyên thông tin đều có liên quan đến khai
    thác quyền tác giả.

    Vậy làm thế nào để thư viện vừa thực hiện tốt
    các chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời không làm ảnh hưởng đến quyền lợi
    của tác giả? Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã tiến hành khảo sát hệ
    thống pháp luật của 184 quốc gia trên thế giới thì có tới 129 nước pháp luật có
    quy định ngoại lệ dành cho thư viện (2). Thực tế trên chỉ ra vai trò của pháp
    luật bản quyền trong hoạt động của thư viện, nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng có
    khả năng tiếp cận với nguồn tài nguyên thông tin có giá trị được lưu trữ tại
    đây.

    Quay trở lại với Việt Nam, trong các văn bản
    pháp lý hiện hành các trường hợp sao chép tác phẩm không phải xin phép, không
    phải trả thù lao gồm: tự sao chép không quá một bản nhằm mục đích nghiên cứu,
    giảng dạy (theo điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) (3); sao
    chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu (theo điểm đ
    khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) (4).

    Nhìn chung, pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan
    đến quyền tác giả ở Việt Nam còn quy định khá chung chung và gây cản trở cho
    hoạt động của các thư viện, đặc biệt liên quan đến vấn đề số hóa tài liệu và xây
    dựng các bộ sưu tập số.

    2. Thực trạng quyền tác giả trong hoạt
    động số hóa tài liệu và xây dựng bộ sưu tập số

    Phát triển thư viện số thông qua việc số hóa
    tài liệu và xây dựng các bộ sưu tập số đang là hướng đi của nhiều thư viện trên
    thế giới và tại Việt Nam. Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, việc sao
    chép, số hóa tài liệu ngày càng trở nên dễ dàng, nhanh chóng, từ đó đặt ra những
    thách thức không nhỏ đối với việc bảo vệ quyền tác giả trong môi trường số. Một
    mặt công nghệ số cho phép nhanh chóng, thuận tiện trong việc phổ biến thông
    tin/tài liệu tới cộng đồng, mặt khác nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vi
    phạm quyền tác giả một cách trực tiếp và dễ dàng hơn. Nếu việc số hóa tài liệu
    và cung cấp bản sao được tiến hành một cách tràn lan, không phải trả tiền bản
    quyền sẽ gây phương hại đến các quyền và lợi ích của chủ sở hữu quyền tác giả và
    các quyền liên quan.

    Hiện nay, qua khảo sát, các thư viện đại học
    Việt Nam khi xây dựng và phát triển các bộ sưu tập số thường dựa trên hai nguồn
    tài liệu chính: tài liệu nội sinh và tài liệu ngoại sinh. Nguồn tài liệu nội
    sinh là các nguồn tài liệu hình thành trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy của
    nhà trường. Còn nguồn tài liệu ngoại sinh là các nguồn tài liệu từ bên ngoài mà
    Nhà trường không nắm giữ quyền tác giả.

    Qua nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm thực tiễn
    từ các quốc gia phát triển như Mỹ, Úc… cũng như các quy định hiện hành tại Việt
    Nam về pháp luật sở hữu trí tuệ, trong hai nguồn tài liệu nói trên, nguồn tài
    liệu nội sinh được phép tiến hành số hóa. Như vậy, các thư viện đại học cần tư
    vấn cho Hội đồng trường, Hội đồng khoa học – đào tạo và Ban Giám hiệu về việc
    quy định các nguồn tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động nghiên cứu, đào
    tạo của Nhà trường đều sẽ thuộc quyền quản lý và sử dụng của Nhà trường. Dưới
    góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ, khi đó quyền tài sản sẽ thuộc về Nhà trường,
    trong khi quyền nhân thân vẫn thuộc về tác giả hoặc nhóm tác giả. Thông thường
    các nguồn nội sinh này bao gồm: khóa luận, luận văn, luận án của sinh viên, học
    viên, nghiên cứu sinh của nhà trường; đề tài nghiên cứu các cấp, kỷ yếu hội
    nghị, hội thảo khoa học của nhà trường; giáo trình, bài giảng, tài liệu được
    biên soạn theo chỉ đạo của nhà trường; bài viết trên các báo, tạp chí của nhà
    trường; các loại tài liệu khác theo quy định riêng của từng trường (ví dụ:
    chương trình máy tính, phần mềm, slogan, logo…).

    Như vậy, các trường đại học có thể yên tâm về
    mặt pháp lý trong vấn đề quyền tác giả khi tiến hành xây dựng các bộ sưu tập số
    về nguồn tài liệu nội sinh để phục vụ người dùng tin.

    Còn đối với nguồn tài liệu ngoại sinh, có thể
    thấy các quy định pháp luật hiện còn khá chung chung và chưa phù hợp, bởi thư
    viện chỉ có thể số hóa tối đa một bản để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và
    không được phép truyền đạt, phổ biến đến người dùng tin. Quy định này gây cản
    trở đến khả năng tiếp cận thông tin của bạn đọc ở xa, hoặc những người do các
    điều kiện đặc thù mà khó khăn trong việc phải trực tiếp tới thư viện (ví dụ:
    người khuyết tật, người đang chấp hành án phạt tù…). Trong khi đó, luật pháp của
    một số nước (ví dụ: Úc) cho phép thư viện được số hóa một phần tác phẩm để phục
    vụ công chúng. Có thể thấy lợi ích của việc này là rất lớn, khi bạn đọc có thể
    truy cập từ xa để xem trước một phần nhỏ của tài liệu, từ đó đưa ra nhận định về
    tính phù hợp của tài liệu đó với nhu cầu của mình trước khi tiếp cận với bản gốc
    đầy đủ có trong thư viện. Quan trọng hơn, điều này cũng không vi phạm quyền tác
    giả vì không số hóa toàn bộ tác phẩm và công bố rộng rãi cho cộng đồng. Như
    vậy quy định đã hài hòa được lợi ích của cả ba bên liên quan: thư viện, chủ sở
    hữu quyền tác giả và người sử dụng
    .

    Theo quy định hiện hành, các tài liệu ngoại
    sinh không bị cấm sao chép dưới dạng số thì các thư viện vẫn có thể số hóa
    để lưu trữ
     phục vụ cho hoạt động nghiên cứu mà không cần sự cho phép của
    tác giả. Lưu ý là không được số hóa quá một bản theo quy định của pháp luật.

    3. Một vài kiến nghị

    Cần tiến hành điều chỉnh, sửa đổi các quy
    định của pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền tác giả trong hoạt động của thư
    viện
     (Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và Điều 25 Nghị định số
    100/2006/NĐ-CP). Việc sửa đổi phải tiến hành trên cơ sở đảm bảo cân bằng lợi ích
    giữa chủ sở hữu quyền tác giả, lợi ích của người sử dụng và đảm bảo cho thư viện
    thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Một trong các vấn đề quan trọng cần
    làm rõ là các quyền của thư viện số trong việc sao chép tác phẩm nhằm mục đích
    lưu trữ, quyền truyền đạt tác phẩm, phân phối tác phẩm.

    Nâng cao nhận thức cho các chủ thể liên
    quan về vấn đề quyền tác giả
    . Chỉ khi nào cả ba bên liên quan là cán bộ thư
    viện, chủ sở hữu quyền tác giả và người dùng có đầy đủ kiến thức, cũng như hiểu
    rõ các khía cạnh liên quan đến pháp luật, đạo đức trong vấn đề này thì tính khả
    thi của việc điều chỉnh các quy định pháp luật về bảo hộ quyền tác giả mới đi
    vào cuộc sống. Cần hướng tới việc xây dựng và hình thành một “văn hóa ứng xử”
    với vấn đề bản quyền.

    Quan tâm nhiều hơn đến truy cập mở (open
    access) và nguồn tài nguyên giáo dục mở (open educational resources)
    . Trong
    điều kiện còn nhiều rào cản về vấn đề quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay, các thư
    viện cần tận dụng và khai thác tối đa sức mạnh của truy cập mở. Hiện nay, rất
    nhiều nguồn tài nguyên giáo dục mở đã được xây dựng và trở nên phổ biến trên thế
    giới, trong đó có nhiều cơ sở dữ liệu học thuật truy cập mở được phát triển bởi
    các trường đại học uy tín như MIT, Stanford, Harvard… Các thư viện đại học Việt
    Nam cần tiếp cận nhiều hơn đến các nguồn thông tin này, tổ chức khai thác cũng
    như hướng dẫn cho bạn đọc cách thức truy cập, sử dụng một cách hiệu quả.

    4. Kết luận

    Hiện nay, vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ
    và quyền tác giả khi xây dựng các bộ sưu tập số nói riêng, các thư viện số nói
    chung đang là một trong những yêu cầu cấp bách. Các cơ quan thông tin – thư viện
    ở Việt Nam đang tiến hành tạo lập các bộ sưu tập số trong bối cảnh thiếu các văn
    bản quy phạm pháp luật cho vấn đề quyền tác giả trong hoạt động thư viện. Việc
    thiếu những văn bản quy phạm pháp luật này khiến nhiều thư viện lúng túng trong
    quá trình số hóa khi tiến hành sao chụp, quét, nhân bản tài liệu; đồng thời cũng
    gặp nhiều khó khăn trong quá trình khai thác sản phẩm và cung cấp dịch vụ liên
    quan đến các bộ sưu tập số tự xây dựng. Trong thực tế, một số thư viện bước đầu
    đã và đang xây dựng các quy chế phục vụ có giới hạn quyền tác giả khi cung cấp
    các sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của người dùng tin, đặc biệt là các dịch vụ
    sao chụp tài liệu, khai thác cơ sở dữ liệu, thực hiện các dự án số hóa tài liệu.
    Vì vậy, trong thời gian tới cần nhanh chóng thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu
    trên nhằm hài hòa lợi ích của tất cả các bên liên quan.

    ________________

    1. Pháp lệnh Thư viện, số
    31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28-12-2000.

    2. Kenneth Crews, Study on
    copyright limitations and exceptions for libraries and archives
    ,
    WIPO, SCCR/17/2, 2008.

    3, 4. Luật Sở hữu trí tuệ, số
    50/2005/QH11 ngày 19-11-2005, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày
    19-6-2009.

                                                   
                                                          

    Tạp chí VHNT số 408, tháng 6 – 2018

    Tác giả : ĐỒNG ĐỨC HÙNG


    (Nguồn: http://www.vhnt.org.vn/)

  • 571.907 lượt thi tìm hiểu truyền thống ngành tuyên giáo tuần thứ 4

    Mười tỉnh, thành phố có số người tham gia dự thi đông nhất tuần thi thứ 4 gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Thái Nguyên.

    Giải Nhất cuộc thi tuần thứ 4 thuộc về thí sinh Nguyễn Thị Xuân (phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên). Hai giải Nhì thuộc về các thí sinh Trần Quốc Thành (phường Tân Giang, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh) và Hoàng Văn Khởi (xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn). Năm giải Ba thuộc về  các thí sinh: Lê Hồng Sơn (phường Bắc Hà, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh); Lê Cao Nhật Anh (phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi); Trần Thị Quế Anh (Phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng); Đinh Thị Kim Dung (xã Xuân Áng, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ); Lê Thị Sâm Thương (thị trấn Thanh Chương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).

    Hướng tới kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2020), Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Cuộc thi "Tìm hiểu 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng" trên mạng VCNET. Thời gian thi trắc nghiệm được tiến hành hàng tuần, bắt đầu tuần thi thứ nhất từ ngày 23/3/2020, kết thúc vào ngày 13/7/2020. 

    Cuộc thi tuyên truyền về lịch sử 90 năm xây dựng và phát triển ngành Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 – 01/8/2020). Cuộc thi nhằm nâng cao nhận thức và phát huy những kinh nghiệm để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả trong đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên giáo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay; tuyên truyền, đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Cuộc thi cũng góp phần đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

    TTXVN/Báo Tin tức

  • Dự án thủy lợi tầm cỡ

    Dự án thủy lợi tầm cỡ

    Dự án gồm hợp phần xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chiếm diện tích sử dụng đất khoảng 54,5 ha, các hợp phần mô hình sinh kế và những hoạt động phi công trình triển khai tại nhiều địa phương khác. Hệ thống công trình gồm cống Cái Lớn cách cầu Cái Lớn khoảng 2.100 m về phía sông Hậu, cống Cái Bé cách cầu Cái Bé chừng 1.900 m về phía sông Hậu, đê láng nhựa nối cống Cái Lớn, cống Cái Bé với quốc lộ 61 (dài 5.843 m, mặt rộng 9 m), trên tuyến đê còn có nhiều cầu giao thông, cống ngầm… Dự án Cái Lớn – Cái Bé sẽ hoàn thành trước ngày 31.12.2021, có nhiệm vụ kiểm soát nguồn nước (mặn, lợ, ngọt), tạo điều kiện sản xuất ổn định, bền vững đối với các mô hình sản xuất theo hệ sinh thái (ngọt, mặn – lợ, ngọt – lợ luân phiên) cho vùng hưởng lợi với diện tích tự nhiên 384.120 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản là 346.241 ha; kết hợp tuyến đê biển Tây tạo thành cụm công trình chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phòng chống thiên tai; giảm ngập úng khi mặt đất hạ thấp (do sụt lún đất); giảm thiệt hại hạn, mặn vào mùa khô cho các mô hình sản xuất trong vùng; góp phần cấp nước ngọt; phát triển hạ tầng giao thông…

    Theo Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng, dự án Cái Lớn – Cái Bé nhằm kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp các tỉnh (Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu) thuộc lưu vực sông Cái Lớn – Cái Bé; góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô; phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán; góp phần phát triển kinh tế – xã hội ổn định; tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn; kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án. Dự án được báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) dự án Cái Lớn – Cái Bé là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, công phu với sự đóng góp trí tuệ của nhiều cơ quan, nhà khoa học. Hội đồng thẩm định gồm 21 cán bộ khoa học, nhà quản lý (thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan đến tài nguyên nước, môi trường, đa dạng sinh học…) đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, khách quan, khoa học. Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM của dự án Cái Lớn – Cái Bé đảm bảo sự chặt chẽ với những yêu cầu về bảo vệ môi trường và điều kiện kèm theo để làm cơ sở cho việc thực hiện các bước kế tiếp, đúng quy định pháp luật.

    Biên tập: Bình Dương

    Theo: Báo Thanh niên

  • Cống ngăn mặn 3.300 tỷ đang xây dựng ở miền Tây

    Cống ngăn mặn 3.300 tỷ đang xây dựng ở miền Tây

    Nguồn Huy Phong – Thanh Huyền – vnexpress.vn

    Biên tập: Bình Dương

  • Kế hoạch tổ chức gặp mặt và đối thoại với sinh viên năm học 2019 – 2020

    Kế hoạch tổ chức gặp mặt và đối thoại với sinh viên năm học 2019 – 2020

    1. Hình thức gặp mặt: Trực tuyến qua phần mềm Microsoft Teams

    2. Thời gian:

    – Buổi 1: 08h30 đến 11h30 Thứ Bảy, ngày 25/4/2020  (dành cho K58 & K59)

    – Buổi 2: 08h30 đến 11h30 Chủ nhật, ngày 26/4/2020 (dành cho K60 & K61)

    3. Thành phần tham dự:

    – Ban Giám hiệu;

    – Đại diện các phòng: Đào tạo, Khảo thí & Đảm bảo chất lượng, Tài chính – Kế toán, Chính trị và Công tác sinh viên, Quản trị – Thiết bị, Khoa học công nghệ, Hành chính – Tổng hợp (bộ phận Thanh tra), Thư viện, Trung tâm nội trú, Y tế, các ban thuộc Cơ sở phố Hiến;

    – Đại diện Ban chủ nhiệm và trợ lý các khoa/trung tâm, bộ môn;

    – Đại diện Đoàn thanh niên, Hội sinh viên;

    – Đại diện sinh viên tại cơ sở Hà Nội và cơ sở phố Hiến (K58 đến K61).

    Chi tiết thông báo: TẠI ĐÂY

    Hướng dẫn chi tiết sử dụng hệ thống Microsoft Teams: TẠI ĐÂY

  • Kết quả thi trắc nghiệm “Tìm hiểu 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng” tuần 3

    Diễu hành cổ động phong trào Bình dân học vụ năm 1946. (Ảnh tư liệu).

    Đáp án câu hỏi tuần 3:

    Câu hỏi 1: B.

    Câu hỏi 2: A.

    Câu hỏi 3: C. 

    Câu hỏi 4: D.

    Câu hỏi 5: A, B, C, D.

    Câu hỏi 6: A, B.

    Câu hỏi 7: A, B, C, D.

    Câu hỏi 8: A, B, C, D.

    Câu hỏi 9: B.

    Câu hỏi 10: C.

    Số người trả lời đúng cả 10 câu hỏi: 14.755

    Ban Tổ chức Cuộc thi chúc mừng các cá nhân sau đây đã đoạt giải:

    Giải Nhất: 

    Võ Thị Hương
    Xã Thanh Khai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

    Trả lời đúng. Dự đoán chính xác số người trả lời đúng: 14.755
    Thời gian tham gia: 08/04/2020 21:00:54.

    Giải Nhì:

    1) Lê Xuân Vị
    Huyện ủy Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

    Trả lời đúng. Dự đoán chính xác số người trả lời đúng: 14.755
    Thời gian tham gia: 11/04/2020 20:54:02.

    2) Hoàng Hữu Chinh
    Thôn Tam Nguyên, xã Hoằng Đạt, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

    Trả lời đúng. Dự đoán chính xác số người trả lời đúng: 14.755
    Thời gian tham gia: 13/04/2020 06:34:33.

    Giải Ba: 

    1) Đặng Thị Thanh Hương
    Giáo viên Trường THPT Tam Đảo

    Xã Tam Quan, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.756
    Thời gian tham gia: 07/04/2020 21:15:59.

    2) Lê Thị Hoa
    Xóm 5, xã Đức Bồng, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.754
    Thời gian tham gia: 07/04/2020 22:53:55.

    3) Nguyễn Thanh Hải
    Thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.754
    Thời gian tham gia: 10/04/2020 18:16:39.

    4) Nguyễn Thị Thu Hương
    Phường Lam Sơn, TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.756
    Thời gian tham gia: 11/04/2020 08:26:18.

    5) Nguyễn Thị Hồng
    Trung tâm VH-TT thị trấn Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.754
    Thời gian tham gia: 12/04/2020 21:48:17.

    Giải Khuyến khích: 

    1) Đoàn Văn Nam
    Trường THPT Cái Bè
    Khu 3, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.754
    Thời gian tham gia: 12/04/2020 21:49:53.

    2) Bùi Văn Ngũ
    Xã Thanh Yên, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.754
    Thời gian tham gia: 12/04/2020 21:57:41.

    3) Nguyễn Thị Linh
    UBND xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.754
    Thời gian tham gia: 13/04/2020 01:36:34.

    4) Vũ Xuân Lợi
    Đảng ủy, UBND xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.756
    Thời gian tham gia: 13/04/2020 02:15:03.

    5) Nguyễn Doãn Báu
    Xóm 2 Bồng Giang, xã Đức Giang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.756
    Thời gian tham gia: 13/04/2020 07:05:52.

    6) Đặng Trung Kiên
    C3, H4, Trường Sĩ quan chính trị
    thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.757
    Thời gian tham gia: 07/04/2020 20:28:24.

    7) Nguyễn Chí Công
    Xã Đức Giang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.757
    Thời gian tham gia: 10/04/2020 20:44:52.

    8) Đỗ Thị Trang
    Trường MN Định Hoá, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

    Trả lời đúng. Dự đoán số người trả lời đúng: 14.757
    Thời gian tham gia: 13/04/2020 07:23:18.

    Câu hỏi tuần 4:

    Câu 1. Tác phẩm “Tự chỉ trích” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ gồm những nội dung nào dưới đây?

    A. Trước hết, phải nhận thế nào là tự chỉ trích Bônsơvích.

    B. Một vài bài học nữa về cuộc tổng tuyển cử cần vạch rõ.

    C. Căn cứ vào hành động để xét đoán người cách mệnh.

    D. Cả ba đáp án trên.

    Câu 2. Cuối năm 1940, Nguyễn Ái Quốc mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ về đường lối cách mạng Việt Nam và phương pháp công tác. Các bài giảng của Người và một số đồng chí lãnh đạo được tập hợp lại, in thành cuốn sách nào sau đây?

    A. Con đường giải phóng.

    B. Cách đánh du kích.

    C. Hoan nghênh thanh niên đi học quân sự.

    D. Mười chính sách của Việt Minh.

    Câu 3. Tài liệu “Công tác bí mật” do Ban Tuyên truyền của Đảng xuất bản năm 1942 gồm những nội dung gì?

    A. Hướng dẫn những điều phải làm để giữ được nguyên tắc bí mật.

    B. Quy định nhiệm vụ của bí thư.

    C. Đáp án A, B.

    D. Quy định nhiệm vụ của đảng viên.

    Câu 4. “Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943” gồm những nội dung nào dưới đây?

    A. Vạch rõ tính chất phản động trong chính sách văn hoá ngu dân của thực dân Pháp.

    B. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng văn hoá.

    C. Vạch ra phương hướng đấu tranh đúng đắn chống thực dân, phát xít.

    D. Cả ba đáp án trên.

    Câu 5. “Chương trình Việt Minh” được Bộ Tuyên truyền cổ động của Việt Minh công bố ngày 15/3/1944 đã nêu rõ những nội dung nào sau đây?

    A. Sẽ lập nên chính phủ cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    B. Bài trừ văn hoá phản động; mở mang nền văn hoá Việt Nam.

    C. Cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ học .

    D. Cả ba đáp án trên.

    Câu 6. “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Câu nói trên là của ai?

    A. Trường Chinh.

    B. Võ Nguyên Giáp.

    C. Hồ Chí Minh.

    D. Phạm Văn Đồng.

    Câu 7. “Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hóa mới” là một trong những nội dung quan trọng được thông qua tại Quốc dân Đại hội (họp ngày 16 – 17/8/1945 tại Đình Tân Trào). Nội dung trên được thể hiện trong tài liệu nào dưới đây?

    A. Giành chính quyền toàn quốc và thi hành mười chính sách lớn của Việt Minh.

    B. Thi hành mười chính sách lớn của Việt Minh khi giành chính quyền toàn quốc.

    C. Nhiệm vụ khi giành chính quyền toàn quốc.

    D. Thi hành mười chính sách lớn của Việt Minh.

    Câu 8. Ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời nước ta họp phiên đầu tiên đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách nào sau đây?

    A. Phải phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói.

    B. Mở ngay một chiến dịch chống nạn mù chữ.

    C. Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân.

    D. Cả ba đáp án trên.

    Câu 9. Lớp học viết báo đầu tiên, lấy tên là lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức vào thời gian nào?

    A. Tháng 7/1947.

    B. Tháng 4/1949.

    C. Tháng 6/1950.

    D. Tháng 1/1951.

    Câu 10. Bài hát “Mười chín Tháng Tám” là nguồn cổ vũ tinh thần của quân và dân ta, là sức mạnh lớn lao đập tan xích xiềng nô lệ. Bài hát do ai sáng tác, vào thời gian nào?

    A. Nhạc sĩ Văn Cao, 2/9/1943.

    B. Nhạc sĩ Phạm Tuyên, 19/8/1944.

    C. Nhạc sĩ Xuân Oanh, 19/8/1945.

    D. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tí, 2/9/1945./.

    BAN TỔ CHỨC CUỘC THI