Danh mục: Tin KHCN và HTQT

  • Nghiên cứu đặc tính tan rã và cơ chế xói lở của đất đắp mái đập hạ lưu vùng Nam Trung Bộ và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý

    Nghiên cứu đặc tính tan rã và cơ chế xói lở của đất đắp mái đập hạ lưu vùng Nam Trung Bộ và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý

     

    Đề tài: “Nghiên cứu đặc tính tan rã và cơ chế xói lở của đất đắp mái đập hạ lưu vùng Nam Trung Bộ và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý” Mã số: ĐTĐL.CN-50/22 là đề tài cấp nhà nước thuộc Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học Biển giai đoạn 2017 – 2025 – Lĩnh vực Khoa học trái đất (chương trình 562).

    Các thông tin chính:

    Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học và Công nghệ

    Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Thủy lợi

    Chủ nhiệm: PGS. TS Hồ Sỹ Tâm

    Năm 2022, đề tài được Bộ Khoa học và Công nghệ đặt hàng với 03 mục tiêu chính:

    • Xác định được đặc điểm thành phần vật chất, đặc tính tan rã của đất đắp đập vùng Nam Trung Bộ;
    • Làm rõ nguyên nhân, cơ chế xói lở mái hạ lưu đập đất do đặc tính tan rã của đất đắp vùng Nam Trung Bộ;
    • Đề xuất được các giải pháp, công nghệ để xử lý xói lở mái hạ lưu đập do đặc tính tan rã của đất đắp đập.

    Sau 03 năm thực hiện, ban chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu đã hoàn thành khối lượng theo đề xuất và đạt được các kết quả khoa học nổi bật sau:

    • Xây dựng bản đồ phân bố đất tan rã khu vực NTB từ kết quả khảo sát hiện trạng và thí nghiệm hiện trường (dữ liệu bản đồ);
    • Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu (mức độ tan rã, thành phần vật chất, chỉ tiêu cơ lý) đất tan rã khu vực NTB từ các kết quả thí nghiệm trong phòng và hiện trường (dữ liệu web);
    • Giải thích được nguyên nhân và cơ chế xói phổ biến khu vực NTB: xói mặt, xói rãnh, xói bậc thang, xói hố sụt thông qua kết quả thí nghiệm máng kính giàn mưa;
    • Đề xuất các giải pháp và qui trình công nghệ xử lý tính tan rã của đất, vật liệu phối trộn và tỷ lệ phối trộn hợp lý cho từng loại đất;
    • Xây dựng “Tài liệu hướng dẫn, kiểm tra, xử lý xói lở mái hạ lưu do đặc tính tan rã của đất vùng Nam Trung Bộ”.

    Nghiên cứu đặc tính tan rã và cơ chế xói lở của đất đắp mái đập hạ lưu vùng Nam Trung Bộ và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý

    Bản đồ phân bố xói lở và tan rã khu vực Nam Trung Bộ

     

    Nghiên cứu đặc tính tan rã và cơ chế xói lở của đất đắp mái đập hạ lưu vùng Nam Trung Bộ và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý

    Website dữ liệu đề tài

    Nghiên cứu đặc tính tan rã và cơ chế xói lở của đất đắp mái đập hạ lưu vùng Nam Trung Bộ và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý

    Nghiệm thu đề tài cấp nhà nước

    Đề tài nghiệm thu cấp cơ sở tại trường Đại học Thủy lợi ngày 26/11/2025, nghiệm thu cấp nhà nước ngày 15/01/2026 tại Bộ Khoa học Công nghệ và được các hội đồng thông qua với mức đạt. Các kết quả đề tài được hội đồng đánh giá có hàm lượng khoa học cao và có ý nghĩa thực tiễn trong lĩnh vực quản lý an toàn đập, an ninh nguồn nước khu vực Nam Trung Bộ./.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Khoa học cơ bản – nền tảng tri thức cho đột phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

    Khoa học cơ bản – nền tảng tri thức cho đột phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

    Với tốc độ tăng công bố quốc tế khoảng 20% mỗi năm, xuất hiện các bài báo trên Science, Nature và sự hình thành hàng chục nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng, Chương trình 562 đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong phát triển khoa học cơ bản. Hội thảo khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức sáng 19/12 tập trung đánh giá kết quả giai đoạn 2017–2025, đồng thời kiến nghị các giải pháp chính sách cho giai đoạn tiếp theo.

    Phát biểu khai mạc, ông Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên (Bộ KH&CN), nhấn mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản là nền tảng lâu dài của khoa học và công nghệ quốc gia, giữ vai trò then chốt đối với phát triển khoa học ứng dụng, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

    Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong các lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học Trái đất và Khoa học biển (Chương trình 562), được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 562/QĐ-TTg, bắt đầu triển khai thực chất từ năm 2019. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Chương trình đã đạt nhiều kết quả tích cực.

    Về công bố khoa học, số lượng và chất lượng bài báo quốc tế tăng trung bình khoảng 20% mỗi năm; đã có các công bố trên những tạp chí hàng đầu thế giới như Science, Nature. Số lượt trích dẫn quốc tế gia tăng, phản ánh tác động khoa học và mức độ hội nhập của đội ngũ nghiên cứu Việt Nam. Đáng chú ý, hai tạp chí khoa học trong lĩnh vực Hóa học và Khoa học Trái đất của Việt Nam đã được đưa vào hệ thống SCOPUS, góp phần nâng cao vị thế tạp chí khoa học trong nước.

    Về vị thế khoa học, Việt Nam tiếp tục duy trì thứ hạng tương đối cao trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xếp từ thứ 38–50 thế giới, thứ 10–12 châu Á và thứ 3–5 khu vực ASEAN, cho thấy hiệu quả của việc đầu tư có trọng điểm cho khoa học cơ bản.

    Khoa học cơ bản – nền tảng tri thức cho đột phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

    Ông Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên phát biểu khai mạc Hội thảo

    Về phát triển tiềm lực nghiên cứu, thông qua 95 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, Chương trình 562 đã góp phần hình thành khoảng 90 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó nhiều nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng từng bước khẳng định năng lực nghiên cứu độc lập, hội nhập quốc tế và gắn kết chặt chẽ nghiên cứu với đào tạo sau đại học. Đến nay, khoảng 70/95 đề tài đã được nghiệm thu; các đề tài còn lại đang hoàn thiện theo quy định, nhiều kết quả đã được đưa vào thử nghiệm và có định hướng ứng dụng rõ ràng.

    Trong lĩnh vực Hóa học, các nghiên cứu tập trung vào xử lý chất độc hại môi trường, phát triển vật liệu mới phục vụ y dược, hóa học xanh, góp phần thực hiện Công ước Stockholm. Khoa học sự sống ghi nhận việc xây dựng nhiều cơ sở dữ liệu quan trọng như cơ sở dữ liệu hệ gen người Việt Nam, dữ liệu hệ gen phục vụ chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh, dữ liệu độc chất học môi trường và cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học tích hợp vào hệ thống GBIF.

    Ở Khoa học Trái đất và Khoa học biển, các nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao, bao gồm: xây dựng tiêu chí lồng ghép yếu tố sinh thái và biến đổi khí hậu trong quy hoạch sử dụng đất; xác định bể chứa cacbon hữu cơ tại Đồng bằng sông Hồng; đánh giá tiềm năng khoáng sản vàng ẩn sâu; xây dựng tiêu chí phân vùng cảnh quan biển, đảo phục vụ phát triển kinh tế biển xanh; nghiên cứu cơ chế hình thành bão và dự báo mưa lớn, gió mạnh tại miền Trung.

    Theo ông Trần Quốc Cường, những kết quả nêu trên càng có ý nghĩa trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá chiến lược, trong đó khoa học cơ bản là nền tảng tri thức; các nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu trẻ là lực lượng nòng cốt quyết định năng lực cạnh tranh khoa học quốc gia trong trung và dài hạn. Chương trình 562, được xây dựng từ Nghị quyết 46/NQ-CP của Chính phủ, đã tạo nền tảng thực tiễn quan trọng để triển khai tinh thần Nghị quyết 57, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, bảo đảm tính ổn định dài hạn của nhiệm vụ nghiên cứu và chính sách phát triển đội ngũ khoa học trẻ.

    Khoa học cơ bản – nền tảng tri thức cho đột phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạoCác đại biểu trình bày tham luận tại Hội thảo

    Tại Hội thảo, nhiều tham luận chuyên sâu đã được trình bày, tập trung làm rõ vai trò của các nhóm nghiên cứu trẻ trong nâng cao tiềm lực khoa học cơ bản, với sự tham gia của các trường đại học, viện nghiên cứu lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường Đại học Thủy lợi.

    Các ý kiến, đề xuất tại Hội thảo được kỳ vọng sẽ đóng góp thiết thực cho Bộ KH&CN trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản sau năm 2025, với trọng tâm là đầu tư có chọn lọc cho các hướng nghiên cứu mũi nhọn; xây dựng cơ chế dài hạn, ổn định cho các nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu trẻ; tăng cường gắn kết nghiên cứu với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và hợp tác quốc tế.

    Khoa học cơ bản – nền tảng tri thức cho đột phá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

    Các đại biểu chụp hình lưu niệm

    Hội thảo không chỉ là dịp tổng kết Chương trình 562, mà còn là diễn đàn quan trọng để cộng đồng khoa học trao đổi, đề xuất giải pháp và kiến nghị chính sách cho giai đoạn phát triển tiếp theo của khoa học cơ bản Việt Nam.

    Trung tâm Truyền thông KH&CN – Bộ Khoa học và công nghệ
    Nguồn: https://mst.gov.vn/khoa-hoc-co-ban-nen-tang-tri-thuc-cho-dot-pha-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-197251219111729729.htm

  • Nghiệm thu đề tài KH&CN cấp quốc gia: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long “

    Nghiệm thu đề tài KH&CN cấp quốc gia: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long “

    Ngày 19/12/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu đề tài KH&CN cấp Quốc gia: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long”, mã số ĐTĐL.CN-37/22 do Trường Đại học Thủy lợi chủ trì, Chủ nhiệm: PGS.TS. Lê Văn Chín.

    Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 09 thành viên do GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh, Hội Thủy lợi Việt Nam/Ban Chủ nhiệm Chương trình KC.14/21-30, làm Chủ tịch Hội đồng.

    Nghiệm thu đề tài KH&CN cấp quốc gia: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long “

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng thay mặt lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi phát biểu tại buổi nghiệm thu

    Trong những năm gần đây hạn, mặn đã xuất hiện với tần xuất dày hơn và cường độ lớn hơn, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng ĐBSCL. Tình  trạng hạn hán, xâm nhập mặn (nồng độ dưới 2‰) đã ảnh hưởng đến tất cả các tỉnh vùng ĐBSCL trong tháng 3/2016 và diễn ra khốc chưa từng có trong lịch sử vào mùa khô năm 2020, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất (trên 160.000 ha đất canh tác bị nhiễm mặn), ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân (khoảng 600.000 hộ dân không đủ nước sinh hoạt). Có đến 5 tỉnh, thành đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp thiên tai, vựa lúa gạo lớn nhất cả nước đang đối mặt với thách thức lớn.

    Hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước có thể xảy ra thường xuyên hơn và khốc liệt hơn trong những năm tới, bởi vậy một mặt cần nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất bền vững hơn trong điều kiện hạn mặn, mặt khác cần có các giải pháp xây dựng các công trình tích trữ nước ngọt chủ động đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trong các tháng mùa khô ở ĐBSCL. Chính vì vậy đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long” là rất cần thiết. Nghiên cứu không đi sâu nghiên cứu các giải pháp trữ nước tổng thể trên phạm vi và qui mô lưu vực, mà đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các giải pháp tích trữ nước phân tán trong nội vùng sản xuất.

    Nghiệm thu đề tài KH&CN cấp quốc gia: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long “

    PGS.TS. Lê Văn Chín – Chủ nhiệm đề tài thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của đề tài.

    Để chủ động ứng phó với tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước, một mặt cần nghiên cứu xây dựng mô hình sản xuất bền vững hơn trong điều kiện hạn mặn, mặt khác cần có các giải pháp xây dựng các công trình tích trữ nước ngọt chủ động đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trong các tháng mùa khô ở đồng bằng sông Cửu Long, Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện với 3 mục tiêu:

    • Đánh giá được hiện trạng nguồn nước và khả năng cấp nước ngọt cho các ngành kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL.
    • Đề xuất được giải pháp tích trữ nước ngọt phù hợp cho vùng ĐBSCL.
    • Thiết kế 03 mô hình tích trữ nước ngọt điển hình (hồ chứa, ô ruộng, kênh trữ nước).

    Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:

    • Báo cáo đánh giá hiện trạng và tương lai nguồn nước, khả năng cấp nước ngọt cho các ngành kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL
    • Sơ đồ phân vùng cấp nước
    • Sơ đồ phân vùng thiếu nước
    • Báo cáo cơ sở lý luận và thực tiễn về các giải pháp tích trữ nước ngọt phục vụ phát triển kinh tế xã hội ĐBSCL
    • Báo cáo xác định tiềm năng, loại hình, địa điểm, quy mô, giải pháp kỹ thuật xây dựng và quản lý, vận hành các công trình tích trữ nước ngọt ở các vùng/tiểu vùng thuộc ĐBSCL
    • Tài liệu hướng dẫn thiết kế và quản lý, vận hành các loại hình công trình tích trữ nước ngọt điển hình của vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tứ Giác Long Xuyên và vùng Bán đảo Cà Mau
    • Hồ sơ thiết kế 03 mô hình tích trữ nước ngọt điển hình cho ba vùng: vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tứ Giác Long Xuyên và vùng Bán đảo Cà Mau
    • Báo cáo Tổng hợp kết quả KHCN đề tài
    • Công bố 01 bài báo trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCOPUS;
    • Công bố 04 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành trong nước;
    • Tham gia đào tạo sau đại học: Đào tạo 02 Thạc sĩ và hỗ trợ đào tạo 01 nghiên cứu sinh.
    • Viết 02 sách chuyên khảo.

    Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.

    Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí thông qua kết quả thực hiện đề tài. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu, mã số RD 35-24

    Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu, mã số RD 35-24

    Nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu”, mã số RD 35-24.  

    Ngày 20/12/2025, Bộ Xây dựng đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu”, mã số RD 35-24. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thắng – Giảng viên Bộ môn Xây dựng dân dụng và công nghiệp, khoa Công trình.

    Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm có 09 thành viên là các chuyên gia, nhà khoa học đến từ trường Đại học, Viện nghiên cứu, Tổ chức nghề nghiệp và đại diện cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, do TS. Lê Minh Long, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng, làm Chủ tịch Hội đồng.

    Nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu”,

    TS. Lê Quang Tuấn – Đại diện đơn vị chủ trì phát biểu

    Nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu”,

    TS. Nguyễn Văn Thắng thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của nhiệm vụ.

     Bê tông và thép kết cấu là hai vật liệu quan trọng, phổ biến trong xây dựng, với tính chất bổ sung nhược điểm lẫn nhau. Nhờ đó, kết cấu liên hợp thép-bê tông ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các công trình nhà dân dụng nhiều tầng tại Việt Nam. Tuy nhiên, đảm bảo an toàn kết cấu dưới tác động động đất đang là thách thức lớn đối với ngành kỹ thuật xây dựng.

    Hiện nay, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn thiết kế riêng cho kết cấu liên hợp thép-bê tông. Do đó, việc thiết kế, thi công và quản lý chất lượng thường phải tham khảo tiêu chuẩn châu Âu như EN 1994-1-1 (thiết kế liên hợp) và EN 1998-1 (kháng chấn). Khi áp dụng, cần điều chỉnh đặc trưng vật liệu theo TCVN 5574:2018 (bê tông cốt thép), TCVN 5575:2024 (kết cấu thép), đồng thời xem xét tải trọng và tổ hợp tải trọng (bao gồm động đất) theo TCVN 2737:2023 – khác biệt so với hệ thống châu Âu. Điều này làm các kỹ sư vẫn gặp nhiều khó khăn trong tính toán đồng bộ cấu kiện, đảm bảo độ dẻo và khả năng tiêu tán năng lượng động đất. Vì vậy, việc nghiên cứu kết hợp tiêu chuẩn châu Âu với tiêu chuẩn Việt Nam để ban hành hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông chịu động đất cho nhà dân dụng là thực sự cần thiết và cấp bách.

    Đề tài nghiên cứu với mục đích xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà dân dụng chịu động đất dựa trên tiêu chuẩn EN 1994-1-1 và EN 1998-1 có tham chiếu tham số, quy định và phụ lục từ tiêu chuẩn TCVN 5574:2018, TCVN 5575:2024, TCVN 9386:2012 và TCVN 2737:2023 để phù hợp với điều kiện Việt Nam. Do đó đề tài đặt ra những mục tiêu chính sau:

    • Thu thập thông tin, nghiên cứu tổng quan trong nước và trên thế giới;
    • Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, vướng mắc, bất cập trong công tác thiết kế kết cấu liên hợp thép – bê tông cho nhà dân dụng có yêu cầu kháng chấn ở Việt Nam;
    • Nghiên cứu những quy định về thiết kế kháng chấn cho kết cấu liên hợp và kết cấu nhà dân dụng trong tiêu chuẩn EN 1994-1-1 và EN 1998-1 và sự tương thích với tiêu chuẩn TCVN 5574:2018, TCVN 5575:2024, TCVN 9386:2012, và TCVN 2737:2023;
    • Xây dựng quy trình thiết kế dầm, cột liên hợp chịu động đất;
    • Hệ thống và chi tiết hóa các yêu cầu thiết kế kháng chấn cho nhà dân dụng khung mô men và khung giằng dùng kết cấu liên hợp thép-bê tông, có ví dụ tính toán cụ thể;
    • Xây dựng báo cáo tổng kết.

    Các kết quả đạt được của nhiệm vụ:

    • 01 Báo cáo tổng kết đề tài;
    • 01 Báo cáo tóm tắt đề tài;
    • 01 Dự thảo “Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép – bê tông cho nhà dân dụng nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu.”
    • 03 bài báo đăng trên tạp và và tuyển tập Hội nghị uy tín có chỉ số ISBN.

    Nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng Hướng dẫn thiết kế kết cấu liên hợp thép-bê tông cho nhà nhiều tầng chịu động đất theo tiêu chuẩn châu Âu”,

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Bộ

    Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì.  Tất cả các sản phẩm (Dự thảo Hướng dẫn thiết kế, Báo cáo tổng kết, Báo cáo tóm tắt, Sản phẩm khoa học) có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo Hợp đồng đã ký kết. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ.

    Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài đạt loại “Khá”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các ý kiến nhận xét của Hội đồng và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tham dự tọa đàm “An ninh phi truyền thống trong quản trị đô thị Hà Nội: Thực trạng – thách thức – giải pháp bền vững”

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự tọa đàm “An ninh phi truyền thống trong quản trị đô thị Hà Nội: Thực trạng – thách thức – giải pháp bền vững”

     

    Sáng ngày 18/12/2025, tại Trường Quản trị và Kinh doanh – Đại học Quốc gia Hà Nội, Tọa đàm khoa học “An ninh phi truyền thống trong quản trị đô thị Hà Nội: Thực trạng – Thách thức – Giải pháp bền vững” được tổ chức với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo, nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quy hoạch đô thị, giao thông, môi trường, tài nguyên nước, an ninh đô thị, quản trị rủi ro và chuyển đổi số.

    Toạ đàm được tổ chức trong bối cảnh Thủ đô Hà Nội đang đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản mô hình phát triển và phương thức quản trị đô thị, nhằm đáp ứng các thách thức ngày càng gia tăng do quá trình đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và các rủi ro phi truyền thống.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự tọa đàm “An ninh phi truyền thống trong quản trị đô thị Hà Nội: Thực trạng – thách thức – giải pháp bền vững”

    Tọa đàm khoa học “An ninh phi truyền thống trong quản trị đô thị Hà Nội: Thực trạng – Thách thức – Giải pháp bền vững”

    Dưới góc nhìn an ninh phi truyền thống, Toạ đàm nhấn mạnh rằng các vấn đề như ùn tắc giao thông, ngập lụt đô thị, ô nhiễm không khí – nguồn nước, mất an toàn công cộng không còn là những sự cố kỹ thuật riêng lẻ, mà đã trở thành các rủi ro an ninh có tính hệ thống, tác động trực tiếp đến đời sống người dân, hoạt động kinh tế – xã hội và khả năng vận hành bền vững của đô thị.

    Thông qua mô hình Think tank chính sách, Toạ đàm hướng tới:

    • Kết nối tri thức đa ngành giữa nhà quản lý – nhà khoa học – doanh nghiệp – cơ quan truyền thông;
    • Đề xuất các luận cứ khoa học và kiến nghị chính sách phục vụ công tác quản trị đô thị hiện đại;
    • Góp phần hỗ trợ các cơ quan Trung ương và Thành phố Hà Nội trong quá trình hoạch định và triển khai các chiến lược phát triển đô thị an toàn, thông minh và bền vững.

    Tham dự Toạ đàm, đoàn công tác của Trường Đại học Thủy lợi (TLU) gồm có:

    • GS.TS. Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng Nhà trường;
    • PGS.TS. Hồ Sỹ Tâm – Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ & Hợp tác Quốc tế;
    • PGS.TS. Lê Văn Chín – Trưởng Khoa Kỹ thuật Tài nguyên Nước.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự tọa đàm “An ninh phi truyền thống trong quản trị đô thị Hà Nội: Thực trạng – thách thức – giải pháp bền vững”

    GS.TS. Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng Nhà trường tham dự Tọa đàm

    Tại Toạ đàm, Trường Đại học Thủy lợi đã trình bày tham luận với chủ đề: “Thực trạng – Thách thức – Nguyên nhân và Giải pháp giảm thiểu ngập lụt cho Thành phố Hà Nội”.

    Tham luận tập trung phân tích một trong những thách thức an ninh phi truyền thống lớn của Thủ đô hiện nay – ngập lụt đô thị, trên cơ sở dữ liệu khoa học, thực tiễn quản lý và kinh nghiệm chuyên môn của Trường Đại học Thủy lợi. Nội dung tham luận làm rõ:

    • Thực trạng hệ thống thoát nước đô thị Hà Nội, bao gồm năng lực trạm bơm, diện tích hồ điều hòa và mức độ đáp ứng so với các trận mưa lớn, mưa cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu;
    • Các nguyên nhân chính gây ngập úng, như đô thị hóa nhanh, bê tông hóa bề mặt, suy giảm không gian trữ nước tự nhiên, thiếu đồng bộ giữa hệ thống thoát nước đô thị và hệ thống thủy lợi;
    • Các thách thức mới dưới góc độ an ninh phi truyền thống, trong đó ngập lụt không chỉ là vấn đề hạ tầng kỹ thuật mà còn đe dọa an toàn dân cư, giao thông, hoạt động kinh tế – xã hội và khả năng vận hành bền vững của đô thị;
    • Đề xuất nhóm giải pháp tổng thể, kết hợp giải pháp công trình và phi công trình theo hướng “thuận thiên”, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong giám sát, dự báo, điều hành thoát nước và quản trị rủi ro ngập lụt đô thị.

    Trường Đại học Thủy lợi tham dự tọa đàm “An ninh phi truyền thống trong quản trị đô thị Hà Nội: Thực trạng – thách thức – giải pháp bền vững”

    Tham luận của Trường Đại học Thủy lợi đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho quá trình thảo luận, xây dựng các kiến nghị chính sách về quản trị đô thị và an ninh phi truyền thống của Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn tới.

    Thông qua việc tham gia Toạ đàm, Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục khẳng định vai trò là cơ sở đào tạo, nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực tài nguyên nước, thủy lợi, môi trường và quản lý rủi ro thiên tai, đồng thời tích cực đồng hành cùng các cơ quan quản lý trong công tác tư vấn chính sách, hướng tới xây dựng Thủ đô Hà Nội an toàn, thông minh, bền vững và có khả năng thích ứng cao trước các thách thức an ninh phi truyền thống.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

     

    Ngày 14/12/2025, Bộ Xây dựng đã tổ chức phiên họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1”, mã số RD 24-24. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng – Phó chủ nhiệm Khoa Công trình trường Đại học Thủy lợi.

    Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ gồm 09 thành viên là các chuyên gia, nhà khoa học đến từ trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Viện nghiên cứu và đại diện cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, do TS. Lê Minh Long, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng làm Chủ tịch Hội đồng.

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu và kết quả của nhiệm vụ.

    Thay mặt nhóm nghiên cứu, Chủ nhiệm nhiệm vụ PGS.TS. Nguyễn Anh Dũng đã trình bày báo cáo tóm tắt các nội dung nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và những kết quả chính của nhiệm vụ. Báo cáo tập trung làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu, biên soạn hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn châu Âu EN 1992-1-1, phù hợp với điều kiện kỹ thuật, vật liệu và trình độ thiết kế – thi công tại Việt Nam.

    Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa xây dựng, phát triển nhà ở và công trình theo hướng hiện đại, bền vững, việc nghiên cứu, xây dựng tài liệu hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn EN cho kết cấu bê tông lắp ghép có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng thiết kế, bảo đảm an toàn kết cấu và hội nhập với tiêu chuẩn quốc tế.

    Mặc dù đã được sử dụng từ khá lâu và hiện nay đã trở lên phổ biến nhưng hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều tài liệu hướng dẫn thiết kế riêng cho bê tông lắp ghép, đặc biệt thiết kế theo tiêu chuẩn Châu Âu. Vì vậy việc nghiên cứu các tiêu chuẩn các nước tiên tiến như Châu Âu hay Vương quốc Anh (BS EN 1992-1-1.2004; Precast Eurocode 2: Design Manual; British Precast. 2008; BS EN 13225. 2013; BS EN 206. 2013; BS EN 1994-1-1. 2004) để ban hành các tài liệu hướng dẫn thiết kế là thực sự cần thiết. Các tiêu chuẩn thiết kế của Châu Âu này được thừa nhận là các tiêu chuẩn tiên tiến và có tính khoa học cao. Chính vì vậy ở nước ta đang có định hướng hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn của Châu Âu cho việc thiết kế công trình xây dựng.

    Kết quả của nhiệm vụ bao gồm:

    • Báo cáo nghiên cứu tổng hợp về cơ sở lý thuyết và thực tiễn áp dụng tiêu chuẩn EN 1992-1-1 cho kết cấu bê tông lắp ghép;
    • Dự thảo hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo EN 1992-1-1;
    • Các ví dụ tính toán, minh họa phục vụ công tác thiết kế và đào tạo;
    • Báo cáo tóm tắt các công trình khoa học đã công bố của đề tài.

    Kết quả của đề tài làm rõ cơ sở khoa học và quy định thiết kế kết cấu bê tông lắp ghép theo Eurocode 2 (EN 1992-1-1) trên cơ sở hệ thống hóa các quy định, nguyên tắc thiết kế kết cấu bê tông lắp ghép và bán lắp ghép trong tiêu chuẩn EN 1992-1-1.

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Bộ

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp Cơ sở – Trường Đại học Thủy lợi

    Các thành viên Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao những đóng góp của Chủ nhiệm và Cơ quản chủ trì; phần báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt có cấu trúc hợp lý, phù hợp với yêu cầu của một báo cáo khoa học. Về số lượng, khối lượng, tiến độ và chất lượng sản phẩm đều đạt yêu cầu nhiệm vụ. Kết quả của đề tài đã góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa học cho việc xây dựng tài liệu hướng dẫn thiết kế kết cấu bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn châu Âu, đáp ứng yêu cầu đổi mới hệ thống tiêu chuẩn xây dựng, thúc đẩy ứng dụng công nghệ bê tông lắp ghép, phục vụ phát triển xây dựng bền vững và hội nhập quốc tế của ngành xây dựng Việt Nam.

    Nghiên cứu xây dựng hướng dẫn thiết kế kết cấu khung và sàn bê tông lắp ghép theo tiêu chuẩn EN 1992-1-1

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu tại Trường Đại học Thủy lợi

    Với kết quả đạt được, Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài đạt “Khá”. Đồng thời, yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu các nội dung và chỉnh sửa cho phù hợp, hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định công nhận kết quả của nhiệm vụ.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

     

    Sáng ngày 10/12/2025, tại phòng hội thảo 500/A1, Trường Đại học Thủy lợi đã tổ chức Hội thảo khoa học “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”. Hội thảo nằm trong khuôn khổ đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu một số giải pháp công trình kiểu mới kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, mã số ĐTĐL.CN-51/23, do TS Trương Hồng Sơn – Trường Đại học Thủy lợi làm chủ nhiệm.

    Phát biểu khai mạc, đại diện lãnh đạo Trường Đại học Thủy lợi nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt quan trọng của đề tài trong bối cảnh ĐBSCL đang phải đối mặt đồng thời với xâm nhập mặn, sụt lún, thiếu nước ngọt và biến đổi khí hậu. Hội thảo được tổ chức nhằm báo cáo các kết quả nghiên cứu bước đầu, lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, chuyên gia và đơn vị quản lý để hoàn thiện các giải pháp công trình kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn.

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    Tham dự Hội thảo có GS.TS Nguyễn Tuấn Anh – Chủ tịch Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam; đại diện Văn phòng Chương trình Bộ Khoa học và Công nghệ là ông Nguyễn Việt Anh; cùng đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ giảng viên và nghiên cứu sinh đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong và ngoài Trường Đại học Thủy lợi.

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    TS Trương Hồng Sơn (chủ nhiệm đề tài) trình bày công nghệ đập hộp chìm (caisson) và bộ công cụ thiết kế đi kèm, cho phép đánh giá tổng hợp điều kiện thủy lực, địa kỹ thuật và tải trọng sóng dòng chảy lên công trình

    Hội thảo giới thiệu hai loại công trình trọng tâm của đề tài: đập tàu thủy và đập hộp chìm (caisson)  cùng các kết quả tính toán ổn định trong quá trình thi công và vận hành, qua đó làm rõ khả năng thích ứng của các giải pháp này đối với điều kiện thủy lực phức tạp ở vùng cửa sông. Bên cạnh đó, Hội thảo giới thiệu các mô hình thủy động lực hình thái, mô hình sa bàn và bộ công cụ thiết kế nhằm lượng hóa tác động của công trình trong các điều kiện thủy lực điển hình và cực đoan, qua đó đánh giá hiệu quả kiểm soát nguồn nước và tiềm năng ứng dụng các giải pháp công trình kiểu mới tại các cửa sông lớn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    TS Phan Khánh Linh báo cáo phương pháp tính toán, xác định cao trình đỉnh hệ thống các công trình KSNN đáp ứng yêu cầu an toàn, kinh tế trong bối cảnh mực nước biển dâng

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    ThS Bùi Mạnh Duy (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) trình bày báo cáo về ổn định đập hộp chìm trong quá trình vận hành, làm rõ các trạng thái làm việc, nguy cơ mất ổn định và giải pháp bảo đảm an toàn công trình

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    TS Đào Hoàng Tùng giới thiệu nghiên cứu xây dựng và thí nghiệm sa bàn hình thái, mô phỏng chi tiết diễn biến dòng chảy – bùn cát trong điều kiện có và không có công trình

    Trường Đại học Thủy lợi tổ chức Hội thảo “Kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL

    Trong phần thảo luận, GS.TS Nguyễn Tuấn Anh nhận xét năm 2025 là năm thứ hai triển khai đề tài và các kết quả nghiên cứu đã có bước tiến rõ rệt, đi sâu vào các bài toán kỹ thuật phức tạp, đồng thời đáp ứng tốt yêu cầu nội dung và tiến độ của nhiệm vụ. Giáo sư đánh giá đây là một đề tài khó trong cụm nhiệm vụ về ĐBSCL, song đã thể hiện được cách tiếp cận bài bản, gắn kết giữa mô hình toán, thí nghiệm và yêu cầu thực tiễn ở vùng cửa sông lớn.

    Các đại biểu dự cũng đề cao các kết quả của nhóm nghiên cứu, đặc biệt ấn tượng với bộ công cụ tính toán mà đề tài đã xây dựng, và đề xuất đẩy mạnh kiểm chứng với các công trình thực tế nhằm tăng tính thuyết phục và khả năng ứng dụng; đánh giá cao khối lượng công việc đã hoàn thành, vượt trội so với yêu cầu tối thiểu của nhiệm vụ, đồng thời gợi ý nhóm nghiên cứu tiếp tục bổ sung, làm rõ hơn cơ sở khoa học về tương tác dòng chảy – hình thái để nâng cao giá trị học thuật và thực tiễn của mô hình sa bàn.

    Kết luận Hội thảo, TS Trương Hồng Sơn trân trọng cảm ơn sự quan tâm, hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan quản lý, các nhà khoa học trong và ngoài trường; đồng thời khẳng định nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu nghiêm túc các ý kiến góp ý để hoàn thiện mô hình, bộ công cụ tính toán và các giải pháp công trình kiểu mới. Kết quả của đề tài không chỉ góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng các công trình kiểm soát nguồn nước ở các cửa sông lớn vùng ĐBSCL, mà còn mở ra các hướng nghiên cứu, hợp tác mới giữa Trường Đại học Thủy lợi với các đối tác trong nước và quốc tế trong lĩnh vực công trình biển – cửa sông thích ứng biến đổi khí hậu.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

    Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

     

    Ngày 05/12/2025, tại Trường Đại học Thủy lợi đã diễn ra phiên họp Hội đồng khoa học cấp cơ sở nghiệm thu nhiệm vụ cấp Bộ: “Rà soát, hướng dẫn khai thác, thuê dịch vụ cung cấp dữ liệu đo trực tuyến khí tượng, thủy văn chuyên dùng phục vụ vận hành công trình thủy lợi”, do PGS.TS. Lê Văn Chính, Trưởng Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thủy lợi làm Chủ nhiệm; Cục Quản lý và Xây dựng Công trình Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) là cơ quan đặt hàng, Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị chủ trì thực hiện.

    Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở gồm có 05 thành viên là các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực thủy lợi, khí tượng thủy văn và kinh tế và quản lý khai thác thuỷ lợi do PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật tài nguyên nước làm chủ tịch Hội đồng. Tham dự Hội đồng nghiệp thu còn có đại diện của Cục Quản lý và xây dựng công trình thuỷ lợi, Lãnh đạo và chuyên Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế và các đơn vị liên quan.

    Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

    PGS.TS. Lê Văn Chính thay mặt nhóm thực hiện trình bày tóm tắt các nội dung và kết quả của nhiệm vụ.

    Tại phiên họp, Chủ nhiệm nhiệm vụ đã trình bày tóm tắt nội dung nghiên cứu, cách tiếp cận và các kết quả chính của nhiệm vụ, bao gồm: (i) đánh giá hiện trạng nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ đo trực tuyến dữ liệu thủy văn chuyên dùng phục vụ cho quản lý vận hành công trình thủy lợi thông qua việc khảo sát tại 09 đơn vị cung cấp dịch vụ dữ liệu và 12 doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi là đơn vị sử dụng dữ liệu; (ii) rà soát đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ đo trực tuyến dữ liệu khí tượng thuỷ văn chuyên dùng (iii) phân tích hiệu quả đầu tư, thuê dịch vụ dữ liệu; đề xuất bộ giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và hướng dẫn quy trình 10 bước thuê dịch vụ cung cấp dữ liệu khí tượng thủy văn chuyên dùng phục vụ vận hành CTTL.

    Các thành viên Hội đồng đánh giá cao tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn của nhiệm vụ trong bối cảnh nhu cầu dữ liệu khí tượng thủy văn chuyên dùng phục vụ phòng chống thiên tai, vận hành hồ chứa, hệ thống tưới, tiêu, phòng chống hạn hán – xâm nhập mặn và thích ứng biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng. Báo cáo tổng hợp của nhóm nghiên cứu được chuẩn bị công phu, có cấu trúc hợp lý; các khảo sát và phân tích đã làm rõ thực trạng cung cấp – sử dụng dữ liệu, những bất cập về pháp lý, tài chính, kỹ thuật và tổ chức thực hiện; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp và hướng dẫn chi tiết, có khả năng áp dụng ngay trong thực tiễn quản lý vận hành công trình thủy lợi ở các địa phương.

    Nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025

    Hội đồng đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở.

    Về kết quả thực hiện, Hội đồng nhận định nhiệm vụ đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu, nội dung và sản phẩm theo Hợp đồng với chất lượng tốt: (i) bộ báo cáo đánh giá thực trạng cung cấp, nhu cầu sử dụng và thuê dịch vụ dữ liệu đo trực tuyến khí tượng, thủy văn chuyên dùng trong toàn ngành thủy lợi; (ii) báo cáo rà soát, kiến nghị hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khai thác, chia sẻ và thuê dịch vụ dữ liệu khí tượng, thủy văn chuyên dùng; (iii) báo cáo phân tích hiệu quả đầu tư – thuê dịch vụ dữ liệu theo các phương pháp phân tích chi phí lợi ích (CBA), Chi phí vòng đời (LCC), MCDA (ra quyết định đa tiêu chí); (iv) dự thảo “Hướng dẫn thuê dịch vụ cung cấp dữ liệu khí tượng, thủy văn chuyên dùng phục vụ vận hành công trình thủy lợi” nhằm hỗ trợ các địa phương và đơn vị quản lý công trình triển khai thống nhất, minh bạch, hiệu quả.

    Với những kết quả đạt được, Hội đồng khoa học cấp cơ sở nhất trí nghiệm thu nhiệm vụ với kết quả “Đạt”, đồng thời đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu một số ý kiến về hoàn thiện cấu trúc báo cáo, chuẩn hóa thuật ngữ, làm rõ hơn một số ví dụ minh họa, bổ sung khuyến nghị cho giai đoạn triển khai thực tế tại các địa phương. Trên cơ sở đó, Trường Đại học Thủy lợi sẽ hoàn thiện hồ sơ, trình cơ quan chủ quản để tổ chức nghiệm thu nhiệm vụ ở cấp có thẩm quyền trong thời gian tới.

    P.KHCN&HTQT

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

     

    Ngày 28/11/2025, Trường Đại học Thủy lợi đã có buổi tiếp đón đoàn đại biểu doanh nghiệp tỉnh Ehime, Nhật Bản. Đoàn do ông Taisei Nakano – Nghị sĩ tỉnh Ehime dẫn đầu, cùng 11 đại diện các doanh nghiệp tiêu biểu của tỉnh. Ehime là địa phương nổi tiếng về các ngành công nghiệp chế tạo, nông nghiệp, du lịch và hiện có số lượng lớn người Việt đang lao động tại đây.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

    Mở đầu buổi làm việc, Phó Hiệu trưởng Nguyễn Cảnh Thái – đã gửi lời chào trân trọng tới đoàn tỉnh Ehime và giới thiệu tổng quan về nhà trường, đồng thời nhấn mạnh uy tín của Trường Đại học Thủy lợi trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Ông cũng khẳng định nhà trường luôn coi trọng quan hệ hợp tác quốc tế, đặc biệt với các đối tác Nhật Bản đã và đang có nhiều chương trình hợp tác hiệu quả. Do đó, với đoàn doanh nghiệp lần này, nhà trường cũng mong muốn mở rộng hợp tác để cùng phát triển các dự án nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng công nghệ.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

    Đáp lại, Nghị sĩ Taisei Nakano cũng bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới nhà trường vì đã chuẩn bị tiếp đón chu đáo với phái đoàn. Ông giới thiệu các doanh nghiệp nổi bật của Ehime tham gia buổi làm việc, trong đó có Công ty SEKI, chuyên về sản xuất giấy và in ấn công nghệ cao; Công ty Xây dựng Daishin, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và thi công. Ngoài ra, Nghị sĩ cũng chia sẻ về tình trạng dân số già của Nhật Bản, dẫn đến nhu cầu lao động nước ngoài tăng cao, trong đó lao động Việt Nam tại Ehime chiếm tỷ lệ lớn và được đánh giá cao về khả năng làm việc. Do đó, ông nhấn mạnh mong muốn mở rộng hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển nhanh nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức về môi trường, biến đổi khí hậu và thiên tai – những bài toán mà Nhật Bản đã từng trải qua.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

    Trao đổi về các vấn đề nhức nhối hiện nay là môi trường và phòng chống thiên tai, PGS. Nguyễn Cảnh Thái cũng chia sẻ về các dự án hiện nay của nhà trường, trong đó có hợp tác với TP Hải Phòng về xử lý môi trường, cảnh báo và phòng thiên tai, dự án SATREPS về hệ thống cảnh báo sớm trượt lở đất và lũ bùn đá. Các vấn đề ngập lụt và sạt lở là những thách thức đang được nhà trường nghiên cứu, tìm ra giải pháp để giảm thiểu tác động.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

    Cùng đồng hành với đoàn doanh nghiệp có GS. Mizogami Tatsuya từ Đại học Matsuyama, một đại học dân lập tiêu biểu tại thủ phủ tỉnh Ehime, đã có hơn 100 năm hình thành và đang hướng tới trở thành đại học tổng hợp. Giáo sư cho biết ĐH Matsuyama đã phát triển hợp tác quốc tế với nhiều đại học nhưng hiện chưa hợp tác với cơ sở giáo dục nào tại Việt Nam, do đó rất mong muốn thiết lập quan hệ hợp tác đào tạo với Trường Đại học Thủy lợi, mở ra cơ hội trao đổi học thuật và nghiên cứu chung.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

    Trong phần trao đổi chuyên môn, đại diện các doanh nghiệp Ehime, bao gồm Công ty Xây dựng Shikoku (chuyên về tái thiết và khắc phục sau thiên tai), cùng Công ty Daiki-Axis (chuyên về hệ thống xử lý nước thải), đã thảo luận với các lãnh đạo Nhà trường về khả năng hợp tác đào tạo, nghiên cứu các vấn đề chung về môi trường và phòng chống thiên tai cũng như định hướng nghề nghiệp cho sinh viên. Những trao đổi này tạo nền tảng định hình hướng hợp tác cụ thể, gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo và thực tiễn công nghiệp trong tương lai.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp đón đoàn doanh nghiệp tỉnh Ehime (Nhật Bản)

    Kết thúc buổi làm việc, cả hai bên đánh giá đây là cơ hội mở ra cho mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa Trường Đại học Thủy lợi và các doanh nghiệp tỉnh Ehime. Buổi làm việc không chỉ tạo tiền đề cho các dự án nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn góp phần giải quyết các vấn đề môi trường, thiên tai và thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam, đồng thời mở ra cơ hội việc làm, học tập cho sinh viên và nâng cao năng lực quản lý, kỹ thuật cho cả hai bên.

    Phòng Khoa học Công nghệ và HTQT

    Ảnh: Phòng Chính trị và CTSV

     

  • Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục thúc đẩy các nghiên cứu khuôn khổ dự án Mekong Delta Living Lab với Đại học Công nghệ Delft (TU- Delft, Hà Lan)

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục thúc đẩy các nghiên cứu khuôn khổ dự án Mekong Delta Living Lab với Đại học Công nghệ Delft (TU- Delft, Hà Lan)

     

    Ngày 24/11/2025, Trường Đại học Thủy lợi đã đón tiếp và làm việc với Đoàn công tác Đại học Công nghệ Delft (TU Delft, Hà Lan) trong khuôn khổ các hoạt động thúc đẩy hợp tác đào tạo và nghiên cứu giữa hai trường. GS.TS Nguyễn Trung Việt – Hiệu trưởng Nhà trường chủ trì tiếp Đoàn cùng sự tham dự của lãnh đạo Phòng Khoa học Công nghệ & Hợp tác Quốc tế và Khoa Công trình.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục thúc đẩy các nghiên cứu khuôn khổ dự án Mekong Delta Living Lab với Đại học Công nghệ Delft (TU- Delft, Hà Lan)

    Mở đầu buổi làm việc, Hiệu trưởng Nguyễn Trung Việt gửi lời chào mừng tới đoàn công tác từ TU Delft do Bà Marjan Kreijns – Giám đốc The Green Village dẫn đầu. Giáo sư bày tỏ sự trân trọng đối với chuyến thăm và làm việc của Đoàn, khẳng định Nhà trường luôn coi trọng quan hệ hợp tác với TU Delft, đồng thời cảm ơn phía bạn đã đồng hành cùng Trường Đại học Thủy lợi trong các chương trình nghiên cứu và trao đổi học thuật thời gian qua.

    Bà Marjan Kreijns cũng gửi lời cảm ơn sự đón tiếp của Trường Đại học Thủy lợi và khẳng định Việt Nam luôn là đối tác hợp tác quan trọng, lâu dài của Hà Lan. Hai bên trao đổi về tình hình triển khai Dự án Mekong Delta Living Lab do Bộ Tài nguyên Nước Hà Lan/Chương trình Partners for Water tài trợ. Bà Marjan cho biết dự án đang được triển khai tích cực với sự phối hợp chặt chẽ của nhóm nghiên cứu hai nước; trong đó, GS. Marcel Stive và nhóm đang hoàn thiện bài báo khoa học đầu tiên. Đồng thời, kết quả bước đầu của dự án sẽ được giới thiệu tại Hội nghị VietWater do Đại sứ quán Hà Lan tổ chức, với sự tham gia của đoàn sinh viên TU Delft.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục thúc đẩy các nghiên cứu khuôn khổ dự án Mekong Delta Living Lab với Đại học Công nghệ Delft (TU- Delft, Hà Lan)

    Phía TU Delft thông tin rằng cơ quan tài trợ đã cử đại diện sang Việt Nam tháng 10/2025 để khảo sát thực địa tại Đồng bằng sông Cửu Long, có sự đồng hành của nhóm nghiên cứu hai trường. Đoàn cũng bày tỏ sự ghi nhận đối với sự hỗ trợ của Trường Đại học Thủy lợi dành cho các sinh viên Hà Lan sang trao đổi, và mong muốn tiếp tục mở rộng các hoạt động nghiên cứu chung, tăng cường trao đổi sinh viên – giảng viên cũng như phối hợp tìm kiếm các cơ hội tài trợ trong thời gian tới.

    Trong phần thảo luận, hai bên tập trung trao đổi về các xu hướng quốc tế hóa hoạt động nghiên cứu, nâng cao năng lực công bố khoa học, cùng những chương trình hỗ trợ như học bổng và fellowship, đặc biệt trong lĩnh vực đang được quan tâm như bán dẫn. Từ phía Trường Đại học Thủy lợi, đại diện Khoa Công trình đề xuất tiếp tục hợp tác xây dựng các đề xuất tài trợ trong những chương trình gọi vốn cấp Chính phủ và các tổ chức quốc tế, nhất là các đề tài liên quan đến biến đổi khí hậu và tài nguyên nước.

    Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục thúc đẩy các nghiên cứu khuôn khổ dự án Mekong Delta Living Lab với Đại học Công nghệ Delft (TU- Delft, Hà Lan)

    Cuộc gặp gỡ giữa đại diện hai bên góp phần củng cố mối quan hệ hợp tác bền chặt giữa Trường Đại học Thủy lợi và Đại học Công nghệ Delft. Kết thúc buổi làm việc, hai bên thống nhất sẽ tiếp tục duy trì cơ chế trao đổi học thuật thường xuyên, phối hợp tìm kiếm nguồn tài trợ nghiên cứu và thúc đẩy triển khai Dự án Mekong Delta Living Lab trong giai đoạn tiếp theo.

    Phòng Khoa học Công nghệ và HTQT

    Ảnh: Phòng Chính trị và CTSV