Danh mục: Tin KHCN và HTQT

  • Đại học Thủy lợi vang tiếng trống khai trường

    Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận gửi lẵng hoa đến mừng nhà trường, đại diện Bộ Nông nghiệp &PTNT cùng dự lễ khai giảng.

    Tiết mục văn nghệ của sinh viên chào mừng năm học mới

     

    Phát biểu tại buổi lễ, GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng nhà trường – cho biết: Năm học 2012 – 2013, nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ của năm học về đào tạo, nghiên cứu khoa học triển khai công nghệ, hợp tác quốc tế, xây dựng cơ sở vật chất và các lĩnh vực hoạt động khác.

    Nhà trường đã hoàn tất việc trình Bộ GD&ĐT hồ sơ mở 3 chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ bằng Tiếng Anh; là năm đầu tiên tuyển sinh khoá đầu tiên Chương trình Cao học về “Quản lý Tổng hợp Tài nguyên Nước”. Nhà trường đã xây dựng các hợp tác song phương về chương trình đào tạo chung, nâng cao năng lực nghiên cứu, dịch vụ tư vấn, chuyển giao công nghệ… với các trường ĐH ở Nhật Bản, Singapore, Pháp, Hà Lan, Đức, Italia…đồng thời ký kết biên bản ghi nhớ với ĐH Chuo – Nhật Bản (6/2012); ĐH Milano – Ý (4/2012); ĐH Tohoku -Nhật Bản.

    Công tác quản lý sinh viên luôn được quan tâm, số lượng sinh viên đươc khen thưởng hàng năm đều tăng, các loại học bổng khuyến khích các sinh viên đạt kết quả cao trong học tập và rèn luyện luôn được chú ý, như quỹ khuyến học Lê Văn Kiểm và gia đình năm học 2012 – 2013 dự kiến chi học bổng lên đến gần 500 triệu đồng.

    Năm 2012 hoạt động sản xuất của các Trung tâm, Công ty, Viện trực thuộc Trường có tổng doanh thu quyết toán là hơn 184 tỷ đồng (bẳng khoảng 89% so với năm 2011), trong đó trích nộp về trường hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo gần 7 tỷ (tỷ lệ trích nộp về trường đạt khoảng 3.8%).;

    Số lượng đề tài các cấp năm 2013 là 40 đề tài (trong đó có: 3 đề tài cấp NN, 4 đề tài tiềm năng cấp NN, 8 cấp Bộ, 3 cấp Tỉnh – TP, 3 thuộc Chương trình biến đổi khí hậu và 19 đề tài cấp cơ sở) với tổng kinh phí thực hiện gần 51 tỷ đồng (trong khi đó kinh phí được cấp năm 2013 là hơn 11 tỷ đồng).

    Nhà trường đã tổ chức thành công Hội nghị khoa học tuổi trẻ lần thứ 26 năm học 2012 – 2013. Dự án mở rộng Trường tại khu ĐH Phố Hiến (Hưng Yên) đang dược hoàn thành đúng tiến độ, ngày 19/3/2013 Bộ NN&PTNT đã ký văn bản số 1447/BNN-KH về kế hoạch cấp vốn năm 2013 cho dự án là 39,5 tỷ đồng (trong đó vốn đối ứng là 3,5 tỷ đồng, vốn ADB là 36 tỷ đồng).

    Tại buổi lễ, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi đã trao các phần thưởng và bằng khen cho sinh viên thủ khoa, có thành tích xuất sắc, sinh viên nghèo vượt khó trong năm học vừa qua. Đại diện doanh nghiệp, các nhà tài trợ cũng đóng góp vào quỹ học bổng cho nhà trường.

    Hiên Kiều

  • 19-08-1945: Cách mạng tháng tám, tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

    Đầu năm 1945, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi trên chiến trường Châu Âu, giải phóng hàng loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt của phát xít Đức ở Béclin. Ngày 8/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện. Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, đẩy quân phiệt Nhật vào tình thế thất bại. Ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, nhận định thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền đã tới, những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi. Uỷ ban khởi nghĩa gửi quân lệnh số 1 cho đồng bào và cho chiến sĩ cả nước ngay trong đêm ấy.

    Ngày 16/8/1945, đại hội họp ở Tân Trào đã thông qua “10 Chính sách lớn của Việt Minh”, thông qua “lệnh tổng khởi nghĩa” quyết định Quốc Kỳ nền đỏ, sao vàng, chọn bài tiến quân ca làm Quốc ca và bầu ra uỷ ban dân tộc giải phóng Trung Ương, tức chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã tiến hành cuốc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng tám thành công.

    Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ 14/8, một ngày sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc. Từ ngày 14 đến 18, tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An.

    Ngày 17/8, ở Hà Nội, tổng hội viên chức chính quyền bù nhìn tổ chức một cuộc mittinh lớn tại Quảng trường nhà hát thành phố, có hàng vạn người tham gia để ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Trong mittinh này, dưới sự lãnh đạo của xứ Uỷ Bắc Kỳ và thành Uỷ Hà Nội, quần chúng cách mạng đã giương cao lá cờ đỏ sao vàng, chiếm lấy diễn đàn cuộc mittinh, cán bộ Việt Minh đã diễn thuyết báo tin cho đồng bào biết quân phiệt Nhật đã đầu hàng và giới thiệu chủ trương đường lối cứu nước của Việt Minh, kêu gọi nhân dân đánh đổ chính quyền bù nhìn thân Nhật. Cuộc mittinh đã tiến thành cuộc biểu tình, tuần hành thị uy, bắt đầu từ quảng trường nhà hát thành phố và lan khắp nơi trên phố phường Hà Nội. Cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa.

    Ngụy quyền cực kỳ bối rối hoang mang, chúng dựng lên cái gọi là “Uỷ ban chính trị” đề nghị với Việt Minh: “Đằng nào các ông cũng thắng, nhưng để điều đình với Đồng Minh sẽ vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, đề nghị vùng nông thôn cách thành phố 15km là thuộc quyền các ông, còn thành phố cần có nhân sĩ, trí thức đứng ra giao dịch với Đồng Minh”.

    Đại biểu Việt Minh đã trả lời dứt khoát, “giao dịch với Đồng Minh lúc này, ngoài Việt Minh không ai có thể có lực lượng và danh nghĩa cả”.
    Sáng ngày 19/8, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. Họ vừa đi vừa hô khẩu hiệu:

    * Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.
    * Thành lập chính phủ dân chủ cộng hòa Việt Nam.
    * Anh em binh lính hãy mang súng gia nhập hàng ngũ chiến đấu bên cạnh Việt Minh.
    * Việt Nam hoàn toàn độc lập.

    Cuộc mittinh diễn ra vào ngày 19/8/1945. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến Quân Ca, đại biểu uỷ ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh. Cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn.

    Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng toả đi khắp nơi, cả nước vùng dậy đấu tranh giành chính quyền và liên tiếp giành thắng lợi.
    Cách mạng tháng tám là sự kiện vĩ đại trong lich sự dân tộc, đánh dấu bước tiến nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Đây là lần đầu tiên giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền trong cả nước, lần đầu tiên chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam ra đời.

  • Hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2013

    KTĐT – Ngày 31/5, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản gửi các sở giáo dục và đào tạo và các nhà trường chỉ đạo, tổ chức thực hiện đợt cao điểm về phòng, chống ma túy trong trường học từ ngày 01/6/2013 đến ngày 30/9/2013.

    Đây là hoạt động của Bộ GD&ĐT trong “Tháng hành động phòng, chống ma túy”, “Ngày Thế giới phòng, chống ma túy” và “Ngày toàn dân phòng, chống ma túy – 26 tháng 6”.
     
    Ảnh minh họa
     
    Trong đợt cao điểm này, HSSV sẽ được giáo dục, tuyên truyền để nhận biết rõ hiểm họa của tệ nạn ma túy, nhất là tác hại của các loại ma túy tổng hợp, thuốc tân dược có chứa chất gây nghiện thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa. Đồng thời, lồng ghép tuyên truyền phòng, chống ma túy với các hoạt động thể thao, văn nghệ và các hoạt động phong trào khác trong HSSV. Tổ chức mít tinh, triển lãm tranh cổ động về phòng, chống ma túy, thi tìm hiểu về đề tài phòng, chống ma túy; tọa đàm, tập huấn, nói chuyện chuyên đề về phòng, chống ma túy,…
     
    Vận động HSSV cán bộ, nhà giáo tham gia phong trào phát hiện, tố giác tội phạm, tệ nạn ma túy và tự giác khai báo về tình trạng sử dụng ma túy trái phép. Thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý thông tin của HSSV, cán bộ, nhà giáo và nhân dân có liên quan đến công tác phòng, chống ma túy. Tổ chức việc khám sức khỏe khi tuyển sinh, khám sức khỏe định kỳ cho HSSV; kiểm tra, xét nghiệm ngẫu nhiên việc sử dụng ma túy và xét nghiệm đột xuất.
     
    Ngoài ra, tổ chức ký cam kết không liên quan đến tệ nạn ma túy và giao ước thi đua vào dịp đầu năm học 2013-2014 đối với HSSV, tập thể, đơn vị trong ngành. Phối hợp chặt chẽ với địa phương, gia đình để quản lý HSSV trong dịp nghỉ hè; Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tạo điều kiện để HSSV, cán bộ, nhà giáo tham gia thường xuyên nhằm nâng cao đời sống tinh thần, tránh xa tệ nạn ma túy.
     

    Văn Chiến

  • Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam: Bảo vệ môi trường biển đảo

    Bộ Tài nguyên – Môi trường vừa công bố kế hoạch tổ chức sự kiện Tuần lễ biển và hải đảo năm 2013. Năm nay sự kiện sẽ được tổ chức tại TP Hà Tĩnh trong 2 ngày 7 và 8/6 với chủ đề “Chung tay hành động vì biển đảo quê hương”. 

    Ông Nguyễn Đăng Đạo – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ TN-MT) – cho biết: Bên cạnh nhiều chương trình hoạt động phong phú diễn ra trong cả nước, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam năm nay (diễn ra 7-8/6 tại Hà Tĩnh) tập trung vào 3 sự kiện lớn mang quy mô quốc gia gồm: Diễn đàn thương hiệu biển Việt Nam lần thứ V với chủ đề “Khu bảo tồn biển với việc phát triển bền vững tài nguyên môi trường biển, đảo”; Diễn đàn kinh tế biển Việt Nam lần thứ IV; Chương trình mít tinh kỷ niệm ngày Đại dương thế giới và Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam năm 2013.

    Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam: Bảo vệ môi trường biển đảo


    Diễn đàn Thương hiệu Biển Việt Nam lần thứ 5 do Bộ TN-MT chủ trì, hướng tới trao đổi về quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn nhằm bảo vệ, bảo tồn nguồn thủy sản, môi trường sinh thái biển;…

    Cũng theo ông Đạo, việc thực hiện Tuần lễ Biển và Hải đảo năm 2013 là cơ hội để tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền cả về bề rộng lẫn chiều sâu về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biển, đảo và đại dương. Từ đó, tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức, hành động của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về ý thức bảo vệ tài nguyên – môi trường biển, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển trong xu thế hội nhập hiện nay.

    Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định mục tiêu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển và phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp 53 – 55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước; giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội đất nước.

    Phạm Thanh

  • Tiếp tục phát triển hợp tác với các trường Đại học và Viện nghiên cứu Trung Quốc.

    Đại học Hồ Hải là đối tác truyền thống từ những năm 1960, đã đào tạo hàng chục Tiến sỹ, Thạc sỹ, Kỹ sư cho trường ta, hiện nay có 8 giảng viên của trường ta đang được đào tạo ở đây. GS. TANG Hongwu Phó Hiệu trưởng đã đánh giá rất cao về hợp tác giữa hai trường, đặc biệt những NCS của trường ta đã và đang học tập tại Ho Hai. Trường Đại học Hồ Hải tiếp tục giành các học bổng đào tạo TS, ThS cho Trường Đại học Thủy lợi, kể cả các khóa ngắn hạn nhằm nâng cao kỹ năng cho giảng viên. Dự định cuối năm nay đoàn đại biểu của Đại học Ho Hai sẽ thăm trường ta để tiếp tục, mở rộng hợp tác và đánh giá hiệu quả đào tạo nhân lực cho Đại học Thủy lợi. Ngoài những lĩnh vực truyền thống, hai trường sẽ hợp tác trong một số lĩnh vực mới. Đại học Ho Hai rất mạnh về: Kỹ thuật công trình thủy, Thủy văn, Thủy điện, Vật liệu xây dựng, Địa cơ nền móng và đặc biệt là mô hình vật lý với một hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm hiện đại. Trường có hệ thống liên kết với các Viện nghiên cứu, các Công ty, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia của các ngành liên quan và công tác chuyển giao công nghệ được đặc biệt quan tâm và rất hiệu quả.

                                     

    Làm việc với GS TANG Hongwu Phó hiệu trưởng Đại học Hohai

    Có thể nói trường Đại học Vũ Hán là trường đầu tiên đào tạo nhân lực cho Trường Đại học Thủy lợi, những giáo sư đầu các ngành: GS Ngô Trí Viềng ngành Thủy công; GS Phan Kỳ Nam ngành thủy điện; cố GS Tống Đức Khang ngành Thủy nông… đã từng học tập ở đây, hiện nay có một NCS của trường ta đang học tại Vũ Hán. Đây là một trong những cơ sở đào tạo hàng đầu về thủy lợi, thủy điện. Hệ thống phòng thí nghiệm thủy điện và tưới tiêu được hiện đại hóa giúp người học nâng cao kỹ năng thực hành rất lớn. Phó hiệu trưởng trường Đại học Vũ Hán rất quan tâm đến hợp tác giữa hai trường trong đào tạo nhận lực giúp Đại học Thủy lợi muốn tiếp tục và sẵn sang mở rộng hợp tác giữa hai trường tới các lĩnh vực khác trong tương lai.

                                    

    Làm việc với GS TANG Guangming, Phó hiệu trưởng Đại học Vũ Hán

    Trường Đại hoc Tam Hiệp được Bộ giáo dục Trung Quốc ký thành lập ngày 29 tháng 06 năm 2000, được nhập từ Đại học Thủy lợi thủy điện Vũ Hán (Nghi Xương) và Học viện Tạm Hiệp Hồ Bắc, đây là một trường trẻ nhưng được xây dựng, trang bị một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh từ khu làm việc, thư viện, hệ thống phòng thí nghiệm đến ký túc xã, khu giải trí, khu giáo dục thể chất cho sinh viên. Đây là trường rất mạnh về thủy điện, môi trường, hầu hết các vấn đề liên quan đến công trình thủy điện Tam Hiệp (lớn nhất thế giới) đều đã được nghiên cứu rất cơ bản và bài bản ở trường Đại học này, hiện nay vẫn tiếp tục nghiên cứu. Trường ta chưa có hợp tác nhiều với trường Đại học này trong những năm qua. Làm việc với GS. Huang Yingping, Phó hiệu trưởng cho thấy sự cần thiết nâng cao hợp tác giữa hại trường, một biên bản hợp tác đã được ký kết cùng với thỏa thuận cấp học bổng của Đại học Tam Hiệp đào tạo nhân lực cho Đại học Thủy lợi năm 2013.

                                            

    Ký biên bản hợp tác giữa Đại học Thủy lợi và Đại học Tam Hiệp

                                            

    Trao biên bản hỗ trợ học bổng đào tạo sau đại học

    Đoàn công tác còn làm việc với các Giáo sư, Viện sĩ và các đơn vị liên quan khác nhằm tăng cơ hội hợp tác và trao đổi trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Trong đó có GS Miao Changwen Viện sĩ Viện hàn lâm Trung Quốc và Viện nghiên cứu Khoa học xây dựng Jiangsu, ….

    Với mục tiêu nâng cao chất lượng, mở rộng lĩnh vực và loại hình mới trong hợp tác quốc tế với các trường Đại học của Trung Quốc. Chúng ta hy vọng và tin tưởng những hợp tác này sẽ hiệu quả cao và cùng hợp tác quốc tế của trường nâng cao năng lực đội ngũ khoa học của Trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt là các giảng viên trẻ .

                                                             

    Đoàn làm việc với Viện Khoa học Xây dựng Giang Tô

    Lê Đình Thành – Vũ Quốc Vương

  • Tin hợp tác quốc tế Tháng 9

    Tháng 9 – năm học mới 2012-2013 bắt đầu, nhiều hoạt động sôi nổi đã diễn ra, tạo đà cho một năm học tràn trề năng lượng, trong đó phải kể đến việc chào đón các sinh viên của khóa 54, lễ khai giảng năm học mới…bên cạnh đó không thể không nhắc tới những hoạt động trong hợp tác quốc tế.

    Đầu tiên, đó là chuyến làm việc của chuyên gia đến từ Đại học Kyushu – Nhật Bản với Trường Đại học Thủy lợi, thông qua đó giới thiệu đến Nhà trường các chương trình Đào tạo quốc tế và cơ hội học bổng tại các trường Đại học của Nhật Bản. Hoạt động này nằm trong chương trình học bổng phát triển nguồn nhân lực Nhật Bản giai đoạn 2013-2014, với mục tiêu hỗ trợ các hoạt động phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam dành cho các cán bộ Nhà nước trẻ và có năng lực, họ là những người được kỳ vọng sau khi tốt nghiệp tại Nhật Bản trở về là những người tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và thực thi các chính sách phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam, đồng thời góp phần tăng cường và mở rộng mối quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản. Có 6 ngành học thuộc chương trình đào tạo Thạc sỹ được đưa ra, đó là: Xây dựng thể chế; Giao thông/Phát triển đô thị; Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn; Môi trường; Phát triển khung pháp lí; Cải cách hành chính công. Đây là học bổng toàn phần, bao gồm Học phí tại các cơ sở giáo dục sau Đại học Nhật Bản; vé máy bay khứ hồi Việt Nam – Nhật Bản; Sinh hoạt phí hàng tháng tại Nhật Bản và các chi phí hỗ trợ khác. Đây quả thực là một thông tin du học hữu ích mà chương trình JDS muốn giới thiệu đến các trường Đại học và một số cơ quan khác, trong đó có Đại học Thủy lợi.

    Tiếp đến là Hội thảo “Giới thiệu Công nghệ và kinh nghiệm quan trắc đê, đập, công trình thủy lợi” do ông H.O.Rosingh – Giám đốc Intech và Deltares (Hà Lan) trình bày, hội thảo thu hút đông đảo các thầy cô giáo và những người quan tâm tới dự. Theo đó, ông H.O.Rosingh khẳng định Hà Lan là đất nước có hệ thống đê đập khá ổn định, vì vậy họ sẽ giúp Việt Nam trong việc mang đến sự an toàn cho hệ thống đê, cũng như bảo quản hệ thống đê được tốt hơn. Mục tiêu của dự án này sẽ giúp Việt Nam xây dựng bộ tiêu chuẩn mới kiểm tra, giám sát các công trình đê đập của Việt Nam, xây dựng mô hình hóa bài toán lũ ở Việt Nam để có được công cụ để lựa chương trình quản lí lũ lụt, xác định được nhu cầu và chi phí để chúng ta có được bài toán về khoan trắc mô hình hóa về lũ lụt ở Việt Nam. Phía Hà Lan sẽ giới thiệu các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thiết bị để kiểm tra giám sát an toàn cho đê, đập tại Việt Nam, giới thiệu những công nghệ và kỹ thuật của hệ thống khoan trắc đê đập, bên cạnh đó còn giới thiệu các chương trình đào tạo để nâng cao kinh nghiệm cho các kỹ sư tại Việt Nam. Hiện Hà Lan đã kí bản ghi nhớ với Bộ Nông nghiệp & PTNT đưa ra chương trình làm việc kiểm tra hệ thống đê điều tại Việt Nam, trong đó có ba hệ thống thí điểm sẽ làm, đó là hệ thống đê điều của sông Hồng; Đập Phú Ninh; hệ thống đê tại TP Hồ Chí Minh tiếp giáp với Campuchia. Trong đó sẽ đưa vào ba kỹ thuật: khảo sát & quan trắc mặt đất; dùng ảnh máy bay và ảnh vệ tinh để quan sát bề mặt đất. Bên cạnh đó, Hà Lan sẽ mang về Việt Nam các công nghệ viễn thám, kiểm tra đánh giá khoan trắc hệ thống đê điều, họ kiểm tra khảo sát và sử dụng các công nghệ để đánh giá…Với sự giới thiệu khái quát chung này, trong Hội thảo ông  H.O.Rosingh  đã đi sâu vào chi tiết các phần, với các lí thuyết cụ thể hơn. Đây thực sự là một hội thảo bổ ích dành cho các giảng viên, sinh viên của Trường Đại học Thủy lợi, bởi xây dựng các công trình đê, đập, công trình thủy lợi – được coi là một ngành nghề truyền thống của Nhà trường trong nhiều năm qua, những kinh nghiệm ngày hôm nay góp phần làm nên những thành công tiếp theo của các công trình thủy lợi đã thành công khác mà Nhà trường từng tham gia thiết kế, thi công tại Việt Nam, cũng như là lí thuyết và thực tế quan trọng để đưa thêm vào bài giảng.

    Tháng 9 dần đi qua với những thuận lợi trong công tác chung của Nhà trường, hy vọng năm học 2012-2013 sẽ là năm học thành công trong mọi lĩnh vực, góp phần vào thành công của Chiến lược phát triển Nhà trường giai đoạn mới tiếp theo.

    Anh Nguyễn

  • Dự án hợp tác song phương giữa Trường Đại học Thuỷ lợi và trường Đaị học Kyushu, Nhật Bản.

    Hơn 10 năm qua, Đại học Thuỷ lợi đã xây dựng mối quan hệ hợp tác hiệu quả và thân thiết với Đại học Kyushu Nhật Bản và hai bên đã ký một Biên bản Ghi nhớ vào tháng 8/2008 và thường xuyên trao đổi các đoàn công tác, tổ chức seminar chuyên đề, đào tạo nguồn nhân lực… Đặc biệt, hai bên phối hợp xây dựng đề xuất một Dự án hợp về “Bảo vệ Tài nguyên Đất và Nước ở vùng Đông Nam Á” gọi tắt là “SOWAC Project”. Mục tiêu của dự án là tiến hành những nghiên cứu khoa học chung, hội thảo khoa học, trao đổi chuyên gia nghiên cứu trong bốn lĩnh vực: Môi trường đất, Môi trường nước, Quản lý nguồn nước, Sinh khối (Biomass). Dự án được thực hiện trong 3 năm (từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 3 năm 2015) với tổng nguồn kinh phí do Hiệp hội Khoa học Nhật Bản tài trợ thông qua trường ĐH Kyushu là 8.000.000 JPY/1 năm (tương đương với 100,000 USD/1 năm). Mỗi năm dự án sẽ tiến hành những nghiên cứu chung theo bốn lĩnh vực chính, tổ chức hội thảo và chuyên đề khoa học ở Nhật Bản và Việt Nam, trao đổi học thuật, trao đổi giáo viên và sinh viên cao học giữa hai trường. Tham gia thực hiện dự án gồm bốn đối tác: Đại học Thủy lợi, Viện Nghiên cứu Môi trường Đông Á – Đại học Kyushu, Khoa Nông nghiệp – Đại học Kyushu, và Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới – Đại học Kyushu.

     

    Hai bên ký kết Biên bản Ghi nhớ phối hợp thực hiện Dự án SOWAC và trao quà lưu niệm.

    Một trong các hoạt động chính của Dự án trong năm 2012 là tổ chức Hội thảo quốc tế “Dự án Hợp tác Bảo tồn Đất và Nước ở vùng Đông Nam Á” – gọi tắt là “SOWAC”. Dự án này lần thứ nhất đã diễn tại thành phố Fukuoka – Nhật Bản từ ngày 8-11/8/2012. Trường Đại học Thủy lợi cử đoàn công tác gồm 11 người do GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng là trường đoàn, cùng PGS.TS Trịnh Minh Thụ – Phó Hiệu trưởng và các thầy cô ở  Khoa Môi trường và Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước. Về phía Nhật bản có sự tham gia của GS. TS Setsuo Arikawa- Hiệu trưởng Đại học Kyushu – kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Môi trường Đông Á; GS.TS Atsushi Yoshimura – Trưởng Khoa Nông nghiệp Đại học Kyushu; GS.TS Kiyoshi Kurusawa- Viện trưởng Viện nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới: GS TS Hiramstu – Khoa Nông nghiệp Đại học Kyushu ; GS TS Otsubo – Khoa Nông nghiệp Đại học Kyushu và gần 100 GS, PGS, TS, nghiên cứu sinh và sinh viên đến từ Đại học Kyushu. Hội thảo còn vinh dự có sự hiện của  Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Fukuoka – Ông Vũ Huy Mừng.

    Toàn thể đại biểu tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm

    Sáng ngày 8/8/2012, trước khi bắt đầu hội thảo là lễ kí kết biên bản hợp tác giữa các bên tham gia dự án. GS.TS Nguyễn Quang Kim – đại diện phía trường Đại  học Đại học Thủy lợi;  GS TS Setsuo Arikawa – Hiệu trưởng trường Đại học Kyushu – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Môi trường Đông Á, GS.TS Atsushi Yoshimura – Trưởng Khoa Nông nghiệp Trường Đại học Kyushu và  GS.TS Kiyoshi Kurusawa – Viện Trưởng Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới,  đại diện cho  phía Nhật bản đã ký biên bản hợp tác. Lễ kí kết được được diễn ra trong không khí long trọng và trang nghiêm. GS.TS Nguyễn Quang Kim đã gửi lời cám ơn sự hợp tác của các phía đối tác Nhật và hy vọng sẽ đẩy mạnh hợp tác hơn nữa trong lĩnh vực tài nguyên nước, tài nguyên đất… trong thời gian tới và trao tặng các phía đối tác những món quà đầy ý nghĩa mang từ đất nước Việt Nam thân yêu .

     Đoàn cán bộ trường Đại học Thủy lợi đi thăm công trình đập ngăn mặn Chikugo.
     

     Hội thảo diễn ra trong ba ngày 8-10/8/2012, bao gồm hai ngày trình bày các báo cáo và một ngày đi thực địa (10/8/2012). Mở đầu hội thảo là hai báo cáo chính của GS.TS Nguyễn Quang Kim – Hiệu trưởng trường Đại học Thủy lợi và GS.TS Masami Ohtsubo đến từ Đại học Kyushu. Trong báo cáo của mình GS.TS Nguyễn Quang Kim giới thiệu chung về thực trạng và các vấn đề về tài nguyên nước của Việt Nam và các dự án về Tài nguyên nước đang được triển khai. GS.TS Masami Otsubo trình bày về tích chất lớp trầm tích tại vịnh  Ariake và các vấn đề liên quan đến phát triển nông nghiệp tại vùng Kyushu – Nhật Bản. Tiếp đó, 20 báo cáo khác được chia làm 4 tiểu ban: Môi trường đất, Môi trường nước, Quản lý nước và Khí sinh học, được trình bày và thảo luận hết sức sôi nổi trong suốt 2 ngày. Sau khi kết thúc nội dung trình bầy các báo cáo, ngày 10/8 đoàn Việt nam tham gia chuyến đi thực địa tham quan Đập Chikugo và trạm bơm …… và nhận được sự đón tiếp tận tình chu đáo của các GS Nhật cũng như các bạn sinh viên Việt nam tại Đại học Kyushu.

    Qua buổi hội thảo, đoàn Đại học Thủy lợi đã tiếp thu học hỏi được nhiều tiến bộ khoa học từ phía các nhà khoa học Nhật bản đồng thời cũng là cơ hội để trường Thủy lợi giới thiệu và trao đổi các nghiên cứu khoa học đã đạt được trong thời gian gần đây với các đối tác Nhật Bản. Hội thảo đã khép lại, nhưng để lại ấn tượng rất tốt cho các nhà khoa học tham dự Hội thảo. Đây thực sự là cơ hội tốt cho trường Đại học Thủy lợi học hỏi rút kinh nghiệm để tổ chức thành công hội thảo “SOWAC“ lần thứ 2 tại Hà Nội vào năm 2013. Tạm biệt Fukuoka- hẹn gặp lai Fukuoka vào năm 2014.

  • Đề cương tuyên truyền kỷ niệm năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào 2012

    Năm 2012 là năm Việt Nam và Lào tổ chức kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (05/9/1962 – 05/9/2012) và 35 năm Ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác (18/7/1977 – 18/7/2012) . Để phục vụ công tác tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn, phát hành Đề cương tuyên truyền, gồm 2 phần:

    – Phần thứ nhất: Khái quát lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào ( 1930 – 2007).

    – Phần thứ hai: Những hoạt động chính trong Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam- Lào 2012.

    PHẦN THỨ NHẤT

    KHÁI QUÁT LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM –LÀO

    Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp. Trải qua nhiều thử thách, hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam – Lào đã trở thành quy luật sống còn và sức mạnh kỳ điệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    I. DƯỚI SỤ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG, HAI DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ LÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP, TỰ DO (1930 – 1 945)

    1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO

    Quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào bắt nguồn từ vị trí địa – chiến lược và bản sắc văn hóa có những nét tương đồng của hai nước:

    – Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ.

    – Nhân dân hai nước giàu lòng nhân ái, bao dung và văn hóa của hai dân tộc có nhiều nét tương đồng.

    – Nhân dân hai nước có truyền thống bang giao hòa hiếu, cưu mang đùm bọc lẫn nhau từ lâu đời, cuối thế kỷ XIX cùng bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị tàn bạo.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam và dân tộc Lào.

    Nét nổi bật là: trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925  tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào. Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào. Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức. Như vậy, Lào chính là địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương.

    2. ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CHỒNG CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA (1930 – 1939)

    Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào. Tháng 10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị thông qua những văn kiện quan trọng, xác lập các nguyên tắc, phương hướng, đường lối chính trị và những nhiệm vụ cơ bản cho phong trào cách mạng của ba dân tộc ở Đông Dương. Hội nghị đã đặt phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

    Tháng 9-1934, Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam – Lào.

    Trong những năm 1930-1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào đã ảnh hưởng lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗi nước.

    3 . GIÚP  NHAU ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN THẮNG LỢI (1939 -1945)

    Cộng sản Đông Dương liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng để bàn chủ trương và biện pháp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân đi đến thắng lợi. Đặc biệt, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5-1941 diễn ra Ở tỉnh Cao Bằng (Việt Nam) do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc chủ trì đã quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng trước tiên của cách mạng Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước và thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

    Từ năm 1943  , “Ban vận động Việt kiều Lào – Thái” được thành lập và nhanh chóng tiến hành gây dựng cơ sở trên địa bàn Lào. Đến năm 1944 , Ban Vận động Việt kiều chuyển thành Hội Việt kiều cứu quốc. Để thống nhất chỉ đạo phong trào cách mạng, phát triển lực lượng cách mạng, những đồng chí trung kiên trong Hội Việt kiều cứu quốc thành lập Đội Tiên phong 2 . Dưới sự lãnh đạo của Đội Tiên phong, các chi bộ Đảng Ở Viêng Chăn, Bò Nèng, Thà Khẹc, Savẳnnàkhẹt lần lượt được củng cố. Đầu năm 1945, “Tổng hội Việt kiều cứu quốc toàn Thái – Lào”, một chi nhánh của Mặt trận Việt Minh được thành lập nhằm hưởng ứng và tham gia công cuộc giành độc lập.

    Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính lật Pháp, độc chiếm Đông Dương, thực thi các chính sách cai trị thâm độc và tàn bạo ở cả Việt Nam và Lào. Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp và sau đó ban hành Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa. Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển rất mạnh mẽ ở Việt Nam đã tác động và hỗ trợ tích cực, mạnh mẽ các lực lượng yêu nước Lào đấu tranh giành độc lập.

    Tháng 4-1945 , tại Thái Lan, nhóm người Lào đang hoạt động tại đây thành lập tổ chức “Lào ítxalạ” (Lào tự do). Tổ chức này tập hợp các công chức, học sinh có tinh thần yêu nước, chủ trương dựa vào phe Đồng Minh chống Nhật để giành độc lập.

    Tháng 5-1945 , một tổ chức yêu nước khác của người Lào cũng ra đời là “Lào pên Lào” (Nước Lào của người Lào), gọi tắt là “Lopolo”, gồm những công chức, trí thức, sĩ quan người Lào tập hợp nhau để đấu tranh giành độc lập cho Lào.

    Đội Tiên phong, Tổng hội Việt kiều cứu quốc toàn Thái – Lào đã tiến hành lien hệ với các tổ chức “Lào ítxalạ” và “Lào trên Lào” để bàn việc phối hợp hoạt động, thu hút và tổ chức huấn luyện chính trị, quân sự cho thanh niên Lào – Việt.

    Ngày 14 -8-1945, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh vô điều kiện.Trong thời điểm lịch sử đó, Hội nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 14 đến 15-8-1945 tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam) phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ở Việt Nam, cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi động và kết thúc thắng lợi hoàn toàn trên cả nước trong vòng 15 ngày. Ngày 2- 9-1945 , Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt quốc dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trịnh trọng tuyên bố với nhân dân cả nước và thế giới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945  ở Việt Nam đã đập tan bộ máy thống trị đầu não của phát xít Nhật và thực dân Pháp ở Đông Dương tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Lào.

    Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời và khôn khéo của Xứ uỷ Ai Lao, ngày 23-8-1945, một cuộc mít tinh lớn diễn ra tại khu vực chợ Mới đã thúc đẩy và tạo điều kiện cho các địa phương khác trên đất Lào đứng lên khởi nghĩa thắng lợi. Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang Ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân vào ngày 4-9-1945 . Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng. Ngày 3-10-1945 tại cuộc mít tinh của hang vạn nhân dân tỉnh Savẳnnàkhẹt đón chào :Hoàng thân Xuphanuvông trở về tham gia chính phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào – Việt từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới”.

    Được sự giúp đỡ của Ban chỉ đạo khởi nghĩa ở Viêng Chân, sau một thời gian hiệp thương, hai tổ chức yêu nước là Hội “Lào pên Lào” và tổ chức “Lào ítxalạ” đã hợp nhất thành lập Uỷ ban khởi sự (Khanạ Phu co kan), gấp rút tiến hành thành lập Chính phủ Trung ương và dự thảo Hiến pháp tạm thời.

    Sáng ngày 12-10-1945, trong cuộc mít tinh lớn tại sân vận động thành phố

    Viêng Chăn, Chính phủ Lào ítxalạ vừa được thành lập đã làm lễ ra mắt và trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể nhân dân nền độc lập của quốc gia Lào. Hàng vạn nhân dân Lào tham gia cuộc mít tinh đã phấn khởi hô vang các khẩu hiệu hoan nghênh nền độc lập của Lào, hoan nghênh Chính phủ mới, cổ súy tinh thần Lào – Việt đoàn kết. Chính phủ Lào chủ trương: “nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhân dân Việt Nam đánh đuôi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương”

    Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày 2-9-1945) và Chính phủ Lào ítxalạ (ngày 12-10-1945 ) cùng những mong muốn của hai bên về xây dựng mối quan hệ hoàn hảo và vững chãi hơn trước là một trong những cơ sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu.

    II. LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO TRONG 30 NĂM CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG (1945-1975

    I. LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM- LÀO CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC  ( 1945 – 1954)

    Sau khi giành lại được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào – Việt, đặt Cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam – Lào.

    Ngày 23 – 9 – 1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, rồi mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia, ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương. Chỉ thị chủ trương: “Thống nhất mặt trận Việt – Miên – Lào chống Pháp xâm lược".

    Trong những năm 1945-1948, liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào từng bước được hình thành, phát triển và thu được nhiều kết quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào gắn bó mật thiết hơn.

    Tháng 1-1949 , Hội nghị cán bộ lần thứ sáu Trung ương Đảng, quyết định mở rộng mặt trận Lào – Miên, trong đó nhấn mạnh yêu cầu mở rộng Mặt trận Kháng chiến Lào và Campuchia, củng cố các lực lượng Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở hai nước này, tăng cường thêm cán bộ, xây dựng và mở rộng các căn cứ ở Lào… Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về Mặt trận Lào – Miền; Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ hỗ trợ hai nước Lào, Campuchia giải phóng khỏi ách thực dân Pháp theo phương châm: vận động nhân dân và để cán bộ Lào, Campuchia tự đảm trách công việc; cán bộ Việt Nam chỉ làm cố vấn; thành lập quân giải phóng Lào. Theo tinh thần đó, Việt Nam đã cử nhiều cán bộ phối hợp với lực lượng kháng chiến Lào mở lớp huấn luyện quân sự và học tập chính trị. Ngày 20-01-1949, Đội Látxavông được thành lập tại vùng căn cứ Xiềng Khọ (Hủa Phăn), do đồng chí Kayxỏn Phômvihản làm Tổng Chỉ huy.

    Ngày 30-10-1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam được cử làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào tổ chức thành hệ thống riêng và lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện.

    Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Đại hội Quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến) họp từ ngày 13 đến ngày 15-8 – 1950, tại Tuyên Quang (Việt Nam) quyết định thành lập Chính phủ Kháng chiến Lào, lập mặt trận dân tộc thống nhất Lào, tức Neo Lào ítxalạ, do Hoàng thân Xuphanuvông làm Chủ tịch kiêm Thủ tướng Chính phủ. Đại hội đã đề ra Cương lĩnh chính trị 12 điểm, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là với Việt Nam và Campuchia, cùng nhau đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới.

    Đại hội đại biểu lần thứ hai của Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp từ ngày 11 đến 19-2-1951 , tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam). Đồng chí Kayxỏn Phômvihản, Trưởng đoàn đại biểu Lào tham gia Đoàn Chủ tịch đại hội. Đại hội đã thông qua Nghị quyết về đường lối, nhiệm vụ chung và đề ra chủ trương xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia một đảng cách mạng. Ở Việt Nam, Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam có nghĩa vụ phối hợp và giúp đỡ các tổ chức cách mạng Lào, Campuchia xây dựng chính đảng mác xít để lãnh đạo cuộc kháng chiến của hai nước giành lấy thắng lợi cuối cùng. Theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, ngày 11-3-1951 Hội nghị lien minh nhân dân ba nước Đông Dương khai mạc tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnhTuyên Quang. Các đại biểu đại diện Mặt trận Liên Việt của Việt Nam, của Mặt trận Lào Ítxalạ, của Mặt trận Khơme Ítxarắc đã thảo luận và nhất trí thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng nhau đánh đuổi bọn thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập thực sự cho nhân dân Đông Dương. Hội nghị đề ra chương trình hành động chung và cử ủy ban liên minh gồm đại diện của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

    Việc thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tạo cơ sở nâng cao quan hệ đoàn kết và phối hợp chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, là đòn giáng mạnh mẽ vào chính sách chia để trị của bọn thực dân, đế quốc. Với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân và cùng với sự đoàn kết và phối hợp của Việt Nam, trong hai năm 1951-1952 cuộc kháng chiến của nhân dân Lào đã giành được kết quả quan trọng về mọi mặt chính trị, quân sự, văn hóa xã hội, ngoại giao. Tháng 4-1953 , Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Kháng chiến Lào quyết định mở chiến dịch Thượng Lào. Quân đội Việt Nam phối hợp với quân đội Lào Ítxalạ giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ. Sau chiến thắng Thượng Lào, Ban Cán sự Đảng Lao động Việt Nam ở Lào đã phối hợp và giúp bạn thành lập “Ban Vận động thành lập Đảng Nhân dân Lào”.

    Tháng 12- 1953 một bộ phận quân chủ lực Việt Nam phối hợp với bộ đội Lào Ítxalạ và quân tình nguyện Việt Nam tại Lào mở chiến dịch Trung, Hạ Lào. Chiến thắng của Liên quân Việt – Lào góp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân của Nava, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó trên nhiều chiến trường, tạo điều kiện củng cố, phát triển thế phối hợp chiến lược giữa hai nước Việt Nam và Lào.

    Ngày l3-3-1954; quân và dân Việt Nam mở đầu cuộc tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Phối hợp với chiến trường chính Việt Nam, quân và dân Lào liên tục đẩy mạnh các hoạt động quân sự từ Bắc xuống Nam Lào để kiềm chế lực lượng địch, đồng thời ủng hộ Mặt trận Điện Biên Phủ.

    Trải qua 55 ngày đêm chiến đấu gian khổ, quyết liệt và anh dũng, ngày 7-5-1954 tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt hoàn toàn. Chiến công đó đã đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp được Mỹ viện trợ, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của bọn thực dân, đế quốc, góp phần thúc đẩy quá trình tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của khối đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, mà Việt Nam làm trụ cột trong sự nghiệp kháng chiến chống kẻ thù chung. Từ đây, cục diện chiến tranh Đông Dương chuyển sang thế có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia tại Hội nghị Giơnevơ.

    Ngày 8-5-1954, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh Đông Dương khai mạc tại Giơnevơ. Ngày 21-7-1954, đối phương buộc phải cùng các bên đàm phán ký tuyên bố chung và các hiệp định về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Nước Pháp và các nước tham gia hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Đó là cơ sở pháp lý quốc tế rất quan trọng để nhân dân ba nước Đông Dương tiến lên giành độc lập, hoàn thành thống nhất đất nước ở mỗi nước.

    2. PHÁT TRIỂN LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC (1954 – 1975)

    Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954, cách mạng hai nước Việt Nam, Lào bước vào thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, đẩy mạnh đấu tranh để giữ vững hòa bình và giành độc lập, thống nhất ở mỗi nước. Song, đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm lược, ra sức can thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào, âm mưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, để làm bàn đạp tiến công các nước xã hội chủ nghĩa. Trước sự chuyển biến mới của cách mạng Lào, Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào được tiến hành từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 6 tháng 4 năm 1955 tại tỉnh Sầm Nưa. Đại hội đề ra Chương trình hành động 12 điểm, thông qua Báo cáo chính trị, Điều lệ của Đảng và bầu Ban Chỉ đạo toàn quốc gồm 5 người, do đồng chí Kayxỏn Phômvihản làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

    Đảng Nhân dân Lào ra đời đã tạo cơ sở vững chắc để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Lào, đồng thời là nhân tố trọng yếu, có ý nghĩa quyết định thúc đẩy quan hệ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Lào – Việt Nam.

    Đáp ứng yêu cầu đoàn kết rộng rãi lực lượng cách mạng trong giai đoạn mới, từ ngày 6 đến 31 tháng 1 năm 1956 , Uỷ ban Trung ương Neo Lào Ítxalạ tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II tại tỉnh Sầm Nưa. Đại hội thông qua Cương lĩnh chính trị 12 điểm và quyết định đổi tên Neo Lào Ítxalạ thành Neo Lào Hắc Xạt (Mặt trận Lào yêu nước). Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Neo Lào Hắc Xạt, gồm 47 đại biểu, đại diện các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo trong cả nước, do Hoàng than Xuphanuvông làm Chủ tịch.

    Thành công của Đại hội đại biểu lần thứ II Neo Lào Hắc Xát đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Lào và mở ra triển vọng mới cho sự tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Việt Nam – Lào.

    Sau khi Đảng Nhân dân Lào được thành lập, các lực lượng yêu nước Lào với sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của các tổ cố vấn quân sự và dân chính Việt Nam đã liên tiếp đánh bại các cuộc tiến công của các thế lực phái hữu trong chính quyền và quân đội Viêng Chăn vào vùng căn cứ cách mạng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Ngày 2 tháng 11 năm 1957 , Hoàng thân Xuphanuvông, đại diện Neo Lào Hắc Xạt và Hoàng thân Xuvana Phuma, đại diện Chính phủ Vương quốc Lào lấy tuyên bố chung thoả thuận thành lập Chính phủ Liên hiệp, có Neo Lào Hắc Xạt tham gia. Ngày 25 tháng 12 năm 1957, cơ quan đại diện Neo Lào Hắc Xạt chính thức ra mắt và hoạt động công khai, hợp pháp tại thủ đô Viêng Chăn.

    Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhất quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm 1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: Sở dĩ cách mạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đõ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng.

    Từ cuối năm 1958 , đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy mạnh các hoạt động lật lọng, từng bước xoá bỏ các hiệp ước hoà hợp dân tộc đã được ký kết để cuối cùng trắng trợn xoá bỏ Chính phủ liên hiệp và hoà hợp dân tộc.

    Trước sự can thiệp trắng trợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân Lào (3-6-l959) xác định cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn từ đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu, chuyển sang đấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với các hình thức đấu tranh khác.

    Thống nhất với quan điểm trên của Đảng Nhân dân Lào, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (2-7-1959) đề ra chủ trương chi viện cách mạng Lào đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng trong tình hình mới và coi đây là một nhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đầu năm 1961, đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn đẩy mạnh việc đánh phá hòng ngăn chặn việc vận chuyển của Đoàn 559 trên tuyến Đông Trường Sơn. Được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các bộ tộc Lào, các đoàn công tác quân sự Việt Nam đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, phục vụ cho việc mở tuyến đường mới dọc Tây Trường Sơn trên đất Lào.

    Do bị thất bại nặng nề và liên tiếp trên các mặt trận, nhất là trong chiến dịch Nặm Thà (5 -1962), đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Viêng Chăn phải thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc lần thứ hai, có lực lượng Pa thét Lào tham gia (12-6-1962) và ký kết Hiệp định Giơnevơ (23-7-1962) công nhận nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.

    Sau Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào, ngày 5- 9-1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Đầu năm 1963  vua Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu đoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam. Trong buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em … Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới. Tình nghĩa láng giềng anh em Việt – Lào thật là thắm thiết không. bao giờ phai nhạt được”.

    Mặc dù Hiệp định Giơnevơ 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền tay sai thân Mỹ tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủ liên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt.

    Từ cuối năm 1963, Việt Nam cử chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đến giữa năm 1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh Lào xuống đến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đoàn, có nhiệm vụ phối hợp với bạn để nghiên cứu kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố các vùng căn cứ ở Lào. Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối họp với bộ đội Pathết Lào mở nhiều chiến dịch, chủ yếu ở khu vực đường 9 – Trung Lào, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đập tan các cuộc tấn công lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam vận chuyển trên đường Tây Trường Sơn để chi viện cho chiến trường miền Nam Việt Nam và cách mạng hai nước Lào, Campuchia.

    Giữa năm 1965, đế quốc Mỹ thực hiện bước leo thang chiến tranh mới, đưa lực lượng không quân Mỹ vào tham chiến ở Lào, đẩy chiến tranh đặc biệt ở Lào phát triển đến cao độ; đồng thời tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam, mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc Việt Nam.

    Ngày 22-6-1965, Đảng Lao động Việt Nam hội đàm với Đảng Nhân dân Lào thống nhất các nội dung phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tập trung giúp Lào xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt với quy mô một quốc gia, xây dựng lực lượng vũ trang. Tiếp đó, ngày 3-7-1965, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết khẳng định : “Việt Nam cần phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với công cuộc phát triển cách mạng của Lào”.

    Ngày 20-1-1966, bộ đội Pathết Lào đổi thành Quân giải phóng nhân dân Lào, tăng cường xây dựng lực lượng, tạo sự thay đổi cơ bản trong so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng Lào.

    Đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Nặm Bạc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn khu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân, nối liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậu phương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và Campuchia.

    Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồng thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước Việt Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Kayxỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh : “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư? Việt Nam đã giúp Lào cả vật chấn và xương máu. Xương máu của nhân dân biệt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào . . . Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lên và chủ nghĩa quốc tế vô sản”.

    Mặc dù bị thất bại, từ năm 1969, đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, đưa chiến tranh đặc biệt ở Lào lên đến đỉnh cao với sự tham gia ngày càng nhiều của lực lượng không quân Mỹ và quân đội các nước tay sai, chư hầu của Mỹ, đồng thời tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sang Campuchia.

    Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳng định tăng cường đoàn kết giữa nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai  trong bất cứ tình huống nào.

    Với sự nỗ lực vượt bậc của bản thân và cùng với sự đoàn kết, giúp đỡ vô tư, trong sáng của Việt Nam, đến cuối năm 1972 , cách mạng Lào đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, nhất là Đảng Nhân dân Lào đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai: quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào và suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng; thông qua Nghị quyết: tăng cường đoàn kết Lào-Việt, trong đó khẳng định tình đoàn kết Lào – Việt trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê nin và tinh thần quốc tế vô sản là mối quan hệ đặc biệt, đã đánh dấu sự trưởng thành về chính trị và tổ chức của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhân tố trọng yếu, có ý nghĩa quyết định thúc đẩy quan hệ đặc biệt, liên minh chiến đấu Lào – Việt Nam lên bước phát triển mới.

    Trước những thắng lợi to lớn về mọi mặt của cách mạng 3 nước Đông Dương, đặc biệt là chiến 'thắng (Điện Biên phủ trên không) đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ tháng 12/1972 vào Hà Nội, Hải phòng, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari (27/1/1973) chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

    Những chiến thắng to lớn về nhiều mặt của quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng nhân dân .Lào cuối năm 1972, đầu năm 1973 đã trực tiếp góp phần quan trọng buộc chính phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định Viêng Chăn lập lại hoà bình và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào (21-2-1973 ).

    Sau khi ký Hiệp định Viêng Chăn năm 1973, cục diện nước Lào hình .thành 3 vùng, với hai chính quyền song song tồn tại, đó là: vùng giải phóng với 4/5 đất đai và hơn một nửa dân số do Pathết Lào quản lý; vùng do chính quyền phái hữu chiếm đóng và vùng trung lập hoá gồm đô thị Viêng Chăn và Luổng Pha Băng, có lực lượng của cả hai bên cùng tham gia quản lý bảo vệ. Chính phủ liên hiệp lâm thời lần thứ 3 và Hội đồng Chính trị liên hiệp được thành lập với thành phần đại biểu của hai bên ngang nhau.

    Tại cuộc hội đàm giữa hai đoàn đại biểu cấp cao Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào (12-1973), hai Đảng đã thống nhất xác định nhiệm vụ quan trọng nhất trong tình hình hiện nay để đưa cách mạng Lào tiến lên là: củng cố, xây dựng vùng giải phóng; nắm chắc lực lượng vũ trang, đi đôi với việc sử dụng Chính phủ liên hiệp; đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong hai thành phố trung lập và trong vùng đối phương quản lý. Để nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước, hai Đảng đã nhất trí phương hướng hợp tác cần tập trung vào những  vấn đề cơ bản nhất, những khâu then chốt nhất, tạo điều kiện cho Lào nhanh chóng đảm đương được công việc một cách độc lập, tự chủ.

    Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh và huyện về nước (rút trước tháng 5-1974), đồng thời điều chỉnh các lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện còn lại để phối hợp và giúp Lào thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

    Sự phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ hiệu quả giữa Việt Nam và Lào nói trên, đã làm cho thế và lực của cách mạng Lào lớn mạnh vượt bậc, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng và sôi nổi, nhất là ở Thủ đô Viêng Chăn, buộc Chính phủ liên hiệp phải chấp nhận Cương lĩnh chính trị 18 điểm và Chương trình hành động 10 điểm do Mặt trận Lào yêu nước đưa ra ( 12- 1974), đồng thời góp phần hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

    Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4-1975, nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975) của nhân dân Việt Nam, ngày 5-5-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết định phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và giành thắng lợi hoàn toàn.

    Việc nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời (tháng 12 năm l975) là thắng lợi to lớn triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng của mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào.

    III. HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM – LÀO (1976 – 2007)

    1. HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM – LÀO GIAI ĐOẠN 1976 – 1985

    Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang hoàn toàn mới: từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền. Tuy nhiên, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hai nước Việt Nam và Lào đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài 30 năm, đặc biệt là hậu quả thống trị của chủ nghĩa thực dân mới. Nền kinh tế của Việt Nam và Lào về cơ bản còn hết sức lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài. Điểm xuất phát của hai nước đều từ nền kinh tế nông nghiệp có trình độ canh tác, năng suất và sản lượng rất thấp; tư duy lãnh đạo kinh tế còn mang nặng tính tập trung bao cấp từ thời chiến. Trong khi đó, các thế lực thù địch trong nước và bên ngoài câu kết, tìm cách chia rẽ Lào với Việt Nam, Việt Nam với Lào gây khó khăn, trở ngại không nhỏ cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào.

    Đây là thời kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã trở thành Đảng cầm quyền ở mỗi nước; do vậy, cả hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục… Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất, dẫn tới sự thay đổi về chất trong nội dung, phương thức và các nguyên tắc quan hệ giữa hai quốc gia dân tộc, nâng quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước lên tầm cao mới.

    Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộ quân đội và chuyên gia Việt Nam về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước. Ngày 30-4-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam, cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam.

    Từ ngày 15 đến ngày 18-7-1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào. Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội . Ngày 18  tháng 7 năm 1977 , hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước.

    Thành quả mươi năm hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam rất to lớn:

    – Hợp tác trong lĩnh vục chính trị và đối ngoại:

    Mối quan hệ hợp tác về chính trị trong giai đoạn này tập trung vào nỗ lực của hai nước trong việc hiện thực hóa mục tiêu cùng lựa chọn: tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà chưa có tiền tệ lịch sử.

    Lào tự chủ giải quyết những vấn đề của Lào để ổn định và phát triển như: giữ vững chủ quyền lãnh thổ, duy trì an ninh nội địa, bảo vệ chế độ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục hồi, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, tranh thủ viện trợ nước ngoài, v.v. . .

    Về phía Việt Nam, luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ tương hỗ của cách mạng hai nước trong giai đoạn mới: “Lào có ổn định thì Việt Nam mới ổn định và ngược lại”. Vì vậy, Việt Nam đã cố gắng đáp ứng các yêu cầu chi viện và hợp tác với Lào một cách toàn diện, theo tinh thần vô tư “không tính thiệt hơn”.

    Việc giải quyết thành công vấn đề biên giới giữa hai nước là một thành tựu nổi bật của hợp tác chính trị trong giai đoạn này. Sau 8 năm tiến hành, đến ngày 24 tháng 11 năm 1986, việc phân vạch và cắm mốc trên thực địa toàn tuyến biên giới Việt – Lào dài 12.340 khi đã hoàn thành.

    Trong hai ngày 22 và 23-2-1983 , Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương diễn ra tại Thủ đô Vieeng Chăn. Hội nghị đã nhất trí đề ra 4 nguyên tắc chỉ đạo mối quan hệ giữa ba nước, trong đó nhấn mạnh quan hệ giữa ba nước sẽ được giải quyết bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

    Tiếp đó, tại Tuyên bố chung Việt Nam – Lào vào năm 1985, một lần nữa khẳng định quyết tâm của hai bên củng cố hơn nữa tình hữu nghị vĩ đại và tình đoàn kết chiến đấu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo cách mạng hai nước đã dày công vun đắp; tăng cường sự hợp tác toàn diện, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật; tích cực thực hiện các thỏa thuận giữa hai nước và những thỏa thuận của Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương.

    – Hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

    Do tình hình phức tạp trong nước và khu vực, trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ của Lào, tháng 1- năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra quyết nghị: tiếp tục đề nghị Việt Nam đưa lực lượng quân đội sang hỗ trợ quân đội Lào nhằm ổn định tình hình, ngăn ngừa các nguy cơ chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Trung tuần tháng 9 năm 1977 , Đoàn đại biểu quân sự cấp cao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào sang thăm và làm việc với Bộ Quốc phòng Việt Nam, hai bên đã ký hiệp ước phòng thủ ngày 22 tháng 9 năm 1977.

    Trên lĩnh vực hợp tác an ninh, Bộ Nội vụ Lào đã ký Hiệp định hợp tác toàn diện với Bộ Nội vụ Việt Nam, nội dung cho phép lực lượng an ninh của hai nước, ở cả Trung ương và các địa phương quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, trao đổi các đoàn dại biểu, các đoàn cán bộ lão thành…

    Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật

    Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước dần thay đổi từ viện trợ không hoàn lại và cho vay là chủ yếu sang giảm dần viện trợ và cho vay, bước đầu đẩy mạnh hợp tác sản xuất kinh doanh bình đẳng cùng có lợi. Thời gian này, Lào đề ra công thức hợp tác: Tài nguyên vào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp tác hoặc vay của nước thứ ba. Trong hợp tác đã chuyển dần từ hợp tác từng vụ việc theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước Lào sang hợp tác theo chương trình, kế hoạch được ký kết giữa hai Chính phủ.

    Quan hệ hợp tác thương mại: Từ 1976-1981 , trao đổi hàng hoá chính ngạch được bắt đầu theo phương thức bao cấp bằng ngân sách nhà nước mỗi bên. Hiệp định thương mại Việt Nam- Lào 5 năm (1981-1985) được ký kết, kèm theo nghị định thư thương mại hàng năm, đã tạo hành lang pháp lý cho việc trao đổi buôn bán giữa hai nước . . .

    Trong lĩnh vực hợp tác văn hóa: Hàng năm, hai bên thường xuyên lập kế hoạch giao lưu văn hoá nghệ thuật dưới các hình thức: trao đổi đoàn biểu diễn, tổ chức sang tác mỹ thuật, tìm hiểu về chủ đề đất nước và con người, hợp tác xuất bản, in và phát hành sách báo, văn hoá phẩm, phim ảnh. Phối hợp tuyên truyền về mối quan hệ đặc biệt Việt- Lào, Lào- Việt, tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn …

    Hợp tác giáo dục và đào tạ Hàng năm, Bộ Giáo dục hai nước đều ký kết các văn bản hợp tác và Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục của ba nước Lào, Campuchia, Việt Nam được tổ chức lần lượt tại Hà Nội và Viêng Chăn. Hàng loạt hệ thống trường lớp ở Lào với sự giúp đỡ của Việt Nam đã được xây dựng. Lưu học sinh Lào có mặt ở 36 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn tiếp tục đào tạo một số học sinh phổ thông cho Lào. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ lý luận chính trị của Đảng được coi là một nhiệm vụ chiến lược cơ bản thường xuyên của Đảng, Nhà nước của cả hai nước. Việt Nam cử nhiều chuyên gia đầu ngành, có kinh nghiệm sang Lào xây dựng chương trình giảng dạy cho Trường Đảng cao cấp của Đảng và Nhà nước Lào.

    – Hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân

    Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ các tỉnh có chung đường biên giới cũng như các tỉnh không có chung biên giới giữa hai nước với nhau. Các địa phương đã phối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn tham quan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăn giữa hai nước. Các Hội hữu nghị Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu nối quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.

    Với những thành tựu to lớn đạt được sau chặng đường 10 năm (1976 -1985) thế và lực của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày càng được củng cố vững chắc. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc để quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào- Việt Nam không ngừng được củng cố và tăng cường trong giai đoạn đổi mới tiếp theo.

    2. CỦNG CỐ VÀ TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM- LÀO GIAI ĐOẠN 1986 – 2007

    Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị: “Trên cơ sở quán triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ Vi, các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận trong các cuộc hội đàm lần này, các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn cần kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực, các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa ta với Lào”

    Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng khẳng định: “Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sự tăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào-Việt Nam- Campuchia mới trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn đề sống còn của mỗi nước”.

    Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dấn cách mạng Lào ghi rõ hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệ đoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ trong giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủ quan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi”.

    Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam tiếp tục được củng cố, tăng cường và đạt những thành tựu rất lớn lao.

    – Hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại

    Từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước.

    Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Dân hủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4-7-1989. Đây là chuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực. Thành tựu nổi bật nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam- Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững đinh hương chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.

    Tháng 10 năm 1991, đồng chí Kayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thăm chính thức Việt Nam. Hai bên khẳng định quyết tâm trước sau như một tăng cường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào- Việt Nam, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hai nước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế.

    Trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp trung ương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận.

    Hoạt động ngoại giao nhân dân cũng đạt được nhiều thành tích đáng kể. Hàng năm, quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giớin kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả.

    Hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt và liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007 nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào- Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào- Việt Nam lên một tầm cao mới.

    – Hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

    Trong bối cảnh luôn luôn bị các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam và Lào xác định hợp tác về quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ rất cấp bách và quan trọng hàng đầu.

    Từ cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX, giữa hai Chính phủ, giữa hai bộ chức năng là Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng của hai nước đều lý những hiệp định, nghị định về hợp tác, hỗ trợ nhau trong công tác bảo vệ an ninh và củng cố quốc phòng. Phía Việt Nam luôn chủ động và đảm nhiệm gánh vác các công việc khó khăn nhất với phương châm “giúp bạn là mình tự giúp mình”, “;an ninh của bạn cũng chính là an ninh của mình”

    Chiến công chung nổi bật về hợp tác an ninh – quốc phòng giai đoạn này là việc quân và dân Lào chủ động phối hợp chặt chẽ với quân đội Việt Nam chặn đánh cuộc hành quân "Đông tiến I" và "Đông tiến II" của lực lượng phản động lưu vong do Hoàng Cơ Minh cầm đầu vào Việt Nam qua con đường Lào trong hai năm 1986-1987. Bằng việc triển khai rộng khắp chiến lược quốc phòng toàn dân, Lào đã có những cống hiến thực sự vô giá trong việc bảo đảm an ninh ở phòng tuyến phía Tây Việt Nam, giúp Việt Nam phòng thủ từ xa một cách có hiệu quả. Bước sang giai đoạn 1996-2007, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Lào tiếp tục tiến hành các cuộc gặp trao đổi, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau về xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chuyên môn.

    Điểm nổi bật trong việc hợp tác về an ninh thời kỳ này là hiệu quả cao của công tác phòng thủ an ninh có chiều sâu của các lực lượng an ninh và quân đội hai nước chống lại các lực lượng phản động lưu vong đang tìm cách chống phá cách mạng Lào và Việt Nam. Điển hình là trong những năm 2000 – 2007, một số phần tử phản động trong nước Lào được các thế lực thù địch bên ngoài hỗ trợ, gây ra một số vụ nổ, phục kích ở một số địa phương nhưng đều bị lực lượng an ninh Lào phối hợp chặt chẽ với lực lượng an ninh Việt Nam ngăn chặn như: vụ đánh cửa khẩu Văng Tàu (Chămpaxắc tháng 7-2000); vụ gây rối mất trật tự an ninh ở Viêng Chăn (tháng 7-2000); vụ bạo loạn vũ trang ở Hủa Phăn (năm 2003); vụ gây rối ở Bò Kẹo (tháng 7-2007).

    Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học- kỹ thuật

    Trong quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào- Việt Nam, hợp tác kinh tế trong thời kỳ đổi mới luôn chiến vị trí quan trọng hàng đầu, với mong muốn là động lực thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ hợp tác khác.

    Ngày 15-2-1992, tại Viêng Chăn, Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật thời kỳ 1992 – 1995 và năm 1992. Để hiện thựchóa Hiệp định khung này, Chính phủ hai nước đã tiến thêm một bước trong việc thống nhất cơ chế chung về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật.

    Ngày 15-3-1995 , tại Hà Nội thỏa thuận chiến lược hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật đến năm 2000 được ký kết. Sau đó, Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học- kỹ thuật giai đoạn 1996-2000 giữa hai nước Việt Nam và Lào cũng được ký kết.

    Trong giai đoạn này, Việt Nam và Lào còn ký kết hàng loạt hiệp định và nghị định thư quan trọng nhằm thúc đẩy việc triển khai quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước.

    Giáo dục và đào tạo luôn được hai Đảng, hai Nhà nước xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là lĩnh vực hợp tác chiến lược và là biểu hiện của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào. Việt Nam coi việc đào tạo cho Lào một nguồn nhân lực có trình độ cao là nhu cầu có tính chiến lược lâu dài, không những của Lào mà còn phục vụ cho quá trình hợp tác của Việt Nam với Lào.

    Việt Nam đã đào tạo cho Lào rất nhiều cử nhân, lưu học sinh trung học chuyên nghiệp, thạc sĩ, tiến sĩ. Cử cán bộ giúp xây dựng chương trình giảng dạy, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, hướng dẫn sinh viên làm đồ án tốt nghiệp… Từ năm 1992, Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào đã ký kết Hiệp định về đào tạo cán bộ Lào tại Việt Nam và hàng năm hiệp định này đều được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới. Từ năm 1997 , hai bên đã nhanh chóng chuyển hướng kết hợp đào tạo dài hạn, chính qui với tăng cường bồi dưỡng và đào tạo lại cán bộ hệ ngắn hạn trên các lĩnh vực quản lý; kết hợp cử chuyên gia đào tạo tại Lào với việc mở rộng hình thức đào tạo tại chức cho Lào tại Việt Nam.Số học sinh Lào được tiếp nhận hàng năm tăng từ 300-350 người lên tới 500 – 550 người năm 2000. Trong 5 năm (1996 – 2000), phía Việt Nam đã tiếp nhận 2.184 cán bộ học sinh Lào.

    Trong điều kiện còn không ít khó khăn của Lào, số lượng cán bộ, học sinh Việt Nam được cấp học bổng Đại học của Chính phủ Lào ngày càng tăng. Kể từ năm học 1982-1983 đến đầu những năm 2000 đã có gần 300 sinh viên Việt Nam tốt nghiệp chuyên ngành văn học- ngôn ngữ Lào tại Trường Đại học Sư phạm Viêng Chăn. Ngoài ra, hàng năm Đại học quốc gia Lào còn mở rộng tiếp nhận hàng chục sinh viên Việt Nam sang học tự túc hệ đại học.

    Về giao thông vận tải giai đoạn 1996 – 2000, hai bên đã cùng nhau tìm nguồn đầu tư nâng cấp hệ thống đường thông thương nối liền hai nước, tạo điều kiện cho Lào thông thương qua lãnh thổ và cảng biển Việt Nam ra các nước. Hai bên đã đầu tư xây dựng quốc lộ 43, 6B, 42, cửa khẩu Chiềng Khương. Cải tạo nâng cấp quốc lộ 9A, cửa khẩu Lao Bảo, quốc lộ 8, quốc lộ 7, quốc lộ 217 và 6A, quốc lộ 12A, cảng Đà Nẵng, cảng Xuân Hải và hoàn thành bến I cảng Vũng Áng…

    Hợp tác về thương mại: Những năm đầu đổi mới, ngành thương mại hai nước xúc tiến nghiên cứu xây dựng đề án, tiến tới đầu tư xây dựng khu thương mại tự do Lao Bảo- Đen Xávẳn, chuẩn bị xây dựng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo- Na Pê, mở cửa khẩu phụ và 11 điểm chợ biên giới để thúc đẩy sản xuất và giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa hai nước, đặc biệt là các vùng biên giới Việt Nam- Lào.

    Hợp tác về đầu tư: Sau khi có Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương giữa hai nước (ngày 14-1-1996) và các qui định về đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài (năm 1999) cùng các thỏa thuận của hai Đảng hai Nhà nước, hai bên có nhiều cố gắng đẩy mạnh hợp tác đầu tư. Năm 2006, hai bên đã cấp phép cho 52 dự án đầu tư vào Lào với số vốn đăng ký đạt 368,6 triệu USD. Năm 2007, phía Việt Nam có 87 dự án được cấp phép đầu tư vào Lào với tổng số vốn đăng ký là 1.020 triệu USD, xếp thứ 3 trong tổng số 30 nước và khu vực đầu tư vào Lào.

    Trong lĩnh vực năng lượng, điểm nổi bật trong giai đoạn 1986-1995 là hai bên đã phối hợp chặt chẽ, khẩn trương thiết kế và thi công một số tuyến đường dây tải điện 35 KV từ Việt Nam qua Lào. Tháng 7 năm 1998, Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định hợp tác năng lượng- điện, hai bên đã trao đổi, bổ sung và thống nhất dự án qui hoạch hệ thống đầu nối điện giữa hai nước. Hai bên xác định cụ thể công trình thủy điện hợp tác, phương thức mua, bán điện và giá điện làm cơ sở để phía Lào đưa vào tiến độ xây dựng và phía Việt Nam đưa vào tổng sơ đồ phát triển điện giai đoạn 2001-2005. Hợp tác chuyên gia giai đoạn 1996-2000 không ngừng được củng cố, đổi mới và hoàn thiện cả về cơ chế lẫn hình thức hợp tác. Việt Nam đã cử 475 lượt chuyên gia tập trung vào các lĩnh vực kinh tế (63%), quốc phòng, an ninh (28%) và các lĩnh vực khác. Trong những năm này, nhiều đoàn chuyên gia vụ việc quan trọng của Việt Nam được cử sang Lào trao đổi và xử lý các vấn đề về quản lý vĩ mô (1996), đổi mới doanh nghiệp (l998), tiếp nhận viện trợ (1999)…

    Hợp tác giữa các địa phưong và hợp tác biên giới

    Các tỉnh biên giới và các địa phương kết nghĩa của hai nước đã cử nhiều đoàn đại biểu Đảng, chính quyền, đoàn thể và các ngành, các cấp . . . duy trì các hoạt động đối ngoại chính thức, hoặc trao đổi kinh nghiệm, thống nhất quan hệ hợp tác, giúp đỡ nhau trên các lĩnh vực. Công tác đối ngoại nhân dân được chú trọng đã tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, cùng vun đắp mối quan hệ đoàn kết đặc biệt thêm bền chặt. Đặc biệt, hai bên luôn quan tâm và tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên được tham gia các hoạt động giao lưu, trao đổi để giữ gìn, bảo vệ và phát triển tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào- Việt Nam, coi đó là quy luật tồn tại, phát triển của hai nước.

    IV QUAN Hệ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM- LÀO: BẢN CHẤT, THÀNH QUẢ, BÀI HỌC VÀ TRIỂN VỌNG

    1. BẢN CHẤT, THÀNH QUẢ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ

    a. Bản chất

    Quan hệ thân thiện lâu đời giữa hai dân tộc Việt Nam, Lào phát triển đột biến thành quan hệ đặc biệt vào năm 1930, khi sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam và Lào được tiến hành theo con đường cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vạch ra, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng mácxít- lêninnít chân chính.

    Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; tình đoàn kết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡ đến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc.

    – Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại, được xây đắp, nuôi dưỡng bằng công sức, của cải, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng người Việt Nam và Lào. Trải qua rất nhiều gian nan thử thách khắc nghiệt, quan hệ đó vẫn vẹn nguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ.

    – Tính đặc biệt của quan hệ Việt Nam- Lào được tạo dựng trên nền tảng quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam- Lào.

    Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm giúp bạn là mình tự giúp mình do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn. Đây là câu nói cô đọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dân tộc; là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn.

    * Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào có những đặc điểm sau đây:

    – Quan hệ Việt Nam – Lào phát triển từ quan hệ truyền thống lên quan hệ đặc biệt.

    – Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam.

    – Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào là sự nghiệp của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào.

    – Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào mang tính xuyên suốt, toàn diện và bền vững.

    b. Thành quả cơ bản

    Một là, quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào là quy luật giành thắng lợi và nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam, Lào; là di sản văn hóa của hai dân tộc Việt Nam, Lào

    Hai là, quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào đưa cách mạng Việt Nam, cách mạng Lào đi tới nhiều kỳ tích lịch sử:

    – Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau giành độc lập dân tộc.

    – Hai dân tộc Việt Nam, Lào kề vai, sát cánh, xây dựng thực lực, kiên cường chiến đấu, đưa cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm (1945-1975) đi tới thắng lợi hoàn toàn.Quan hệ Việt Nam- Lào tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (l976- nay).

    c. Ý nghĩa lịch sử

    Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh vô địch của hai dân tộc Việt Nam, Lào. Đứng ở vị trí chiến lược của vừng Đông Nam á, nơi đối đầu quyết liệt giữa phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, hoà bình và tiến bộ xã hội với các thế lực xâm lược, khối đại đoàn kết Việt Nam- Lào trở thành lực lượng vững mạnh, chặn đứng, làm thất bại những mưu đồ và hành động của kẻ thù, góp phần quan trọng tạo dựng môi trường hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia Đông Nam á.

    Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào là một tấm gương mẫu mực, thuỷ chung, trong sáng, vững bền, chưa từng có trong quan hệ. giữa các dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hoà bình và tiến bộ xã hội.

    d. Bài học lịch sử :

    – Xác định đúng đắn hệ thống quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

    – Xác định nội dung, phương thức xây dựng quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào là cơ sở thực hiện các nhiệm vụ cách mạng do hai bên xác lập.

    – Tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triển của mối quan hệ Việt Nam- Lào. Khai thác, phát huy các nhân tố, điều kiện cần thiết để xây dựng, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào.

    2. PHẤN ĐẤU ĐƯA QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM- LÀO LÊN TẦM CAO MỚI

    Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra.

    Trong quan hệ hợp tác kinh tế sắp tới cần phải chú trọng tính thực chất, hiệu quả và chất lượng. Có nghĩa là, các chương trình hợp tác, nhất là từ phía Việt Nam (các dự án của Việt Nam đầu tư vào Lào) phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của Lào. Việt Nam cần ưu tiên các dự án hợp tác với Lào phù hợp với qui hoạch và kế hoạch phát triển của Lào đã được vạch ra tại các kế hoạch 5 năm 2006-2010 và tầm nhìn đến 2020 của Lào.

    Tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam- Lào khác căn bản với các quan hệ đối tác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác toàn diện bao gồm cả chính trị, an ninh, kinh tế, văn hóa… và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả các quan hệ song phương khác. Cần có một nhận thức thống nhất của cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt này. Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, toàn diện và lâu dài hơn chứ không chỉ ở các lợi ích kinh tế thuần túy và ngắn hạn.

    Định hướng cơ bản của chiến lược hợp tác Việt Nam- Lào giai đoạn 2011-2020 là: “Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào trở thành động lực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập của mỗi nước”. Trong đó, không ngừng nâng cao nhận thức và làm sâu sắc thêm quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào trong hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thúc đẩy hợp tác kinh tế ngang tầm với quan hệ truyền thống giữa hai nước. Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạ coi trọng, phát triển vàc củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và coi đây là nhiệm vụ có tầm chiến lược to lớn, thiết thực phục vụ lợi

    ích đảm bảo ổn định an ninh chính trị và phát triển của mỗi nước. Từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ đặc biệt theo luật pháp của mỗi nước trên cơ sở những nội dung sau:

    Tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước nhằm bổ sung nguồn lực cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước theo từng giai đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lào trong 10 năm tới, đưa nước Lào thoát khỏi nước kém phát triển vào năm 2020.

    – Phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 2 tỷ USD vào năm 2015 và 5 tỷ USD vào năm 2020. Quan tâm đặc biệt tới việc bảo đảm kết nối giao thông đường bộ trên các trục huyết mạch và các tuyến kết nối qua biên giới với các cảng biển của Việt Nam để phục vụ đầu tư, thương mại và hội nhập giữa hai nước trên nguyên tắc đầu tư đồng bộ và đồng thời giữa hai bên.

    – Tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ, ngành, tổ chức, địa phương và doanh nghiệp hai nước. Gắn phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên giới nhằm phát triển các địa phương khu vực biên giới trở thành hậu phương chiến lược vững chắc, ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, tạo sự gắn bó, tin tưởng lẫn nhau lâu dài.

    – Hai bên phối hợp chặt chẽ việc rà soát, bổ sung sửa đổi các văn bản thỏa thuận phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách mới phù hợp với luật pháp và tình hình thực tế mỗi nước, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước và thông lệ quốc tế, tạo sự chuyển biến trong hợp tác kinh tế cũng như hội nhập quốc tế và khu vực của mỗi nước phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các cam kết và có sự đồng thuận trong các khuôn khổ hợp tác đa phương đối với những vấn đề có liên quan đến hai nước.

    Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao nhất cùng phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.

    Để đạt được mục tiêu này, lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí trước hết tiếp tục củng cố, tăng cường sự gắn bó, tin cậy và phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong những vấn đề có tính chiến lược giữa hai Đảng, hai nước; duy trì các cuộc gặp cấp cao truyền thống. Tăng cường tuyên truyền, giáo đục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên hôm nay và mai sau.

    PHẦN THỨ HAI

    CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRONG NĂM ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ VIỆT NAM- LÀO 2012

    Trong chuyến thăm chính thức nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào của Tổng ~1 B í thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 6 năm 2011   , Lãnh đạo hai nước đã nhất trí lấy năm 2012 là: “Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào” và phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác và 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Lào.

    Thực hiện chủ trương của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành chức năng đã xây dựng Đề án tổ chức kỷ niệm với những nội dung chính sau đây:

    I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU VÀ THỜI GIAN TỔ CHỨC

    1. Mục đích yêu cầu

    – Các hoạt động kỷ niệm sẽ được tiến hành trên cả nước bằng các hình thức trang trọng, phong phú và thiết thực; thể hiện sâu đậm mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào, tạo được dấu ấn gópphần củng cố và phát triển hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa hai nước.

    – Tạo được bước chuyển quan trọng về nhận thức ở các cấp, các ngành, các địa phương và các tầng lớp nhân dân của hai nước, thấm nhuần sâu sắc hơn nữa ý nghĩa to lớn của việc thiết lập quan hệ ngoại giao và ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác giữa hai nước; việc không ngừng củng cố và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào trong tình hình mới; cùng nhau ôn lại truyền thống liên minh chiến đấu đặc biệt, sự ủng hộ giúp đỡ chí tình, chí nghĩa giữa hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước trong những năm qua.

    – Tạo thành phong trào thi đua sôi nổi với những hoạt động thiết thực chào mừng Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Nam- Lào trong các cơ quan, ban, bộ, ngành, đoàn thể, địa phương. . .

    2. Thời gian

    Các hoạt động được tiến hành trong cả năm 2012; cao điểm sẽ diễn ra từ đầu tháng 7 đến hết tháng 9/2012.

    II. CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH

    1. Trao đổi đoàn cấp cao

    Lãnh đạo cấp cao của 2 nước sẽ sang thăm nhau và tham dự một số hoạt động kỷ niệm tổ chức ở hai nước

    2. Trao đổi đoàn, giao lưu, hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, địa phương hai nước, giao lưu hữu nghị nhân dân

    Các ban, bộ, ngành; các địa phương có chung biên giới hoặc có quan hệ hợp tác với các địa phương của Lào; các tổ chức đoàn thể (Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam….) phối hợp với các đối tác của Bạn tổ chức trao đổi đoàn và các hoạt động giao lưu hữu nghị thích hợp như văn hóa, thể thao . . .

    – Tổ chức cuộc Hội thảo lý luận giữa Đảng ta và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tại Việt Nam (Hội đồng Lý luận Trung ương và Ban Đối ngoại Trung ương chủ trì).

    Tổ chức Liên hoan hữu nghị nhân dân Việt Nam- Lào lần thứ III tại Việt Nam vào tháng 7/2012 và mời Bạn cử đoàn khoảng 50 đại biểu sang dự; tổ chức đoàn cựu chiến binh, quân tình nguyện Việt Nam sang Lào và đón đoàn các công dân Lào từng giúp đỡ, che chở quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam giúp Lào; xuất bản Tập san về quan hệ Việt Nam- Lào (Liên hiệp hữu nghị và Hội nghị hữu nghị Việt Nam – Lào chủ trì).

    – Tổ chức giao lưu tại Viêng Chăn giữa các cựu cán bộ, chuyên gia Việt Nam từng giúp đỡ, hỗ trợ các bạn Lào với các cựu cán bộ của Thông tấn xã Pa thét Lào (Thông tấn xã Việt Nam chủ trì).

    – Đón đoàn cựu lưu học sinh Lào gồm 100 người sang Việt Nam thăm lại trường và thầy cô giáo cũ, dự kiến vào giữa tháng 8/2012; tổ chức các hoạt động giao lưu, thi tài năng dành cho các học sinh giỏi của Lào đang học tập tại Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì).

    3. Tổ chức các hoạt động trong dịp cao điểm kỷ niệm 35 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị hợp tác và 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Lào.

    a. Trao đổi điện mừng

    – Nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Lào và 35 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ có điện mừng và lẵng hoa tới các đồng chí Lãnh đạo Lào, Bộ trưởng Ngoại giao ta có điện mừng và lẵng hoa tới Bộ trưởng Bộ ngoại giao Bạn.

    – Các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, Hội Hữu nghị, các tổ chức quần chúng và các tỉnh, thành phố kết nghĩa hoặc có chung biên giới của ta có nhiều hợp tác với Lào gửi điện mừng tới các đối tác Lào; cử đoàn và gửi lẵng hoa đến chúc mừng Đại sứ quán và các Tổng Lãnh sự quán Lào tại Việt Nam.

    b. Tổ chức mít tinh

    – Tổ chức mít tinh trọng thể kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao, 35 năm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam- Lào tại Thủ đô mỗi nước vào giữa tháng 7/2012.

    + Cuộc mít tinh tại Hà Nội được tổ chức với danh nghĩa Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội Hữu nghị Việt Nam – Lào và Thành phố Hà Nội, với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đại biểu các tầng lớp quần chúng nhân dân (khoảng 1000 người) và đại biểu Lào (50 người sau khi tham dự Liên hoan Hữu nghị nhân dân Việt Nam- Lào lần thứ III). Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam truyền hình và phát thanh trực tiếp cuộc mít tinh.

    + Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Năng (nơi có cơ quan Tổng Lãnh sự quán Lào) tổ chức mít tinh trọng thể với sự tham dự của Lãnh đạo cấp cao nhất của thành phố.

    4. Giao lưu văn hóa, nghệ thuật và thể thaoư

    Phối hợp với bạn Lào triển khai các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao; tổ chức 01 cầu truyền hình giữa hai nước đối với các hoạt động “Những ngày văn hóa và du lịch Việt Nam tại Lào”, “Những ngày văn hóa, du lịch Lào tại Việt Nam” và chủ đề “Hợp tác vì bình đẳng và phát triển của phụ nữ”; các hoạt động giao lưu biểu diễn nghệ thuật, thi giọng hát hay những bài hát tiếng Việt cho các ca sĩ chuyên và không chuyên ở một số tỉnh, thành của Lào tham gia; triển lãm ảnh về các chủ đề đất nước, con người, hợp tác và phát triển Việt- Lào; sáng tác, sưu tầm, tuyển chọn và xuất bản tuyển tập các tác phẩm văn thơ, bài hát đặc sắc của các tác giả hai nước ca ngợi tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam- Lào; giao lưu thanh niên giũa các cơ quan trong ngành văn hóa, thể thao, du lịch hai nước; quảng bá du lịch…(Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối họp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì).

    – Xây dựng Nhà lưu niệm của các cựu cán bộ, học sinh Lào đã từng học tại Trường Trung cấp Biên phòng 1 tại tỉnh Bắc Giang (Bộ Quốc phòng chủ trì).

    – Các cơ quan, trường học và địa phương có cán bộ, học sinh Lào đang công tác, học tập, tổ chức các hoạt động gặp mặt, giao lưu văn nghệ, thể thao…

    Tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào -Việt Nam” tại hai nước và tổ chức lễ công bố kết quả và trao giải thưởng trọng thể; giới thiệu phổ biến rộng rãi các sản phẩm công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể ở Trung ương và địa phương, nhất là thế hệ trẻ (Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì).

    – Đại sứ quán Việt Nam tại Lào tổ chức giao lưu với các cựu lưu học sinh, sinh viên Lào đã từng học tập tại Việt Nam; giao lưu thể thao với một số cơ quan đối ngoại của Lào. Khuyến khích các Tổng Lãnh sự quán ta tại Lào tổ chức giao lưu với cựu lưu học sinh Lào tại Việt Nam trong khu lãnh sự. Tổ chức giao lưu giữa Cơ quan đại diện Ngoại giao của ta với Cơ quan Đại diện Ngoại giao của Lào ở nước ngoài.

    5. Các hoạt động tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại

    – Tổ chức Hội chợ triển lãm hàng hóa, hội thảo, diễn đàn xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch; phối hợp với phía Lào tổ chức Hội nghị hợp tác thương mại, công nghiệp Việt Nam- Lào tại một số tỉnh của Lào trong năm 2012 (các bộ, ngành và các địa phương liên quan triển khai).

    – Khai trương, khánh thành, đưa vào sử một số dự án, công trình hợp tác kinh tế, văn hóa có ý nghĩa giữa hai nước như: khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Khăm- muộn, Nhà văn hóa tỉnh Xa-văn-na-khệt, Trường Phổ thông Hữu nghị tại tỉnh Luông – pha – băng và tỉnh Hủa-phăn…(Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các bộ, ban, ngành được giao làm chủ đầu tư tích cực phối hợp triển khai).ư

    – Khuyến khích các doanh nghiệp của Việt Nam đầu tư vào Lào tặng một số công trình an sinh xã hội cho người dân Lào trong năm 2012 và tổ chức giao lưu cán bộ, nhân viên, công nhân giữa các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào với các doanh nghiệp và địa phương của Lào tại nơi doanh nghiệp đang triển dự án….(Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì).

    6. Các hoạt động tuyên truyền, báo chí

    (Ban Tuyên giáo Trung ương đã có kế hoạch số 74-KH/BTGT ngày 24-2-2012)

    – Các báo, đài và các phương tiện thông tin đại chúng có chương trình đặc biệt chào mừng Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam- Lào, nhất là các hoạt động diễn ra trong tháng 7 đến tháng 9/2012 (Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn).

    – Nhân ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (05/9/2012), Lãnh đạo cấp cao hai nước có trả lới phỏng vấn báo chí. Đại sứ Lào tại Hà Nội và Đại sứ Việt Nam tại Lào có phát biểu trên đài phát thanh truyền hình nước sở tại.

    – Các tờ báo lớn, đài phát thanh, đài truyền hình Trung ương và địa phương, các hãng thông tin đại chúng mỗi nước đưa tin Lãnh đạo cấp cao và Bộ trưởng Ngoại giao hai nước trao đổi điện mừng, lẵng hoa nhân ngày ký Hiệp ước Hữu nghị (18/7/2012) và ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (05/9/2012), đưa tin về các hoạt động kỷ niệm, giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thi đấu thể thao, triển lãm, hội thảo của các doanh nghiệp…tại hai nước. Đăng bài, đăng phóng sự, chiếu phim giới thiệu về đất nước, con người, nền văn hóa, các thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại của Việt Nam và Lào tại mỗi nước, đồng thời công chiếu những bộ phim tài liệu về quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào v.v…rải đều trong cả năm 2012 (Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn).

    – Phối hợp với Bạn xuất bản tập san về quan hệ Việt Nam- Lào (Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam chủ trì).

    – Hai nước phát hành tem chung kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam- Lào vào cùng một thời điểm tại Viêng Chăn và Hà Nội (Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì).

    7. Trao tặng Huân Huy chương

    Phối hợp với Ban tổ chức trao tặng Huân, Huy chương của ta và Lào cho các đồng chí lãnh đạo, cán bộ của bạn và của ta (đương chức hoặc đã nghỉ hưu) nhân các chuyến thăm cấp cao hoặc vào dịp kỷ niệm hai ngày lễ lớn (Ban Đối ngoại phối hợp với Bộ Ngoại giao và Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương đề xuất tặng Huân, Huy chương cho các đồng chí Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành và địa phương kiến nghị các trường hợp cụ thể liên quan đến cơ quan và địa phương mình).

    III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    – Thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia: Ban Chỉ đạo quốc gia năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam- Lào 2012 đã được thành lập do đồng chí Lê Hồng Anh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

    – Ban Chỉ đạo cũng đã quyết định thành lập Bộ phận Thường trực, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ.

    – Giúp việc cho Bộ phận Thường trực gồm đại diện lãnh đạo của một số ban, bộ, ngành, địa phương có liên quan, trong đó Bộ Ngoại giao làm đầu mối phối hợp chung.

    – Thành lập một số tiểu ban để giúp Ban Chỉ đạo trên một số lĩnh vực cụ thể: Tiểu ban Tuyên truyền, văn hoá; Tiểu ban an ninh trật tư, an toàn xã hội, Tiểu ban tổ chức lễ mít tinh.

    BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

  • Tin về chuyến công tác của Hiệu trưởng tại Mỹ từ ngày 9-17/5/2010

    Tin về chuyến công tác của Hiệu trưởng tại Mỹ từ ngày 9-17/5/2010

    Trường Đại học Thuỷ lợi được Bộ GD-ĐT giao triển khai 2 chương trình tiên tiến bậc đại học ngành “Kỹ thuật Tài nguyên Nước” hợp tác với trường ĐH Colorado State và “Kỹ thuật Công trình” hợp tác với trường ĐH Arkansas. Chương trình đào tạo của 2 ngành này được tham khảo chi tiết chương trình tương tự của trường đối tác và được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh bởi các giảng viên đủ năng lực của Nhà trường kết hợp với các giảng viên được mời từ các trường đối tác ở các nước tiên tiến.   

     

    Chương trình ngành “Kỹ thuật Tài nguyên Nước” đã được triển khai 3 năm. Chương trình ngành “Kỹ thuật Công trình” đang chuẩn bị tuyển sinh khoá 1. Do đây là lần đầu tiên Nhà trường triển khai đào tạo bằng tiếng Anh cho các khóa học chính thức dài hạn nên để chương trình thành công, đạt được mục tiêu đề ra, thì cần có sự nỗ lực của lãnh đạo Nhà trường, giảng viên của các khoa, các phòng chức năng kết hợp với sự cộng tác tích cực của các trường đối tác.

     

    Để tăng cường hợp tác và tìm kiếm sự ủng hộ của các trường đối tác trong việc triển khai 2 chương trình này theo đúng mục tiêu và kế hoạch đã được xây dựng, Nhà trường đã cử đoàn công tác, gồm Hiệu trưởng Nguyễn Quang Kim (trưởng đoàn), Bà Nguyễn Thu Hiền (Phó khoa Kỹ thuật Tài nguyên Nước) và Bà Phạm Hồng Nga (Trưởng phòng HTQT), sang thăm và làm việc với các trường thuộc Bang Colorado, Mỹ, gồm trường Colorado Denver, trường Colorado Boulder và trường Colorado State từ ngày 9 – 17/5/2010. Với lịch làm việc dày đặc, đoàn công tác đã gặp nhiều chuyên gia và lãnh đạo các trường, trao đổi về việc cho phép Nhà trường tham khảo chương trình đào tạo, nội dung chi tiết các môn học, trao đổi giảng viên, sinh viên và các vấn đề tài chính liên quan. Ngoài ra, đoàn đã đến thăm và làm việc với các chuyên gia Viện Khảo sát Địa lý Mỹ về kế hoạch triển khai một dự án hợp tác chung nghiên cứu vấn đề xói lở sông Hồng – sông Lược. Dự kiến, trong tháng 11/2010 sắp tới, Viện Khảo sát Địa lý Mỹ  sẽ cung cấp một số thiết bị đo đạc hiện đại và cử chuyên gia phối hợp với khoa Thủy văn TNN tiến hành đợt khảo sát thực địa đầu tiên.

    Phạm Hồng Nga

     

     Chùm ảnh chuyến công tác của Hiệu trưởng.

     

     

    Đoàn công tác gặp gỡ trao đổi chuyên môn về dự án hợp tác với các chuyên gia Viện khảo sát địa lý Mỹ.
    GS.TS Nguyễn Quang Kim phát biểu trong buổi gặp mặt với khoa Môi trường và kỹ thuật dân dụng Trường Colorado Denver
    Làm việc với Trưởng khoa và các GS khoa Kỹ thuật dân dụng, trường Colorado Boulder
    Làm việc với lãnh đạo ban Đào tạo Quốc tế trường Bang Colorado Fort Collins. 

  • ĐH Hồ Hải – Trung Quốc làm việc với Nhà trường

    ĐH Hồ Hải – Trung Quốc làm việc với Nhà trường

    Được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ – sự giúp đỡ của Chính phủ Trung Quốc, năm 1959 Trường Đại học Thuỷ lợi được xây dựng. Trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, trường đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo, đóng góp tích cực trong sự nghiệp phát triển tài nguyên nước của Quốc gia và đặc biệt là một trường đầu ngành của đất nước về lĩnh vực thuỷ lợi, thủy điện.

    Trong nhiều năm qua Trường đã giữ vững được mối quan hệ hợp tác nghiên cứu và giao lưu với các trường đại học, công ty, viện nghiên cứu với các trường Đại học Trung Quốc. Ngày 13/4/2006, theo kế hoạch hợp tác Nhà trường đã đón tiếp đoàn trường Đại học Hồ Hải  sang thăm và làm việc bàn về vấn đề hợp tác đào tạo đại học và sau đại học.

    Về phía Nhà trường mong muốn được Đại học Hồ Hải tạo điều kiện đưa giảng viên Ban Ngoại ngữ sang tham quan, trao đổi kinh nghiệm dạy tiếng Anh; cử một số giảng viên sang tham quan các phòng thí nghiệm. Ban Giám hiệu Nhà trường luôn đánh giá cao việc đào tạo đại học và sau đại học của Trường Đại học Hồ Hải.

    Cũng trong buổi làm việc, phía Đại học Hồ Hải đã có cuộc phỏng vấn 6 ứng viên trường Đại học Thủy lợi chuẩn bị học sau đại học tại Hồ Hải. Ông Zhuzhongdong – Phó phòng hợp tác quốc tế đánh giá rất cao việc phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, đào tạo giữa hai trường; ông cũng nêu ra một số ý kiến trong việc đào tạo đại học và sau đại học các ứng viên cần phải chuẩn bị tốt tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.

    Kết thúc buổi làm việc hai bên mong muốn sẽ giữ vững và phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác quốc tế, đào tạo hiện nay.

    HMT